1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam

119 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này thường được biện hộ bằng cách nêu lên số lượng ít ỏi những người khuyết tật sử dụng các dịch vụ thư viện của mình.. Ngày nay, các thư viện đều chú ý phục vụ đối tượng NKT, gỡ b

Trang 1

6 TVKHTHTPHCM Thư viện Khoa học Tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh

2, Từ viết tắt tiếng Anh

1 NLB The National Library for the Blind

(Thư viện Quốc gia dành cho người

mù Anh)

2 RNIB The Royal National Institute of Blind

People (Viện Hoàng gia cho người

mù Anh)

Trang 2

MỞ ĐẦU

1, TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

“Tự do, phồn vinh và phát triển của xã hội, cá nhân là những giá trị cơ bản của con người” (Tuyên ngôn UNESCO) Những giá trị đó chỉ đạt được khi mọi người có đủ thông tin, tri thức Thông tin, tri thức là tiềm lực, quyền lực của xã hội và con người, nhờ đó con người có thể làm chủ mọi hoàn cảnh sống và vươn tới tương lai tươi sáng hơn

Ngày nay nền kinh tế thế giới đang từng bước dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức Trong nền kinh tế này, thông tin, tri thức có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia Toàn cầu hóa với cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đã làm thay đổi hành vi con người Việc tiếp cận thông tin qua các công nghệ hiện đại đã làm cho các quốc gia gần nhau hơn Cùng với các lĩnh vực khác, ngành thông tin – thư viện đã và đang có những đóng góp tích cực trong việc truyền bá thông tin và mở cửa nhiều kho tàng kiến thức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người đọc

Người khiếm thị (NKT) là một bộ phận trong lực lượng người dùng tin (NDT) mà hệ thống thư viện, đặc biệt là hệ thống thư viện công cộng có trách nhiệm phục vụ Pháp lệnh Thư viện của nước ta ban hành ngày 28/10/2000, điều 6 khoản 4 đã ghi: “Người mù phải có điều kiện sử dụng các tài liệu thư viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác”

Trong bài phát biểu tại hội thảo: “Thư viện công cộng phục vụ NKT ” tổ

chức ở Hà Nội, ngày 17/5/2006, giám đốc quỹ FORCE – một tổ chức từ thiện

của Hà Lan đã nói: “Việc cung cấp thông tin và dịch vụ thư viện cho người khuyết tật ở đại đa số các thư viện công cộng là chưa đầy đủ Điều này thường được biện hộ bằng cách nêu lên số lượng ít ỏi những người khuyết tật

sử dụng các dịch vụ thư viện của mình Nhưng người khuyết tật sẽ không sử

Trang 3

dụng thư viện công cộng trừ khi việc tiếp cận về mặt vật chất và nội dung được cung cấp một cách đầy đủ” Mục tiêu cao cả mà loài người luôn luôn

phấn đấu là mỗi người sinh ra dù bình thường hay không may bị khuyết tật đều bình đẳng ở mọi khía cạnh của xã hội, nhất là trong lĩnh vực học tập, nghiên cứu và cống hiến sức lực của mình cho xã hội

Ngày nay, các thư viện đều chú ý phục vụ đối tượng NKT, gỡ bỏ dần những rào cản làm NKT không thể hoặc gặp nhiều khó khăn khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) của thư viện

Trong khi nhiều thư viện đã từng bước cải thiện SP&DV cho NKT, vẫn còn nhiều thiếu sót đáng kể cần phải khắc phục

Nước Anh là một nước phát triển trên thế giới, đời sống nhân dân tương đối cao Các thư viện ở Anh được đầu tư xây dựng khá nhiều, do đó NDT khiếm thị Anh có nhiều lợi thế trong việc tiếp cận SP&DV thư viện, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của mình

Quyền lợi của NKT và người khuyết tật hiện nay đã được làm rõ trong luật pháp Anh, thông qua việc ban hành Đạo luật chống phân biệt đối xử (DDA) năm 1995, đặc biệt là Mục Sản phẩm và Dịch vụ của Đạo luật này có hiệu lực từ năm 1999 và Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu giáo dục đặc biệt năm 2001 Dưới những điều khoản này, mọi nhà cung cấp dịch vụ phải

có trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất lượng, không được hạ thấp chất lượng của dịch vụ dành cho người khuyết tật Cần tiến hành hợp lý để thay đổi các chính sách, ứng dụng, quy trình thực hành, gỡ bỏ những rào cản làm người khuyết tật không thể hoặc gặp nhiều khó khăn khi sử dụng các dịch vụ của thư viện

Ở Việt Nam, NKT vẫn gặp khá nhiều khó khăn trong việc sử dụng thư

viện Thông qua đề tài: “Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại

Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam”,

Trang 4

chúng ta có thể có được cái nhìn khái quát về tình hình phục vụ NKT tại Anh,

từ đó rút ra những gợi ý cho thư viện Việt Nam trong việc phục vụ NKT

2, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu hiện trạng các SP&DV thông tin, thư viện (TTTV) phục vụ NDT khiếm thị ở Anh; đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả phục vụ NDT khiếm thị ở nước ta

3, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1, Đối tượng nghiên cứu: SP&DV TTTV phục vụ NDT khiếm thị 3.2, Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Một số thư viện ở Anh như Viện Hoàng gia cho

người mù, Thư viện Quốc gia dành cho người mù, Hội báo nói Anh Quốc…

và một số thư viện ở Việt Nam như Thư viện Hà Nội và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi thời gian: Vài năm gần đây

4, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp luận: Bài viết dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện

chứng, các quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách báo, thông tin – thư viện

Phương pháp cụ thể: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu; khảo sát

thực tế; phỏng vấn

Trang 5

5, NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đóng góp về mặt lý luận: Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận

về SP&DV TTTV

Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu nhu cầu tin của NKT; tìm

hiểu hiện trạng các SP&DV TTTV phục vụ NKT ở Anh – một trong những nước chú trọng đến công tác phục vụ nhu cầu thông tin cho NKT; phân tích, soi rọi vào công tác phục vụ thông tin cho NKT của các thư viện Việt Nam, từ

đó đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả phục vụ NKT

6, BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài danh mục chữ viết tắt, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của khóa luận gồm các chương sau:

Chương 1 Những vấn đề chung về người khiếm thị tại Anh và nhu cầu tin của họ

Chương 2 Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện phục vụ người khiếm thị tại Anh

Chương 3 Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện phục vụ người khiếm thị ở Việt Nam và một số kiến nghị, giải pháp

Trang 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI ANH VÀ NHU CẦU TIN CỦA HỌ

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG

1.1.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện

Sản phẩm thông tin, thư viện là kết quả của việc xử lý và hệ thống hóa

các nguồn tin đã có, nhằm tạo cho con người có thể khai thác được theo mục đích của mình

Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin ở những sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau Các sản phẩm thông tin thư mục có khả năng thỏa mãn nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu Các sản phẩm thông tin dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật… có khả năng thỏa mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin

Sản phẩm được hình thành nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin, do

đó, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu, cũng như sự vận động biến đổi của nhu cầu Tương tự như mọi loại sản phẩm khác, sản phẩm TTTV cần không ngừng được hoàn thiện để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới (cả về nội dung và hình thức)

Dịch vụ thông tin, thư viện là dịch vụ bao gồm những hoạt động nhằm

thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TTTV nói chung

Sản phẩm và dịch vụ thông tin là công cụ để con người khai thác và sử dụng thông tin để nâng cao hiểu biết của mình Việc chú trọng phát triển các SP&DV có ý nghĩa quan trọng, không thể thiếu và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của cơ quan TTTV

Trang 7

1.1.2 Khái niệm người khiếm thị và người dùng tin khiếm thị

Người khiếm thị là người sau khi được điều trị và /hoặc điều chỉnh

khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày Khái niệm này bao gồm cả những người mù và những người nhược thị (Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia)

Theo Từ điển Tiếng Việt thì NKT là người có khiếm khuyết về thị giác, mất khả năng nhìn hoặc chỉ nhìn được rất kém, không rõ ràng

Gillian Burrington, nhà thư viện học nổi tiếng người Anh cho rằng: Thuật ngữ “khiếm thị” dùng để mô tả tình trạng thị lực không thể điều chỉnh bằng kính thuốc hay phẫu thuật Nó bao gồm những người mắc bệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù hoàn toàn Một số người khiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số người khác lại có thể thấy rõ ràng những vật ngay trước mắt nhưng không thấy gì ở hai bên Một số trường hợp bệnh lý

có thể gây thị lực chỉ nhìn lốm đốm từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng đến sự nhận biết màu sắc hoặc khả năng nhận biết khoảng cách Cũng

có một số người thì rất khó khăn khi gặp ánh nắng chói chang và một số người khác có thể không nhìn thấy gì cả khi gặp ánh sáng yếu

Người dùng tin khiếm thị là NKT có sử dụng SP&DV của cơ quan

TTTV để thỏa mãn nhu cầu tin của mình Sau đây, trong Khóa luận của mình, Tôi xin sử dụng thuật ngữ chung là “người khiếm thị”

Trang 8

1.2 NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÙNG TIN KHIẾM THỊ

1.2.1 Nhu cầu về nội dung thông tin

Người khiếm thị cần thông tin có nội dung đa dạng như các thành phần độc giả khác, nhất là sách giáo khoa phổ thông và sách học ngoại ngữ, sách Văn học, sách về Xã hội – Chính trị, Âm nhạc, Y học cổ truyền, Tài liệu tham khảo như Từ điển, Bách khoa toàn thư, Sách giáo khoa chương trình đại học, các ngành nghề thủ công, khoa học ứng dụng như Tin học cho người mù, Tin tức nói chung

1.2.2 Nhu cầu về hình thức tài liệu

Đối với người mù và mất thị lực, vấn đề khó khăn là phải tìm được hình thức tài liệu thay thế cho tài liệu in để làm phương tiện xóa được khoảng cách giao tiếp thông tin của họ Hình thức phổ biến hiện nay là tài liệu chữ lớn, sách nói, tài liệu nổi (Braille và Moon) và văn bản điện tử Một số ít người sử dụng chữ nổi nhưng đó không phải là hình thức hiệu quả nhất để thay thế tài liệu in thông thường Sách chữ nổi thường là dành cho NKT bẩm sinh, còn trẻ, rất cần thiết cho các em học sinh khiếm thị học đọc và học viết Nhìn chung số người sử dụng chữ nổi không nhiều Văn bản điện tử ngày càng nhanh chóng bộc lộ tính năng động nhờ khả năng chuyển đổi bản điện tử thành nhiều hình thức thay thế khác

Có những tổ chức quốc gia tập trung hóa công tác sản xuất và xử lý tài liệu thay thế Những dịch vụ cấp quốc gia này thường cho sản phẩm chất lượng, phát triển tốt và là nguồn cung cấp tài liệu và thông tin chủ lực cho người mù và khiếm thị

Băng cassette và sách chữ lớn thường là hai thế mạnh của thị trường kinh doanh xuất bản sách phổ thông và giải trí Điều này buộc các thư viện chú ý đến công tác phát triển dịch vụ của họ lưu ý nhiều hơn đến thành phần NKT và khuyết tật

Trang 9

Tài liệu sách báo nói được xuất bản nhiều hơn nhằm thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu giải trí hay thông tin của cả người lớn lẫn trẻ em Loại hình tài liệu này có thể sử dụng trên xe ô tô hay dùng máy cầm tay và hiện nay được xuất bản ở cả dạng CD và băng cassette

Tài liệu chuyển dạng, đặc biệt trên thị trường kinh doanh, chủ yếu là tài liệu phổ thông cho cả dạng tiểu thuyết và khác tiểu thuyết, đặc biệt là loại sách tiểu sử nhân vật Dạng băng đĩa thu âm có nội dung bị rút gọn và được xuất bản chậm hơn nhiều so với tài liệu in thông thường Chỉ có một số ít tài liệu được làm cho đọc giả theo yêu cầu riêng của họ

1.3 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện đối với người

dùng tin nói chung và người khiếm thị nói riêng 1.3.1 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện đối với người dùng tin nói chung

Thư viện là nơi cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho người đọc phát triển toàn diện, đặc biệt là tư duy sáng tạo, góp phần giúp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Thông qua việc sử dụng SP&DV TTTV, bạn đọc có thể dễ dàng tiếp cận tri thức, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giải trí… của mình

Nhu cầu của NDT về SP&DV TTTV ngày một tăng theo chiều hướng phát triển của nguồn lực thông tin Vì thế, bên cạnh sản phẩm thông tin truyền thống như: hệ thống mục lục, các bản thư mục , thư viện phải cần phải có kế hoạch xây dựng các sản phẩm thông tin như: cơ sở dữ liệu, ấn phẩm tóm tắt, tổng quan… cũng như dịch vụ thông tin mới như: phục vụ theo chế độ hỏi đáp, theo chế độ chọn lọc hội thảo khoa học, nói chuyện chuyên đề, dịch vụ tra cứu thông tin qua mạng Các SP&DV này sẽ giúp NDT tìm và chọn lọc thông tin phù hợp với nhu cầu của mình một cách dễ dàng, thuật tiện và nhanh chóng

Trang 10

1.3.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện đối với người khiếm thị

Người khuyết tật nói chung và NKT nói riêng phải chịu nhiều khó khăn trong cuộc sống Thông qua việc sử dụng các SP&DV phù hợp, NKT có thể dần dần nâng cao được trình độ của mình, hòa nhập với cuộc sống Nguyện vọng thiết tha của cộng đồng NKT là được học chữ, được lao động, có việc làm phù hợp và thu nhập ổn định, vượt lên số phận tật nguyền, từng bước vươn lên hòa nhập cuộc sống cộng đồng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính

yêu “tàn nhưng không phế”

1.4 Khái quát về người khiếm thị tại Anh

Hiện tại, có khoảng 2% dân số thế giới bị khiếm thị Theo thống kê của WHO, toàn cầu hiện có hơn 50 triệu người mù và 135 triệu NKT Cứ 5 giây trên thế giới có 1 người mù và cứ 1 phút lại có một trẻ em mù Trong số những người mù và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này Mặt khác, số lượng người mù trên thế giới có xu hướng gia tăng Dự tính do sự gia tăng dân số, tăng tuổi thọ và một số nguyên nhân khác, số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như chúng ta không có những biện pháp phòng chống mù lòa hữu hiệu Theo cách tính này, đến năm 2020 ở Việt Nam sẽ có hơn một triệu người mù và hơn ba triệu NKT

Tại Anh, có trên 2 triệu người bị khiếm thị Thống kê ở Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi

Trang 11

Bảng 1: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho NKT

Nguồn: http://www.rnib.org.uk

85% người lớn khiếm thị tiếp cận thông tin qua nói chuyện trực tiếp Ngoài ra nguốn tiếp cận thông tin quan trọng khác là các phương tiện truyền thông Tivi chiếm 64%, radio chiếm 63% và báo, tạp chí chiếm 41% là các nguồn tiếp cận thông tin quan trọng Băng đĩa hay sách nói chiếm 13%, báo nói chiếm 7% và sách viết bằng chữ nổi chiếm 1% cũng là những nguồn quan trọng

Hiện nay máy vi tính cũng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện cung cấp thông tin quan trọng cho NKT

Bảng 2: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn

Nguồn: http://www.rnib.org.uk

Trang 12

CHƯƠNG 2 SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN, THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI ANH

2.1 MỘT SỐ CƠ QUAN, TỔ CHỨC TIÊU BIỂU TRONG VIỆC CUNG CẤP SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI ANH

2.1.1 Viện Hoàng gia cho người mù Website: http://www.rnib.org.uk

Viện Hoàng gia cho người mù Anh (tên tiếng Anh: The Royal National Institute of Blind People – viết tắt là RNIB) là tổ chức tình nguyện lớn nhất Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị RNIB cung cấp hơn 60 dịch vụ khác nhau ở đủ các lĩnh vực giáo dục, tập huấn, việc làm, và hỗ trợ cho cá nhân và tổ chức

Công việc của RNIB chủ yếu có bốn lĩnh vực: thiết bị và thông tin truy cập được, dịch vụ cộng đồng (định nghĩa rộng hơn), giáo dục và việc làm Trong dịch vụ thư viện, RNIB làm việc chặt chẽ với Thư viện quốc gia dành cho người mù để phối hợp và cải thiện dịch vụ tốt hơn RNIB khởi xướng tổ chức “Share the Vision” và tiếp tục trở thành một thành viên tích cực Sứ mệnh của nó là “Một thế giới nơi mà người mù và khiếm thị hưởng thụ được quyền lợi, trách nhiệm, cơ hội và chất lượng cuộc sống như những người sáng mắt”

Trang web RNIB: http://www.rnib.org.uk

Là một nguồn lực thông tin, RNIB luôn đảm bảo tính bình đẳng thông tin và cung cấp nhiều cách truy cập thông tin thực tế nhất và linh động nhất Trang web chứa nhiều thông tin cho biết các dịch vụ và sản phẩm của RNIB

và thông tin về NKT trên các trang web khác

Trang 13

Trang này được thiết kế để có thể truy cập đến tất cả mọi người sử dụng, kể cả những người sử dụng công nghệ truy cập như giọng đọc hay phóng to màn hình Trang này được thiết kế theo các hướng dẫn của RNIB về cách lập trang web tốt cho phép người xem điều chỉnh các yếu tố trình bày như cỡ chữ, kiểu hay màu sắc Trang này hiện thu hút khỏang 70,000 người một tháng, rất được ưa thích trong số các trang web của các tổ chức từ thiện của Anh Quốc

Thƣ viện tham khảo RNIB

Thư viện này là một trong những kho tài liệu toàn diện nhất cho các chủ đề của NKT tại Anh Quốc Vốn tài liệu có hơn 6,000 sách, 6,000 tờ rời, 2,300 thông tin chính phủ, 3,600 báo cáo hàng năm và 175 tạp chí hiện hành Thành viên có thể đến thư viện hay nhận thông tin qua đường bưu điện

Thƣ viện băng cassette RNIB

Hiện có khoảng 20,000 tài liệu, chủ yếu là tài liệu nhà trường nhưng cũng có một số tài liệu hướng dẫn cũng như một số sách khoa học phổ thông Đây là dịch vụ theo yêu cầu với các băng được chép từ bản gốc ra Dịch vụ này được thiết kế để có thể đáp ứng nhanh được yêu cầu và chất lượng sản phẩm thích hợp cho mục đích của NKT Bạn đọc có thể sử dụng dịch vụ này thông qua Dịch vụ khách hàng ở Peterborough và không phải trả phí

Dịch vụ sách nói RNIB

Dịch vụ này được sử dụng rộng rãi nhất đối với người có vấn đề về thị lực ở Anh quốc, chủ yếu là dịch vụ tiêu khiển giải trí và có vốn tài liệu rất phong phú, kể cả sách văn học hay khoa học và sách thiếu nhi Sách gần như

ở dạng toàn văn và do các chuyên gia đọc ở chất lượng cao Sách ở dạng đặc biệt và yêu cầu máy chuyên dụng, được phát như là một phần trong dịch vụ

và rất dễ sử dụng (dịch vụ này là một chọn lựa tốt cho mọi người cảm thấy khó khăn khi sử dụng băng cassette hay đĩa CD) Bạn đọc cần đặt hàng chọn

Trang 14

trước nhiều nhất là 30 nhan đề và được cung cấp nếu chúng có sẵn hoặc thư viện sẽ chọn theo các sự đánh giá nhu cầu sử dụng trước đây

2.1.2 Thư viện Quốc gia dành cho người mù Website: www.nlbuk.org

Là thư viện dẫn đầu về hoạt động phục vụ NKT, Thư viện Quốc gia dành cho người mù Anh (tên tiếng Anh: The National Library for the Blind – viết tắt là NLB) làm việc với nhiều thư viện lớn để thúc đẩy các thực hành tốt nhất và tăng thêm giá trị cho dịch vụ dành cho NKT

NLB phối hợp với một số các thành viên ở Anh quốc (các tổ chức từ thiện, các dịch vụ thư viện trường đại học và công cộng) và ở nước ngoài để đảm bảo dịch vụ tốt nhất cho bạn đọc

Dịch vụ thư viện cho mượn tài liệu có vốn tài liệu Châu Âu lớn nhất bằng chữ Braille và Moon và cung cấp dịch vụ miễn phí trên toàn thế giới Vốn tài liệu bao gồm tài liệu văn học và khoa học, cho người lớn và thiếu nhi

và cả cho người đang học chữ Braille, hay cả vốn tài liệu nhạc bằng chữ Braille Cũng có một số ít tài liệu khổ lớn và băng sách nói

NLB giúp cá nhân chọn lựa theo nhu cầu đọc và độc lập bất cứ nơi đâu

họ muốn Các yêu cầu có thể liên lạc qua điện thoại hay qua trang web www.nlbuk.org

Trang web NLB truy cập đầy đủ và kể cả truy cập mục lục trực tuyến

để chọn lựa và đặt sách, khu vực sách cho thanh thiếu niên, bảng thảo luận và tạp chí “Read On” Thêm vào đó, trang web này có nhiều dịch vụ trực tuyến bao gồm sách điện tử và tài liệu tham khảo cũng như cổng thông tin cho NKT truy cập vào các trang web khác Trang web NLB bao gồm các tính năng: a) Mục lục trực tuyến và tìm sách

b) Thảo luận về nghiệp vụ thư viện

Trang 15

c) Hoạt động vận động đọc và viết trong khu dân cư

d) Cổng thông tin cho NKT

e) Góc chọn sách văn học cho thanh thiếu niên

f) Hướng dẫn thiết lập trang web truy cập được

g) Sách điện tử

h) Dịch vụ tham khảo điện tử

NLB cung cấp cổng thông tin cho dịch vụ thư viện rộng lớn hơn cho NKT Bằng cách phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ quan tổ chức trong

và ngoài nước, NLB làm việc nhằm cung cấp cho NKT thêm nhiều sách và thông tin và dịch vụ theo hình thức tài liệu nào họ thích dùng

NLB cũng cung cấp Dịch vụ tập huấn và tư vấn truy cập cho thư viện, người cung cấp thông tin và các tổ chức khác mong muốn cải thiện việc truy cập dịch vụ của họ Dịch vụ được cung cấp có thể bao gồm cả kiểm tra tính truy cập, tập huấn nhân viên, hỗ trợ công nghệ truy cập và giúp đỡ phục vụ tài liệu dạng thay thế

NLB xuất bản tạp chí “Read On”, danh mục bổ sung “New Reading”

và bản tin “Focus supporters” (theo quý), bản tin “NLB Research Bulletin” (hàng hai năm) và một “Annual Review” (thông báo hàng năm)

2.1.3 Thư viện băng cassette cho người mù và khuyết tật

Website: www.calibre.org.uk

Thư viện băng cassette cho người mù và khuyết tật (CALIBRE) là thư viện gửi băng sách nói qua đường bưu điện cho các thành viên (trên 18,500 độc giả) Vốn tài liệu gồm 6.000 nhan đề, trong đó có khoảng 1.000 sách thiếu nhi

Trang 16

Dịch vụ của CALIBRE chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đọc giải trí Vốn tài liệu có cả sách khoa học phổ thông như về tiểu sử danh nhân, du lịch

và cả sách văn học Thành viên có thể tự chọn sách hoặc nhờ CALIBRE chọn sách cho họ dựa vào các sự chọn lựa trước đây của họ Dịch vụ có nhiều đặc điểm giúp bạn đọc dễ dàng truy cập:

a) sách được ghi âm trong băng cassette 2 rãnh;

b) người mắc chứng khó đọc, người khuyết tật tạm thời có thể đăng ký sử dụng dịch vụ này;

c) dịch vụ được cá nhân sử dụng miễn phí Bạn đọc chỉ cần có giấy xác nhận của bác sĩ để đảm bảo đủ điều kiện chấp thuận sử dụng dịch vụ

Dịch vụ đăng ký được cung cấp cho các tổ chức và cơ quan phục vụ người khuyết tật nhưng họ chỉ có thể mượn sách cho những khách hàng đủ điều kiện sử dụng dịch vụ của CALIBRE Mục lục có ở dạng chữ lớn, trên đĩa

và toàn bộ mục lục có thể tra cứu trên trang web của CALIBRE CALIBRE đóng góp các biểu ghi của họ vào cơ sở dữ liệu REVEAL của Mục lục Liên hợp quốc gia tài liệu chuyển dạng

2.1.4 Tổ chức Share the Vision

Share the Vision (viết tắt là STV) là một hiệp hội quốc gia để giúp đỡ

cải thiện chất lượng và khả năng triển khai dịch vụ TTTV phục vụ NKT STV

là cộng sự của các tổ chức quốc gia như CALIBRE, Thư viện quốc gia dành cho người mù (NLB), Viện Hoàng Gia dành cho người mù (RNIB), Hội báo nói Anh quốc, Hội đồng Thông tin Thư viện Scotlen, Hội của Các cán bộ thư viện chủ chốt, Viện nghiên cứu chuyên gia thư viện, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Bắc Ai len, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Wales, Thư viện quốc gia Anh quốc và Hội thư viện trường đại học cao đẳng

Trang 17

Thành lập vào năm 1990, STV hướng dẫn một chương trình ứng dụng rộng rãi gồm các hoạt động thúc đẩy và khởi xướng phối hợp với các thành viên tổ chức Các hoạt động này bao gồm: hội thảo thúc đẩy, triển lãm, điều hành và hội nghị Nó là nơi tiên phong đề xuất tính khả thi của REVEAL, cơ

sở dữ liệu Mục lục Liên hợp quốc gia tài liệu chuyển dạng

Năm 1999, Ủy ban Thông tin thư viện tiến hành hợp tác với STV để có thể đạt hiệu quả hoạt động từ nguồn quỹ 200,000 bảng do DCMS tài trợ từ 1999/ 2000 “để đảm bảo là người mù và khiếm thị hưởng nhiều lợi ích hơn khi sử dụng các dịch vụ đọc và thư viện”

STV xuất bản Danh bạ các dịch vụ chuyển dạng (hết xuất bản), Dịch vụ thư viện dành cho NKT, Bản tin STV – bản tin định kỳ và nói về vấn đề nhận thức về dịch vụ (ngừng phát hành kể từ số 39, Đông 2001)

2.1.5 Hội báo nói Anh quốc Website: www.tnauk.org.uk

Hội báo nói Anh quốc (tên tiếng Anh: Talking Newspaper Association

of the United Kingdom, viết tắt là TNAUK) là tổ chức thành viên của hơn

500 tờ báo địa phương Nó cũng là nhà cung cấp các tờ báo địa phương và tạp chí phổ thông quốc gia cho NKT và những người cảm thấy “phải căng mắt ra

mà đọc” Những tờ này có thể đăng ký gửi bưu điện miễn phí cả bản rút gọn trên băng 2 rãnh và thư điện tử hay CD-ROM Chúng cũng có thể tải về từ bản tin của TNAUK

Bên cạnh dịch vụ cung cấp trực tiếp đến người sử dụng, cả hai phiên bản sản phẩm âm thanh và tệp tin điện tử cũng được chuyển cho các thư viện bằng cách đăng ký với Dịch vụ Thư viện sách nói được điều hành bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn báo nói TNAUK cũng quan tâm đến việc thực hiện phạm vi nhỏ của các thư viện để khám phá và mở rộng việc phát triển dịch vụ của nó

Trang 18

Là một tổ chức thành viên, TNAUK cũng là nơi tập trung tư vấn cho các tổ chức tình nguyện địa phương tự lập để sản xuất thông tin địa phương trên băng Nó cũng tiến hành một số dự án cung cấp trang thiết bị và tập huấn

để thành viên cung cấp truy cập trực tuyến đến các dịch vụ văn bản điện tử Xuất bản phẩm:

- Báo nói toàn quốc (hàng quý)

- Tntalk (địa chỉ thảo luận dành cho thư viện)

- Thực hành tốt dành cho báo nói

- Hướng dẫn dịch vụ sản xuất băng cho người tàn tật và khiếm thị (hàng năm)

2.2 MỘT SỐ SẢN PHẨM THÔNG TIN, THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI ANH

2.2.1 Tài liệu chữ nổi

Trong khoảng 100.000 tài liệu được xuất bản mới ở Anh hàng năm, chỉ

có 5% nhan đề được chuyển qua dạng thay thế cho loại in ấn thông thường và chỉ có một số ít các cơ quan tổ chức sản xuất những tài liệu này

Sách dành cho NKT là loại sách đặc biệt: không màu sắc, không mực

in và không đóng thành quyển bình thường Đó là những tập giấy khổ to (hơn

cỡ A3), rất dày và được thiết kết gáy như album ảnh Trên trang giấy in chữ braille hay còn gọi là chữ nổi Nhìn bề ngoài, hệ thống ký hiệu này là các điểm chấm nổi trên trang giấy phẳng, thay vì những nét liền như chữ bình thường Mỗi chữ cái braille nằm gọn trong một ô chữ nhật (ô tưởng tượng) gồm 6 chấm, xếp thành hai cột dọc sát nhau, mỗi cột 3 chấm Tùy vị trí thay đổi các chấm nổi mà tạo ra ý nghĩa của chữ Sách chữ braille được in bằng máy và giấy chuyên dụng, giá thành rất cao NKT đọc sách bằng cách sờ lên những dòng điểm nổi đó, nhận biết chữ qua cảm nhận của các đầu ngón tay

Trang 19

Sách và tạp chí nổi có thể đặt mua hay mượn từ RNIB và NLB NLB

có bộ sưu tập chữ nổi lớn nhất cho mượn ở Châu Âu, chủ yếu là các nhan đề tiểu thuyết và khác tiểu thuyết cho mọi lứa tuổi Vốn tài liệu của RNIB có nhiều nhan đề thích hợp cho sinh viên RNIB và NLB cùng làm việc với nhau

để sản xuất, bán hay cho những người học chữ nổi mượn dùng, kể cả dùng cho các lớp tập huấn và tài liệu thích hợp cho các nhóm tuổi học viên

Nhạc Braille: RNIB là nhà cung cấp chính sản phẩm này tại Anh và

NLB thì có bộ sưu tập lớn nhất, có khoảng 13.000 nhan đề nhạc nổi, có nhiều nhan đề mới nhập về đều đặn Có từ nhạc cổ điển cho đến nhạc pop và cả nhạc cho các đàn bàn phím điện tử Hiện nay chưa được biên mục hết, nhưng cũng đang trong quá trình biên mục hồi cố nhập máy Nhạc nổi Braille có thể mua từ RNIB

2.2.2 Sách, báo, tạp chí chữ lớn

Chữ lớn đặc biệt quan trọng cho độc giả bị giảm thị lực và cũng dùng được các tài liệu in ấn Với những người chưa sử dụng thư viện, nó cũng là động cơ khuyến khích họ trở thành độc giả Chữ lớn cũng giúp người bị giảm thị lực có thể kéo dài được thời gian đọc cho đến khi thích nghi với việc sử dụng tài liệu chuyển dạng

Trang 20

Trong một số trường hợp, chữ lớn dùng kèm theo với tài liệu nói như kèm với phần mềm đọc màn hình Vì thế chữ lớn cũng đóng vai trò quan trọng trong mọi phương diện của dịch vụ thư viện như cung cấp tài liệu đọc, hướng dẫn dịch vụ và các bảng biểu chỉ dẫn

Về kỹ thuật in thì chữ lớn được phân biệt dựa vào kích cỡ chữ là chủ yếu Nhưng xét đến phương tiện phục vụ NKT thì còn có một số yếu tố khác phải nói đến như phải đảm bảo chữ dễ đọc và rõ ràng Những yêu cầu này gồm độ dày, độ nét của các ký tự, khoảng cách giữa các ký tự, khoảng cách giữa các dòng và độ tương phản giữa chữ in và nền

Việc sản xuất chữ lớn nhờ các trang thiết bị như máy photocopy phóng

to và hệ thống máy tính hóa mở rộng khả năng đọc và cung cấp lượng thông tin đáng kể cho NKT Mặc dù có những hạn chế do luật bản quyền hiện tại còn gây nhiều khó khăn, nó cũng đã mở ra một khả năng lựa chọn khác cho bạn đọc

Hệ thống máy tính hóa có thêm những thuận tiện cho phép đạt được những chuẩn đọc rõ chấp nhận được nhờ vào việc điều chỉnh cỡ chữ và sử dụng máy in laser chất lượng cao Dùng máy quét cũng tạo cơ hội cho bản sao còn đẹp hơn cả bản gốc Thiết bị đầu ra là máy in hay màn hình có thể cũng được điều chỉnh theo sở thích cá nhân như cỡ chữ hay màu nền

Tài liệu chữ lớn là nguồn tiêu biểu để đọc sách nói chung và mục đích giải trí nói riêng mà hầu hết là do giới xuất bản thương mại sản xuất Tuy vậy,

số nhan đề được xuất bản hàng năm là 2000, quá ít nếu so với tổng đầu sách

in thông thường hàng năm được xuất bản Cỡ chữ tài liệu thường dao động từ

16 đến 20

Từ năm 1999 đến 2001, RNIB đã sản xuất một số ít nhan đề cổ điển loại giấy thường (Dự án sách truy cập được) ở dạng chữ đại đến cỡ 24 Bộ sách này có một số nhan đề cho thiếu nhi Do kích cỡ, nên trên một dòng có rất ít chữ vì thế sách trở nên cồng kềnh và rất lớn Mỗi tháng chỉ có hai hoặc

Trang 21

ba nhan đề được sản xuất Mặc dù việc sản xuất bộ sách này hiện đã bị ngưng lại, RNIB vẫn còn các đầu sách loại này có thể đăng ký mua được

Có một số nhan đề báo và tạp chí được sản xuất dạng chữ lớn nhưng rất

ít ỏi, chủ yếu là tài liệu chuyên đề dành cho người khuyết tật làm ra

“Big Print” là nhan đề báo tuần duy nhất ở Anh dạng chữ lớn Cỡ chữ gấp đôi bình thường, chủ đề tổng hợp kể cả tin quốc tế và trong nước do các

cơ quan báo chí, chuyên mục thể thao, tin tức của truyền hình hay phát thanh

cung cấp

2.2.3 Băng sách nói, cassette, đĩa CD

Hiện nay các loại sách nói ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho NKT

Các tờ báo của quốc gia và địa phương đều có ở dạng báo nói Báo nói địa phương (thường xuất bản hàng tuần) phát hành rộng rãi trên toàn nước Anh với hơn 40 tổ chức tình nguyện tham gia Bên cạnh tuần báo, nhiều báo tạp chí phổ thông khác cũng được thu băng

Hiệp hội Báo nói Anh quốc (tên tiếng Anh Talking Newspaper Association of the United Kingdom, viết tắt là TNAUK) là tổ chức sản xuất

Trang 22

báo và tạp chí nói lớn nhất, gồm hơn 200 nhan đề báo trên toàn quốc, kể cả báo ngày và báo cuối tuần chủ nhật, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý cho cả những người đọc chữ in khó khăn

“Soundings” là tạp chí quốc gia hàng tháng phát hành trên băng, phát tin và giới thiệu dịch vụ cho NKT, cũng có nghe qua mạng trực tuyến

Dạng CD có nhiều ưu thế, ngoài việc có thể lưu trữ nhiều tài liệu chỉ nằm trong 1 đĩa, nó còn giải quyết được các khó khăn khác mà NKT gặp phải khi đọc tài liệu Về mặt kỹ thuật có thể dễ dàng định vị và dừng lại đúng chỗ Nhưng đôi khi việc thiết kế các nút điều khiển máy hát CD khiến nhiều NKT gặp rắc rối khi sử dụng

2.2.4 Mục lục truy cập được

Nhiều mục lục máy tính hiện nay ở Anh có những tiện ích khác như phóng to màn hình và phát âm, in ra dạng chữ in nổi Những tính năng này cần được coi là một phần tích hợp trong mục lục điện tử mới

Thư viện vùng Islington (http://www.islington.gov.uk/libraries/) có phần mềm Libris Envisage với màn hình phóng to, bàn phím có thể điều chỉnh, phát âm, giao diện, kết hợp điều chỉnh phối màu, giao thức phát âm và phóng đại Những tiện ích này có thể giúp người mù và khiếm thị có cơ hội bình đẳng truy cập vào mọi thông tin trên mục lục thư viện, mà không cần

Trang 23

phải qua sự giúp đỡ của người trung gian và hòa nhập hẳn với cộng đồng độc giả trong thư viện

Người khiếm thị cũng cần mục lục có phần mô tả bằng giọng nói và đó

cũng sẽ là một tiện ích nữa cho mục lục liên hợp quốc gia

2.2.5 Thông tin dạng điện tử

Nhiều Website của Anh có phần mềm chuyên dụng phục vụ NKT, nhất là Website của các tổ chức, hiệp hội quốc gia

Dạng tài liệu ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn là hình thức điện tử Hầu hết thông tin khi in ra đều có nguồn gốc là dạng điện tử và tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử ngày càng chiếm cao hơn, thông qua các kênh truyền hình số hay qua mạng toàn cầu Vì NKT có thể truy cập được thông tin điện tử mà không cần sản phẩm chuyển dạng thay thế, do đó họ có cơ hội truy cập được thông tin mà không cần phải chờ đợi xuất bản hay phát sinh các tốn kém khác

Dự án Gutenberg (www.gutenberg.net) cơ sở lưu trữ tất cả các tác phẩm đã quá hạn bản quyền, được thu thập từ nhiều cá nhân và tổ chức trên thế giới Bộ sưu tập Gutenberg hiện có trên 3.500 nhan đề các loại có thể tải xuống mà không bị tính tiền Bộ sưu tập có cả những tác phẩm cổ điển từ

“Alice lạc vào xứ thần tiên” cho đến tác phẩm của Shakespeare và các tài liệu tham khảo như từ điển thuật ngữ của Roget, niên giám, từ điển và bách khoa thư Trang web này có thể tra cứu theo tên tác giả hay nhan đề tài liệu và thậm chí có thể sử dụng để tìm ra nguồn gốc của các câu trích dẫn trong tác phẩm

Trang 24

Tổ chức RNIB đã liên kết với các nhà xuất bản như Penguin để có nhiều nhan đề dạng đĩa như bộ Access Books; và NLB đang xây dựng dịch vụ thư viện số, trong đó có sách điện tử, đối với các tài liệu được phép của quyền tác giả Bộ sưu tập chính đầu tiên của họ ở dạng sách điện tử có bản quyền hiện đang có trên website

Thư viện Quốc gia dành cho người mù Anh NLB đã có dự án thử nghiệm để phục vụ miễn phí dịch vụ tham khảo một số cơ sở dữ liệu trực tuyến cho các thành viên khiếm thị của NLB

Một số báo, tạp chí hiện có trên Internet, ví dụ The Times, Financial Times, Telegraph, Guardian… có hỗ trợ NKT truy cập

2.3 MỘT SỐ DỊCH VỤ THÔNG TIN, THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGƯỜI

KHIẾM THỊ TẠI ANH

2.3.1 Sử dụng thư viện tại chỗ

Tỉ lệ NKT là thành viên của các thư viện có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương Một số vùng chỉ có 2% NKT là thành viên của thư viện, trong khi đó có vùng tỉ lệ NKT là thành viên của thư viện chiếm đến 55%

Trang 25

Bảng 3: Tần số người khiếm thị sử dụng thư viện địa phương

(Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

Nguồn: http://www.rnib.org.uk

Số liệu ghi nhận từ 2 địa phương ở Anh quốc cho thấy rằng có khoảng 6% sách cho mượn ở thư viện thuộc loại chữ to (số liệu không công bố được cung cấp bởi Hội đồng thành phố của 2 địa phương Gloucestershire và Essex) Ngành thư viện ở Anh ước tính rằng có khoảng 9% - tương đương với

46 triệu sách – thuộc loại chữ to hàng năm

Có 2 thư viện sách nói lớn ở Anh là thư viện sách nói RNIB có khoảng 50,000 thành viên và Calibre có khoảng 15,000 thành viên

2.3.2 Mượn liên thư viện

Không một thư viện nào có thể đảm bảo được hết, tất cả những tài liệu

mà NKT có thể cần đến từ vốn tài liệu của riêng mình Vì thế điều cần thiết là mọi bạn đọc, đặc biệt là tại mỗi điểm dịch vụ có thể truy cập vào được Mục lục Liên hợp quốc gia tài liệu chuyển dạng (cơ sở dữ liệu REVEAL)

Một dự án cho mượn liên thư viện (Hội đồng cộng đồng Châu Âu, 1997/8, Dự án TESTLAB) được điều hành ở khu vực Tây Bắc Chương trình này được tạo ra để tạo sự thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống truy cập độc

Trang 26

lập vào mục lục thư viện và có thể giúp NKT mượn tài liệu chuyển dạng thông qua chương trình hợp tác giữa các thư viện Thủ tục này hiện đang được chỉnh sửa trong tất cả dịch vụ thư viện trong khu vực, và có thể dịch vụ mượn tài liệu chuyển dạng giữa các thư viện sẽ xuất hiện lần đầu tiên

2.3.3 Dịch vụ chuyển dạng

Để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt của độc giả thư viện, thư viện phải có dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu để có thể cung cấp cho độc giả bất kỳ thông tin nào họ cần ở dạng mà họ thích đọc và có đủ thời gian để đọc thì dịch vụ mới gọi là đạt hiệu quả Với sự xuất hiện của các hình thức truy cập trực tuyến điện tử vào các nguồn thông tin thì hẳn nhiên việc này phải được coi là dịch vụ thiết yếu Các thư viện cho NKT lớn ở Anh đều chú trọng xây dựng và phát triển dịch vụ này

Có một số dịch vụ chuyển dạng ký kết theo hợp đồng trong thư viện, nhưng tùy theo mức độ những nguồn này được sử dụng như thế nào thì mới được quyết định giữa thư viện và các cơ quan thực hiện

Các yếu tố cần xem xét đến gồm:

a) Các trang thiết bị có thể sử dụng

b) Trang thiết bị chuyển dạng sử dụng công cộng

c) Chính sách thư viện trong việc truy cập văn bản điện tử, thông tin trên Website

d) Xác suất yêu cầu và hiệu quả của dịch vụ chuyển dạng theo hợp đồng bên ngoài

e) Loại xuất bản phẩm chuyển dạng và hoặc trọn bộ hay rút ngắn tác phẩm

Những loại này gồm tờ rời, báo, tạp chí, tài liệu học tập của sinh viên, văn bản của cá nhân, tờ rơi hay cẩm nang hướng dẫn sử dụng, danh mục kinh

Trang 27

doanh, niên giám, minh họa, bản đồ, mẫu thêu đan, bản nhạc, thơ/ kịch, chủ

đề khoa học kỹ thuật, tài liệu ngoại ngữ

Các hình thức yêu cầu: Braille, dạng nổi, chữ lớn, dạng đọc hay văn bản điện tử

Đối với thư viện mong muốn xây dựng kiến thức và kỹ năng trong việc chuyển dạng tài liệu có một số xuất bản phẩm có thể hỗ trợ và kèm theo các danh mục tài liệu tham khảo Chẳng hạn, Hiệp hội Dịch vụ chuyển dạng tài liệu (COTIS) cung cấp nhiều hướng dẫn chuyên sâu và mở rộng mà đó là những cẩm nang thực hành rất tốt và đáng tin cậy

Có ít nhất 176 tổ chức và thư viện cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu Chúng bao gồm các hội người mù, nhà tù, dịch vụ xã hội, trường học, tổ chức tình nguyện như các dịch vụ hợp đồng tư nhân và báo nói (có nhiều dịch

vụ do chính người khiếm thị thực hiện) Khoảng một nửa tổ chức cung cấp dịch vụ tại địa phương/ khu vực và một phần ba phục vụ cho bất cứ ai sống trên đất Anh

RNIB có mạng toàn quốc gồm 5 trung tâm chuyển dạng cung cấp dịch

vụ chuyển dạng đa truyền thông như bằng chữ lớn, chữ Braille, Moon, băng cassette và dạng điện tử, kể cả văn bản hay biểu đồ Những dịch vụ này có cả cho người khiếm thị hay các tổ chức có liên quan

Tại Anh, hiện tại có một số vấn đề đáng kể đến như trường hợp cấp phép để xuất bản tài liệu chuyển dạng theo yêu cầu Các nhà xuất bản hiện nay không tuân thủ việc nộp tập trung các bản điện tử các xuất bản phẩm của

họ, những phương tiện mà có thể sử dụng để chuyển dạng nhanh theo yêu cầu Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được bàn cãi trên các diễn đàn

Mặc dù RNIB là nhà cung cấp chính trong lĩnh vực này, nhưng thư viện vẫn có vai trò quan trọng để thực hiện dịch vụ này vì họ luôn lưu giữ những tài liệu mà những nơi khác không có được

Trang 28

2.3.4 Dịch vụ giao tài liệu tận nhà

Người khiếm thị gặp nhiều khó khăn khi đi đứng khó khăn hoặc di

chuyển ra khỏi nhà Các thư viện ở Anh luôn ưu tiên phục vụ tài liệu tận nhà cho NKT

Essex Libraries là một phần trong chương trình Năm quốc gia đọc thử nghiệm của dự án Thư viện không tường Bằng cách sử dụng máy tính xách tay, những người độc giả ở nhà có thể truy cập mục lục thư viện ngay tại nhà của họ Bạn đọc có thể chọn và yêu cầu bất cứ tài liệu nào từ mục lục Điều này cho phép bạn đọc chọn những gì họ muốn đọc từ toàn bộ kho sách của thư viện

Thành phố Liverpool có 2 thư viện có dịch vụ phục vụ tận nhà cho bạn đọc Bạn đọc lập danh sách các tài liệu mà mình yêu cầu chuyển đến thư viện Nếu những tài liệu đó có sẵn, chúng sẽ nhanh chóng được chuyển đến cho bạn đọc Chính sách này được đông đảo NKT lựa chọn sử dụng

2.3.5 Chương trình bưu điện dành cho người mù

Nhu cầu chuyển bưu phẩm miễn phí cho NKT đã được giao ước trên toàn thế giới Thường là việc này cho phép bưu phẩm hạng một được phép như sách nói, sách chữ Braille, các ấn phẩm in nổi khác được dán nhãn và đóng gói cho phù hợp Thư viện thực hiện giao ước chuyển bưu phẩm miễn phí được yêu cầu làm hợp đồng với bưu điện địa phương về việc nhận và phân phối hàng hóa theo đúng điều kiện giao kèo Điều quan trọng là thư viện đăng ký với Bưu điện để có thể gửi tài liệu miễn phí đến người sử dụng

2.3.6 Cho mượn trang thiết bị

Tất cả bạn đọc khiếm thị phải có quyền truy cập vào toàn bộ hệ thống mục lục, cơ sở dữ liệu, vốn thông tin tài liệu ở cả dạng in và điện tử bằng

Trang 29

phương tiện hỗ trợ đọc Theo sự tiến bộ của khoa học công nghệ nên chủng loại, giá cả và đặc trưng kỹ thuật của trang thiết bị thay đổi, nâng cấp rất nhanh

Việc sử dụng hệ thống truy cập và phân hệ phần mềm máy tính không phải dễ dàng, vẫn còn nhiều rào cản cho những người cần dùng đến các phương tiện hỗ trợ này

Các loại công nghệ hỗ trợ bao gồm kính phóng đại, máy chụp hình phóng to và máy tính, công cụ đọc… giúp NKT có thể đọc được mà bằng những cách khác họ không thể hoặc khi thị lực của họ không còn đủ rõ và sáng để cho phép họ đọc tài liệu in chữ lớn một cách thoải mái nữa

Công nghệ có thể cung cấp phương tiện cho NKT vượt qua những rào cản để thỏa mãn nhu cầu đọc chữ in, sử dụng máy tính, ghi chép và giao dịch trên giấy tờ hay bằng phương thức điện tử Máy phóng đại chữ hay máy đọc, phần mềm nhận dạng chữ, phần mềm phóng đại, đọc màn hình và các thiết bị chữ nổi điện tử phần nào đã giải quyết được nhu cầu của cá nhân Máy tính giúp ghi chép và in chữ Braille đã tạo điều kiện thuận lợi cho NKT

Một số trang thiết bị hỗ trợ người khiếm thị:

Đặc điểm quan trọng nhất là xem xét loại nào để thích ứng với nhiều nhu cầu đa dạng khác nhau của người sử dụng:

Trang 30

- khả năng thay đổi độ cao của màn hình

- khả năng thay đổi màu sắc (đôi khi gọi chế độ nửa màu)

do trung tâm mắt hay khoa mắt bệnh viện chỉ định

Có khá nhiều loại kính phóng đại phổ biến Kính lúp cầm tay thì dễ sử dụng và dễ đem theo Kính phóng đại cố định cũng thuận tiện để người sử dụng có thể ghi chép Máy phóng đại chiếu sáng (dùng pin) nhưng cần phải

Trang 31

cầm để cho nó tựa trên bề mặt giấy Kích cỡ thanh và vòm kính phóng đại còn tùy thuộc vào loại giấy và nếu phóng to một khu vực hay theo dòng thì rất đơn giản Một số cửa hàng bán đồ trang trí và lưu niệm cũng bán kính lúp có tròng kính thích hợp cho từng người sử dụng và có thể có vòng ánh sáng huỳnh quang để chiếu sáng chỗ cần làm rõ Một số người ngồi và dùng kính hiển vi loại ống kính đôi hay đơn Đọc trên màn hình máy tính cũng nhằm mục đích để giữ tầm mắt xa ra Tròng kính phóng đại loại này hay loại khác

có thể tìm thấy ở các trung tâm mắt nhược thị như Partially Sighted Society, hoặc công ty như Horizon và Optima Low Vision Services

 Máy quét và phần mềm nhận dạng chữ (OCR)

Người đọc đặt tài liệu lên bàn kính của máy quét, nó sẽ chụp lại hình

đó như kiểu của máy photocopy Hình ảnh này được chuyển qua phần mềm nhận dạng chữ và sau đó phát âm thanh

ra từ phần mềm đọc và người sử dụng

có thể điều chỉnh âm thanh được

Máy quét hiện nay rất rẻ và phần mềm nhận dạng chữ tiếng Anh hiện nay đạt độ chính xác cao, thậm chí còn có thể chỉnh sửa kiểu cỡ chữ, chuyển đổi dạng văn bản Tuy nhiên một số hạn chế vẫn còn gặp phải như chữ viết tay thì vẫn không nhận ra, nền màu, giấy bị nhăn, bảng fax không rõ, bảng biểu và văn bản in ở một góc có thể cũng không nhận dạng được

 Máy đọc chuyên dụng

Có nhiều loại máy đọc chuyên dụng, yêu cầu thiết kế càng đơn giản càng tốt Bạn đọc chỉ cần dùng 1 nút để bắt đầu và dừng thao tác quét tài liệu đọc và các phím khác cho phép người đọc đọc từng từ hay thậm chí từng chữ Một số đặc tính khác mà người sử dụng yêu cầu tệp tin quét xong lưu vào đĩa

Trang 32

hoặc chép ra băng Những máy này giá thành từ 1000 bảng đến 2700 bảng, giá thành nếu so với từng bộ phận cấu thành gồm máy tính, máy quét, phần mềm OCR và hệ thống đọc thì máy chuyên dụng này khá đắt nhưng rất tiện lợi vì cách sử dụng đơn giản hơn nhiều Chúng không đòi hỏi phải biết nhiều về máy tính, nếu cách sử dụng giống như máy cassette thì tiện lợi hơn là máy

tính Hiệu của các loại này là Pronto (Modern World Data), Galileo (Modern World Data), Aladdin Ambassador (PulseData, Telesensory), Lesefix 2000 (Professional Vision Services) và Portset Reader (Techno-Vision and

Concept Systems)

 Máy tính cải tiến

Bàn phím máy tính cải tiến

Là loại phương tiện rẻ và đơn giản hiệu quả cho người còn nhìn thấy chút ít nhưng không quen dùng bàn phím thông thường như loại được cải tiến các ký tự nổi trên bàn phím Cách dễ làm là dán một loại nhãn dính vào các

ký tự để nhìn rõ và lớn hơn hay phủ lên toàn bộ bàn phím một “bộ găng” mà

đã có các ký tự đã in nổi trên đó Nếu dùng nhãn dính thì bàn phím có thể thay đổi qua máy tính khác khi có yêu cầu Với bộ găng, có thể dễ dàng lấy ra

để chuyển qua một bàn phím khác

Trang 33

Chuột máy tính cải tiến

Điểm chuột hay con trỏ thông thường khó định vị trên màn hình Có rất nhiều cách để cải thiện điều này:

- điểm trỏ của chuột lớn hơn

- điểm trỏ chuột có màu

- hình dạng di động của con trỏ

- dấu vết con trỏ chuột dễ nhận ra bằng cách xếp chồng nhiều lần hình ảnh con trỏ và sáng lên mỗi khi chuột di chuyển

- một bộ phận định vị để thông báo vị trí con chuột trên màn hình

- một tính năng tự động di chuyển con trỏ chuột trên màn hình bằng một nút mặc định

Màn hình cải tiến

Màn hình phẳng rất có ích cho việc giảm chói và phản chiếu lại và một

số có chất phủ chống chói Nhiều màn hình lớn loại 19 inch, 21 inch đang ngày trở nên phổ biến Ngoài ra, bạn đọc có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng để màn hình trở nên rõ ràng hơn

Trang 34

Một số thư viện, làm việc cùng với các tổ chức đại học hay dịch vụ xã hội tại địa phương cho mượn các trang thiết bị hỗ trợ như băng cassette, kính lúp, v.v Việc cho mượn này có thể trong một thời gian ngắn để sử dụng thử tại nhà, để đánh giá hiệu quả sử dụng của chúng trước khi quyết định mua dụng cụ cho riêng mình, hoặc mượn trong một thời gian dài cho đến khi họ yêu cầu vật dụng nào cụ thể cần dùng Đối với sinh viên, họ có thể yêu cầu việc mượn này trong suốt khóa học

Ảnh : Một số trang thiết bị cho NKT

Trang 35

2.4 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

2.4.1 Ưu điểm

- Các loại tài liệu chuyển dạng đang được đầu tư in ấn, xuất bản khá nhiều, nhất là băng sách nói, CD, tài liệu điện tử

- Các tổ chức, hiệp hội chuyên môn hoạt động có hiệu quả trong việc

hỗ trợ lẫn nhau khi phục vụ NKT (về tài liệu, trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật…)

- Cơ sở vật chất, điều kiện trang thiết bị hiện đại giúp ích cho các thư viện khá nhiều trong việc phục vụ NKT

- Chính phủ Anh rất quan tâm đến hoạt động phục vụ NKT của các thư viện (các chính sách hoạt động, chi phí đầu tư…)

- Mục lục liên hợp quốc gia các tài liệu chuyển dạng (REVEAL) và chính sách mượn liên thư viện giúp NKT có thể dễ dàng tiếp cận tài liệu của các thư viện khác nhau

2.4.2 Nhược điểm

- Số lượng tài liệu chuyển dạng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu của NKT

- Một bộ phận rất lớn NKT không sử dụng thư viện vì những hạn chế

về điều kiện sống, điều kiện đi lại…

- NKT ở vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các SP&DV thư viện

2.4.3 Nguyên nhân

Nguyên nhân của ƣu điểm

- Chính phủ Anh có nhiều chính sách hợp lý, hỗ trợ các thư viện trong

việc phục vụ NKT

- Mức sống của người Anh khá cao, do đó NKT có thể nhận được nhiều

ưu đãi

Trang 36

- Sự công bằng xã hội ở Anh được đề cao Quyền lợi của NKT và người

khuyết tật hiện nay đã được làm rõ trong luật pháp Anh, thông qua việc ban hành Đạo luật chống phân biệt đối xử (DDA) năm 1995, đặc biệt là Mục Sản phẩm và Dịch vụ của Đạo luật này có hiệu lực từ năm 1999

và Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu giáo dục đặc biệt năm 2001

- Hoạt động thư viện ở Anh có sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới Nguyên nhân của nhƣợc điểm

- Nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động phục vụ NKT còn ít

- Điều kiện sống, điều kiện đi lại của NKT, nhất là ở vùng sâu, vùng xa

còn hạn chế

Những hạn chế trên là chuyện phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới NKT vẫn còn cần lắm sự quan tâm của cộng đồng, xã hội để thực sự hòa nhập cuộc sống, dần dần thay đổi hiện thực của mình, từ đó hướng tới tương lai tươi sáng hơn

Trang 37

CHƯƠNG 3 SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN, THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGƯỜI KHIẾM THỊ Ở VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP

3.1 TÌNH HÌNH NGƯỜI KHIẾM THỊ Ở VIỆT NAM

Điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra vả lại hậu quả mấy chục năm chiến tranh còn kéo dài nên số lượng người tàn tật

ở Việt Nam là khá lớn

Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều

tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn

đề người tàn tật Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra (1994 – 1995, 1998) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng; ý kiến của cộng đồng; các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh như sau:

Trang 38

khoảng 344.000 người mù 2 mắt (chiếm 71,3%) và 504.500 người bị mù 1 mắt (chiếm 56,6%) do đục thể thuỷ tinh cần được mổ

 Hoàn cảnh sống và việc làm:

Báo cáo của Tiến sĩ Ôn Tuấn Bảo, Giám đốc văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam, về tổng quan tình hình người tàn tật Việt Nam và sự hỗ trợ của chính phủ cho biết:

Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỉ lệ: 95,85% Số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31% Tỉ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 –

55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%) Người tàn tật sống lang thang chiếm 0,62%

Vẫn còn khó khăn khi người tàn tật đi ra ngoài một mình vì thành phố thiếu những đường đi và phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt dành cho người khuyết tật

Cả nước có 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau Tỉ lệ người tàn tật có nhu cầu song chưa có việc làm là 30,43% Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77% Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người tàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng

Người bị tàn tật đa số là do bẩm sinh, bệnh tật và tai nạn lao động Đặc biệt, có tới 20% bị đa tàn tật (vừa câm, vừa điếc hoặc bị khiếm khuyết cả về vận động, thị giác, trí tuệ ) Sức khoẻ yếu, lại không được học hành đầy đủ (chỉ gần 6% người tàn tật học hết trình độ trung học phổ thông, trên 20% có trình độ trung học cơ sở), nên cơ hội kiếm việc làm của họ gần như không có Đây là nguyên nhân chính khiến họ không tìm được việc làm, phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội

Trang 39

Một nguyên nhân khác theo ông Đoàn Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam, quy định tỷ lệ 2% người tàn tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát các cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện quy định này Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 5 triệu người tàn tật, chiếm 6,4% dân số Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất Hơn 400 cơ sở của người tàn tật đã tạo việc làm cho 20.000 người khuyết tật Luật pháp Việt Nam quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách nhiệm nhận lao động là người tàn tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng số lao động Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người tàn tật Việt Nam hiện có hơn 400 cơ

sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật

 Trình độ văn hóa và chuyên môn:

Một bộ phận không nhỏ người tàn tật chưa biết chữ với tỉ lệ 35,58% chung cho toàn quốc Riêng khu vực nông thôn là 36,9%

Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp I chiếm tỉ lệ 25,36% Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp II chiếm tỉ lệ 21,46% và cấp III là 5,64% (đặc biệt người tàn tật ở khu vực đô thị có trình độ cấp III có tỉ lệ khá cao: 15,98%; so với khu vực nông thôn là 4,31%)

Phần lớn người tàn tật không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 97,64% Chỉ có một bộ phận nhỏ người tàn tật được đào tạo (công nhân kỹ thuật: 1,22%; trung học chuyên nghiệp: 90,53%; cao đẳng và đại học 0,61%)

Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người tàn tật, khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho người tàn tật có thể tham gia hòa nhập với cộng đồng ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề Hiện nay, cả nước

có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18

Trang 40

Nhìn chung theo những con số thống kê trên diện rộng của các cơ quan

có chức năng liên quan, cả nước hiện nay có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh cho 20.000 người tàn tật, 100% trẻ khuyết tật được học ở các trường của Bộ giáo dục, trong đó 6% có trình độ phổ thông trung học, 20% trung học

cơ sở, 25 -35% có việc làm tạo thu nhập, 40.000 được vào các Hội người mù tại địa phương.(thống kê của Bộ Lao Động và Thương binh xã hội) Những chương trình, chính sách của Bộ Văn hoá – Thông tin đã từng bước tạo ra cơ

sở pháp lý để cho công tác phát triển hệ thống sản phẩm dịch vụ thông tin dành cho NKT tại các thư viện công cộng hoạt động ngày càng có hiệu quả cao hơn

3.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY Ở VIỆT NAM VỀ NGƯỜI KHIẾM

THỊ

Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về người tàn tật, có hiệu lực từ ngày

01 tháng 11 năm 1998 gồm 8 chương, 35 điều được ban hành nhằm để “bảo

vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng” Pháp lệnh này quy định trách nhiệm của gia đình, xã hội và Nhà nước đối với người tàn tật và quyền lợi của người tàn tật

Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày 28/10/2000, điều 6 khoản 4 có đề

cập đến dịch vụ thư viện phải hướng đến NKT: “Người mù phải có điều kiện

sử dụng các tài liệu thư viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác”

Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ban hành ngày

06/8/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện Điều 2 chương 2 của Nghị định về trách nhiệm của thư viện đối với người sử dụng vốn tài liệu thư viện quy định:

Ngày đăng: 11/05/2017, 05:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho NKT - Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam
Bảng 1 Những nguồn chính cung cấp thông tin cho NKT (Trang 11)
Bảng 2: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn - Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam
Bảng 2 Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn (Trang 11)
Bảng  3:  Tần  số  người  khiếm  thị  sử  dụng thư  viện  địa  phương - Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam
ng 3: Tần số người khiếm thị sử dụng thư viện địa phương (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w