1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp

80 265 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác đào tạo người dùng tin đối với các thư viện, trung tâm thông tin, tôi đã chọn đề tài “Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Do lần đầu tiên thực hiện một đề tài nghiên cứu còn khá mới mẻ, tác giả không tránh khỏi những bỡ ngỡ và thiếu sót Với trình độ có hạn, trong thời gian làm khóa luận, tác giả phải sử dụng nhiều tài liệu tham khảo của các tác giả khác nhau Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ được sử dụng ở mục đích làm rõ hơn vấn đề có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu Mọi ý kiến, khái niệm không phải của riêng tác giả đều được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận

Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy, cô giáo

và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo, ThS Nguyễn Thị Kim Dung

người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình chỉ bảo, dạy

dỗ em trong suốt 4 năm học tập tại Trường

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị đang công tác tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội đã giúp

đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập và hoàn thành Khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè – những người luôn bên

em, động viên và khuyến khích để em có thể hoàn thành Khóa luận và có được kết quả như ngày hôm nay

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Phạm Vũ Thủy Tiên K51 Thông tin – Thư viện

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1

3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài 3

7 Bố cục của khóa luận 4

CHƯƠNG 1 TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN 5

1.1 Khái quát về Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội 5

1.1.1 Lịch sử hình thành 5

1.1.2 Đội ngũ cán bộ 8

1.1.3 Vốn tài liệu 9

1.1.4 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 10

1.1.5 Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 11

1.2 Tầm quan trọng của công tác đào tạo người dùng tin đối với Trung tâm Thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội 14

1.2.1 Một số khái niệm chung 14

1.2.2 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin đối với Trung tâm

Thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội 16

1.3 Nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện

trường Đại học Hà Nội 17

1.3.1 Đặc điểm người dùng tin 17

1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin 18

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGƯỜI

DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG

ĐẠI HỌC HÀ NỘI 22

2.1 Đào tạo người dùng tin sử dụng Trung tâm thông tin – thư viện 22

2.1.1 Hướng dẫn người dùng tin về nội quy sử dụng thư viện 22

2.1.2 Cách thức sử dụng nguồn lực thông tin 24

2.2 Đào tạo kỹ năng thông tin 36

2.2.1 Kỹ năng trích dẫn tài liệu 36

2.2.2 Kỹ năng tìm tin trên Internet 40

2.3 Đào tạo sau khóa học 42

2.4 Năng lực đào tạo người dùng tin của cán bộ tại Trung tâm 43

2.5 Hiệu quả của hoạt động đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin - thư viện trường Đại học Hà Nội 45

2.5.1 Đối với người dùng tin 46

2.5.2 Năng lực đào tạo của cán bộ thư viện 47

2.6 Nhận xét và đánh giá 47

2.6.1 Những điểm mạnh 47

2.6.2 Những điểm yếu 48

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN -THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 50

3.1 Xây dựng chính sách phát triển nguồn tin phù hợp với nhu cầu tin 50

3.2 Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ công tác đào tạo người dùng tin 52

3.2.1 Xây dựng cơ sở vật chất 53

3.2.2 Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin 53

3.3 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 54

Trang 5

3.4 Xây dựng chương trình đào tạo người dùng tin phong phú về nội dung và

hình thức 55

3.4.1 Về nội dung 55

3.4.2 Về hình thức 55

3.5 Nâng cao năng lực cán bộ thư viện 57

3.6 Xây dựng chiến lược marketing, giới thiệu, quảng bá về hoạt động

đào tạo người dùng tin tại Trung tâm 58

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 6

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ĐƢỢC THỂ HIỆN TRONG KHÓA LUẬN

cán bộ tham gia đào tạo NDT

45

sử dụng thư viện

46

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật – kinh tế - văn hóa – xã hội, vai trò của thư viện trong đời sống càng ngày càng được khẳng định Ở Việt Nam, các nguồn lực thông tin – tư liệu và các dịch vụ mà thư viện cung cấp, trong đó có các thư viện đại học, ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Thư viện đại học đóng góp một phần rất quan trọng trong việc mở cánh cửa thông tin để giúp sinh viên và giảng viên tự chủ trong việc tìm được thông tin phù hợp, hỗ trợ nhu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu của họ trong một môi trường dạy và học đang thay đổi mạnh mẽ, từ việc lấy người học làm trung tâm đến việc học online Thư viện đảm bảo rằng những nguồn lực thông tin và dịch vụ của thư viện sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho người sử dụng Tuy nhiên, sự phát triển của các nguồn lực thông tin cũng làm cho người sử dụng phải đối diện với những thách thức trong việc tìm và

sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả Vì vậy, các hoạt động hướng dẫn, đào tạo người dùng tin (NDT) sử dụng các nguồn lực thông tin trong và ngoài cơ quan thông tin – thư viện là hết sức cần thiết đối với cơ quan thông tin – thư viện nói chung và hệ thống cơ quan trung tâm thông tin – thư viện các trường Đại học nói riêng

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác đào tạo người dùng tin đối với các thư viện, trung tâm thông tin, tôi đã chọn đề tài “Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định là khảo sát thực tế công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học

Trang 9

Hà Nội Qua đó, đề tài sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NDT cũng như hiệu quả hoạt động phục vụ NDT tại đây

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để giải quyết được mục tiêu đề ra, khóa luận sẽ thực hiện một số nhiệm

vụ sau:

- Giới thiệu sơ lược về Trung tâm thông tin- thư viện trường Đại học

Hà Nội

- Trình bày những vấn đề lý luận chung về NDT, đào tạo NDT

- Tìm hiểu những nhân tố trực tiếp tác động tới công tác đào tạo NDT

và những cách thức mà Trung tâm đã tiến hành nhằm nâng cao kỹ năng thông tin cho các đối tượng NDT tại Trung tâm của mình

- Nhận xét, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NDT

3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài

Trung tâm TT – TV trường Đại học Hà Nội là đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài từ nghiên cứu khoa học, niên luận, khóa luận cho đến các luận văn, trên nhiều góc độ khác nhau như đề tài : “Tìm hiểu về tổ chức quản

lý và khai thác nguồn lực thông tin” của tác giả Lê Thị Anh Thư (khóa luận 2009), “Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của trung tâm TT – TV trường Đại học Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Chinh (khóa luận 2009 ) Nhưng vấn

đề đào tạo NDT chưa được đề cập, nghiên cứu một cách tổng thể mà mới chỉ dừng lại trong những vấn đề nhỏ của các đề tài trước đó

Với đề tài của mình, tôi muốn có được cái nhìn toàn diện, cụ thể hơn về công tác đào tạo NDT tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội Qua đó, nhằm đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo NDT tại Trung tâm trong thời gian tới

Trang 10

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác đào tạo NDT tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại

5.2 Phương pháp cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau :

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn các cán bộ thư viện, NDT

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp tổng hợp, thống kê số liệu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Đóng góp về lý luận

Khóa luận xem xét và khái quát các đặc trưng riêng về công tác đào tạo NDT cũng như tầm quan trọng của hoạt động này đối với Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

6.2 Đóng góp về thực tiễn :

Khóa luận đưa ra những nhận xét, đánh giá về công tác đào tạo NDT tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội, từ đó đề xuất các giải

Trang 11

pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo NDT, thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp thông tin – thư viện

7 Bố cục của khóa luận :

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương :

Chương 1 : Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội và những vấn đề chung về công tác đào tạo người dùng tin

Chương 2 : Thực trạng hoạt động đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1 TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

HÀ NỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

NGƯỜI DÙNG TIN

1.1 Khái quát về Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

Trường Đại học Hà Nội có khả năng giảng dạy các ngoại ngữ: Anh, Nga, Pháp, Trung quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hàn Quốc, Bungari, Hung-ga-ri, Séc, Slô-văk, Ru-ma-ni, Thái, A rập… Trong số các ngoại ngữ nêu trên có 10 chuyên ngành đào tạo cử nhân ngoại ngữ, 4 chuyên ngành tiếng đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ

Trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cử nhân các chuyên ngành khác dạy bằng ngoại ngữ từ năm 2002 như: Quản Trị kinh doanh, Du lịch, Quốc tế học, Khoa học máy tính, Tài chính-Ngân hàng, Kế toán (giảng dạy bằng tiếng Anh); ngành Khoa học máy tính (giảng dạy bằng tiếng Nhật) Ngoài ra, trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho người nước ngoài Trong tương lai sẽ mở thêm những chuyên ngành đào tạo khác bằng ngoại ngữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu cầu cao

Trang 13

Mục tiêu đào tạo của nhà trường không chỉ cung cấp kiến thức mà còn coi trọng định hướng phát triển năng lực làm việc cho sinh viên Chính vì vậy, nhà trường đã thực hiện phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo

Từng bước hội nhập giáo dục quốc tế, tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo nhằm trang bị cho người học kỹ năng làm việc, kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, Trường Đại học Hà Nội phấn đấu trở thành trường đại học nghiên cứu ngang tầm các nước có nền giáo dục phát triển trong khu vực và trên thế giới Nghiên cứu ứng dụng là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường Thế mạnh về nghiên cứu khoa học ngoại ngữ, trong đó có phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho các trường chuyên ngữ, nghiên cứu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ, văn hoá – văn minh…đã được khẳng định Nhà trường là cơ quan chủ quản của “Tạp chí khoa học ngoại ngữ” - tạp chí chuyên ngành duy nhất của Việt Nam nghiên cứu về khoa học ngoại ngữ

Nhà trường có các Trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu đáp ứng nhu cầu của xã hội như: Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Trung tâm tư liệu

và tiếng Anh chuyên ngành, Trung tâm Đào tạo từ xa, Trung tâm Dịch thuật, Trung tâm Công nghệ - thông tin, Viện nghiên cứu xã hội và phát triển

Nhà trường đã ký kết hợp tác đào tạo với trên 30 trường đại học nước ngoài; có quan hệ đối ngoại với trên 60 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực tiếp với hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam; tham gia các hoạt động văn hoá đối ngoại, giao lưu ngôn ngữ-văn hoá với nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và quốc tế Nhiều Đại sứ quán, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài đã hợp tác hỗ trợ Nhà trường trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực thông qua những chương trình hỗ trợ năng lực quản lý, đào tạo giáo viên trẻ và tài trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn

Trang 14

Nhiều đoàn khách cấp cao, các tổ chức giáo dục quốc tế các trường đại học nước ngoài đến thăm và làm việc với Trường Trung bình mỗi tuần có khoảng

4 đến 5 đoàn khách nước ngoài đến thăm trường

Một số trường đại học nổi tiếng của nước ngoài, như Đại học Westminster, Central Lancashire (Vương Quốc Anh), Đại học Dublin City (Ireland), Đại học AUT (New Zealand), Đại học La Trobe, Victoria, Griffith(Australia), Đại học IMC (Australia) đã công nhận chương trình đào tạo của Trường Đại học Hà Nội Theo đó, sinh viên của Trường đại học Hà Nội sau 3 năm đầu học tại Trường và học năm cuối tại các trường đối tác này

đã được các trường đối tác cấp bằng cử nhân

Để phấn đấu thành trường đại học quốc tế trong khu vực, nhiều năm qua, Trường Đại học Hà Nội đã liên tục tích lũy kinh nghiệm, không ngừng phấn đấu, học hỏi các trường có đẳng cấp quốc tế trên thế giới về quy trình đào tạo, xây dựng chương trình, hệ thống giáo trình, tăng cường cơ sở vật chất Trường duy trì phương châm hợp tác với các trường đại học khác trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực đào tạo

Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi trường Đại học Hà Nội được thành lập Thời kỳ mới thành lập Trung tâm hoạt động trên cơ sở một tổ công tác phục vụ tư liệu cho trường, trực thuộc phòng giáo vụ Hoạt động thư viện nghèo nàn, tài liệu chủ yếu là sách giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành như: tiếng Nga và ngôn ngữ các nước Đông Âu (tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp Khắc, tiếng Bungari…) Nguồn tài liệu chủ yếu là sách tài trợ, tặng biếu của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa

Năm 1967, trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng giảng dạy, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một số chuyên ngành như: tiếng Anh, tiếng Pháp Cùng với việc thành lập thêm một

số khoa và bộ môn, vốn tư liệu tăng lên đáng kể Đến năm 1984, lãnh đạo nhà

Trang 15

trường quyết định tách tổ tư liệu ra khỏi phòng giáo vụ thành một đơn vị độc lập với tên gọi là: “Thư viện trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Sau khi tách thành đơn vị độc lập, năm 1994 Thư viện đã xây dựng mới được toà nhà 2 tầng, vốn tài liệu ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được yêu cầu về tư liệu cho công tác đào tạo của trường Trong quá trình hoạt động, Trung tâm đã không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ

Năm 2000 với việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Ban Giám hiệu trường quyết định sáp nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi tên thành “Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Trung tâm thực hiện dự án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) mức A vốn đầu tư 500.000 USD để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết bị

Ngày 5/12/2003 Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm

đã ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện Hiện nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định và từng bước hiện đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của trường Đại học Hà Nội nói riêng và của ngành giáo dục đào tạo của nước ta nói chung trong thời đại mới

Trang 16

có nhiều bạn đọc đến nhất Bởi vậy, người ta nói cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện thật có ý nghĩa

Hiện nay, tổng số cán bộ của Trung tâm gồm có 22 cán bộ, trong đó có

16 cán bộ tốt nghiệp đại học ngành thông tin - thư viện (thư viện viên), 4 người tốt nghiệp ngành công nghệ Thông tin và Điện tử viễn thông (kỹ thuật viên), 2 cán bộ phụ trách an ninh, môi trường Trong số 22 cán bộ của Trung tâm có 1 thạc sĩ, 7 cán bộ đang học cao học, 6 cán bộ đang theo học văn bằng

2 các thứ tiếng Trung tâm với một đội ngũ cán bộ thư viện trẻ, dễ dàng tiếp thu những cái mới, có trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao, có khả năng nắm bắt nhanh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, biết sử dụng thành thạo các trang thiết bị của Trung tâm, có tinh thần thái độ phục vụ nhiệt tình, biết tư vấn, hướng dẫn thông tin cho NDT

1.1.3 Vốn tài liệu

Hiện nay, Trung tâm đang sở hữu một khối lượng vốn tài liệu hết sức

đa dạng và phong phú Với đặc thù là một Trường đào tạo chuyên ngành về ngoại ngữ, do vậy phần lớn nguồn tài liệu của Trung tâm là ngoại văn với nhiều thứ tiếng khác nhau như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha… Ngoài ra còn có nhiều tài liệu giáo trình bằng tiếng Việt để phục vụ cho bạn đọc trong quá trình học tập tiếng nước ngoài

Cụ thể như sau:

1.3.1.1 Tài liệu truyền thống

- Tài liệu dạng sách

STT Loại Tổng số tên sách Tổng số bản sách

Trang 17

- Tài liệu dạng khác

tên sách

Tổng số bản sách

1.3.1.2 Tài liệu điện tử

1.1.4 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Về cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện nay, Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội có 205 máy tính, trong đó có 5 máy chủ và 200 máy trạm

Dưới sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, Trung tâm đã từng bước được đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu tin của NDT Hệ thống trang thiết bị của Trung tâm hiện có :

Trang 18

- 6 máy in : 1 máy in lazer khổ A3 và 1 máy in khổ A4 có chức năng

in trực tiếp qua mạng; 1 máy in màu khổ A3; 1 máy in thẻ; 1 máy in mã vạch

- 2 tivi 21 inch phục vụ chiếu các video bài giảng ; máy chiếu đa chức năng phục vụ tập huấn người sử dụng thư viện và giảng ngoại ngữ qua máy tính

- Trung tâm còn tiến hành khai thác thông tin từ các chảo thu vệ tinh với 4 đầu giải mã kỹ thuật số thu các kênh chính thống trên thế giới để in ra đĩa, đưa vào mạng để phục vụ bạn đọc

Ngoài ra, Trung tâm có 4 đầu DVD kỹ thuật số, 2 đầu video thường, 2 máy photocopy tốc độ cao, 30 máy cassette, 2 máy từ hóa và khử từ cho sách, đĩa CD, 3 máy đọc mã vạch cùng với hệ thống camera,cổng từ và hệ thống điều hòa hiện đại

Bên cạnh đó, Trung tâm còn có hệ thống bàn ghế, tủ kệ gồm 86 bàn,

300 ghế, 140 giá sách bằng gỗ, 63 giá sách bằng sắt…là những phương tiện không thể thiếu của Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội trong công tác tổ chức, sắp xếp tài liệu

1.1.5 Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện

Hiện nay, tại Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội có các sản phẩm và dịch vụ sau :

1.1.5.1 Sản phẩm

- Thư mục giới thiệu sách mới : giới thiệu các cuốn sách mới nhập về thư viện cho bạn đọc biết và sử dụng Thư mục thông báo sách mới được cập nhật hàng tháng

- Thư mục chuyên đề : giới thiệu những cuốn sách theo những chủ đề nhất định Một số thư mục chuyên đề tiêu biểu như : thư mục về quản trị du lịch, quản trị tài chính, quản trị kinh doanh, thư mục chuyên đề về khoa học máy tính, về văn hóa xã hội…

Trang 19

- Hệ thống mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPACs) là sự tích hợp của phần mềm Libol trên Website của Trung tâm giúp người dùng tin tra cứu trực tuyến trên mạng tới nguồn lực thông tin của Trung tâm ở mọi lúc, mọi nơi, trong hoặc ngoài thư viện

- Cơ sở dữ liệu do Trung tâm xây dựng (gồm có CSDL sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn, băng từ) và CSDL mua của nước ngoài (CSDL ProQuest)

- Bản tin luyện dịch : là sản phẩm đặc trưng của Trung tâm, bao gồm những tin tức, sự kiện, bài bình luận về các lĩnh vực khác nhau như ; kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, du lịch…

1.1.5.2 Dịch vụ

- Đọc tại chỗ: Là hình thức bạn đọc tiếp nhận thông tin bằng cách đọc

tài liệu tại Trung tâm Đây là hình thức truyền thống được thực hiện từ khi Trung tâm mới được thành lập và cho đến nay vẫn tiếp tục duy trì Vì tất cả phòng phục vụ của Trung tâm đều được tổ chức theo kho mở nên trước khi bạn đọc được sử dụng thư viện phải trải qua các lớp tập huấn sử dụng kho mở

và qua kiểm tra nếu đạt yêu cầu mới được cấp quyền sử dụng Tại các phòng, bạn đọc có thể tự tra tìm và tiếp cận với tài liệu theo nhu cầu

- Dịch vụ cho mượn tài liệu: Đây là dịch vụ có thể nói là quan trọng

nhất tại Trung tâm trong điều kiện hiện nay khi diện tích kho rất hạn chế không thể đáp ứng hết yêu cầu đọc tài liệu tại chỗ của bạn đọc Hiện nay Trung tâm đã thực hiện chế độ đặt trước tài liệu, thực hiện trực tiếp trên phần mềm LIBOL bởi các cán bộ của Trung tâm với mục đích nhằm đặt chỗ trước cho tài liệu mà NDT cần nhưng tài liệu đó hiện đang bận Nếu NDT yêu cầu được đặt trước tài liệu thì sau khi tài liệu được yêu cầu được trả về Trung tâm, Trung tâm sẽ gửi e-mail thông báo cho NDT biết và có thể đến mượn tài liệu

- Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu: Dịch vụ này không thể thiếu được

bởi số lượng bản tài liệu ở Thư viện là có hạn do đó không thể cung cấp đủ

Trang 20

cho sinh viên Nặt khác có nhiều tài liệu ở Thư viện là tài liệu quý được dán dấu đỏ và quy định chỉ được sử dụng tại Thư viện không được mượn về nhà

Do đó để nghiên cứu được tài liệu sinh viên phải photo tài liệu để mang về nhà

- Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc: Bạn đọc muốn được cung cấp

dịch vụ phải viết phiếu yêu cầu gồm các thông tin cá nhân, đề tài đang tìm hiểu, các dạng tài liệu và nội dung tài liệu cần tìm Cán bộ thư viện sẽ tìm trong CSDL của Trung tâm để tìm các tài liệu đáp ứng yêu cầu bạn đọc và đưa ra danh sách các tài liệu bạn đọc có thể tìm thấy tại Trung tâm phục vụ viết luận văn, luận án Đây là dịch vụ hoàn toàn miễn phí nhằm thúc đẩy việc khai thác một cách tối đa nguồn lực thông của Trung tâm

- Đào tạo người dùng tin: Nhận thức tầm quan trọng của việc đào tạo

NDT nên Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội sau khi áp dụng công nghệ hiện đại và chuyển sang phục vụ theo kiểu kho mở (từ năm 2005), Trung tâm đã nhanh chóng triển khai công tác tổ chức đào tạo người dùng tin

để giúp họ khai thác các nguồn lực thông tin của Trung tâm một cách hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời

- Triển lãm, giới thiệu sách: Với những cuốn sách mới nhập về Trung

tâm, việc thông báo sách mới được cán bộ thư viện thực hiện và đưa lên Website của Trung tâm, phổ biến rộng rãi với các đối tượng người dùng tin Đồng thời Thư viện sẽ trưng bày sách mới tại các tủ kính được đặt ngay trước của chính vào Thư viện, thu hút sự chú ý của bạn đọc nhằm tăng cường lượng bạn đọc sử dụng các tài liệu mới

- Dịch vụ cung cấp đài cassette, băng cassette, đĩa CD – ROM phục

vụ học ngoại ngữ: Đây là dịch vụ rất hữu ích cho việc học ngoại ngữ của sinh

viên trong trường

Trang 21

- Dịch vụ in sao băng đĩa: Trung tâm lưu trữ một số loại băng đĩa rất

quý, không có hoặc xuất hiện rất hiểm trên thị trường Do đó NDT thường có nhu cầu in sao băng đĩa

Các dịch vụ tại Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội tương đối phong phú, nhiều dịch vụ mang tính đặc thù góp phần quan trọng vào việc khai thác nguồn lực thông tin của Trung tâm một cách tối ưu, hiệu quả

1.2 Tầm quan trọng của công tác đào tạo người dùng tin đối với Trung tâm Thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

1.2.1 Một số khái niệm chung

1.2.1.1 Người dùng tin

Như chúng ta đã biết, NDT (hay còn gọi là bạn đọc, độc giả, người đọc) là một thành phần không thể thiếu của hoạt động thông tin – thư viện Nếu như không có NDT thì thư viện sẽ mất đi mục đích tồn tại của mình Và phục vụ NDT cũng là mục đích cao cả, mục đích cuối cùng của bất cứ một cơ quan, trung tâm thông tin – thư viện nào

NDT được hiểu là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình Như vậy, NDT trước hết phải là người có nhu cầu tin, là chủ thể của nhu cầu tin Đồng thời, người có nhu cầu tin chỉ có thể trở thành NDT khi họ

sử dụng thông tin (bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các sản phẩm

và dịch vụ thông tin của một cơ quan hay trung tâm thông tin – thư viện nào đó), hoặc có điều kiện để sử dụng thông tin, thỏa mãn nhu cầu tin của mình

Trong hoạt động thông tin, NDT là khách hàng, sử dụng kết quả của một loại hoạt động nghề nghiệp trong xã hội Điều đó cũng có nghĩa là hoạt động thông tin muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến nhu cầu của NDT trong từng thời điểm cụ thể Nhu cầu tin của NDT là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin Không có NDT sẽ không tồn tại hoạt động thông tin Khi sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin để tìm kiếm, tiếp cận thông tin phù hợp với nhu cầu tin của mình, NDT sẽ phân tích, đánh giá chất lượng các sản phẩm, dịch vụ đó Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông

Trang 22

tin, góp phần điều chỉnh hoạt động thông tin theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của NDT NDT chính là nhân tố điều chỉnh và định hướng cho hoạt động thông tin

1.2.1.2 Công tác đào tạo người dùng tin

Công tác đào tạo NDT là một hoạt động thường xuyên của các cơ quan, trung tâm thông tin – thư viện trong nước và trên thế giới

Theo Fleming (1990) đào tạo NDT là những chương trình hướng dẫn

và giảng dạy đa dạng được thư viện cung cấp cho người sử dụng nhằm giúp

họ sử dụng các nguồn tin và dịch vụ của thư viện một cách hiệu quả và độc lập Như vậy, đào tạo NDT bao hàm việc nâng cao tri thức của họ về các dịch

vụ thư viện, giúp họ sử dụng các trang thiết bị và tiện nghi của thư viện

Theo Jacques Tocatlian, công tác đào tạo NDT được hiểu những chương trình hướng dẫn và đào tạo những người sử dụng hiện tại hay tiềm năng, một cách riêng rẽ hay tập thể, với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho:

- Sự nhận biết của họ về nhu cầu tin của mình ;

- Sự trình bày rõ ràng những nhu cầu này ;

- Việc sử dụng hiệu quả các sản phầm, dịch vụ thông tin cũng như sự đánh giá về các sản phẩm và dịch vụ đó

Tựu chung lại, đào tạo NDT là việc cung cấp cho người sử dụng thư viện những sự hiểu biết về các sản phẩm và dịch vụ của thư viện đó, từ đó đáp ứng nhu cầu tin của NDT một cách tốt nhất

1.2.1.3 Kỹ năng thông tin

Trong hơn một thập kỷ qua, thư viện đã phát triển không ngừng cùng

với sự phát triển chung của thế giới Nhiều họat động của thư viện trong đó có

hướng dẫn – đào tạo NDT, được điều chỉnh và bổ sung thêm những yếu tố mới Hướng dẫn sử dụng thư viện ngày nay cần được đặt trong một bối cảnh rộng hơn là dạy cho NDT về các kỹ năng thông tin, kỹ năng học tập, kỹ năng truyền thông cũng như các kỹ năng thư viện Thực tế cho thấy, kỹ năng thông tin của NDT chưa cao, nếu không nói là còn yếu; vì vậy mà giáo dục kỹ năng thông tin là rất quan trọng

Trang 23

Phổ cập các kỹ năng thông tin được hiểu là giúp người sử dụng có các khả năng định vị, tìm tin, quản lý, đánh giá một cách độc lập và sử dụng thông tin từ các nguồn tin đa dạng để giải quyết vấn đề, nghiên cứu, ra quyết

định và phát triển năng lực chuyên môn tiếp tục Hiệp hội Thư viện Mỹ -

ALA (1989) cũng chỉ rõ kỹ năng thông tin là khả năng nhận biết khi nào cần thông tin, khả năng định vị, đánh giá và sử dụng hiệu quả thông tin đã tìm được Nhu cầu có kiến thức thông tin ngày càng trở nên quan trọng kể từ khi việc ứng dụng công nghệ thông tin làm cho quá trình thông tin ngày càng trở nên dễ dàng Với sự phát triển của nguồn lực thông tin toàn cầu, việc phổ biến các kỹ năng thông tin cho người sử dụng thư viện nói chung, đặc biệt là sinh viên, giảng viên của các trường đại học nói riêng là rất cần thiết, nhằm cung cấp các cơ hội để học, không chỉ cách truy cập – tiếp cận đến các nguồn tin cần thiết, mà còn là cách đánh giá, quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả Kỹ năng thông tin là cơ sở căn bản để giúp người sử dụng có khả năng học tập suốt đời, giúp họ làm chủ được bối cảnh, và tự định hướng được bản thân

1.2.2 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin đối với Trung tâm Thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

Đào tạo NDT là một hoạt động thường xuyên và không kém phần quan trọng của các cơ quan, trung tâm thông tin – thư viện nói chung và trường Đại học Hà Nội nói riêng Bởi lẽ, các nguồn thông tin tư liệu của Trung tâm càng đa dạng, từ các nguồn tin truyền thống đến các loại hình tài liệu hiện đại như các cơ sở dữ liệu trực tuyến, các CD-ROMs và Internet Việc tra cứu các nguồn thông tin này ngày càng phức tạp, đòi hỏi NDT phải

có những hiểu biết căn bản về thư viện, phải có tri thức cũng như có các kỹ năng nhất định để khai thác thông tin một cách triệt để Đào tạo NDT sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin của Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội, lôi cuốn NDT sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm, giúp họ biết được sản phẩm và dịch vụ nào của thư viện phù hợp

Trang 24

với mình Đồng thời, thông qua đó, sẽ thu thập được các ý kiến phản hồi của NDT để có thể điều chỉnh hoạt động, đáp ứng nhu cầu của NDT một cách tốt nhất Bên cạnh đó, sự ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong thư viện đòi hỏi NDT cần có các kiến thức và kỹ năng để có thể sử dụng các trang

thiết bị và tiện nghi thư viện một cách phù hợp

Trong bối cảnh nền giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, thì việc đào tạo và nâng cao cách thức sử dụng thư viện cũng như các kỹ năng thông tin cho sinh viên là điều không thể thiếu Sinh viên được đào tạo một cách bài bản về cách thức sử dụng thư viện cũng như kỹ năng tìm kiếm thông tin sẽ nắm được các nguyên tắc cơ bản trong việc nhận biết các nhu cầu thông tin, hoạch định chiến lược tìm kiếm, truy cập, đánh giá và sử dụng các sản phẩm

và dịch vụ của thư viện cũng như các nguồn thông tin khổng lồ một cách hợp

lý để phục vụ cho việc học tập cũng như nghiên cứu một cách độc lập Đây chính là nền tảng giúp sinh viên phát triển năng lực bản thân trong tư duy độc lập và sáng tạo – một trong những yếu tố thiết yếu của sinh viên trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước

1.3 Nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội

Với mục đích là không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng và thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin của NDT , việc nghiên cứu NDT và nhu cầu tin là một trong những hoạt động quan trọng của các cơ quan, Trung tâm thông tin – thư viện NDT và nhu cầu tin trở thành yếu tố định hướng cho hoạt động của các cơ quan, Trung tâm thông tin – thư viện

1.3.1 Đặc điểm người dùng tin

Qua khảo sát thực tế tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học

Hà Nội, tôi tạm chia NDT của Trung tâm thành các nhóm chủ yếu sau :

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo, quản lý Nhóm 2 : Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Trang 25

Nhóm 3 : Học viên và sinh viên (bao gồm sinh viên chính qui; sinh viên tại chức; sinh viên dự án và dự án ngắn hạn, học viên cao học)

1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin

1.3.2.1 Nhu cầu tin của người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý

Đây là những người đưa ra chính sách, xây dựng các kế hoạch phát triển của Trường nói chung và Trung tâm nói riêng, nhóm NDT này thường

có rất ít thời gian đến để khai thác tài liệu ở Trung tâm Do đó, thông tin để phục vụ nhóm đối tượng này cần được cung cấp đến tận nơi ở hoặc nơi làm việc của họ

Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm đối tượng này :

+ Họ cần thông tin chung về các vấn đề như nguồn nhân lực, nguồn tài chính, mối quan hợp tác với bên ngoài, các thành tựu đạt được trong nghiên cứu khoa học, thông tin về cơ cấu tổ chức…

+ Do tính chất hoạt động quản lý, các cán bộ quản lý cần nhiều dạng thông tin bổ sung cho nhau Quỹ thời gian có hạn nhưng khối lượng công việc lớn khiến cho họ có xu hướng thích sử dụng các thông tin đã được xử lý, bao gói nhưng vẫn cần đảm bảo tính chính xác, logic Thông tin điện tử, các loại

ấn phẩm định kỳ được họ ưu tiên sử dụng

+ Xét về yêu cầu công việc, các cán bộ lãnh đạo, quản lý cần sử dụng tài liệu nhiều ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên trong thực tiễn, do áp lực công việc và hạn chế thời gian, họ chỉ sử dụng các tài liệu nước ngoài đã được xử

lý thông tin (dịch thuật, tóm tắt, tổng quan…)

+ Ngoài ra, thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời, mang tính mới, tính thời sự cao phục vụ cho quá trình ra quyết định của họ

1.3.2.2 Nhu cầu tin của người dùng tin là cán bộ nghiên cứu giảng dạy

Đây là nhóm NDT có nhu cầu cao và bền vững vì thông tin là tiềm năng hoạt động khoa học và giảng dạy của họ Trường Đại học Hà Nội là trường đào tạo đa ngành, nhưng phần lớn vẫn là đào tạo ngoại ngữ, vì vậy nhu

Trang 26

cầu tin của nhóm này tập trung vào tài liệu về chuyên ngữ, khoa học tự nhiên, văn hóa du lịch, hợp tác quốc tế… Đối tượng này ít sử dụng thư viện Trung tâm mà thường sử dụng tủ sách hạt nhân trên các thư viện Khoa (Thư viện Khoa vẫn do Trung tâm Thông tin - Thư viện quản lý)

Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm này:

+ Họ có nhu cầu tin mang tính tổng hợp và chuyên sâu trong lĩnh vực giảng dạy của họ Tại trường đại học Hà Nội, nhu cầu tin của các cán bộ giảng dạy tập trung chủ yếu về các lĩnh vực như : quản trị tài chính, quản trị kinh doanh, khoa học máy tính…

+ Cán bộ nghiên cứu giảng dạy thường chú trọng tính lôgic trong nội dung thông tin Giá trị của thông tin đối với họ chủ yếu thể hiện qua logic trình bày, diễn đạt thông tin

+ Cán bộ nghiên cứu giảng dạy chú ý nhiều đến nội dung và chất lượng thông tin Họ đánh giá cao và sử dụng bất kỳ hình thức nào chuyển tải được thông tin có giá trị cao và kịp thời Nhu cầu về hình thức thông tin của họ vì vậy đa dạng và phong phú, bao gồm cả các loại tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại Sách chuyên khảo và các tạp chí khoa học là những loại tài liệu

có giá trị thông tin khoa học cao thường được các cán bộ nghiên cứu giảng dạy ưu tiên sử dụng

+ Nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu giảng dạy rất đa dạng về ngôn ngữ Thông thường, họ có nhu cầu sử dụng cao về những ngôn ngữ phổ biến trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Nga…

Nhóm NDT này chỉ chiếm 1.6% trong tổng số NDT của Trung tâm Tuy nhiên là nhóm NDT có nhu cầu thông tin cao, đòi hỏi thông tin ở mức độ sâu về lĩnh vực họ đang nghiên cứu, giảng dạy đồng thời có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Trang 27

1.3.2.3 Nhu cầu tin của nhóm học viên và sinh viên

Nhóm sinh viên (chính qui, tại chức, sinh viên dự án)

- Nhóm sinh viên chính qui:

Đây là nhóm NDT đông đảo của Trung tâm (chiếm tới 89% trong tổng

số NDT của Trung tâm) Vì thế, nhu cầu thông tin của họ là rất lớn Họ thường sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào dịp chuẩn bị làm đề tài, thực hiện các công tình nghiên cứu khoa học, bảo vệ khóa luận Lúc này nhu cầu tin của họ là tài liệu chuyên sâu về chủ đề, tài liệu mang tính thời sự

Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm sinh viên chính quy : + Sinh viên chính quy cần thông tin phục vụ cho việc học tập, nghiên

cứu, đặc biệt là tài liệu liên quan đến chuyên ngành học của họ Ngoài ra, các thông tin phục vụ nhu cầu giải trí cũng được họ quan tâm nhiều

+ Họ có nhu cầu tin rộng, thông tin không cần chuyên sâu nhưng phải đầy đủ

+ Hình thức thông tin: Họ có thể sử dụng nhiều loại hình tài liệu khác nhau nhưng chủ yếu dưới dạng tài liệu in ấn

Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy với quan điểm lấy người học làm trung tâm, nâng cao tính tích cực, chủ động của người học đã khiến nhóm người dùng tin này ngày càng có nhiều biến chuyển

về phương pháp học tập Lúc này thư viện được xem là “giảng đường thứ hai”, là kênh thông tin quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức Nhu cầu tự học, tự nghiên cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của sinh viên Từ đây cũng đặt ra cho Trung tâm nhiệm vụ và yêu cầu mới

- Nhóm sinh viên tại chức:

Sinh viên tại chức của trường có nhu cầu tin chưa cao và không thường xuyên sử dụng thư viện trường Họ chủ yếu lên thư viện nhiều vào mùa thi Đôi khi họ đến thư viện không phải chỉ khai thác thông tin phục vụ học tập

mà còn để thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình

Trang 28

- Nhóm sinh viên dự án

Đây là nhóm NDT không thường xuyên của Trung tâm, tuỳ theo các khoá đào tạo ngắn hạn của Nhà trường Nhóm NDT này chiếm 7,37% trong tổng số NDT của Trung tâm Với nhóm đối tượng sinh viên thuộc các dự án ngắn hạn (đào tạo trong 3 tháng, 6 tháng hoặc 9 tháng), NDT không được mượn tài liệu về nhà, chỉ có thể đọc, sử dụng tài liệu tại chỗ

Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm này: Nhu cầu tin của họ tập trung chủ

yếu vào các loại tài liệu phục vụ cho việc học ngoại ngữ để du học Họ thường tìm đọc các loại sách luyện thi TOEFL, IELTS, các loại băng đĩa…

Học viên cao học

Học viên cao học là những người đã tốt nghiệp đại học, vì vậy ít nhiều

có kinh nghiệm trong việc sử dụng thư viện, hiểu biết về phương pháp và cách thức khai thác sử dụng thư viện một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập của mình Thông tin dành cho họ có tính chất

chuyên sâu, phù hợp với chương trình đào tạo, đề tài, đề án của họ

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI

TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG

2.1 Đào tạo người dùng tin sử dụng Trung tâm thông tin – thư viện

Đào tạo, hướng dẫn NDT sử dụng thư viện là việc làm đầu tiên trong công tác đào tạo NDT tại Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội

Để có thể sử dụng Trung tâm thông tin – thư viện, NDT bắt buộc phải trải qua khóa đào tạo sử dụng thư viện do Trung tâm thông tin – thư viện tổ chức vào đầu năm học mới

2.1.1 Hướng dẫn người dùng tin về nội quy sử dụng thư viện

Việc làm đầu tiên trong công tác đào tạo NDT sử dụng Trung tâm

nội quy sử dụng thư viện Các cán bộ thư viện sẽ thông báo cho NDT biết về giờ mở cửa phục vụ, về trách nhiệm của người sử dụng thư viện Cụ thể như sau :

Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội mở cửa từ 7h30’ đến 20h00’ từ thứ 2 đến thứ 6 Thứ bảy mở cửa từ 7h30’ đến 17h00’ Chủ nhật và ngày lễ thư viện nghỉ phục vụ NDT có quyền sử dụng thư viện thời gian khóa học cho phép của Nhà trường đối với từng đối tượng cụ thể Quyền sử dụng Trung tâm thông tin – thư viện được thực hiện cụ thể theo chính sách mượn

Trang 30

trả, chính sách về quyền truy cập thông tin, chính sách khen thưởng và xử lý

vi phạm của Trung tâm thông tin – thư viện NDT cần xuất trình thẻ (thẻ sinh viên, thẻ công chức hoặc thẻ sử dụng tạm thời đã đăng nhập) khi vào thư viện

và khi cán bộ thư viện yêu cầu Trước khi vào sử dụng thư viện, NDT phải gửi túi xách, hành lý ở quầy trực bảo vệ NDT có quyền sử dụng các tài nguyên thư viện theo những quy định của Trung tâm thông tin – thư viện và không được gây trở ngại cho những người sử dụng khác, hoặc làm hư hại các tài nguyên thư viện Đồng thời, NDT phải có trách nhiệm bảo quản tài liệu và trang thiết bị trong tình trạng tốt, không được gây hư hỏng cho các tài liệu và trang thiết bị, ví dụ như viết lên tài liệu, sử dụng trang thiết bị không đúng cách, bật tắt máy tính tùy tiện NDT phải giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn cháy

nổ và vệ sinh môi trường Không được hút thuốc lá, ăn uống, dán quảng cáo, mang súc vật, vật gây cháy, hóa chất, vũ khí…vào Trung tâm Khi bị mất hoặc bỏ quên đồ đạc, tư liệu trong Trung tâm thông tin – thư viện, bạn đọc cần báo ngay cho quầy trực ở tầng 1 để được giúp đỡ

Cán bộ thư viện cũng giới thiệu cho NDT về chính sách mượn trả tài liệu tại Trung tâm thông tin – thư viện Nếu mượn tài liệu đọc tại thư viện thì tại một thời điểm, bạn đọc được mượn hoặc đọc tối đa 2 tài liệu Còn mượn

về nhà thì bạn đọc được mượn 2 tài liệu trong 1 tuần Sinh viên đang làm khóa luận hoặc nghiên cứu khoa học được khoa giới thiệu và xác nhận sẽ có chính sách mượn trả mở rộng hơn do Ban Giám đốc Trung tâm thông tin – thư viện quyết định Tài liệu chỉ có thể được mượn sau khi đã hoàn tất các thủ tục mượn tại quầy mượn trả Người mượn phải chịu trách nhiệm kiểm tra tình trạng tư liệu trước khi mượn, đồng thời phải giữ gìn, bảo quản tài liệu thư viện trong thời gian mượn Mọi hư hỏng sẽ được quy cho người mượn tài liệu

đó sau cùng Thời gian mượn tài liệu có thể được gia hạn nếu bạn đọc trực tiếp trả tài liệu đó tại quầy trực mượn trả đúng hạn và tài liệu đó không ai ai yêu cầu mượn Bất kỳ tài liệu nào đang được mượn, dù chưa hết hạn cũng đều

Trang 31

phải lập tức trả lại thư viện khi có thông báo khẩn từ Trung tâm thông tin – thư viện theo thời hạn ghi trong thông báo Những đối tượng không được phép mượn tài liệu thư viện : là những tài liệu đang mượn bị quá hạn, đã mượn đủ số tài liệu cho phép, vi phạm nội quy thư viện đang trong thời gian

xử lý, chưa tiến hành thủ tục nộp phạt, đang bị đình chỉ quyền mượn Các tài liệu được phép mượn là tài liệu Tiếng Việt, tài liệu tiếng nước ngoài, tài liệu

tự chọn Các tài liệu không được phép mượn và mang ra khỏi Trung tâm thông tin – thư viện là tài liệu tra cứu, tài liệu nghe nhìn, báo và tạp chí, tài liệu nghiên cứu khoa học và tài liệu có dán một dấu đỏ trên gáy sách (chỉ có học viên cao học và giảng viên mới được mượn loại tài liệu này)

Sau khi hướng dẫn NDT về nội quy sử dụng thư viện, các cán bộ thư viện sẽ hướng dẫn cho NDT về cách thức sử dụng các nguồn lực của Trung tâm thông tin – thư viện

2.1.2 Cách thức sử dụng nguồn lực thông tin

Nguồn lực thông tin của Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội khá phong phú và đa dạng, để có thể sử dụng các nguồn lực này một cách

có hiệu quả, các cán bộ thư viện phải hướng dẫn cụ thể cho NDT về cách thức

sử dụng phòng tư liệu, cách thức sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện và cách thức sử dụng phòng thông tin mạng

2.1.2.1 Tập huấn sử dụng phòng tư liệu

Lớp tập huấn sử dụng phòng tư liệu sẽ được Trung tâm thông tin – thư viện tổ chức vào đầu năm học cho sinh viên năm thứ nhất Tại đây, NDT sẽ được giới thiệu sơ lược về Trung tâm thông tin – thư viện, về cách thức tổ chức, sắp xếp tài liệu, và cách thức tra cứu thông tin tư liệu trên máy tính

Trước hết, các cán bộ thư viện sẽ giới thiệu cho NDT về phương thức sắp xếp tài liệu Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội sử dụng hệ thống phân loại thập tiến Dewey (DDC) để sắp xếp các loại tư liệu trong thư viện Hệ thống phân loại này phân chia tài liệu thành 10 môn loại

Trang 32

chính, trong mỗi môn loại, tài liệu lại được phân chia thành những nhóm nhỏ chi tiết hơn 10 môn loại chính trong hệ thống phân loại Dewey gồm có :

000 Khoa học máy tính, thông tin học và các mục chung

Để giúp NDT tìm kiếm tài liệu trên giá một cách nhanh chóng, các cán

bộ thư viện sẽ giới thiệu cho NDT về ký hiệu xếp giá được dán trên nhãn gáy của tài liệu Ví dụ như sau :

AN

428

24 HUT

Ký hiệu kho (kho Tiếng Anh) Chỉ số phân loại Dewey

Ký hiệu tác giả hoặc tên sách

Bên cạnh đó, NDT sẽ được giới thiệu về nguyên tắc sắp xếp tài liệu Tại phòng tư liệu khác nhau, ví dụ như : Phòng tư liệu Tiếng Việt, Phòng tư liệu tra cứu, nghiên cứu khoa học, Phòng Báo chí, Phòng tư liệu Tiếng nước ngoài Trong mỗi phòng, tư liệu được sắp xếp và phân chia theo ngôn ngữ, trong mỗi ngôn ngữ, tài liệu được sắp xếp theo số ký hiệu phân loại Dewey Trường hợp có nhiều tài liệu có chỉ số Dewey giống nhau chúng sẽ được sắp xếp theo trật tự chữ cái của các ký hiệu tác giả hoặc tên sách Ví dụ như sau :

Trang 33

TC

030 BAC

Khi vào các phòng tư liệu, NDT phải dặt thẻ đã được cấp quyền sử dụng tại quầy trực của phòng tư liệu đó và cầm thanh đánh dấu vào kho tư liệu NDT phải sử dụng thanh đánh dấu khi rút tài liệu ra khỏi giá để ghi nhớ

vị trí và phải đặt tài liệu vào đúng vị trí đó nếu không có nhu cầu đọc hoặc mượn Thanh đánh dấu sau khi sử dụng phải mang trả lại quầy trực Đây chính là nội quy sử dụng phòng tư liệu mà các cán bộ thư viện có nhiệm vụ thông báo tới NDT khi sử dụng phòng tư liệu

AN

124

8 ANN

AN

976

4 CAR

AN

976

4 JON

Trang 34

2.1.2.2 Tập huấn sử dụng phòng thông tin mạng

Cũng giống như lớp tập huấn sử dụng phòng tư liệu, các lớp tập huấn

sử dụng phòng thông tin mạng của Trung tâm cũng được tổ chức vào đầu năm học

Cán bộ thư viện sẽ thông báo cho NDT về cách thức sử dụng phòng thông tin mạng và trang thiết bị Trung tâm thông tin – thư viện có phòng máy tính nối mạng trên tầng 3 với gần 200 máy Người sử dụng có thể khai thác các phần mềm học ngoại ngữ qua mạng, các phần mềm máy tính thông dụng, truy nhập các CSDL điện tử và khai thác thông tin Internet tại phòng máy này Mỗi bạn đọc khi đăng ký sử dụng sẽ được cấp một tài khoản cho phép truy cập và sử dụng mạng máy tính với thời lượng theo quy định thông báo bằng văn bản trong từng thời điểm cụ thể NDT cũng sẽ được cán bộ thư viện khuyến cáo về các hành vi có thể dẫn đến việc đình chỉ quyền sử dụng thư viện, bồi thường thiệt hại và truy cứu trách nhiệm về mặt pháp luật (có thể bị đình chỉ hoặc buộc thôi học), đó là những hành vi như sau:

thống mạng;

người khác mà không có sự đồng ý của chủ nhân, dù cho nó có được bảo vệ bằng mật khẩu hay không;

và dịch vụ của hệ thống, ví dụ, gửi thư rác, phát triển và sử dụng các phần mềm máy tính, truyền hoặc download dữ liệu gây thiệt hại cho hệ thống của Trung tâm thông tin – thư viện và của Trường;

tránh không trả tiền cho các dịch vụ có thu phí;

Trang 35

- Sử dụng các tài khoản và mật khẩu không được phép hoặc cho người khác sử dụng tài khoản và mật khẩu của mình;

gửi các thông tin, tranh ảnh bất lịch sự, các lời đe dọa, xâm phạm đến sự riêng

tư của người khác;

được sự đồng ý của Nhà trường và của Trung tâm thông tin – thư viện;

pháp luật, ví dụ tài liệu phản động, khiêu dâm, kích động bạo lực…;

cứng và phần mềm cài đặt sẵn, tự ý dịch chuyển, tháo lắp các trang thiết bị mà không có sự đồng ý của Trung tâm thông tin – thư viện

Tại lớp tập huấn này, NDT sẽ được giới thiệu sơ lược về mạng máy tính của Trung tâm thông tin – thư viện, về các CSDL điện tử, về nội quy và cách bảo mật thông tin

Trải qua kỳ sát hạch về trình độ sử dụng máy tính, mạng và các trang thiết bị khác, yêu cầu mang thẻ sinh viên hoặc theo danh sách có xác nhận của đơn vị có thẩm quyền NDT sẽ điền vào phiếu đăng ký mở tài khoản mạng và tài khoản email miễn phí theo tên miền của trường (nếu có yêu cầu sử dụng) Sau khi tài khoản được mở, hệ thống mạng Trung tâm thông tin – thư viện sẽ

tự động tính giờ sử dụng Với tài khoản và mật khẩu ban đầu được cấp, mỗi người được sử dụng mạng máy tính của Trung tâm thông tin – thư viện tối đa

là 10giờ/tháng Người được sử dụng phải trả tiền cho thời gian truy cập vượt trội theo mức phí quy định của Trường Các sinh viên tài năng, sinh viên trong thời gian làm tiểu luận, khóa luận (có văn bản xác nhận) được tăng số giờ sử dụng mạng máy tính gấp đôi mức quy định Vào tuần đầu của tháng, NDT cần mang thẻ để đăng ký sử dụng tiếp tháng đó nếu đủ điều kiện (không

vi phạm nội quy, đã trả hết tiền vượt trội của tháng trước – nếu có…) sẽ được

Trang 36

mở tiếp tài khoản Nếu không làm thủ tục khai báo lại, tài khoản sẽ không được mở Đối với lỗi cho mượn hoặc sử dụng thẻ trái phép, hai tài khoản của người cho mượn và người sử dụng đều bị khóa, tùy mức độ ảnh hưởng có thể thời gian bị khóa là 01 tháng, khóa vĩnh viễn hay gửi thông báo lên trường…Số lượng dịch vụ được sử dụng tùy theo khả năng của Trung tâm thông tin – thư viện tại thời điểm yêu cầu Cán bộ thư viện cũng sẽ nhắc nhở NDT phải luôn theo dõi và tuân thủ các thông báo cụ thể tại các phòng máy như : về kỹ năng sử dụng mạng, máy tính, lịch nghỉ, tạm dừng, bảo dưỡng thiết bị đột xuất…để không làm ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng phòng thông tin mạng của NDT

Dưới đây là giao diện đăng nhập sử dụng phòng thông tin mạng của sinh viên

Hình 1 : Giao diện đăng nhập sử dụng phòng thông tin mạng

Cuối mỗi khóa đào tạo NDT sử dụng thư viện, NDT sẽ làm bài trắc nghiệm về tra cứu tư liệu và cách sử dụng mạng máy tính trong khoảng 30 phút Số điểm cần đạt là từ 80% trở lên Những người tham dự trắc nghiệm đạt từ 80% số điểm trở lên sẽ được đăng nhập vào hệ thống quản lý bạn đọc

ĐĂNG NHẬP

MÃ SỐ THẺ

SV PASS MÃ

SỐ THẺ SV KHI ĐĂNG NHẬP LẦN ĐẦU TIÊN

HƯỚNG DẪN CÁCH ĐĂNG NHẬP

T4TV

Trang 37

của Trung tâm thông tin – thư viện và được cấp quyền sử dụng theo quy định Nếu chưa đạt đủ số điểm yêu cầu, bạn sẽ phải tham gia tập huấn lại

2.1.2.3 Tập huấn sử dụng sản phẩm của Trung tâm thông tin – thư viện

Nội dung của lớp tập huấn này tập trung chủ yếu vào việc đào tạo NDT sử dụng thành thạo mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPACs)

giúp ích cho NDT trong việc tra tìm tài liệu đáp ứng đúng nhu cầu tin của NDT

Trung tâm Thông tin- Thư viện Trường Đại học Hà Nội sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp LIBOL là công cụ tra cứu tài liệu chủ yếu Phần mềm LIBOL hỗ trợ rất nhiều cho NDT trong việc tìm kiếm, khai thác thông tin về nguồn tư liệu của Thư viện Sau đây là giao diện của phần mềm LIBOL:

Hình 2 : Giao diện của phần mềm LIBOL

Trang 38

Hình 3 : Giao diện tìm kiếm của phần mềm Libol

Phần mềm LIBOL tích hợp với Website của thư viện (http://lic.edu.vn) cho phép bạn đọc có thể tra tìm tài liệu ở bất kỳ đâu bên trong hay ngoài thư viện bằng việc sử dụng OPACs

OPACs là một mục lục điện tử Nó tương đương với mục lục phiếu nhưng có khả năng tìm kiếm trực tuyến

OPACs cũng có thể là chạy trên Web và được gọi là WebOPAC WebOPAC dùng cho các thư viện để chia sẻ thông tin thư mục

OPACs là loại mục lục được máy tính hoá tức là nếu sử dụng OPACs thư viện đó bắt buộc phải có hệ thống máy tính Đặc điểm nổi bật của OPACs

đó là nó cung cấp nhiều điểm truy cập hơn tới nguồn tài nguyên của Trung tâm bao gồm:

- Truy cập theo tên tác giả: Bạn đọc có thể gõ cả họ tên đầy đủ của tác giả cần tìm hoặc nếu bạn đọc chỉ biết họ của tác giả thì chỉ cần gõ những ký

tự chữ cái đầu tiên, hệ thống sẽ hiển thị cho bạn những tên tác giả có họ bắt đầu bằng những chữ cái đó và bạn có thể chọn tác giả phù hợp

Trang 39

- Truy cập theo nhan đề: Bạn đọc có thể gõ toàn bộ nhan đề tác phẩm cần tìm hoặc một phần và sử dụng dấu % để tìm được chính xác tài liệu bạn muốn Bạn sẽ nhận được các tài liệu có nhan đề chứa các từ đó

- Truy cập theo từ khoá: Từ khoá được sử dụng thường là từ khoá không kiểm soát Bạn đọc có thể tìm được các thuật ngữ thể hiện các đặc tính nào đó của tài liệu ( có thể đặc tính nội dung hay hình thức) và gõ vào để tìm tài liệu

- Các điểm truy cập khác như: Nhà xuất bản, Năm xuất bản, chỉ số ISBN, chỉ số ISSN, ngôn ngữ tài liệu…

Để có kết quả như mong muốn, bạn đọc lựa chọn các chế độ tìm kiếm khác nhau như: Tìm đơn giản – Tìm chi tiết – Tìm nâng cao Trong chế độ nâng cao có thể sử dụng toán tử Boolean ( AND, OR, NOT) để kết hợp các thuật ngữ cần tìm, cho phép sắp xếp biểu ghi theo nhan đề chính, tác giả chính, năm xuất bản, nhà xuất bản: chế độ hiển thị theo ISBD hoặc hiển thị đơn giản

Bạn đọc có thể giới hạn cuộc tìm của mình bằng cách kích chuột vào loại tài liệu cần tìm đã được hiển thị trên OPACs:

Mọi tư liệu Sách

Bài trích Luận án Báo/ Tạp chí

Từ trang chủ của trường tại địa chỉ http://lic.hanu.vn, NDT nháy chuột vào đường kết nối tới Trung tâm TT –TV, hoặc vào thẳng trang chủ của Trung tâm thông tin – thư viện http://lic.hanu.vn Tra cứu tài liệu để kết nối tới màn hình tìm kiếm mục lục thư viện Việc tìm kiếm bằng công cụ tra cứu thư viện có thể tiến hành theo các bước sau :

Trang 40

Bước 1 : Trên màn hình chờ sẵn chọn loại ấn phẩm cần tìm kiếm (sách, bài trích, luận án )

Bước 2 : Chọn chế độ tìm kiếm phù hợp (đơn giản, chi tiết hay nâng cao )

Bước 3 : Nhập các thông tin liên quan đến tài liệu cần tìm kiếm :

- Tiêu đề : Nhập một phần hoặc liên quan toàn bộ tiêu đề ấn phẩm

- Với một số trường thông tin khác như Tác giả, Từ khóa, bạn đọc có thể sử dụng các liên kết và từ điển tương ứng

Bước 4 : Chọn chế độ hiển thị mà bạn muốn (ISBD hoặc hiển thị đơn giản) Tiếp đó, giới hạn kết quả tìm bằng hộp danh sách giới hạn

Bước 5 : Nhấn nút Tìm kiếm, bạn sẽ có kết quả mong muốn

Ví dụ cụ thể như sau : Tìm cuốn tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió” của tác giả Magrit Mitchel

Hình 4 : Điều kiện tìm kiếm

Kết quả tìm kiếm như sau : Tìm thấy 1 ấn phẩm

Ngày đăng: 11/05/2017, 05:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Website của Trung tâm Thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội: http://lic.hanu.vn Link
10. Website của Mạng Thông tin – thư viện Việt Nam : http://vietnamlib.net Link
1. Trần Thị Minh Nguyệt (2007), Nhu cầu tin và người dùng tin, Tập bài giảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Khác
2. Lê Văn Viết (2000), Cẩm nang nghề thư viện, Văn hóa thông tin, Hà Nội Khác
3. Trần Bích Hồng, Cao Minh Kiểm(2004), Tra cứu tin trong hoạt động thông tin – thư viện, Đại học Văn hóa, Hà Nội Khác
4. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Lê Thị Anh Thư (2009), Tổ chức, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin của Trung tâm thông tin – thư viện Trường Đại học Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp ngành thông tin – thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thị Chinh (2009), Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp ngành thông tin – thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Khác
7. Trương Đại Lượng (2007), Một số kỹ năng và yêu cầu trong trao đổi cá biệt với người dùng tin// Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3, tr.24-27 Khác
8. Trần Mạnh Tuấn (2010), Hiện trạng và một số tính chất phát triển của dịch vụ tại các thư viện//Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 2, tr.15-21 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Giao diện đăng nhập sử dụng phòng thông tin mạng - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 1 Giao diện đăng nhập sử dụng phòng thông tin mạng (Trang 36)
Hình 2 : Giao diện của phần mềm LIBOL - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 2 Giao diện của phần mềm LIBOL (Trang 37)
Hình 3 : Giao diện tìm kiếm của phần mềm Libol - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 3 Giao diện tìm kiếm của phần mềm Libol (Trang 38)
Hình 4 : Điều kiện tìm kiếm - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 4 Điều kiện tìm kiếm (Trang 40)
Hình 5 : Kết quả tìm kiếm - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 5 Kết quả tìm kiếm (Trang 41)
Hình 7 : Giao diện truy cập Endnote 9 - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 7 Giao diện truy cập Endnote 9 (Trang 44)
Hình 9 : Giao diện xây dựng thư mục tài liệu tham khảo - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 9 Giao diện xây dựng thư mục tài liệu tham khảo (Trang 45)
Hình 8 : Giao diện trang chủ Endnote 9 - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 8 Giao diện trang chủ Endnote 9 (Trang 45)
Hình 11 : Giao diện chèn dữ liệu trích dẫn từ Endnote vào Word(2) - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 11 Giao diện chèn dữ liệu trích dẫn từ Endnote vào Word(2) (Trang 46)
Hình 10 : Giao diện chèn dữ liệu trích dẫn từ Endnote vào Word(1) - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 10 Giao diện chèn dữ liệu trích dẫn từ Endnote vào Word(1) (Trang 46)
Hình ảnh tài liệu tham khảo. - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
nh ảnh tài liệu tham khảo (Trang 47)
Hình 13 : Biểu đồ thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 13 Biểu đồ thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các (Trang 52)
Hình 14 : Biểu đồ thống kê số lượng bạn đọc đã qua tập huấn sử  dụng thư viện tại Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội - Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Hà Nội. Thực trạng và giải pháp
Hình 14 Biểu đồ thống kê số lượng bạn đọc đã qua tập huấn sử dụng thư viện tại Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Hà Nội (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w