Tại Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã khẳng định: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang triển khai, nhất là trong khâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chính sách nhân tài ở thành phố Đà Nẵng từ
1997 đến nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học
của TS.Ngô Văn Hà, trước đó chưa có bất cứ tác giả nào công bố
Những tư liệu và số liệu sử dụng trong bản luận văn là có tính xác thực và nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Nguyễn Duy Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, giảng viên hiện công tác tại khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Cảm ơn anh chị em học viên lớp Cao học Chính trị Khóa 2013 – 2015 đã ủng hộ, chia sẻ trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Ngô Văn Hà nhờ sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song giới hạn về năng lực nghiên cứu khoa học, phát hiện và giải quyết vấn đề nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Do vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy,
cô giáo và những ý kiến đóng góp của những người quan tâm
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.Lý do chọn đề tài 4
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6.Những đóng góp của luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chương 1 VAI TRÒ CỦA NHÂN TÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI 14
1.1 Một số quan điểm về nhân tài trong lịch sử 14
1.2 Đặc trưng, vai trò của nhân tài 21
1.2.1 Đặc trưng của nhân tài 21
1.2.2 Vai trò của nhân tài 24
1.2.3 Chính sách nhân tài 26
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài 29
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VỚI CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI
TRONG NHỮNG NĂM QUA Error! Bookmark not defined.
2.1 Khái quát về chính sách nhân tài của Việt Nam hiện nayError! Bookmark not defined 2.2 Chính sách nhân tài của thành phố Đà Nẵng thời gian qua Error!
Bookmark not defined
2.2.1 Chính sách của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng về xây dựng nhân tài
phục vụ triển kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined
Trang 62.2.2 Thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm từ thực tiễn Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined.
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI CỦA
ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI Error! Bookmark not defined 3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Error! Bookmark not defined
3.1.1 Bối cảnh chung Error! Bookmark not defined 3.1.2 Một số định hướng chính Error! Bookmark not defined
3.1.3 Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực, nhân
tài ở thành phố Đà Nẵng hiện nay Error! Bookmark not defined
3.2.2 Chiến lược về nhân tài của thành phố Đà Nẵng đến 2020 tầm
nhìn 2030 Error! Bookmark not defined 3.2.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển đội ngũ nhân tài Error!
Bookmark not defined
3.2.2 Một số giải pháp cơ bản Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO 34
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
S
tt
1 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6 QĐ - UBND Quyết định ủy ban nhân dân
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang trong kỷ nguyên của sự bùng nổ khoa học – công nghệ
ở đó tri thức đã vật hóa vào phần lớn giá trị của sản phẩm Điều này cho thấy vai trò của nguồn lực con người trong việc đẩy nhanh quá trình phát triển và
sự thành công của mỗi quốc gia, dân tộc được quyết định bởi chất lượng nguồn lực con người của bản thân quốc gia đó
Việt Nam đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Xây dựng nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về
cơ cấu ngành nghề là cơ sở đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công
Cùng với cả nước, Đà Nẵng đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững Với quan điểm cần thiết phải phát triển đội ngũ nhân tài, gắn kết việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng nhân tài, Đại hội lần thứ XX, nhiệm kỳ 2010-2015, Đảng bộ thành phố xác định:
“Xây dựng và thực hiện cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, trọng dụng đối với những người có đức, có tài, mở rộng việc thực hiện chủ trương thi tuyển
để bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cơ quan nhà nước”,
“Quan tâm hơn nữa đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thực hiện tốt chính sách thu hút, giữ chân người tài và cán bộ có trình độ cao trên các lĩnh vực, cán bộ quản lý sản xuất - kinh doanh, khoa học và công nghệ, chuyên gia đầu ngành Ưu tiên tuyển dụng, bố trí sinh viên giỏi làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước, mặt trận, đoàn thể” [3, tr 412]
Sau gần 20 năm tách tỉnh với Quảng Nam, Đà Nẵng đã có quá trình phát triển ấn tượng đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực đời sống
Trang 9xã hội Trong đó, kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều có bước phát triển Thành phố dành nhiều sự quan tâm phát triển đến các lĩnh vực xã hội, xây dựng môi trường văn hóa, thực hiện nhiều chính sách xã hội giàu tính nhân văn, quốc phòng an ninh được giữ vững, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Một trong những nguyên nhân quyết định giúp thành phố đạt được kết quả nói trên là nhờ những chính sách hợp lý trong vấn đề đào tạo sử dụng nhân tài của các cấp chính quyền
Tuy nhiên, sự phát triển nói trên của Đà Nẵng theo chúng tôi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Thành phố và chưa đảm bảo được sự phát triển mang tính bền vững trong tương lai Xác định con người là nguồn lực quan trọng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc thu hút, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng người tài Tại Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã khẳng định:
“Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang triển khai, nhất là trong khâu phát hiện, đào tạo, bố trí sử dụng và bồi dưỡng nhân tài Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thực tiễn, gắn kết hiệu quả giữa thu hút, đào tạo và sử dụng dựa trên định hướng phát triển và nhu cầu nhân lực của thành phố Khuyến khích, tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực khu vực ngoài nhà nước, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành giỏi, đội ngũ doanh nhân năng động” [4, tr 82]
Để thực sự trở thành “thành phố đáng sống”, “thành phố phát triển bền vững”, Đà Nẵng cần phải có bước đột phá trong việc phát huy nguồn lực con
người, thực hiện hiệu quả chính sách nhân tài trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tìm hiểu chính sách nhân tài của thành phố Đà Nẵng, đánh giá thành công và hạn chế, rút ra những bài học kinh
Trang 10nghiệm, đồng thời đề xuất những giải pháp trong thời gian tới là việc làm cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam
và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang
và huyện đảo Hoàng Sa Sau khi tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam và trực thuộc Trung ương vấn đề đặt ra cho chính quyền thành phố Đà Nẵng là hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước, nhân dân giao phó Chính quyền thành phố Đà Nẵng xác định chìa khóa để mở ra cánh của phát triển cho Thành phố chính là nguồn lực con người, do đó cần thiết phải đầu tư phát triển con người, một cách hợp lý và có hiệu quả Những khó khăn ban đầu về kinh tế -
xã hội và thiếu nguồn nhân lực đảm bảo số lượng và chất lượng là lý do để Thành phố đề ra những chính sách mang tính đột phá, tính đặc thù của địa phương lien quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực, nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng Đà Nẵng trở thành một đô thị phát triển
Với tính cấp thiết như trên chúng tôi chọn đề tài “Chính sách nhân tài
ở thành phố Đà Nẵng từ 1997 đến nay” làm luận văn tốt nghiệp chuyên
ngành chính trị học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn
đề phát hiện, phát triển, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, tăng cường nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng Qua các kỳ đại hội, các nghị quyết Trung ương tư duy của Đảng trong vấn đề nhìn nhận vai trò của nhân tài, trí thức đã có những đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định và nhấn mạnh công tác
Trang 11cán bộ, coi đó là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng:
“Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao” [13, tr.212]
Trong xây dựng và phát triển một xã hội nhân văn, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Hiện nay, với bất kỳ quốc gia nào nguồn lực con người luôn giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển Để nước ta sớm thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì việc khai thác và phát triển nguồn nhân lực đang trở thành một vấn đề bức thiết Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn quốc cũng như của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội luôn là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhưng vẫn luôn mang tính thời sự Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với nền kinh tế tri thức thì những vấn đề liên quan đến việc làm sáng tỏ vị trí, vai trò của con người trong quá trình phát triển càng được quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau
Thứ nhất, các công trình về xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ
Trang 12nhân tài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
Nguyễn Văn Phúc, Mai Thị Thu với công trình “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” (2012) Tác giả đã đề cập đến quá trình
hình thành và phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua dưới sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế và chính trị cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, xu thế toàn cầu hóa Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy trên thực tế, nguồn nhân lực Việt Nam đã hình thành được những lợi thế nhất định, đã được khai thác, sử dụng và phát huy được vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đòi hỏi cần có những nỗ lực to lớn để khắc phục Trên cơ sở đó, nhóm tác giả cũng đề xuất một số gợi ý về các quan điểm, định hướng và giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam trong giai đoạn tới
Nguyễn An Ninh với công trình: “Phát huy tiềm năng trí thức khoa học
xã hội Việt Nam” (2008) Tác giả đã trình bày những tiềm năng của đội ngũ
trí thức khoa học đối với sự phát triển Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí chất xám của đội ngũ trí thức và việc chúng ta vẫn chưa hình thành được cơ chế, môi trường làm việc thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy hết khả năng của mình cũng được tác giả giành nhiều công sức để luận giải
Nguyễn Đắc Hưng: “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước” (2007),
và “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại” (2008) Qua hai công trình nói trên,
tác giả đã làm sáng tỏ những phẩm chất, năng lực cần có của nhân tài, kinh nghiệm đào tạo sử dụng nhân tài của cha ông ta và một số quốc gia trên thế giới, một số nội dung cơ bản về phát triển nhân tài
Trang 13Tác giả Đức Vượng với công trình:“Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài” (2010) Qua công trình tác giả trình bày những quan
điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ; quá trình đào tạo, rèn luyện và sử dụng cán bộ, sử dụng nhân tài qua các giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam Người cho rằng, cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi
thời kỳ cách mạng: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “phải hiểu cán bộ”, “phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng” [21, tr 776] Vì vậy, chúng ta cần phải trọng nhân tài, trọng
cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung Chúng tôi cho rằng, công trình này đã chỉ ra những luận điểm quan trọng về mặt lý luận của Bác đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, người tài Trong điều kiện đất nước ta đã và đang đẩy mạnh cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cuốn sách đã có những gợi mở hữu ích cho chúng tôi khi tìm hiểu về việc vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của đất nước ta hiện nay
Tác giả Đặng Hữu với công trình: “Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001) Kinh tế tri thức là một giai
đoạn phát triển mới của lịch sử loài người Từ kinh tế công nghiệp, dựa vào máy móc tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu nay chuyển sang nền kinh tế tri thức, dựa vào tri thức và thông tin là chủ yếu, trong đó khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng đầu Qua công trình nghiên cứu này, tác giả đã chỉ rõ khái niệm, bản chất và xu hướng phát triển cũng như tác động của kinh tế tri thức với các nền kinh tế Do đó, đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn mà nước ta phải đối mặt trong tiến trình phát triển
Trang 14Tác giả Dương Anh Hoàng với công trình: “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” (2012) Qua
công trình nghiên cứu tác giả đã trình bày có hệ thống những vấn đề lý luận
về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhâ lực ở Đà Nẵng, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Thành phố Thông qua đó, đề xuất các giải pháp và định hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Đà Nẵng hiện nay
Tần Xuân Bảo với công trình: “Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh nghiệm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” (2012) Công trình được
tác giả nghiên cứu tổng kết và đưa ra những kiến nghị, đề xuất trong công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua, theo chúng tôi công trình cung cấp những bài học kinh nghiệm cho các địa phương trong vấn đề đào tạo sử dụng cán bộ quản lý các cấp
Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu với công trình: “Tôn trọng trí thức tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” (2008) công trình đã
đề cập đến nội dung cơ bản: nhân tài là yếu tố then chốt của phát triển, đường lối tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, những tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài, về tuyển chọn nhân tài ưu tú và về tạo môi trường cho nhân tài phát triên
Thứ hai, các bài viết về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực
ở thành phố Đà Nẵng:
Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng có một số công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Trần Văn Minh: “Định hướng và giải pháp phát triển nhân lực thành phố Đà Nẵng đến năm 2020” (2011) Bài viết góp phần làm rõ những
Trang 15kết quả nổi bật cũng như những tồn tại bất cập trong công tác phát triển nguồn nhân lực của Thành phố Đà Nẵng những năm qua, từ đó đề xuất mục tiêu và định hướng phát triển nguồn nhân lực của Đà Nẵng đến 2020 Nguyễn Văn
Nam với bài viết: “Để phát huy hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (2011), qua bài viết tác giả đã nêu lên thực
trạng phát triển của đội ngũ trí thức của thành phố Đà Nẵng đồng thời gợi mở một số biện pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò bộ phận lao động nói trên trong công cuộc xây dựng phát triển của địa phương Tác giả Lê Hữu Ái,
Nguyễn Phước Phúc: “Những đột phát của Đà Nẵng về thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho tái cấu trúc kinh tế” (2012) Qua bài
viết các tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng về thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho mục đích tái cơ cấu nền kinh tế trong thời gian qua tại thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó trong quá trình tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi cũng tham
khảo: “Đề án quy hoạch (điều chỉnh) phát triển nguồn nhân lực thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2020” của UBND thành phố Đà Nẵng (2012)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3.1 Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ chính sách nhân tài của thành phố Đà Nẵng từ 1997 đến nay, sở
dĩ chúng tôi chọn thời điểm nói trên là do từ 1997 Quốc hội đã biểu quyết thông qua việc cho phép Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam thành lập cơ quan hành chính riêng
Đề xuất một số giải pháp nhằm làm tốt hơn nữa công tác nhân tài, phát triển đội ngũ nhân tài, phục vụ yêu cầu phát triển thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo
Trang 163.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu nói trên luận văn thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những luận điểm khoa học về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ nhân tài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Phân tích, đánh giá đưa ra những kết luận về thực trạng công tác nhân tài của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của nhân tài trong quá trình phát triển của thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống chính sách nhân tài ở thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay và phương hướng giải pháp phát triển nhân tài trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chính sách của thành phố Đà Nẵng trong việc phát huy vai trò của nhân tài trong sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện chúng tôi còn tham khảo một số công trình nghiên cứu, những bài báo khoa học của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
Trang 17Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo một số tài liệu về vấn đề tuyển chọn, sử dụng nhân tài của một số quốc gia trên thế giới, kinh nghiệp của một
số địa phương trong nước về đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức và nguồn nhân lực chất lượng cao
5.2 Về phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp trong nghiên cứu chính trị học: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, lịch sử và logic, phép biện chứng duy vật Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng cơ sở lí luận
về chính sách công khi giải quyết những vấn đề đặt ra trong để tài của mình
6 Những đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: luận văn làm rõ hơn vị trí, vai trò và những đóng góp
của nhân tài đối với việc phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
Về mặt thực tiễn: luận văn làm rõ những thành quả, hạn chế của công
tác nhân tài của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tài vào việc xây dựng thành phố Đà Nẵng phát triển năng động, bền vững
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan trong nghiên cứu về nguồn nhân lực, chính sách nhân tài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 6 tiết
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 VAI TRÒ CỦA NHÂN TÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1.1 Một số quan điểm về nhân tài trong lịch sử
Hiện nay các nhà nghiên cứu đang có nhiều cách tiếp cận khác nhau về
khái niệm nhân tài Tại phương Tây, theo nghĩa thông thường: “nhân tài được hiểu là những người có tài năng” [45, tr 25] Theo Robert Albert – học giả người Mỹ, nhân tài có ba đặc trưng: “Một là tính sáng tạo, hai là tính kiệt xuất, ba là có tầm ảnh hưởng lớn” [45, tr 26]
Tại Trung Quốc, ngay từ rất sớm nhân tài được coi là những người có tài và có học Khái niệm nói trên đã góp phần hình thành nên truyền thống trọng hiền tài trong lịch sử Trung Quốc Khái niệm nhân tài trong giai đoạn hiện nay được thông qua tại Hội nghị Trung ương Trung Quốc về công tác
nhân tài đó là: “Nhân tài là những người có tri thức và năng lực nhất định, có thể tiến hành lao động sáng tạo, đem lại những cống hiến và sáng tạo nhất định cho sự phát triển kinh tế và xã hội” [45, tr.29] Theo Thẩm Vinh Hoa – Ngô Quốc Diệu: “nhân tài là người mà trong những điều kiện xã hội nào đó, bằng lao động sáng tạo của mình, có thể làm nên những công hữu lớn cho xã hội”[19, tr 11]
Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “nhân tài: người có tài năng xuất sắc” [47, tr 688], hoặc là: “nhân tài” (nhân là người, tài là tài năng) Người có tài năng, có thể đảm đương những việc khó, trong bất kỳ lĩnh vực cụ thể hay trong một lĩnh vực nào đó khi có vấn đề nảy sinh
mà có người giải quyết được thì đó được gọi là người tài Tài năng là một trong những giá trị quý giá nhất của con người Một cách hiểu khác vẫn thường được dùng: “nhân tài là những người có tài năng vượt trội trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Khái niệm “nhân tài” thường gắn với khái niệm
Trang 19“năng lực” – là khả năng của con người có thể hoàn thành tốt công việc [28,
tr 38] Cách tiếp cận nói trên cho thấy nhân tài khác người bình thường về khả năng sáng tạo và sự đóng góp cho cộng đồng xã hội Nhân tài thường có động cơ hoạt động vì lợi ích xã hội, cộng đồng, biết kết hợp hài hòa nhiều lợi ích, sử dụng tiềm năng và khả năng một cách sáng tạo, giải quyết nhiệm vụ đạt kết quả cao Trong xã hội nào cũng vậy, nhân tài phải là người thực sự có tài năng và đức độ vượt trội, có những đóng góp được xã hội công nhận, hoặc
là những người có khả năng dùng người tài, có tầm nhìn chiến lược có uy tín
và tầm ảnh hưởng trong xã hội
Một định nghĩa khác về nhân tài được tác giả Nguyễn Đắc Hưng trình bày trong công trình: Nhân tài với tương lai đất nước (2013):
“Nhân tài là người say mê, nhiệt tình, tích cực trong hoạt động, có tác động lớn đến xã hội; là người thông tuệ, giàu tính sáng tạo, có tâm hồn trong sáng, giàu tính nhân văn và có một số phẩm chất nổi bật: giàu nghị lực, kiên trì tự học, tự đào tạo, biết phát hiện ra những vấn đề mới, tìm cách giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Điều quan trọng là kết quả công việc của nhân tài phải có cống hiến nổi bật cho nhân dân, cho xã hội, được cộng đồng suy tôn, thừa nhận” [28, tr.42]
Ngoài ra trong công trình nghiên cứu: Một số vấn đề về trí thức và nhân tài, tác giả Đức Vượng cũng có một cách tiếp cận khác về nhân tài:
“Nhân tài là bộ phận ưu tú trong giới trí thức, là những người tài giỏi,
có những cống hiến, những công trình về lý luận chính trị, kinh tế, khoa học,
kỹ thuật, khả năng lãnh đạo, quản lý, nhà giáo dục, nhà ngoại giao, nhà thiết
kế, tổng công trình sư thật sự có tài năng” [53, tr 75]
Từ những quan niệm trên về nhân tài, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, các tác giả cho rằng nhân tài là:
Trang 20Nhân tài là bộ phận ưu tú trong xã hội, là người tài giỏi, vừa có đạo đức, vừa có phẩm chất năng lực vượt trội, có những cống hiến cho xã hội Đó
là các nhà khoa học, nhà lý luận, nhà chính trị, nhà văn hóa, nhà giáo dục, nhà thiết kế, tổng công trình sư, thầy thuốc, nghệ nhân, nghệ sỹ thật sự có tài năng, được cộng đồng ghi nhân và suy tôn
Bản chất, nguồn gốc của nhân tài có thể xuất hiện do di truyền, Song,
có thể khẳng định rằng yếu tố quyết định đến việc hình thành đội ngũ người tài phần nhiều là do quá trình giáo dục, sự khổ luyện, cần mẫn, chịu suy nghĩ
mà thành Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: con người ta “phần nhiều do giáo dục mà nên” [23, tr 413] Do đó việc xác định nhân tài không thể đơn giản là
thông qua hồ sơ lý lịch, cũng không thể thông qua bằng cấp đạt được trong một hệ thống giáo dục nhất định vì bằng cấp mới chỉ là sự phân biệt về trình
độ học vấn chứ không phải là đặc điểm để nhận diện nhân tài Với quan niệm cho rằng tài năng của một con người bao gồm: phẩm chất, trình độ và năng lực thì thì nhân tài chỉ được phát hiện và khẳng định thông qua kết quả hoạt động thực tiễn Có phẩm chất, trình độ năng lực mới hoàn thành nhiệm vụ được giao đạt kết quả cao
Trong lịch sử, khi nghiên cứu về con người, Triết học Mác khẳng định:
“Con người không chỉ nhận thức được thế giới (tự nhiên - xã hội) mà còn cải tạo thế giới, thúc đẩy xã hội tiến lên, và do đó con người làm nên lịch sử của chính mình” [33, tr.29] Sau này khi phân tích các yếu tố cấu thành nên lực
lượng sản xuất của xã hội, V.I.Lênin không những kế thừa những luận điểm
khoa học của C.Mác mà còn khẳng định:“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [57, tr 430] Con người
thông qua hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo tự nhiên theo mục đích của mình Hoạt động sản xuất vật chất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của xã hội loài người, vừa là phương thức
Trang 21làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt các quy luật lịch
sử xã hội con người thông qua hoạt động vật chất, tinh thần thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt
ra Khẳng định vai trò của con người trong quá trình kiến tạo lịch sử, xã hội
trong điều kiện đảng lãnh đạo chính quyền V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Đối với chúng ta, một “chuyên gia khoa học và kỹ thuật” dù là chuyên gia tư sản nhưng thạo công việc của mình, thì cũng vẫn mười lần quý hơn người đảng viên cộng sản huênh hoang” [57, tr 434] Người còn khẳng định:
“Người đảng viên cộng sản nào không tỏ rõ được khả năng của mình biết kết hợp và khiêm tốn hướng dẫn công tác của các chuyên gia, đồng thời
đi sâu vào thực chất của vấn đề và nghiên cứu vấn đề một cách chi tiết, thì người đảng viên cộng sản đó thường có hại Chúng ta có nhiều đảng viên cộng sản như vậy, và tôi có thể đổi hàng tá những người cộng sản đó lấy một chuyên gia tư sản thành thạo và nghiêm túc nghiên cứu nghiệp vụ của mình”
[59, tr 110]
Với những khẳng định nói trên có thể thấy rằng V.I.Lênin đặc biệt coi trọng, đề cao vai trò của những người có năng lực thực sự, chỉ những người tài năng mới đóng góp được nhiều công sức cho viêc xây dựng đất nước, kiến thiết xã hội mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc
và nhà văn hóa kiệt xuất là sự ghi nhận của thế giới giành cho Người Tư tưởng của Người trở thành tài sản tinh thần quý báu của dân tộc ta Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài cần lưu ý rằng trong sau thẳm
tư tưởng của Người luôn thấm nhuần tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bởi mọi nhân tài đều sinh ra từ nhân dân và chính nhân dân là người tôn vinh và sử dụng nhân tài, nhân dân cũng chính là nguồn cảm hứng sáng tạo, lao động cho nhân tài Xuyên suốt trong quá trình hoạt động của mình, Hồ Chí Minh