1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội Nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc kháng virus HIV (ARV) tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm - Hà Nội

46 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, luận văn “Tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội: Nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, luận văn “Tiếp cận

chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội: Nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc kháng VIRUS HIV (ARV) tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm- Hà Nội” đã được hoàn thành Trước tiên tôi xin gửi

lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thu Hương, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học đã dạy dỗ

và truyền đạt những tri thức quý báu trong suốt những năm qua, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học của mình

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ năng lực của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô giáo khoa Xã hội học để tôi được rút kinh nghiệm trong những nghiên cứu sau đạt kết quả tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Ma Thu Thủy

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Số bệnh nhân nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV đến lĩnh

thuốc/tái khám hàng tháng tại PKNT Nam Từ Liêm… 17 Bảng 1.2 Bảng mã quan sát cán bộ Y tế……… 20 Bảng 1.3 Bảng mã quan sát bệnh nhân……… 21 Bảng 2.1 Đặc điểm bệnh nhân đang điều trị ARV ở PKNT Nam Từ

Liêm……… 34 Bảng 2.2 Đặc điểm tuổi của nhóm bệnh nhân điều trị ARV……… 35 Bảng 2.3 Cơ cấu trình độ học vấn……… 37 Bảng 2.4 Cơ cấu thu nhập theo tháng của nhóm bệnh nhân điều trị

ARV……… 40 Bảng 2.5 Tương quan giữa trình độ học vấn và thu nhập của nhóm bệnh

nhân điều trị ARV……… 41 Bảng 2.6 Cơ cấu số người trong gia đình bệnh nhân điều trị ARV đồng

nhiễm HIV……… 44 Bảng 2.7 Tỉ lệ đường lây nhiễm HIV của nhóm bệnh nhân điều trị

ARV……… 45 Bảng 2.8 Thời gian bắt đầu điều trị ARV của nhóm bệnh nhân nữ……… 49 Bảng 2.9 Kết quả quan sát bệnh nhân điều trị ARV khi đến tái khám lĩnh

thuốc định kỳ……… 51 Bảng 2.10 Đánh giá của bệnh nhân nữ điều trị ARV về địa điểm của các cơ

sở y tế……… 56 Bảng 2.11 Số lượng bệnh nhân nữ điều trị ARV được tư vấn, trợ giúp về

tâm lý, tình cảm ……… 59 Bảng 2.12 Thay đổi về tình trạng vận động của bệnh nhân nữ

điều trị ARV……… 64

Trang 5

Bảng 2.13 Số bệnh nhân nữ điều trị ARV bị tăng nặng và gián đoạn trong

quá trình điều trị……… 66 Bảng 2.14 Số bệnh nhân nữ điều trị ARV bị nhiễm trùng cơ hội trong 12

tháng qua……… 67 Bảng 3.1 Kết quả quan sát cán bộ y tế trong các buổi tái khám lĩnh thuốc

định kỳ tại phòng khám ngoại trú……… 79 Bảng 3.2 Mức độ bệnh nhân nữ điều trị ARV có người hỗ trợ khi bị ốm 81 Bảng 3.3 Mức độ bệnh nhân nữ điều trị ARV có người cho tiền khi cần

điều trị y tế……… 82 Bảng 3.4 Mức độ bệnh nhân nữ điều trị ARV có người để yêu và cảm thấy

mình được cần đến……… 85 Bảng 3.5 Tương quan giữa điểm tựa tinh thần và người hỗ trợ điều trị cho

nhóm bệnh nhân nữ điều trị ARV……… 86 Bảng 3.6 Tương quan giữa thu nhập và khoản tiền để dành cho việc chăm

sóc sức khỏe của bệnh nhân nữ điều trị ARV………… 90 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế đến quyết định điều trị của bệnh

nhân nữ điều trị ARV……… 92 Bảng 3.8 Bệnh nhân nữ điều trị ARV có bảo hiểm y tế trong thời điểm

hiện tại……… 93 Bảng 3.9 Quan điểm của bệnh nhân nữ điều trị ARV về việc nhập viện

trong thời điểm hiện tại (3 tháng gần đây)……… 95 Bảng 3.10 Nhận định của bệnh nhân nữ điều trị ARV về sự kỳ thị của xã

hội với việc điều trị ARV……… 98 Bảng 3.11 Quan điểm của bệnh nhân nữ điều trị ARV cho rằng điều trị

HIV/AIDS là sự yếu đuối và kém cỏi 100

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU

Trang

Biểu 2.1 Sự thay đổi việc làm của nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV……… 38 Biểu 2.2 Tình trạng hôn nhân của nhóm bệnh nhân điều trị ARV……… 43 Biểu 2.3 Tỉ lệ bệnh nhân nữ điều trị ARV lỡ hẹn tái khám định kỳ trong 12

tháng gần đây……… ……… 53 Biểu 2.4 Đánh giá khả năng bệnh nhân nữ điều trị ARV gặp được bác sỹ

chuyên khoa khi cần……… 55 Biểu 2.5 Thay đổi về giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân điều trị

ARV……… 62 Biểu 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân nữ điều trị ARV có người hỗ trợ điều trị………… 84 Biểu 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân nữ điều trị ARV tham gia các nhóm đồng đẳng…… 103

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và cơ sở pháp lý 4

2.1 Ý nghĩa khoa học 4

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

2.3 Cơ sở pháp lý 5

3 Tổng quan nghiên cứu: 6

3.1 Những nghiên cứu về tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam 6

3.2 Nghiên cứu về nhóm phụ nữ nhiễm HIV 7

3.3 Nghiên cứu về tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV 8

3.4 Những nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nhiễm HIV 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4.1 Mục đích nghiên cứu 12

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13

5.1 Đối tượng nghiên cứu 13

5.2 Khách thể nghiên cứu 13

5.3 Phạm vi nghiên cứu 13

6 Câu hỏi nghiên cứu và giải thuyết nghiên cứu 14

6.1 Câu hỏi nghiên cứu: 14

6.2 Giả thuyết nghiên cứu 14

7 Phương pháp nghiên cứu 15

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu 15

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 16

7.3 Phương pháp quan sát 19

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 22

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 23

1.1 Các khái niệm công cụ 23

1.1.1 Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ nhiễm HIV/AID đang điều trị thuốc kháng virus HIV 23

1.1.2 Chăm sóc sức khỏe và tiếp cận chăm sóc sức khỏe 25

Trang 8

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 27

1.2.1 Lý thuyết gán nhán: 27

1.2.2 Thuyết nhu cầu 29

1.3 Vài nét về phụ nữ nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 30

1.4 Địa bàn nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NHÓM PHỤ NỮ NHIỄM HIV ĐANG ĐIỀU TRỊ ARV TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ 33

NAM TỪ LIÊM 33

2.1 Đặc điểm xã hội nhóm phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV 33

2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 33

2.1.2 Lý do nhiễm bệnh 45

2.2 Thực trạng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhóm bệnh nhân nữ nhiễm HIV điều trị ARV 48

2.2.1 Thời điểm bắt đầu điều trị ARV của nhóm bệnh nhân 48

2.2.2 Tiếp cận chăm sóc sức khỏe trong các buổi tái khám định kỳ 50

2.2.3 Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của nhóm phụ nữ nhiễm HIV 53

2.2.4 Đánh giá của nhóm phụ nữ nhiễm HIV về khả năng tiếp cận chăm sóc y tế 55

2.3 Tác động của việc điều trị ARV đến sức khỏe của nhóm phụ nữ nhiễm HIV 60

2.3.1 Đánh giá về sự thay đổi lâm sàng trong quá trình điều trị 61

2.3.2 Đánh giá về sự thay đổi chức năng vận động 64

2.3.3 Đánh giá về tăng nặng giai đoạn lâm sàng và gián đoạn trong quá trình điều trị 66

CHƯƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA PHỤ NỮ NHIỄM HIV ĐANG ĐIỀU TRỊ ARV TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ NAM TỪ LIÊM 71

3.1 Khái quát về chính sách và chương trình chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ điều trị ARV tại địa bàn nghiên cứu 71

3.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc điều trị cho bệnh nhân HIV điều trị ARV của phòng khám ngoại trú 75

3.3 Sự hỗ trợ của gia đình trong quá trình điều trị bệnh của phụ nữ nhiễm HIV 80

3.3.1 Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe thể chất 80

3.3.2 Hỗ trợ tuân thủ điều trị 83

3.3.3 Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần 85

3.4 Thách thức trong quá trình tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV 87

3.4.1 Ảnh hưởng của vấn đề tài chính đến việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe 88

3.4.2 Đánh giá về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng 94

Trang 9

3.4.3 Ảnh hưởng của sự kỳ thị và phân biệt đối xử 95 3.4.4 Ảnh hưởng của sự suy giảm các mô hình tự giúp trong cộng đồng đến tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm bệnh nhân 102

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 106

Trang 10

NGO

Dịch vụ dự phòng lây truyền mẹ con

Tổ chức phi chính phủ PKNT Phòng khám ngoại trú cho người nhiễm HIV/AIDS TVXNTN Tư vấn Xét nghiệm Tự nguyện

TYTT Trung tâm Y tế UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về

HIV/AIDS UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đại dịch HIV/AIDS được biết đến từ những năm 80 của thế kỷ trước Hơn 30 năm đã trôi qua, hiện nay cả thế giới vẫn phải đương đầu với đại dịch nguy hiểm này Ở Việt Nam, kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện từ năm 1990 ở thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay con số phát hiện nhiễm mới vẫn liên tục gia tăng Trong 6 tháng đầu năm 2015, số người xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV 3.204 người, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 1.326 người, số người nhiễm HIV tử vong là 438 và số tử vong báo cáo bổ sung quý II/2015 là 1.500 người Lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 và số tử vong 74.442 người So sánh với cùng kỳ năm 2014, số ca nhiễm HIV phát hiện của năm 2015 giảm 47% (1.341 trường hợp); số AIDS được phát hiện giảm 49% (797 trường hợp); số trường hợp tử vong được phát hiện tăng gấp 2,2 lần (772 trường hợp) Trong số người nhiễm HIV phát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%) Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện tiếp tục có

xu hướng gia tăng trong nữ giới Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây nhiễm HIV qua đường tình dục là 52%, lây truyền qua đường máu giảm còn 35,4% Xu hướng lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng liên tục

từ 2007 trở lại đây Nhìn chung, số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục

có xu hướng giảm, nhưng lũy tích số người nhiễm HIV còn sống tiếp tục gia tăng [1]

Chương trình điều trị bằng thuốc kháng virus HIV với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế đã được triển khai ở Việt Nam và mở rộng nhanh chóng từ năm 2004 Mạng lưới chăm sóc Y tế, điều trị HIV/AIDS không ngừng mở rộng từ trung ương đến địa phương, góp phần tăng cường mở rộng độ tiếp cận của dịch vụ Số người nhiễm HIV được tiếp cận điều trị ARV không ngừng

Trang 12

tăng nhanh qua các năm Tính đến cuối năm 2012, số người nhiễm HIV được tiếp cận và điều trị ARV đã tăng gấp 8 lần so với số bệnh nhân được điều trị năm 2012, chương trình phòng chống HIV/AIDS đã xác định mục tiêu điều trị cho khoảng 111.000 người có nhu cầu điều trị vào năm 2015 và 195.000 có nhu cầu điều trị vào năm 2020 [10]

Người có HIV/AIDS hiện được coi là nhóm dễ bị tổn thương trong cộng đồng và nhận được nhiều sự quan tâm của các tổ chức xã hội và y tế, đặc biệt các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong những năm gần đây, do có

sự thay đổi trong công tác truyền thông, nên tình trạng kỳ thị với người có HIV đã dần được cải thiện Nhưng bên cạnh đó, người có HIV vẫn còn gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận với cơ hội nghề nghiệp, hòa nhập cộng đồng, chăm sóc sức khỏe và có được cuộc sống bình thường như những người khác, đặc biệt là nhóm phụ nữ nhiễm HIV

Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV đang ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây Hàng năm, ở Việt Nam có gần 2 triệu phụ nữ mang thai và tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS là 0,25% Theo Tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con ước tính khoảng 30% - 45% nếu không có can thiệp Do đó, mỗi năm có khoảng 1.500 đến 2.000 trẻ em bị nhiễm HIV được sinh ra Gần đây, với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, Việt Nam đang triển khai mở rộng các dịch

vụ đến các tỉnh và quận, huyện, xã phường nhằm tăng cường các hoạt động

dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con như thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện, cung cấp thuốc ARV và các dịch

vụ chăm sóc và điều trị liên quan đến HIV/AIDS [18]

Đứng về góc độ lâm sàng, nhóm phụ nữ dễ bị lây nhiễm HIV qua đường tình dục hơn là nam giới Ngoài nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm, nhóm phụ nữ nhiễm HIV từ chồng/ bạn tình chung sống đang ngày càng gia

Trang 13

tăng Việc không chủ động được việc phòng tránh nhiễm HIV khiến phụ nữ gặp nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với điều trị, chăm sóc ARV

Trong gia đình, người phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng Tuy nhiên, khi họ bị lây nhiễm HIV từ chồng/ bạn tình, nhưng thiếu được cung cấp những thông tin đầy đủ, tiếp cận với điều trị và chăm sóc sức khỏe tinh thần và thể chất trong thời gian điều trị vẫn còn gặp phải nhiều rào cản

Trong Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2010 và tầm nhìn 2020 có một số mục tiêu, chỉ tiêu vẫn chưa được thực hiện sâu sát và triệt để như: Vẫn còn tiềm ần nhiều nguy cơ làm tăng tình hình dịch HIV/AIDS; Tỷ lệ bao phủ của các chương trình can thiệp cả địa bàn và số lượng can thiệp vẫn còn hạn chế, mức độ hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm có hành vi nguy cơ cao vẫn diễn ra ở các mức độ cho phép khả năng tạo ra lây nhiễm HIV vẫn còn đáng quan ngại; Tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về

dự phòng lây nhiễm HIV của đại bộ phận người dân chưa cao, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa; Tỷ lệ tiếp cận điều trị thuốc đặc hiệu kháng VIRUS HIV (ARV),

dự phòng lây truyền từ mẹ sang con mới chỉ đạt được 40% - 50% nhu cầu

Với nhóm phụ nữ, chủ yếu những can thiệp trong thời gian vừa qua tập trung vào nhóm có hành vi nguy cơ cao (phụ nữ bán dâm) hoặc dự phòng lây truyền mẹ con, mà ít có chương trình chăm sóc sức khỏe toàn diện, đặc biệt đánh giá khả năng tiếp cận với chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ bị lây nhiễm thụ động từ chồng hoặc bạn tình chung sống Ngoài những khó khăn của bản thân trong việc điều trị mãn tính một căn bệnh tấn công vào hệ miễn dịch, họ còn phải chăm sóc đến bạn tình/chồng cũng đang đồng nhiễm hoặc đồng điều trị ARV

Llý do quan trọng nhất mà chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tiếp

cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội: Nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc kháng VIRUS HIV (ARV) tại phòng khám

Trang 14

ngoại trú Nam Từ Liêm - Hà Nội” là tìm hiểu một cách cụ thể việc tiếp cận

với chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ đã và đang điều trị thuốc ARV tại phòng khám ngoại trú Từ đó, chúng tôi cũng phần nào phân tích, đánh giá những yếu tố thuận lợi và thách thức ảnh hưởng đến việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Nam

Từ Liêm - Hà Nội

2 Ý nghĩa khoa học , ý nghĩa thực tiễn và cơ sở pháp lý

2.1 Ý nghĩa khoa học Chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS không chỉ là vấn đề quan tâm của ngành dịch tễ, y tế công cộng mà còn là vấn đề chung của rất nhiều ngành khoa học, trong đó có xã hội học

Ngoài những vấn đề về chỉ số chăm sóc sức khỏe, luận văn còn nhìn nhận những vấn đề xã hội mà nhóm phụ nữ nhiễm HIV đang đối mặt, trong

đó có những phân tích về vấn đề bình đẳng giới, quan niệm xã hội… Những phân tích này hy vọng sẽ đóng góp phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ thêm một

số lý thuyết xã hội học, đặc biệt những lý thuyết liên quan đến hành vi

2.2 Ý nghĩa thực tiễn Hàng năm, Ngân sách nhà nước phải dành ra một khoản không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS, xét nghiệm tìm những ca nhiễm mới trong cộng đồng; thực hiện các chương trình chăm sóc

hỗ trợ điều trị cho người nhiễm Nhiều tổ chức phi chính phủ đã đầu tư một khoản lớn để đồng hành cùng chính phủ Việt Nam thông qua các chương trình, dự án ngắn, trung và dài hạn Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những dự án viện trợ nước ngoài đang ngày càng bị cắt giảm Dịch HIV dường như đang quay trở lại bùng phát hơn và tập trung vào nhóm hành vi lây truyền qua đường tình dục

Trang 15

Ngày càng nhiều phụ nữ nhiễm HIV được phát hiện và được tiếp cận với chương trình điều trị Tuy nhiên, những vấn đề xoay quanh cuộc sống làm cho họ trở nên khó khăn hơn trong việc tuân thủ điều trị, hoặc điều trị hỗ trợ trong quá trình theo dõi sức khỏe Việc tìm hiểu, phân tích thực trạng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm bệnh nhân này sẽ giúp cho xã hội có cái nhìn toàn diện hơn để có những chương trình cụ thể đồng hành, hỗ trợ họ trong việc điều trị Thực tế cho thấy nếu người nhiễm HIV có cuộc sống tính cực, được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, tuân thủ điều trị sẽ góp phần đảm bảo cho việc sống khỏe, sống tốt của họ Từ đó sẽ nâng cao năng suất lao động, làm việc của họ, góp phần vào sự phát triển của xã hội

2.3 Cơ sở pháp lý Việt Nam đã có những tiến bộ lớn trong việc ứng phó với HIV/AIDS Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS vào năm 1990, năm 2004 đã ban hành Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm

2000 và tầm nhìn năm 2020 bao gồm chín chương trình hành động đã được

đề ra nhằm cung cấp những hướng dẫn chi tiết thực hiện chiến lược Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) đã được ban hành trong năm 2006 và Nghị định 108/2007 NĐ-

CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người năm 2007 Kết quả của việc cấu trúc lại hệ thống quốc gia phòng chống HIV/AIDS trong năm 2005 là việc thành lập Cục Phòng chống HIV/AIDS trực thuộc Bộ Y tế, cũng như các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS ở các tỉnh năm 2006

Trong giai đoạn 2008 - 2009, nhiều chính sách và văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành, tạo ra khung pháp lý vững chắc và nhất quán hơn cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS Một số quyết định cũng

Trang 16

đã được ban hành nhằm tăng cường năng lực hệ thống phòng chống HIV nhằm thực hiện các văn bản, chính sách, bao gồm:

• Quyết định số 1107/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố, giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015

• Quyết định số 28/2008/QĐ-BYT thành lập Hệ thống biểu mẫu báo cáo định kỳ và cơ sở dữ liệu duy nhất cấp quốc gia cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

3 Tổng quan nghiên cứu

3.1 Những nghiên cứu về tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam Người nhiễm HIV/AIDS là nhóm nhận được nhiều quan tâm của xã hội, các cơ quan Nhà nước cũng như của các nhà nghiên cứu, các tài liệu liên quan đến nhómnày trước hết tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng, diễn biến của

họ trong xã hội Việt Nam

Trước hết là những báo cáo thường kỳ của các cơ quan nhà nước như

Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, hay các cơ quan ở địa phương nhằm thống kê về số người có HIV/AIDS, người sử dụng ma túy ở từng địa phương và cả nước nói chung Bên cạnh đó, các tài liệu, nghiên cứu của các tổ chức khác tập trung vào tìm hiểu thực trạng nhóm người này cũng khá nhiều

Báo cáo tiến độ phòng, chống AIDS Việt Nam của Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm (2013) đã trình bày một cách đầy đủ và chi tiết về những vấn đề liên quan đến HIV/AIDS ở Việt Nam như: tóm tắt tổng quan về tình hình dịch HIV tại Việt Nam, phân tích các ứng phó quốc gia về chính sách và các chương trình liên quan đến dự phòng, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ và nêu bật 4 bài học kinh nghiệm về thực hành tốt nhất của quốc gia Đưa ra những thách thức chính mà Việt Nam phải

Trang 17

đương đầu và các giải pháp nhằm giải quyết các thách thức này, tóm tắt các

hỗ trợ chính từ các đối tác phát triển và đưa ra các nhận định về hệ thống theo dõi và đánh giá của Việt Nam về HIV/AIDS [20]

Tiếp đến là hàng loạt những tài liệu, nghiên cứu liên quan đến vấn đề HIV/AIDS ở Việt nam như: Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV của Ủy ban quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm; Sự thật về trẻ em và HIV của Bộ Giáo dục và Đào tạo; HIV/AIDS ở Việt Nam ước tính và dự báo của Bộ Y tế do PGS TS Nguyễn Thanh Long chủ biên; HIV/AIDS ở Việt Nam của J Stephen Morrison và Phillip Nieburg

… đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khá đầy đủ và toàn diện về thực trạng HIV/AIDS ở Việt Nam

3.2 Nghiên cứu về nhóm phụ nữ nhiễm HIV Báo cáo nghiên cứu: Cơ hội và sự lựa chọn của phụ nữ nhiễm HIV trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của Trung tâm nghiên cứu Phát triển Y tế cộng đồng (CCRD) Báo cáo nghiên cứu được thực hiện vào tháng 7 năm

2004 Mục tiêu của nghiên cứu nhằm: (1) mô tả những thiếu hụt so với nhu cầu và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS; (2) đưa ra một số khuyến nghị phù hợp để cải thiện chất lượng các dịch vụ CSSKSS và ngăn chặn sự gia tăng các trường hợp nhiễm HIV trong cộng đồng

Nghiên cứu định tính thu thập các thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm với 49 đối tượng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm phụ nữ hành nghề mại dâm (30), bạn tình nam giới (3), nhân viên y tế (5) và giám đốc dự án HIV/AIDS (2) Thông tin

về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nhiễm HIV cũng được thu thập thông qua các chuyến khảo sát tại các cơ sở y tế tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

Trang 18

Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS thường gặp khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản Họ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử, hành vi không đúng mực của nhân viên y tế và phải chi trả cho dịch vụ sức khỏe cao hơn khi điều trị tại bệnh viện Đôi khi họ còn

bị ngược đãi Khi phụ nữ nhiễm HIV/AIDS mang thai ngoài ý muốn họ cũng

ít được cung cấp các biện pháp tránh thai lâm sàng

Dịch vụ tư vấn và hướng dẫn về cách sử dụng thuốc ARV, cách tự chăm sóc và phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con được thực hiện tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, những người nhiễm HIV/AIDS khi cần thông tin thường chỉ được hướng dẫn hoặc cung cấp thông tin rất sơ sài hoặc không đầy

đủ do sự hạn chế về kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm của tư vấn viên Các chương trình y tế dành cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV/AIDS và con của họ thường chỉ được cung cấp trong thời gian ngắn hoặc không đầy đủ, chủ yếu là

do chính sách khám thai một lần hoặc điều trị trong khi mang thai

Ngoài ra, các chương trình kế hoạch hóa gia đình thường cung cấp phương tiện tránh thai cho các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nhưng không theo dõi khách hàng sau khi nhận dịch vụ cũng như giám sát hiệu quả tránh thai Hơn nữa, các chính sách y tế hiện hành cho người nhiễm HIV không hỗ trợ họ như mong muốn vì còn thiếu các biện pháp thi hành luật [16]

3.3 Nghiên cứu về tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV

Nghiên cứu "Cải thiện chất lượng chăm sóc trong bệnh viện thông qua

giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV" Sách do nhóm tác giả

Khuất Thị Hải Oanh, Kim Ashburn, Julie Pulerwitz, Jessica Ogden, Laura Nyblade biên soạn đã đưa ra các thông tin về giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV và nâng cao chất lượng chăm sóc trong các cơ sở y tế ở Việt Nam Nội dung của cuốn sách đã trình bày kết quả của chương trình nghiên cứu can thiệp ở bốn bệnh viện tại Việt Nam Nghiên cứu can thiệp này

Trang 19

được xây dựng nhằm tác động vào hai nguyên nhân căn bản của kỳ thị liên quan đến HIV: 1, Sợ bị lây nhiễm thông qua tiếp xúc thông thường; 2, Phán xét về mặt đạo đức, xã hội và việc gắn HIV với một số hành vi và nhóm dân

cư vốn đã bị kỳ thị nhiều như mại dâm và sử dụng ma túy Kết quả cho thấy: giảm kỳ thị và phân biệt đối xử có thể góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân có HIV Ngoài ra các cách tiếp cận nhằm làm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử trong cơ sở y tế vừa phải tác động đến môi trường làm việc vừa với tới được tất cả các nhân viên làm việc trong cơ sở đó [11]

Nghiên cứu về chỉ số đánh giá mức độ kỳ thị với người sống với HIV ở Việt Nam năm 2014 do UNAIDS tài trợ và thực hiện đã chỉ ra những tác động của kỳ thị với chăm sóc sức khỏe của người nhiễm HIV [19] Nghiên cứu đã chỉ ra những lo ngại về chất lượng của dịch vụ y tế và tính bảo mật của xét nghiệm HIV Kết quả Nghiên cứu về Chỉ số đánh giá mức độ kỳ thị với người nhiễm HIV cho thấy nỗi lo ngại về chất lượng và tính bảo mật của dịch vụ y tế: rất nhiều người nhiễm HIV đã không được thảo luận kế hoạch điều trị với nhân viên y tế Dịch vụ y tế đôi lúc không thân thiện cũng như đảm bảo các quy chuẩn đạo đức Một số người nhiễm (đặc biệt là người nghiện chích ma túy và người nhiễm HIV mới được chẩn đoán) nói rằng họ bị ép xét nghiệm hoặc được xét nghiệm HIV mà không biết Thêm vào đó, vẫn còn một tỷ lệ cao việc tiết lộ thông tin không được sự đồng thuận, có đến trên một phần ba người phỏng vấn và gần một phần hai người nghiện chích ma túy phải trải nghiệm điều này Với phần điều trị và tiếp cận điều trị, người phỏng vấn được hỏi về tình hình điều trị ARV hiện tại, khả năng tiếp cận điều trị ARV kể cả khi họ chưa cần điều trị ARV, tình hình điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng như khả năng tiếp cận điều trị nhiễm trùng cơ hội Số liệu cho thấy, tỷ lệ người nhiễm HIV cảm thấy họ có thể tiếp cận được dịch vụ điều trị ARV (cho

dù họ có đang được điều trị hay không đang được điều trị) là rất cao, trên

Trang 20

97% người nhiễm và tỷ lệ người nhiễm HIV được tiếp cận dịch vụ điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội là trên 88% Thêm vào đó, 87% người nhiễm HIV hiện đang được điều trị ARV và 46,2% đang được điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội Khi phỏng vấn sâu, người nhiễm HIV cũng thể hiện lo ngại về điều trị ARV không còn miễn phí nữa trong tương lai; nếu như vậy, nhiều người sẽ không có khả năng tiếp cận ARV nếu họ phải tự chi trả Trong các cuộc phỏng vấn sâu, người nhiễm HIV cũng bày tỏ các quan ngại về việc bị

từ chối bảo hiểm y tế do tình trạng nhiễm HIV, điều này ảnh hưởng đến khả năng chi trả cho dịch vụ y tế khi họ cần và điều này càng làm họ lo lắng hơn khi điều trị ARV không còn được cung cấp miễn phí trong tương lai

Báo cáo cuối kỳ “The Influence of Stigma on Access to Health Services

by Persons with HIV Illness” của dự án “Stigma project” (dự án được thực hiện bởi 8 tổ chức quốc tế tại Ottawa và Edmonton từ năm 2003 đến 2006 thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính) Báo cáo này do các bác sỹ

và các nghiên cứu viên đến từ đại học Alberta; Ottawa; đại học Lethbridge và mạng lưới Canadian Aboriginal AIDS Network Theo báo cáo này, AIDS vẫn

là căn bệnh bị kỳ thị trong cộng đồng và gây ảnh hưởng đến việc bệnh nhân công khai cũng như mong muốn được hiểu rõ về bệnh tình của họ Những người tham gia trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, quan điểm tiêu cực về HIV/AIDS do sự thiếu hiểu biết, các phương tiện truyền thông đã mô tả về HIV/AIDS như một căn bệnh đáng sợ, và những người nhiễm HIV cũng vậy Những người nhiễm HIV thường bị đổ lỗi, gán tiếng xấu và chịu sự kỳ thị trong cộng đồng.Trong rất nhiều các kết quả nghiên cứu, một trong số đó chỉ

ra những tác động của kỳ thị và phân biệt đối xử với tiếp cận các dịch vụ y tế

và chăm sóc sức khỏe Sự thiếu thoải mái, không an toàn và kỳ thị là rào cản khiến người nhiễm HIV không muốn đến để chăm sóc y tế Ngược lại, những

cơ sở thực hiện nguyên tắc “tạo môi trường an toàn và thân thiện” khi cung

Trang 21

cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ được nhiều người tham gia lựa chọn hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra sự kỳ thị và phân biệt đối xử đang là rào cản lớn trong việc người nhiễm HIV quyết định tiếp cận chăm sóc, điều trị thuốc kháng virus ARV [31]

3.4 Những nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nhiễm HIV Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và tâm lý xã hội ở người phụ nữ nhiễm HIV trầm cảm sau sinh của bác sỹ Nguyễn Mạnh Hoan (Bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai) được nhóm tác giả thực hiện năm 2014 Nghiên cứu này tập trung vào nhóm phụ nữ trong thời kỳ thai sản, trong đó có 135 phụ nữ nhiễm HIV Nghiên cứu tìm hiểu và so sánh tỷ lệ bị trầm cảm sau sinh của nhóm phụ nữ nhiễm HIV so với nhóm không nhiễm, trong tương quan về nhân trắc, thai kỳ, nghề nghiệp, thu nhập, tiền căn, hôn nhân gia đình và tâm lý sau sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm nhiễm HIV có tỷ lệ bị trầm cảm sau sinh cao hơn nhiều so với nhóm không nhiễm (sau 1 tuần là 60,6% và 6 tuần là 61,2%, so với 10,4% và 8,7%) Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đặt ra vấn đề cần phải có những hỗ trợ tâm lý đặc biệt cho các bà mẹ nhiễm HIV khi chuẩn

bị và sau sinh [5]

Nghiên cứu về tiếp cận Dịch vụ Chăm sóc, Điều trị và Hỗ trợ cho phụ

nữ và trẻ em nhiễm HIV trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại Điện Biên, Kon Tum và An Giang do Trung tâm NCDS và SKNT thực hiện dưới

sự tài trợ của UNICEF và Cục phòng, chống HIV/AIDS, Vụ SKBMTE - Bộ

Y tế Các kết quả của nghiên cứu cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có những chính sách mạnh mẽ để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV, vẫn còn nhiều thách thức trong việc cung cấp các dịch

vụ liên quan đến HIV trong các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm nhóm dân tộc thiểu số Các can thiệp, hoạt động tiếp cận dịch vụ công bằng cho các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm cả phụ nữ và trẻ em nhiễm HIV thuộc cộng

Trang 22

đồng người dân tộc thiểu số chưa được đề cập nhiều Các kế hoạch hành động của địa phương cũng cho thấy sự quan tâm đến các nhóm dân tộc thiểu số còn hạn chế Hiện nay, các số liệu về HIV/AIDS ở phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu

số còn chưa đầy đủ, thiếu cập nhật [17] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có

sự khác nhau rõ rệt về chất lượng các dịch vụ tại phòng khám ngoại trú, phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại các

cơ sở y tế có nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế so với cơ sở không có hỗ trợ

từ nguồn này Việc bố trí các điểm dịch vụ dường như chưa xem xét đến vị trí địa lý ở những vùng sâu, xa, vùng miền núi với tỷ lệ cao người dân tộc thiểu

số nhiễm HIV cũng như cộng đồng người dân tộc thiểu số nói chung

Do thiếu thông tin về HIV/AIDS, phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, thiếu kiến thức về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con Đồng thời, sự thiếu thông tin còn gây hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ của nhóm đối tượng này Bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc, điều trị và hỗ trợ liên quan đến HIV/AIDS cho phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu số nhiễm HIV/AIDS Các yếu

tố đó là tỷ lệ biết chữ thấp, sự khác biệt về văn hóa và bất đồng ngôn ngữ, những khó khăn về địa lý và điều kiện kinh tế, vấn đề phân biệt đối xử và kỳ thị Cũng vì những lý do trên, có một tỷ lệ bệnh nhân đã bỏ điều trị hoặc không thể theo dõi được (mất dấu) Tuân thủ điều trị vẫn còn là một thách thức đối với việc điều trị và theo dõi chăm sóc người dân tộc thiểu số nhiễm HIV/AIDS

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu Qua nghiên cứu những phụ nữ đang điều trị thuốc ARV tại phòng khám Nam Từ Liêm, Hà Nội, đề tài hướng tới làm sáng tỏ khả năng tiếp cận với

Trang 23

chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV đang sử dụng thuốc kháng virus

HIV (ARV) tại Hà Nội hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Mô tả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện tại cho bệnh nhân điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm - Hà Nội

- Tìm hiểu đặc điểm xã hội và tình trạng sức khỏe của nhóm phụ

nữ nhiễm HIV/AIDS đang điều trị thuốc ARV tại phòng khám Nam Từ Liêm,

Hà Nội

- Phân tích khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe thể chất cũng như sức khỏe tinh thần của nhóm phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Từ đó tìm hiểu các yếu tố tác động tới khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của họ

- Đề xuất những khuyến nghị nhằm hỗ trợ nhóm phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám có được khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe đầy đủ, toàn diện, chất lượng hơn

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu Khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm, Hà Nội

5.2 Khách thể nghiên cứu Phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm

5.3 Phạm vi nghiên cứu

trú Nam Từ Liêm, thuộc Trung tâm Y tế quận Nam Từ Liêm, Hà Nội

tháng 10/2015

Ngày đăng: 11/05/2017, 05:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bắc (2015), Chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại các phòng khám ngoại trú và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại các phòng khám ngoại trú và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Bắc
Năm: 2015
3. Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Nguyễn Văn Định (2012), Hiệu quả can thiệp tư vấn, chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng ở 5 huyện của Nghệ An, Luận án tiến sỹ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả can thiệp tư vấn, chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng ở 5 huyện của Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Năm: 2012
5. Nguyễn Mạnh Hoan (2014) Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và tâm lý xã hội ở người phụ nữ nhiễm HIV trầm cảm sau sinh, Bệnh viên Đa Khoa Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và tâm lý xã hội ở người phụ nữ nhiễm HIV trầm cảm sau sinh
8. Lê Thị Bích Liên, Lê Thị Bình (2012), Kiến thức, thực hành trong điều trị ARV của bệnh nhân HIV/AIDS và một số hoạt động hỗ trợ của cộng đồng tại trung tâm y tế huyện Từ Liêm, Hà Nội, Tạp chí Y học thực hành (907), số 3/2014, 69 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành trong điều trị ARV của bệnh nhân HIV/AIDS và một số hoạt động hỗ trợ của cộng đồng tại trung tâm y tế huyện Từ Liêm, Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Bích Liên, Lê Thị Bình
Năm: 2012
11. Khuất Thị Hải Oanh, Kim Ashburn, Julie Pulerwitz, Jessica Ogden, Laura Nyblade (2008) Cải thiện chất lượng chăm sóc trong bệnh viện thông qua giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện chất lượng chăm sóc trong bệnh viện thông qua giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV
14. Nguyễn Thị Thanh Sương, Nguyễn Văn Quý (2006), Tình hình nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Trung tâm phòng chống bệnh xã hội Thừa Thiên Huế, Tham luận tại hội nghị quốc gia về HIV/AIDS 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Trung tâm phòng chống bệnh xã hội Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Sương, Nguyễn Văn Quý
Năm: 2006
15. Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO) (2004), Giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam, Báo cáo sau dự án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam
Tác giả: Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO)
Năm: 2004
22. Phan Thanh Xuân (2015), Hiệu quả can thiệp dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai tại hai quận, huyện thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 - 2012, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả can thiệp dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai tại hai quận, huyện thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 - 2012
Tác giả: Phan Thanh Xuân
Năm: 2015
23. Vũ Văn Xuân-Nguyễn Quý Thái- Trần Văn Tiến (2013), Nghiên cứu thông tin phản hồi của người nhiễm HIV/AIDS về sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng, Tạp chí Y học thực hành 3/2013, 29 - 32Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thông tin phản hồi của người nhiễm HIV/AIDS về sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng
Tác giả: Vũ Văn Xuân-Nguyễn Quý Thái- Trần Văn Tiến
Năm: 2013
24. Bertrand, J., K. Hardee, R Magnani, and M. Angle (1995) Access, quality of care and medical barriers in family planning programs. The International Family Planning Perspective Sách, tạp chí
Tiêu đề: Access, quality of care and medical barriers in family planning programs
25. Erving Goffman (1963) Stigma: Notes on the Management of Spoiled Identity. Prentice-Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stigma: Notes on the Management of Spoiled Identity
26. James Coleman (1994), Foundations of Social Theory, Havard University Press 27. Neil J. Smelser (1998), The rational and the ambivalent in the social sciences, American Socialogy Review 63, 1 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foundations of Social Theory", Havard University Press 27. Neil J. Smelser (1998), "The rational and the ambivalent in the social sciences
Tác giả: James Coleman (1994), Foundations of Social Theory, Havard University Press 27. Neil J. Smelser
Năm: 1998
28. Nyblade, Laura và đồng nghiệp (2003), Disentangling HIV and AIDS stigma in Ethiopia, Tanzania and Zambia, International center for Research on Women Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disentangling HIV and AIDS stigma in Ethiopia, Tanzania and Zambia
Tác giả: Nyblade, Laura và đồng nghiệp
Năm: 2003
29. Parker R. and Aggleton P. (2003). HIV and AIDS-related stigma and discrimination: a conceptual framework and implications for action. Social Science and Medicine,57, 13 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV and AIDS-related stigma and discrimination: a conceptual framework and implications for action
Tác giả: Parker R. and Aggleton P
Năm: 2003
31. Stigma Project (2007), The Influence of Stigma on Access to Health Services by Persons with HIV Illness,Final reportNguồn thông tin từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Influence of Stigma on Access to Health Services by Persons with HIV Illness
Tác giả: Stigma Project
Năm: 2007
1. Bộ Y tế (2015), Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015 Khác
9. LIFE-GAP Project (2010), Ước tính nguy cơ lây nhiễm HIV trong quan hệ bạn tình lâu dài tại Việt Nam Khác
10. Nguyễn Thanh Long, Dương Thúy Anh (2013), Đặc điểm dịch tễ học, tình trạng lâm sàng và sử dụng dịch vụ của bệnh nhân HIV/AIDS người lớn Khác
12. Quốc hội (2006), Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w