Với những lý do như trên, trong quá trình thực tập tôi đã đi sâu vào nghiên cứu công tác phát triển vốn tài liệu của thư viện và chọn đề tài: “Tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN
-o0o -ĐỖ THỊ HOÀN
TÌM HIỂU CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN VỐN TÀI LIỆU TẠI THƯ VIỆN TẠ QUANG BỬU TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo : Chính quy Khóa học : QH - 2008 - X NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS TRỊNH KHÁNH VÂN
HÀ NỘI, 2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU - 1
1 – Lý do chọn đề tài - 1
2 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - 2
3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 2
4 - Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài - 3
5 - Phương pháp nghiên cứu - 3
6 - Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài - 3
7 - Bố cục của Khóa luận - 4
NỘI DUNG Chương 1: Khái quát về Thư viện Tạ Quang Bửu - Đại học Bách Khoa Hà Nội - 5
1.1 - Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện - 5
1.2 - Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện - 6
1.2.1 Chức năng - 6
1.2.2 Nhiệm vụ - 7
1.3 - Cơ cấu tổ chức - 7
1.4 - Đội ngũ cán bộ - 9
1.5 - Cơ sở vật chất - 10
1.6 - Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin - 11
1.6.1 Đặc điểm người dùng tin - 11
1.6.2 Nhu cầu tin của người dùng tin - 12
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ
Trang 32.1 - Loại hình tài liệu - 14
2.1.1- Tài liệu truyền thống - 14
2.1.2- Tài liệu hiện đại - 24
2.2- Công tác bổ sung vốn tài liệu - 28
2.2.1- Đề tài bổ sung - 28
2.2.2- Loại hình bổ sung - 29
2.2.3 - Số lượng bổ sung - 29
2.3 - Phương thức bổ sung vốn tài liệu - 29
2.3.1 - Nguồn bổ sung phải trả tiền - 30
2.3.2 - Nguồn bổ sung không phải trả tiền - 31
2.4 - Kinh phí bổ sung - 36
2.5- Qui trình bổ sung - 37
2.6 - Thanh lý tài liệu - 39
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu - Đại học Bách Khoa Hà Nội - 41
3.1 - Nhận xét - 41
3.1.1 - Ưu điểm - 41
3.1.2 - Nhược điểm - 44
3.2 - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu- Đại học Bách Khoa Hà Nội - 47
3.2.1 Nâng cao trình độ cán bộ và đào tạo người dùng tin - 47
3.2.2 - Xây dựng chính sách bổ sung hợp lý - 53
3.2.3- Tăng cường kinh phí cho công tác bổ sung vốn tài liệu - 57
3.2.4 - Đa dạng hoá nguồn bổ sung - 58
3.2.5 - Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phát triển vốn tài liệu - 64
Trang 4KẾT LUẬN - 68 Danh mục tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài
Ngày nay cả nhân loại đang bước vào kỷ nguyên của thông tin và tri thức, trong đó thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của con người Thông tin tạo nên nguồn lực chi phối mọi sự phát triển của xã hội, tiêu biểu là lĩnh vực giáo dục và đào tạo Hoạt động thông tin – thư viện ngày nay càng trở thành nhân tố quan trọng góp phần quyết định chất lượng đào tạo của các trường đại học, trong đó có Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBK HN)
Trường ĐHBK HN là một trong những trường đại học lớn, có đội ngũ cán
bộ hùng hậu, với bề dày truyền thống hơn 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành Nhà trường đã có những đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay Trường là một trong những trung tâm lớn đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho đất nước, có mối quan hệ hợp tác song phương, đa dạng với nhiều trường đại học, nhiều nước trong khu vực và thế giới Là một trường khoa học công nghệ đa ngành, người dùng tin ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội rất phong phú, đa dạng Hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học đòi hỏi phải sử dụng lượng thông tin lớn và biến đổi không ngừng Vì vậy, Thư viện Tạ Quang Bửu (TV TQB) – Trường ĐHBK HN cần phải cung cấp nguồn tài liệu đầy đủ, cập nhật, nhanh chóng và phù hợp cho cán
bộ, giảng viên, sinh viên và học viên trong trường Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin phù hợp với nhu cầu của người dùng tin là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, công tác phát triển vốn tài liệu tại thư viện cần phải được chú trọng quan tâm Nhưng làm thế nào để tổ chức khai thác, phát triển nguồn lực
Trang 5thông tin hiện có cũng như sử dụng được nguồn lực thông tin từ bên ngoài để đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin của người dùng tin trong trường một cách hiệu quả nhất Đây là những đòi hỏi, thách thức đối với Thư viện ĐHBK
HN nói chung và các cán bộ thông tin - thư viện nói riêng
Với những lý do như trên, trong quá trình thực tập tôi đã đi sâu vào nghiên
cứu công tác phát triển vốn tài liệu của thư viện và chọn đề tài: “Tìm hiểu
công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội” làm đề tài khóa luận của mình
2 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của thư viện Tạ Quang Bửu
- Nêu rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của Công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu
- Mô tả thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu
- Phân tích và đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu
- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu
3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết tốt các nhiệm vụ đã đặt ra trong đề tài khóa luận, đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định và giới hạn như sau:
Đối tượng nghiên cứu: Vốn tài liệu và công tác phát triển vốn tài liệu tại
Thư viện Tạ Quang Bửu - Đại học Bách Khoa Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ
Quang Bửu trong giai đoạn hiện nay
4 - Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
- Nghiên cứu về Thư viện Tạ Quang Bửu đã có một số đề tài và tập trung vào một số vấn đề như: Công tác xử lý tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách Khoa Hà Nội, Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Thư viện Tạ Quang Bửu…
- Về công tác phát triển vốn tài liệu thì đã có một số đề tài đề cập đến Tuy nhiên, xét về mức độ thời gian, hiện tại công tác phát triển vốn tài liệu của Thư
viện đã có nhiều thay đổi Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Tìm hiểu công tác
phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội” làm đề tài khóa luận của mình
5 - Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:
- Khảo sát thực tế, quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thống kê số liệu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Trang 76 - Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
Đóng góp về mặt lý luận: Khẳng định vai trò cũng như tầm quan trọng của
công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu
Đóng góp về thực tiễn: Phản ánh thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu
của thư viện Tạ Quang Bửu Từ đó thấy được những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong công tác phát triển vốn tài liệu để từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện
7 - Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách Khoa Hà
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TẠ QUANG BỬU
- ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là một trường đại học đa ngành về kỹ thuật, nơi đào tạo ra những đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ và quản lý trình
độ cao cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học và
chuyển giao công nghệ phục vụ công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước
Trường được thành lập theo Nghị định 147/NĐ của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ
Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký ngày 15 tháng 10 năm 1956
Sau nửa thế kỉ bền bỉ phấn đấu, Trường DDaHBK HN luôn là một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam Với bề dày
lịch sử về công tác giáo dục, cùng nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, Trường đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều danh hiệu và
phần thưởng quý giá cho các cá nhân và tập thể, được thể hiện qua những trang
vàng truyền thống của trường
Thư viện Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội được thành lập từ năm 1956
Trong những năm đầu mới thành lập, với số vốn tài liệu ban đầu là 5000 cuốn
sách, cơ sở vật chất nghèo nàn và 2 cán bộ phụ trách không có nghiệp vụ thư
viện, Thư viện là một bộ phận trực thuộc Phòng Giáo vụ
Trang 9Thư viện đã từng đi sơ tán ở: Lạng Sơn, Hà Bắc, Hải Hưng, Hà Tây cùng khối lượng lớn sách đem theo để phục vụ đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho đất nước Cũng trong giai đoạn này, từ Trường ĐHBK HN đã hình thành những trường đại học mới như: Đại học Xây dựng, Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Công nghiệp nhẹ và Phân hiệu II về Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự) Thư viện Trường cũng chia sẻ nhiều tài liệu và đã cử cán bộ sang làm việc công tác tại Thư viện ở trường Đại học Mỏ - Địa chất và trường Đại học Xây dựng
Từ năm 1973, Thư viện tách ra thành đơn vị độc lập Ban Thư viện đã liên tục được đầu tư và phát triển không ngừng Khi miền Nam được giải phóng, một
số cán bộ Thư viện đã vào công tác tại miền Trung và miền Nam để xây dựng Thư viện trong đó
Tháng 11/2003, “Thư viện” và “Trung tâm thông tin và mạng” đã sáp nhập thành đơn vị mới là “Thư viện và Mạng thông tin” với hai nhiệm vụ chính: vận hành và khai thác Thư viện điện tử mới và quản lý điều hành Mạng thông tin của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Từ năm học 2006 - 2007, Thư viện điện tử Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội mở cửa phục vụ bạn đọc với hệ thống các phòng đọc tự chọn, cùng 2000 chỗ ngồi và tăng cường khả năng truy cập vào các học liệu điện tử trực tuyến
Đầu tháng 9/2008, theo sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu để phù hợp với tình hình mới, Bộ phận Thư viện tách ra và trở thành đơn vị Thư viện Tạ Quang Bửu độc lập, bước vào một giai đoạn phát triển mới cùng với sự phát triển mạnh mẽ của trường ĐHBK HN
Địa chỉ: Thư viện Tạ Quang Bửu – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Số 1, Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 38692243
Website : http://www.library.hut.edu.vn
Trang 101.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện
1.2.1 Chức năng
Thư viện Tạ Quang Bửu (TV TQB) có chức năng thông tin và thư viện, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) và quản lý của Nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong Thư viện và từ các thư viện khác (tài liệu chép tay, in, sao chụp, khắp trên mọi chất liệu, tài liệu điện tử, mạng Internet…)
1.2.2 Nhiệm vụ
Xây dựng vốn tài liệu đủ lớn về số lượng, chất lượng và phong phú
về loại hình Chủ động trong việc đa dạng hóa, phát triển các nguồn tin và kênh thu thập các tài liệu, các thông tin một cách có hiệu quả, phù hợp với chương trình và định hướng mà Nhà trường đang nghiên cứu và giảng dạy
Nghiên cứu và ứng dụng các thành tự khoa học công nghệ, các tiêu chuẩn quốc tế về xử lý thông tin vào công tác xử lý tài liệu, tạo tiền đề cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin
Tích cực phát triển và mở rộng các sản phẩm và dịch vụ thông tin, lấy việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn Trường làm mục tiêu và động lực để phát triển
Từng bước nâng cấp hiện đại hóa Thư viện, đẩy mạnh việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động của Thư viện Tự động hóa các khâu công việc trong hoạt động của Thư viện
Mở rộng quan hệ với các thư viện trong và ngoài nước, các tổ chức liên quan đến lĩnh vực thư viện nhằm tăng cường sự trao đổi và hợp tác Tiến tới thư viện phải trở thành đầu mối khai thác, cung cấp, chia sẻ thông tin với các thư viện khác trong khu vực và trên thế giới
1.3 Cơ cấu tổ chức
Trang 11Cơ cấu tổ chức của Thư viện hiện tại được bố trí theo chức năng và nhiệm
vụ của từng bộ phận
Ban Giám đốc gồm: 01 Giám đốc phụ trách chung Thư viện và mạng
thông tin; 02 Phó giám đốc: 01 Phó giám đốc phục trách về Mạng thông tin và
01 Phó giám đốc phụ trách về Thư viện
Phòng Xử lý thông tin:
Phòng Xử lý thông tin gồm 07 cán bộ, trong đó phòng gồm 2 bộ phận
sau: Bộ phận phát triển nguồn tin và Bộ phận biên mục
Phòng chịu trách nhiệm:
+ Xây dựng nguồn lực thông tin mạnh cả vế số lượng và chất lượng đảm bảo phục vụ tốt các chương trình đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của Đại học Bách Khoa Hà Nội, từng bước liên thông chia sẻ với hệ thống các thư viện trong khu vực
+ Xử lý toàn bộ tài liệu theo các tiêu chuẩn quốc tế về thông tin – thư viện như: MARC21, AACR2 và LCC Từ đó xây dựng hệ thống tra cứu hiện đại nhằm tăng khả năng tiếp cận và khai thác nguồn lực thông tin hiệu quả và nhanh chóng
Phòng Dịch vụ thông tin tư liệu:
Phòng Dịch vụ thông tin tư liệu gồm 23 cán bộ, gồm 4 bộ phận sau: Bộ phận phòng đọc, Bộ phận mượn trả, Bộ phận quản lý kho, Bộ phận dịch vụ tham khảo
Phòng Dịch vụ thông tin tư liệu chịu trách nhiệm: Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ thư viện, đặc biệt là các dịch vụ cung cấp và hỗ trợ thông tin từ xa; tạo điều kiện tốt nhất để người dùng tin của Thư viện cũng như các thư viện và cơ quan thông tin khác trong cả nước có thể tiếp cận và khai thác nguồn lực thông tin của Thư viện một cách có hiệu quả nhất
Phòng Công nghệ Thư viện Điện tử:
Trang 12Phòng Công nghệ thư viện điện tử gồm 11 cán bộ, gồm 4 bộ phận sau: Bộ phận nghiên cứu phát triển, Bộ phận kỹ thuật, Bộ phận phục vụ đa phương tiện,
Bộ phận xây dựng dự án, hành chính tổng hợp
Phòng Công nghệ Thư viện Điện tử chịu trách nhiệm chính:
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng các công nghệ thư viện điện tử, thư viện số, đảm bảo khả năng truy cập, chia sẻ, trao đổi dữ liệu, trong và giữa các thư viện, cơ quan thông tin cũng như với người dùng tin
+ Xây dựng các hệ thống thông tin số đạt chuẩn, chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu khai thác các nguồn thông tin số của người dùng tin và các cơ quan thông tin – thư viện
Trang 13Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện Tạ Quang Bửu
1.4 Đội ngũ cán bộ
Thƣ viện Tạ Quang Bửu hiện nay có 44 cán bộ, trong đó:
+ 09 Thạc sỹ về Thông tin thƣ viện và Công nghệ thông tin (chiếm 20,4%) + 06 Kỹ sƣ Công nghệ thông tin và các ngành kỹ thuật (chiếm 13,6%)
+ 24 Cử nhân Thông tin Thƣ viện ( chiếm 54,5%)
+ 02 Cử nhân ngoại ngữ (chiếm 4,5%)
+ 03 Cử nhân Kinh tế và Tài chính kế toán (chiếm 6,8%)
Trang 141.5 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất của Thư viện khá tốt, được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại Từ năm 2002, dự án xây dựng Thư viện điện tử được thực hiện với số vốn đầu tư 200 tỷ VND Tháng 10/2006, Thư viện điện tử đã đi vào hoạt động với diện tích mặt bằng là 37.000m2 sàn bao gồm 10 tầng Tuy nhiên, hiện nay Thư viện mới chỉ sử dụng từ tầng 1 đến tầng 5 và tầng 9 là phòng Công nghệ mạng với 17.500 m2 gồm: 8 phòng đọc tự chọn xếp theo chuyên ngành, 2 phòng đọc
đa phương tiện, 2 phòng mượn, 4 phòng tự học, 4 phòng học nhóm, có khoảng
2500 chỗ ngồi và hệ thống kho tàng rộng rãi Thư viện có khả năng đáp ứng
4000 chỗ, phục vụ 10.000 bạn đọc/ngày, 10.000 tra cứu/ ngày Hiện nay, mỗi ngày Thư viện phục vụ khoảng 4.000 lượt bạn đọc đến đọc và mượn tài liệu về nhà
Bên trong toà nhà được trang bị các hệ thống điều hoà trung tâm, hệ thống điện, hệ thống thang máy, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống quạt thông gió, hút ẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế
Thư viện đã trang bị 150 máy vi tính với 30 máy tính nối mạng LAN, 150 máy tính được nối mạng Internet Thư viện sử dụng hệ thống mạng Bknet với
Thạc sỹ về Thông tin thư viện và Công nghệ thông tin ( chiếm 20,4%)
Kỹ sư Công nghệ thông tin và các ngành kỹ thuật (chiếm 13,6%)
Cử nhân Thông tin Thư viện ( chiếm 54,5%)
Cử nhân ngoại ngữ (Chiếm 4,5%)
Cử nhân Kinh tế và Tài chính kế toán ( chiếm 6,8%)
Trang 15công nghệ hãng Nortl Máy chủ phần mềm thư viện và máy chủ cơ sở dữ liệu của thư viện do hãng Sun Micro system cung cấp hệ quản trị cơ sở dữ liệu: Oracle, máy chủ khác, sử dụng phần mềm HP
Thư viện còn có 10 máy in, 5 máy photocoppy, 3 máy scanner, 2 cổng từ
và một cổng RFID và một hệ thống gồm 10 phòng đọc và kho mở với mỗi phòng được trang bị:
+ 70 đến 150 Ghế ngồi cho bạn đọc
+ 320 đến 550 khoang giá đựng tài liệu
+ Mỗi phòng đọc có từ 1 đến 2 máy tính để bạn đọc tra cứu tài liệu
+ Mỗi cán bộ thư viện có một máy tính để làm chuyên môn, nghiệp vụ và hướng dẫn cho bạn đọc sử dụng thư viện.
1.6 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
1.6.1 Đặc điểm người dùng tin
Căn cứ vào số lượng NDT thực tế sử dụng thư viện và tính chất công việc,
có thể chia đối tượng NDT tại Thư viện Tạ Quang Bửu trường ĐHBK HN thành
ba nhóm chính sau:
- Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên
- Nhóm học viên, sinh viên và nghiên cứu sinh
- Nhóm bạn đọc ngoài trường
Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên 3.000 6.9% Nhóm bạn học viên, sinh viên và nghiên cứu sinh 40.000 92% Nhóm bạn đọc ngoài trường 500 1.1%
Bảng 1 Số lượng người dùng tin của Thư viện Tạ Quang Bửu
Trang 161.6.2 Nhu cầu tin của người dùng tin
Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lí và giảng viên:
Nhóm NDT này có khoảng 3.000 người chiếm 6.9% tổng số bạn đọc của Thư viện Họ vừa là đối tượng sử dụng, lại vừa là những người sáng tạo ra những nguồn thông tin khoa học có giá trị cao cho Thư viện Họ là những người quản lý, cần những thông tin chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học kĩ thuật Những thông tin cung cấp cho họ cần chính xác, kịp thời, mang tính chất chuyên sâu thuộc nhiều lĩnh vực, đặc biệt về khoa học công nghệ để phục vụ tốt cho quá trình lãnh đạo quản lý cũng như ra quyết định của mình Hình thức phục vụ là các tổng quan, tổng luận, bản tin chọn lọc…
Ngoài ra, họ còn là những giảng viên – những người chuyển giao tri thức khoa học đến cho sinh viên, tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo của trường, vừa là chủ thể thông tin vừa là NDT thường xuyên của thư viện Vì tham gia giảng dạy nên họ thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, công nghệ mới chuyên sâu liên quan trực tiếp tới lĩnh vực mà họ giảng dạy, nghiên cứu Nhóm người dùng tin này luôn dành thời gian trong việc tìm tài liệu tham khảo tại Thư viện Thông tin cho nhóm này là những thông tin chuyên sâu có tính thời sự về KHCN thuộc các lĩnh vực đào tạo của trường Hình thức phục vụ thông tin cho nhóm này là các danh mục tài liệu chuyên ngành mới hoặc sắp xuất bản, các thông tin thư mục chuyên đề, thông tin chọn lọc về khoa học và công nghệ, tài liệu chuyên ngành là sách cũng như tạp chí KHKT nước ngoài, các CSDL và các tài liệu điện tử
Nhóm sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh:
Trang 17Nhóm NDT này có khoảng 40.000 người chiếm 92% Đây là nhóm NDT
có số lượng đông đảo nhất, chiếm phần lớn số NDT của Thư viện Những năm gần đây trường Đại học Bách Khoa đã chuyển đổi hình thức đào tạo của mình theo cơ chế đào tạo theo tín chỉ Với hình thức đào tạo này, yêu cầu tự học và tham khảo tài liệu của sinh viên là rất cao Sinh viên không còn học một cách thụ động như trước mà đã có sự tìm tòi, học hỏi, bổ sung thêm kiến thức ở bên ngoài Do vậy, NCT của nhóm này rất phong phú và đa dạng Tài liệu họ cần bao gồm cả: tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại Ngoài ra, họ cũng cần được cung cấp nhanh chóng và kịp thời các thông tin mới, cập nhật, bao gồm cả tài liệu trong và nước ngoài của những nước tiên tiến trên thế giới, có nền KHKT phát triển như Anh, Mỹ, Nga,…
Nhóm NDT này có khoảng 500 bạn đọc chiếm 1,1% Bao gồm: Cán bộ hưu trí, Cựu sinh viên của trường Đại học Bách Khoa Bạn đọc ngoài trường có nhu cầu sử dụng Thư viện như: Các bạn sinh viên học các khối trường về khoa học kĩ thuật như Đại học Xây dựng, Đại học Kinh tế quốc dân…Đây là nhóm NDT khá đặc biệt của Thư viện, số lượng ít Nhưng họ đều là những người quan tâm và muốn tìm hiều về các lĩnh vực khoa học kĩ thuật
Có thể nói mỗi nhóm NDT lại có những đặc điểm khác nhau Việc phân chia NDT thành các nhóm nhỏ, thuận tiện cho việc quản lý bạn đọc cũng như việc bổ sung tài liệu cho Thư viện sát thực hơn với nhu cầu thông tin của từng nhóm người Thư viện cũng có kế hoạch bổ sung tài liệu phù hợp với từng nhóm NDT, sao cho đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin của bạn đọc Đồng thời, nâng cao hiệu quả phục vụ của Thư viện
Trang 18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN VỐN TÀI LIỆU TẠI THƯ
VIỆN TẠ QUANG BỬU – ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
2.1 Loại hình tài liệu tại Thư viện
Nguồn lực thông tin trong hoạt động thư viện chính là cơ sở cho việc đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT Thông tin là động lực góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế và sản xuất, đóng vai trò hàng đầu trong giáo dục và đào tạo, NCKH và là cơ sở để các cấp lãnh đạo, quản lý đưa ra quyết định Nhờ có nguồn lực thông tin mà các thư viện, các cơ quan thông tin thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Nguồn lực thông tin càng phong phú và đa dạng, càng có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng Căn cứ theo loại hình vật mang tin thì nguồn lực thông tin của thư viện Trường ĐHBK HN được chia thành 2 nhóm chính như sau: tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại (tài liệu điện tử)
2.1.1 Tài liệu truyền thống
Thư viện Trường ĐHBK HN đã phát triển được nguồn lực các tài liệu truyền thống tương đối lớn về số lượng khoảng hơn 600.000 bản ghi tài liệu và
Trang 19Trường Bao gồm giáo trình, sách tham khảo, sách tra cứu, báo, tạp chí, luận văn, luận án,…
Tài liệu truyền thống tại Thư viện Tạ Quang Bửu có thể chia theo loại hình theo bảng sau:
Bảng 2 Thống kê tài liệu truyền thống theo loại hình tại Thư viện
Sách là loại hình tài liệu chiếm số lượng lớn nhất trong kho tài liệu của Thư viện bao gồm: sách giáo trình, sách tham khảo, sách tra cứu
Trang 20 Sách giáo trình: Với đặc điểm là thư viện trường đại học, nên giáo trình là
dạng tài liệu được quan tâm đặc biệt, chiếm tỷ lệ lớn trong Thư viện Nó mang đặc thù riêng của thư viện các trường đại học Sách giáo trình cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, có hệ thống về các môn học theo chương trình đào tạo của trường, giúp họ có được nền tảng vững chắc trước khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu Đây là nguồn tài liệu có giá trị, được bạn đọc đặc biệt là sinh viên khai thác và sử dụng với cường độ lớn
Qua bảng thống kê trên đã cho thấy giáo trình chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng số tài liệu có trong thư viện (42%) Hiện nay, sách giáo trình có khoảng 257.000 cuốn sách giáo trình với 4.100 tên Sách giáo trình tại thư viện chủ yếu do các Giáo sư, Tiến sỹ, các cán bộ giảng dạy tại các khoa trong trường biên soạn, thuộc nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau của trường như: Điện tử viễn thông, Điện, Công nghệ thông tin, Vật lý, Hóa học, Công nghệ thực phẩm, Dệt may… Có nhiều giáo trình của trường ĐHBK HN trở thành giáo trình học tập của nhiều trường kĩ thuật trong cả nước như: Toán cao cấp, Cơ học, Chi tiết máy, Kĩ thuật điện tử… Ngoài ra còn có rất nhiều loại giáo trình nhận lưu chiểu của các trường đại học trong cả nước Đây chính là nguồn thông tin sẵn có của nhà trường, giúp NDT có điều kiện tham khảo các tài liệu về ngành của mình đang được giảng dạy tại các trường khác
Số lượng giáo trình của các khoa có trong Thư viện không đồng đều, phụ thuộc vào lịch sử phát triển cũng như quy mô đào tạo của từng ngành Bên cạnh
đó, trong kho mượn hiện nay vẫn còn nhiều tài liệu giáo trình cũ, những tài liệu
in bản Rônêô do các giáo viên trong trường viết từ rất lâu nhưng do nhiều nguyên nhân nên không có điều kiện viết lại hoặc không thể tái bản lại Thực tế này khiến sinh viên phải sử dụng tài liệu cũ, mờ và kiến thức trong các tài liệu này không còn phù hợp với chương trình đào tạo hiện nay
Trang 21Hiện nay, TV TQB là một trong số ít các thư viện trường đại học còn tồn tại kho mượn sách giáo trình Lượng sinh viên lên mượn sách tại bộ phận này rất đông Thời gian đầu học kỳ, trung bình mỗi ngày bộ phận này cho mượn khoảng
500 cuốn sách
Sách tham khảo: Hiện nay, Thư viện có khoảng 155.460 cuốn sách tham
khảo với khoảng 128.570 tên sách chiếm 25% tổng số tài liệu có trong Thư viện,bao gồm: Sách tham khảo tiếng Việt và Sách tham khảo ngoại văn Sách tham khảo tiếng Việt có khoảng 10.000 cuốn, gồm các sách chuyên ngành Tin học, Ngoại ngữ, Văn học nghệ thuât (VHNT), Khoa học xã hội (KHXH) Sách tham khảo tiếng Việt ít hơn nhiều so với sách tham khảo ngoại văn Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu kho sách tham khảo của thư viện, nhưng hiện nay, thành phần sách tham khảo tiếng Việt đang được thường xuyên cập nhật, bổ sung hơn so với sách tham khảo kĩ thuật ngoại văn Sách tham khảo ngoại văn khoảng gần 145.000 cuốn, chiếm chủ yếu trong số sách tham khảo của Thư viện
Trong đó sách tiếng Nga chiếm 50% còn lại là các sách tiếng Anh, Nga,
Nhật…Các tài liệu hầu hết được xuất bản trước năm 1990 và chủ yếu là tài liệu tiếng Nga vì vào những năm đó nhu cầu sử dụng sách tiếng Nga của cán bộ và sinh viên rất phổ biến Nhưng từ những năm 1990 trở lại đây, tài liệu tiếng Nga được bổ sung ít dần vì chỉ có một phần nhỏ các cán bộ và giảng viên được đào tạo ở bên Nga về sử dụng
Chúng ta biết rằng nền khoa học công nghệ ở Việt Nam phát triển chậm so với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền khoa học công nghệ thế giới Các nhà khoa học cho rằng các tài liệu khoa học công nghệ của Việt Nam lạc hậu hơn khoảng 50 năm so với các tài liệu khoa học trên thế giới Nhất là trong thời điểm các tài liệu khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay thì việc cập nhật thường xuyên những thông tin tư liệu về khoa học công nghệ mới là rất cần thiết Là một thư viện chuyên ngành khoa học công nghệ, Thư
Trang 22viện không chỉ quan tâm bổ sung các sách khoa học kĩ thuật trong nước mà còn hợp tác, trao đổi với các tổ chức, thư viện các trường đại học lớn trên thế giới nhằm tranh thủ sự giúp đỡ đáng kể cho việc tăng cường nguồn lực khoa học kĩ thuật Trong những năm gần đây, TV TQB đã tận dụng và khai thác triệt để nguồn kinh phí được cấp để bổ sung tài liệu ngoại văn mà chủ yếu là tài liệu bằng tiếng Anh để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc đồng thời đáp ứng kịp thời công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Một số ngành mũi nhọn được Thư viện chú trọng bổ sung sách tham khảo nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh: Tin học, Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông, Công nghệ môi trường, đáp ứng nhu cầu tham khảo sách nước ngoài của NDT trong trường
Sách tra cứu: Tài liệu tra cứu trong Thư viện hiện nay có khoảng 7.000
cuốn sách tra cứu với 6.850 tên chiếm 1% tổng số tài liệu có trong Thư viện, bao gồm : Bách khoa toàn thư, Cẩm nang, Sổ tay tra cứu và Từ điển các ngôn ngữ khác nhau Một số bộ Bách khoa toàn thư quí hiếm mà Thư viện có như: Encyclopedia of Sciences and Technology, Macmillan Encyclopedia of Sciences, Larousse (8 tập), Ulliman Encyclopedia of Industrial Chemistry (24 tập)….Thư viện lưu trữ một số lượng lớn từ điển phục vụ cho việc học ngoại ngữ, các từ điển thuật ngữ mang nội dung tổng hợp hoặc chuyên ngành: Từ điển tiếng Anh, Nga, Trung, Pháp, Nhật, Từ điển Tin học, Từ điển Vô tuyến điện, Từ điển Máy tính… và các loại sổ tay như: Sổ tay hóa công, Sổ tay công nghệ chế tạo máy, Sổ tay Kỹ sư cơ khí, Sổ tay tóm tắt về vật lí…; Lịch biểu, niên biểu, niên giám, Almanach
Với đặc trưng là một trường đào tạo cán bộ kĩ thuật, khoa học công nghệ, Thư viện còn lưu trữ các tài liệu kĩ thuật đặc biệt phục vụ cho công tác nghiên cứu như: Cataloge công nghiệp, các tập bản vẽ cơ khí, các chuyên san, kỉ yếu các hội nghị khoa học công nghệ trong và ngoài nước
Luận án, Luận văn:
Trang 23Luận án, luận văn được coi là nguồn tài liệu “xám” của Thư viện hiện nay
Đó là những công trình nghiên cứu của các sinh viên năm cuối, sinh viên sau đại học được bảo vệ tại trường hoặc của các cán bộ các cơ quan ngoài bảo vệ tại Trường ĐHBK HN
Trường ĐHBK HN là một trong những cơ sở đào tạo sau đại học có từ lâu Tính đến nay, Nhà trường đã đào tạo được hơn 10.000 thạc sĩ Từ năm 2000 đến nay quy mô đào tạo của Trường ngày càng mở rộng, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Hiện nay trung bình mỗi năm Nhà trường tuyển sinh khoảng hơn 1.000 học viên cao học
Luận văn, luận án là những tài liệu rất hữu ích cho NDT tham khảo để thực hiện công trình nghiên cứu khoa học hoặc để định hướng, triển khai khóa luận tốt nghiệp Không thể thực hiện một đề tài nghiên cứu hay một đề tài tốt nghiệp mà không tham khảo một công trình nào của người đi trước Những luận văn, luận án đang được lưu trữ và phục vụ tại trường đều có nội dung liên quan đến các chuyên ngành đào tạo của nhà trường nên mức độ phù hợp nội dung là rất lớn NDT khó có thể tìm thấy và khai thác những luận văn, luận án thuộc các chuyên ngành này tại một nơi nào khác ngoài trường Nguồn thông tin trong loại tài liệu này có giá trị cao, được cập nhật thường xuyên những thông tin mới Vốn tài liệu này được lưu chiểu hàng năm và chỉ được lưu hành nội bộ trong trường
Là nguồn thông tin quí giá đối với NDT, đặc biệt với sinh viên, luận án, luận văn
là loại hình tài liệu không thể thiếu được trong vốn tài liệu của bất kì trường đại học nào
Hiện tại số luận án, luận văn Thư viện đang lưu giữ là: 5.200 đầu luận án, luận văn, chuyên đề, đề tài NCKH…chiếm 1.1% tổng số tài liệu có trong Thư viện Từ năm 1991 đến nay, nhà trường đào tạo đối tượng cao học và hàng năm Trung tâm bồi dưỡng sau đại học lại nộp lưu chiểu số luận văn cao học vào Thư viện Số tài liệu này được bạn đọc rất quan tâm, đặc biệt là các học viên cao học
Trang 24và các sinh viên làm đồ án tốt nghiệp Các bản luận án và luận văn này có số vòng quay rất lớn và được sao chụp nhiều
Báo – Tạp chí:
Nguồn báo, tạp chí của Thư viện hiện nay có 192.500 bản với 1.853 tên chiếm 31% tổng số tài liệu có trong Thư viện Trong đó:
Báo: Hiện nay Thư viện có khoảng gần 80 đầu báo, bao gồm Báo tiếng
Việt và Báo ngoại văn Cung cấp cho bạn đọc những thông tin mang tính chất cập nhật, thời sự về nhiều lĩnh vực khác nhau: Văn hóa, xã hội, giáo dục, chính trị …
Tạp chí : Bao gồm cả tạp chí tiếng Việt và tạp chí ngoại Trong đó,
khoảng 500 loại tạp chí Anh, Pháp, Đức; gần 800 loại tạp chí Nga, hơn 200 loại tạp chí Đông Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Bungari) và tạp chí tiếng Việt là gần 300 loại Các tạp chí của Thư viện tập trung vào các tạp chí chuyên ngành, tạp chí khoa học
Trước những năm 1990 Thư viện thường xuyên bổ sung hàng trăm loại tạp chí ngoại mới, nhưng từ năm 1990 trở lại đây do kinh phí bổ sung có hạn, cho đến nay chỉ còn khoảng 30 đầu tạp chí được bổ sung Hiện nay, ngoài số lượng đầu tạp chí được bổ sung, tạp chí biếu là nguồn bổ sung quí giá cho Thư viện Ví dụ: Viện năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA (International Automic Energy Agency) thường xuyên gửi tạp chí cho Thư viện Bách Khoa hoặc một số tạp chí của Nhật như Isotope, Radisotope… Với số lượng tạp chí ngoại văn được
bổ sung hàng năm như hiện nay thì không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin về tạp chí ngoại Chính vì vậy, Thư viện cần có chiến lược bổ sung thêm các tạp chí ngoại, đặc biệt là tạp chí tiếng Anh
Đối với tạp chí tiếng Việt, tuy số lượng ít nhưng được cập nhật thường xuyên nên đáp ứng được nhu cầu về tạp chí tiếng Việt của NDT Trung bình mỗi năm Thư viện nhập khoảng gần 200 tên tạp chí tiếng Việt
Trang 25 Tài liệu truyền thống tại Thư viện chia theo chuyên ngành như sau:
Hình 3: Thống kê tài liệu truyền thống theo chuyên ngành tại Thư viện
Trường ĐHBK HN là trường đại học đào tạo về KHKT lớn trong cả nước
Do đó, các loại hình tài liệu về lĩnh vực KHCN được Thư viện quan tâm bổ sung nhiều nhất (81%) Ngoài ra, các tài liệu về KHXH và VHNT cũng chiếm (19%) Đây là nguồn tài liệu tham khảo giúp bạn đọc giải trí, mở mang kiến thức sau những giờ học căng thẳng Là những người ham hiểu biết, sinh viên khối kĩ thuật luôn thích tìm hiểu các vấn đề xã hội và họ sử dụng các tài liệu chính trị xã hội, văn hoá nghệ thuật, khoa học thường thức với mục đích nâng cao hiểu biết, tích luỹ kiến thức xã hội Một số cuốn sách như: Âm dương đối lịch, Kinh dịch, Almanach những nền văn minh thế giới… được bạn đọc sinh viên tìm hiểu rất nhiều
Xét về khía cạnh nội dung tài liệu, tài liệu truyền thống tại Thư viện Tạ Quang Bửu bao gồm các lĩnh vực sau:
Nội dung Số lượng bản tài liệu Tỉ lệ (%)
Trang 26Toán 51.642 8,4%
Bảng 3: Thống kê tài liệu truyền thống phân chia theo nội dung tài liệu
Bảng thống kê trên phản ánh số loại và số cuốn tài liệu theo các ngành được đào tạo trong trường Qua bảng thống kê trên ta có thể thấy số lượng tài liệu của mỗi khoa có sự khác nhau, điều đó phụ thuộc vào lịch sử hình thành của từng khoa, các khoa như: Khoa Điện, Cơ khí có khá nhiều cả về chủng loại và số lượng (Khoa Điện có 66.417 bản tài liệu chiếm 10.8%; Khoa Cơ khí có 61.948 bản tài liệu chiếm 10%) Vì đây là những khoa có từ những năm thành lập trường và hiện nay các khoa này có số lượng tuyển sinh đông hơn các khoa khác Hiện nay, một số khoa có rất nhiều giáo trình mới đáp ứng được nhu cầu về tài liệu của sinh viên: Khoa Điện, Cơ khí, Điện tử viễn thông Trong khi đó một số khoa mới được thành lập trong những năm gần đây nên số lượng giáo trình rất ít như khoa Sư phạm kỹ thuật, khoa Ngoại Ngữ Khoa Công nghệ thông tin có
Trang 27tốc độ phát triển khá nhanh trên nền của khoa Tin học cũ Giáo trình của khoa này hoàn toàn mới do các thầy cô mới viết trong những năm gần đây như: Ngôn ngữ lập trình Pascal, Cấu trúc dữ liệu và giải thuật,… Còn một số khoa có rất nhiều sách nhưng phần lớn là sách đã rất cũ như: Khoa Thực phẩm, Dệt may,… Chính vì vậy, đối với các Khoa này thư viện cần có kế hoạch bổ sung thêm giáo trình để phục vụ học tập
Tài liệu truyền thống chia theo ngôn ngữ tại Thư viện:
Ngôn ngữ Số lượng bản tài liệu Tỉ lệ (%)
Bảng 4: Thống kê tài liệu truyền thống theo ngôn ngữ tại Thư viện
Từ thống kê trên, có thể thấy tài liệu tiếng Việt vẫn chiếm một khối lượng lớn trong toàn bộ nguồn lực thông tin của Thư viện Hiện nay, tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Việt có 331.068 bản tài liệu,chiếm 54% tổng số tài liệu của Thư viện
Do vậy, tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Việt vẫn là loại tài liệu được ưu tiên bổ sung để phục vụ tốt hơn nhu cầu của đa số NDT tại Thư viện Nhu cầu về tài liệu tiếng Việt cao bởi lẽ sử dụng tiếng mẹ đẻ bao giờ cũng thuận tiện hơn cả và không phải NDT nào cũng có khả năng đọc tài liệu nước ngoài Mặt khác, tài liệu tiếng Việt chiếm tỉ lệ lớn trong vốn tài liệu của Thư viện, lại được cập nhật thường xuyên hơn các tài liệu viết bằng ngôn ngữ khác, nên tần suất NDT các tài
Trang 28Tuy nhiên, theo các phương tiện thông tin đại chúng, các công trình nghiên cứu về vấn đề học tập, nhu cầu sử dụng tài liệu viết bằng ngôn ngữ không phải là tiếng Việt của NDT đã tăng đáng kể trong thời gian qua Xu hướng này xuất hiện từ sau khi nước ta có chính sách mở cửa giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong quá trình hội nhập đó, ngôn ngữ đóng một vai trò
vô cùng quan trọng Đặc biệt là các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp Ngoài
ra, Trường ĐHBK HN là một trong những trường đại học đi đầu trong lĩnh vực KHKT,các thông tin, các phát minh và nghiên cứu mới về KHKT chủ yếu là ở nước ngoài, bằng tiếng nước ngoài Vì vậy, tài liệu KHKT ngoại văn đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của NDT
Để nâng cao hiệu quả phục vụ và đáp ứng tối đa nhu cầu tin của NDT, Thư viện cần đa dạng hóa ngôn ngữ tài liệu bổ sung , trong đó chú trọng nhiều đến các tài liệu tiếng Anh….Với những ngoại ngữ này, NDT có thể phát huy khả năng tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn tin khác nhau thông qua sách báo, mạng thông tin
Tài liệu tiếng Anh được Thư viện ưu tiên bổ sung Các tài liệu tiếng Anh
có giá trị tham khảo rất lớn, nhất là đối với cán bộ, giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên 2 năm cuối của Trường Hiện nay, tài liệu bằng tiếng Anh tại thư viện chiếm 14.2% tổng số tài liệu trong Thư viện
Sau tiếng Việt là tiếng Nga Hiện nay, Thư viện còn lưu trữ một số lượng lớn tài liệu tiếng Nga (khoảng 98.465 cuốn) Nguyên nhân là do trước đây, TV TQB được Liên Xô viện trợ và xây dựng, nên Thư viện đã bổ sung một lượng rất lớn sách bằng tiếng Nga Nhưng đến nay nguồn tài liệu này đã cũ và từ năm
1991 trở lại đây, sách Nga hầu như được bổ sung rất ít do nhu cầu sử dụng sách tiếng Nga của NDT ít dần Nhu cầu này chỉ còn tập trung ở một số cán bộ giảng dạy được đào tạo từ Liên Xô cũ trở về Mặc dù, hiện nay tiếng Nga không còn phổ biến với mọi đối tượng như trước nhưng đối với Thư viện, đây vẫn là loại tài liệu có giá trị NCKH và cần được duy trì bởi hầu hết các tài liệu khoa học kĩ
Trang 29thuật được xuất bản bằng tiếng Nga và những tài liệu này đều có giá trị thông tin khoa học cơ bản Vì vậy, vốn tài liệu khoa học kĩ thuật bằng tiếng Nga tuy đã cũ nhưng Thư viện vẫn giữ gìn và phát triển nhằm phục vụ cho một số đối tượng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trong trường
Đối với các tài liệu được viết bằng các thứ tiếng khác chưa có số lượng nhiều hoặc không được bổ sung về Thư viện
Theo thời gian xuất bản, tài liệu truyền thống tại Thư viện bao gồm:
Bảng 5: Thống kê tài liệu truyền thống theo năm xuất bản tại Thư viện
Ngày nay, KHKT phát triển rất nhanh vì vậy, thông tin đòi hỏi phải cập nhật một cách liên tục NDT luôn đòi hỏi được sử dụng các tài liệu mới, đặc biệt
là các sách tham khảo và tạp chí Đó chính là lý do các tài liệu có năm xuất bản
từ năm 2000 đến nay chiếm tỉ lệ cao nhất ở Thư viện với 54% bao gồm 333.267 cuốn Tài liệu từ 1980 - 2000 có số lượng ít hơn 191.318 cuốn (chiếm 31%) Tuy nhiên, các tài liệu trước năm 1980 vẫn chiếm tỷ lệ tương đối cao là 15% Nguồn tài liệu này đa phần là tài liệu bằng tiếng Nga và một số ít sách giáo trình bằng
tiếng Việt chưa có tái bản
2.1.2 Tài liệu hiện đại
Để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc và từng bước hiện đại hoá Thư viện, bên cạnh việc bổ sung các tài liệu truyền thống, Thư viện đã chú trọng phát triển
Trang 30tài liệu hiện đại tính đến nay có:
1 CSDL
- CSDL thƣ mục do Thƣ viện xây dựng
Hơn 50.000 biểu ghi
- CSDL toàn văn do Thƣ viện xây dựng
Hơn 500 biểu ghi
- CSDL đặt mua:
+ CSDL ScienceDirect (Computer Science Collection)
Bao gồm 118 đầu tạp chí về khoa học máy tính
+ CSDL EbscoHost Bao gồm trên 17.000 tạp chí
toàn văn trong 10 CSDL về khoa học, công nghệ, Xã hội nhân văn, Giáo dục, Kinh tế + CSDL Proquest Bao gồm 4300 tạp chí
KH&CN toàn văn, 18.000 luận án, luận văn về các ngành khoa học
2 Đĩa CD, đĩa mềm
Trang 31Bảng 6 : Thống kê nguồn tài liệu điện tử tại Thư viện
Tài liệu điện tử là tài liệu mà phần thông tin trên đó có cấu trúc, được tổ chức bao gói hay được lưu trữ trên các vật mang tin mà người dùng có thể truy cập thông qua máy tính hoặc mạng máy tính Ưu điểm của loại tài liệu này là lưu trữ được nhiều thông tin trên một đơn vị diện tích, không cần nhiều kho tàng, truy cập nhanh Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật có sự hỗ trợ của CNTT và điện tử viễn thông, loại hình tài liệu này đang phát triển mạnh Các thư viện đang có xu hướng phát triển nguồn lực thông tin dạng này, tuy nhiên giá
cả và rào cản ngôn ngữ khiến loại tài liệu này không phải thư viện nào cũng có được
So với loại hình tài liệu truyền thống, tài liệu điện tử của Thư viện mới chỉ bắt đầu được quan tâm đầu tư từ năm 2005 - nay Do vậy, về số lượng còn rất hạn chế Thư viện cần đặc biệt quan tâm và phát triển loại tài liệu này Tài liệu điện tử của thư viện hiện nay bao gồm: đĩa mềm, microfilm, đĩa CD-ROM, băng từ…phục vụ nhu cầu của NDT
Với sứ mệnh lịch sử quan trọng của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ cao trong các lĩnh vực khoa học công nghệ và quản lí, Thư viện Tạ Quang Bửu cần tận dụng nguồn kinh phí được cấp để bổ sung tài liệu, cung cấp kịp thời và đầy đủ các tài liệu khoa học công nghệ, đặc biệt là tài liệu điện tử cho cán bộ giảng dạy và sinh viên trong trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay Trong thời gian tới, Thư viện cần bổ sung nhiều hơn nữa các tài liệu điện tử, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của NDT
2.2 - Công tác bổ sung vốn tài liệu
Trang 32Công tác tổ chức, xây dựng nguồn lực thông tin không phải Thư viện nào cũng giống nhau, mà phụ thuộc phần lớn vào từng hoàn cảnh, bối cảnh, chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng Thư viện Với TV TQB trường ĐHBK HN, việc xây dựng và tổ chức nguồn lực thông tin chủ yếu dựa vào nhiệm vụ chính
là cung cấp tài liệu khoa học và công nghệ phục vụ cho việc giảng dạy, NCKH
và học tập của cán bộ và sinh viên trong toàn trường Vì vậy, chất lượng phục
vụ bạn đọc của Thư viện phụ thuộc rất nhiều vào khâu bổ sung tài liệu và tổ chức kho Công tác bổ sung tài liệu là một trong những khâu quyết định chất lượng hoạt động của Thư viện Nếu bổ sung tốt, chất lượng kho tài liệu có khả năng đáp ứng nhu cầu của người dùng cao thì sẽ thu hút được đông đảo bạn đọc đến với thư viện và ngược lại, nếu chất lượng bổ sung kém, kho tài liệu lớn mà chất lượng không cao, ít người sử dụng, hiệu quả sử dụng và khai thác tài liệu sẽ
bị giảm theo Vì vậy, trong quá trình hoạt động, muốn công tác phát triển nguồn tin hiệu quả phải có chính sách phát triển nguồn tin cụ thể, phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của thư viện
Công việc bổ sung tài liệu là quá trình “chọn lọc và lựa chọn các tài liệu
mà đơn vị thông tin cần phải có, chọn lọc là công việc đòi hỏi phải có tri thức rộng và phải do người có năng lực và am hiểu người dùng tin thực hiện còn bổ sung là công việc mang tính nghiệp vụ, đòi hỏi phải có phương pháp và tổ chức tốt" Công việc bổ sung bao gồm các khâu chính sau: xây dựng chính sách và kế
hoạch bổ sung; tiếp cận các nguồn tài liệu; chọn hình thức và phương thức bổ sung Do vậy, để công tác bổ sung tài liệu có hiệu quả thì trước hết các cơ quan
thông tin thư viện cần phải có một chính sách phát triển nguồn mà “Chính sách phát triển nguồn tin là một tài liệu thành văn, một công bố chính thức được ban hành bởi lãnh đạo thư viện hay cơ quan thông tin, quy định các phương hướng cũng như cách thức xây dựng vốn tài liệu của cơ quan” Chính sách phát triển
nguồn tin là công cụ lập kế hoạch và là công cụ làm việc hàng ngày của cán bộ
Trang 33bổ sung hay nói khác đi, nó là kim chỉ nam cho các hoạt động xây dựng nguồn tin, nó đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho việc thực hiện công tác bổ sung; đồng thời, nó cũng là công cụ giao lưu, phối hợp trong một hệ thống cơ quan thông tin thư viện, làm cho việc phối hợp giữa các cơ quan thông tin thư viện trở nên dễ dàng hơn
Chính sách phát triển nguồn tin là một “tuyên ngôn’’ của cơ quan thông tin thư viện trước cộng đồng người dùng tin và cơ quan quản lý cấp trên, buộc ban lãnh đạo cũng như nhân viên cơ quan thông tin - thư viện phải luôn nghĩ tới các mục tiêu của cơ quan và tìm ra giải pháp thực hiện mục tiêu đó Hiện nay, Thư viện Tạ Quang Bửu, trường ĐHBK HN đã có một chính sách phát triển nguồn tin cụ thể, phù hợp với chức năng và nhiệm cụ của Thư viện
2.2.1 - Đề tài bổ sung
Thư viện Tạ Quang Bửu là một thư viện chuyên ngành, phục vụ chủ yếu
về lĩnh vực khoa học kĩ thuật Vì vậy, nguồn tài liệu bổ sung của Thư viện chủ yếu thuộc lĩnh khoa học kĩ thuật như: Công nghệ chế tạo máy, Điện, Cơ khí, Điện tử viễn thông, Theo chính sách bổ sung của thư viện, thì hàng năm số lượng tài liệu được bổ sung bao gồm các lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, khoa học kĩ thuật, văn học, ngoại ngữ….Trong đó, 80% số tài liệu được bổ sung là thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật, 20% là tài liệu thuộc các lĩnh vực khác như: ngoại ngữ, chính trị, văn học…
Tài liệu được bổ sung là:
+ Các tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập: Sách giáo trình, sách tham khảo, tài liệu tra cứu và các loại tạp chí chuyên ngành
Trang 34+ Các tài liệu phục vụ cho mục đích giải trí và nâng cao đời sống cho người dùng tin như: Các sách về chính trị và xã hội, các sách văn học, các báo và tạp chí của cơ quan trung ương xuất bản
+ Các tài liệu nghiệp vụ thư viện phục vụ cho chính cán bộ thư viện tại đây
+ Ngoài các tài liệu dạng sách thì thư viện còn tiến hành bổ sung các loại tài liệu dạng khác như: Băng đĩa CD- ROOM, Băng Cassetts
2.2.2 - Loại hình bổ sung
Các loại tài liệu mà TV TQB – ĐHBK HN bổ sung một cách thường xuyên và chiếm chủ yếu đó là loại giáo trình, tài liệu tham khảo, sách ngoại văn, báo - tạp chí dạng in để nhằm phục vụ cho nhu cầu giảng dạy và học tập của cán
bộ và sinh viên trong trường Sách giáo trình thường xuyên được bổ sung sao cho phù hợp với nhu cầu đổi mới trong học tập và nghiên cứu của nhà trường Đặc biệt, cần bổ sung thêm các tài liệu ngoại văn, phục vụ cho nhu cầu thông tin của NDT tại Thư viện
Đối với tài liệu điện tử thì Thư viện cũng bổ sung thường xuyên bằng việc xây dựng thêm nhiều cơ sở dữ liệu cho báo - tạp chí, sách, luận án, luận văn và xây dựng Thư viện số ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về tài liệu điện tử của NDT tại Thư viện
2.2.3 - Số lượng bổ sung
- Số lượng sách giáo trình được bổ sung trong một năm chiếm tỉ lệ cao nhất Tại Thư viện sách giáo trình được bổ sung hàng năm khoảng hơn 1.200 cuốn
Trang 35- Sách tham khảo được bổ sung hàng năm gần 1.000 cuốn trong đó khoảng 200 cuốn là sách tham khảo ngoại văn chiếm 20%, còn lại là sách tham khảo tiếng Việt, gần 800 cuốn chiếm 80%
- Luận án, luận văn thì được bổ sung thường xuyên hàng năm do những học viên cao học, nghiên cứu sinh bảo vệ và nộp lại Thư viện
- Ngoài ra Thư viện còn bổ sung thêm báo - tạp chí một cách đều đặn hàng năm
2.3 Phương thức bổ sung vốn tài liệu
Theo Thông tư của Bộ Văn hóa số 30 – VH/TT ngày 17/3/1971 về hướng dẫn thi hành Quyết định 178/CP của Hội đồng Chính phủ về công tác thư viện,
đã đề cập đến vấn đề bổ sung sách báo cho các thư viện như sau:
“ Bổ sung sách báo cho các thư viện là một công tác then chốt về mặt chất lượng của kho sách thư viện Việc bổ sung sách báo phải được làm thường xuyên
và có kế hoạch Ủy ban hành chính các cấp, các ngành quản lý các thư viện cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm và yêu cầu của từng loại thư viện để cung cấp kinh phí cho các thư viện có đủ điều kiện làm cho kho sách của mình càng phong phú Ngoài các loại sách báo mới xuất bản, các thư viện còn có nhiệm vụ tiếp tục bổ sung các loại sách quí cần thiết mà thư viện còn thiếu bằng cách sưu tầm trong nhân dân hoặc trao đổi giữa các thư viện”
Thư viện đã nhận được sự quan tâm rất lớn của Ban giám hiệu cũng như lãnh đạo nhà trường nên công tác bổ sung vốn tài liệu của thư viện đã đạt được những kết quả to lớn Vốn tài liệu của thư viện ngày càng đa dạng và phong phú Các nguồn tài liệu mà thư viện bổ sung chủ yếu từ hai nguồn sau:
2.3.1 Nguồn bổ sung phải trả tiền
Nguồn mua
Phương thức mua tài liệu được coi là nguồn bổ sung chủ yếu của Thư viện hiện nay Thư viện chủ động bổ sung hai loại hình tài liệu chủ yếu, phục vụ cho
Trang 36nhu cầu của cán bộ giảng viên, sinh viên trong toàn trường đó là: sách và báo - tạp chí chuyên ngành TV TQB là một thư viện điện tử, được xây dựng theo hướng hiện đại và là một trong những thư viện hiện đại nhất Đông Nam Á Số lượng người dùng tin của Thư viện cũng khá đông đảo khoảng 43.500 người, chính vì vậy nhu cầu về vốn tài liệu là rất lớn Hàng năm, Thư viện được cấp một khoản ngân sách khá lớn cho công tác bổ sung vốn tài liệu, vào khoảng 1 tỷ đồng
- Đối với việc bổ sung sách:
Sách được bổ sung chủ yếu là sách giáo trình Thư viện thường đặt mua sách tiếng Việt tại các nhà xuất bản trong nước như: NXB Khoa học Kĩ thuật, NXB Giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia nguồn bổ sung này tương đối ổn định nhằm đáp ứng như cầu cung cấp thông tin mới nhất cho bạn đọc Trung bình mỗi năm Thư viện bổ sung khoảng 1.200 cuốn sách giáo trình
Đối với sách tham khảo và tạp chí ngoại văn thì Thư viện phải mua của các nhà xuất bản lớn trên thế giới như: McGraw-Hill, Silmon, Blackwell…Để mua các sách ngoại văn này thì Thư viện phải thông qua một đại lý Trước đây Thư viện mua sách ngoại văn thông qua Xunhasaba - Công ty Xuất nhập khẩu sách báo thuộc Bộ Văn hóa – Thông tin Hiện nay, Thư viện mua sách ngoại văn thông qua công ty Cdimex, Nam Hoàng…
- Đối với báo - tạp chí: đó là những xuất bản phẩm định kỳ nên được bổ
sung thường xuyên, đồng thời đây là nguồn tài liệu rất quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu, học tập của cán bộ giảng viên và sinh viên trong toàn trường, đặc biệt là các bài báo - tạp chí chuyên ngành vì nó cung cấp phần lớn những thông tin về những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu theo những chuyên ngành hẹp và có tính thời sự cao, cập nhật thường xuyên hơn so với sách
Trang 37Tại Thư viện, số lượng báo - tạp chí tiếng Việt được bổ sung tương đối lớn, bổ sung đều đặn hàng tuần, hàng tháng và háng quý Báo và tạp chí được bổ sung ở các lĩnh vực khác nhau như Khoa học xã hội, Kinh tế, Nghệ thuật,….và đặc biệt là có nhiều loại báo và tạp chí chuyên ngành như: Toán tin, Điện tử viễn thông…
Nguồn bổ sung phải trả tiền của Thư viện có những ưu điểm đó là: giúp cho Thư viện chủ động được trong việc bổ sung vốn tài liệu, chủ động về thời gian và không gian cho việc bổ sung Vì vậy, mà nội dung thông tin trong tài liệu phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc Tuy nhiên, nguồn bổ sung này phải phụ thuộc vào nguồn kinh phí hiện có của Thư viện, nên Thư viện phải chủ động trong các phương thức để việc bổ sung vốn tài liệu đạt hiệu quả cao nhất
2.3.2 Nguồn bổ sung không phải trả tiền
Bên cạnh nguồn bổ sung phải trả tiền, nguồn bổ sung không phải trả tiền đóng một vai trò quan trọng, góp phần đáng kể trong việc làm tăng nguồn vốn tài liệu nhập vào Thư viện Đồng thời, giúp làm phong phú thêm loại hình cũng như
số lượng của các loại tài liệu tại Thư viện Phương thức bổ sung của nguồn bổ sung này theo các hình thức sau:
Nguồn biếu tặng trong nước và quốc tế
Nguồn biếu tặng trong nước và quốc tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là một nguồn bổ sung quan trọng, giàu tiềm lực cho TV TQB- ĐHBK HN, làm tăng số lượng tài liệu thư viện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của bạn đọc Thư viện có mối quan hệ rộng rãi với các cơ quan, đơn vị và tổ chức trong
và ngoài nước Chính vì vậy, hàng năm Thư viện nhận được một số lượng lớn tài liệu tặng biếu của các đơn vị , tổ chức
Một số đơn vị, tổ chức Quốc tế mà Thư viện nhận được nguồn biếu tặng như: Đại sứ quán Pháp, Đại sứ quán Trung Quốc, Hội Việt – Mỹ, Ngân hàng thế giới, Hội đồng Anh…và Quỹ Châu Á cũng thường xuyên gửi tặng Thư viện một
Trang 38số lượng lớn tài liệu mà chủ yếu là tài liệu tiếng Anh Số lượng tài liệu tặng biếu
mà Thư viện nhận được rất đa dạng và phong phú cả về nội dung và hình thức và với nhiều ngôn ngữ khác nhau
Một số NXB trong nước cũng biếu tặng Thư viện như: NXB Chính trị Quốc gia, NXB Giáo dục…
Nguồn biếu tặng tài liệu tại Thư viện không chỉ có các tổ chức mà còn từ các cá nhân Có những tài liệu do các cán bộ giảng dạy hay các cá nhân trong trường đi tham quan, công tác cũng như học tập ở nước ngoài mang về biếu tặng Thư viện, có những tài liệu do chính các tác giả viết tặng hoặc có những tài liệu
do các thầy cô làm việc trong trường, thầy cô đã về hưu tặng sách cho Thư viện Ngoài ra, còn một số các nhà nghiên cứu khoa học, các việt kiều đã đến tặng sách cho Thư viện nhưng với số lượng không đáng kể
Đây là những nguồn tài liệu quý và hiếm, ít có trên thị trường sách, báo nhưng đôi khi không phải nguồn tài liệu nào cũng có nội dung như ý muốn của bạn đọc tại thư viện nên hầu hết nguồn tài liệu này ít được sử dụng, có những tài liệu không bao giờ được bạn đọc quan tâm đến Vì thế, số lượng sách của Thư viện được tặng biếu thực tế nhiều hơn so với số lượng nhập kho bởi lẽ nhiều sách được biếu tặng không đúng với lĩnh vực đào tạo của trường nên Thư viện không nhập kho mà lên danh sách để nhượng lại cho các Thư viện khác có nhu cầu về các loại sách đó Số lượng sách được biếu tặng không ổn định, có năm nhiều, có năm ít, phụ thuộc vào các đơn vị, tổ chức hay cá nhân biếu tặng
Hàng năm, Thư viện Tạ Quang Bửu nhận được nhiều tài liệu tặng biếu từ các tổ chức và cá nhân trong nước:
Quỹ Châu Á do Thư viện Quốc gia đứng ra làm đầu mối phân chia cho các thư viện trong cả nước từ năm 2005 Đến nay, Thư viện đã nhận được tổng cộng 10 đợt sách với số lượng 1.382 cuốn sách ngoại về các lĩnh vực khoa học
kỹ thuật