V.I.Lênin nhà lý luận thiên tài, nhà lãnh đạo kiệt xuất của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới. Tên tuổi của Lênin gắn liền với sự mở đầu của một giai đoạn mới trong phong trào công nhân Nga. Trong các tác phẩm của mình viết trong những năm 1893 1894, Lênin đã phân tích một cách sâu sắc, theo quan điểm mácxít chế độ kinh tế xã hội của đất nước vào cuối thế kỷ XIX, xác định những nhiệm vụ cơ bản của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và đảng dân chủ xã hội Nga. Lênin đề ra cho những người dân chủ xã hội Nga nhiệm vụ phải thành lập một đảng mácxít.
Trang 1CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN TRONG TÁC PHẨM
“ BÀN VỀ CÁI GỌI LÀ VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG” CỦA LÊ-NIN
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
V.I.Lênin- nhà lý luận thiên tài, nhà lãnh đạo kiệt xuất của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới Tên tuổi của Lê-nin gắn liền với sự mở đầu của một giai đoạn mới trong phong trào công nhân Nga Trong các tác phẩm của mình viết trong những năm 1893 - 1894, Lê-nin đã phân tích một cách sâu sắc, theo quan điểm mác-xít chế độ kinh tế - xã hội của đất nước vào cuối thế kỷ XIX, xác định những nhiệm vụ cơ bản của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và đảng dân chủ - xã hội Nga Lê-nin đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ phải thành lập một đảng mác-xít Có thái độ sáng tạo đối với lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê-nin là người mác-xít đầu tiên đã nghiên cứu vấn đề về những đặc điểm của cuộc cách mạng dân chủ tư sản sắp tới ở Nga về những động lực của cuộc cách mạng đó và về sự chuyển biến của nó thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường", mà V.I Lê-nin đã viết vào
mùa thu năm 1893, là một trong những tác phẩm đầu tay trong thời kỳ đầu hoạt động cách mạng của Lê-nin Tác phẩm ra đời trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX, thời kỳ công nghiệp ở các thành phố lớn, ở các nướcc tư bản chủ nghĩa (nhất là ở tây Âu) phát triển mạnh, và bắt đầu xâm nhập vào nước Nga Lúc này, chủ nghĩa tư bản thực sự phát triển Nước Nga được xếp vào một trong năm nước công nghiệp lớn của châu Âu, do đó, đội ngũ giai cấp công nhân dã phát triển mạnh và phong trào cách mạng của Nga có sự lớn mạnh Chủ nghĩa Mác bắt đầu du nhập vào nước Nga
Trang 2Cũng chính thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa đảng Xã hội dân chủ (mà Lê-nin là lãnh tụ) với các đảng phái khác (đảng phái dân tuý) diễn ra gay gắt Phái dân tuý có một loạt hoạt động hòng phủ nhận áp dụng chủ nghĩa Mác vào Nga Thông qua việc luận giải nước Nga không thể phát triển tư bản chủ nghĩa
do cái gọi là thị trường phá hoại, không có sự hoạt động của thị trường Họ đưa
ra luận điểm phủ nhận mối quan hệ giữa hai khu vực của….là khu vực sản xuất
tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng
Trong một buổi họp của một tiểu ban Mác-xit ở Petecbua, thảo luận về thị trường, Lê-nin có bài phát biểu bàn về thị trường đã gây ấn tượng lớn cho mọi người Trong bài phát biểu và sau đó trong bản thuyết trình với nhan đề:
“Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường”, Lênin đã chỉ ra những sai lầm của G.B.Craxin (một đại biểu của phái Dân tuý), đồng thời phê phán những quan điểm sai lầm của phái Dân tuý về vận mệnh của chủ nghĩa tư bản Nga và những quan điểm của phái Mác-xit hợp pháp về chủ nghĩa tư bản ở Nga
Tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” là mẫu mực về sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế của C Mác vào việc nghiên cứu chế độ kinh tế ở Nga Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc bộ "Tư bản" của Mác và vận dụng phương pháp biện chứng, Lê-nin đã chỉ ra rằng do kết quả của sự phân công xã hội ngày càng tăng, nền kinh tế tự nhiên của những người sản xuất nhỏ dần dần biến thành nền kinh tế hàng hoá, và nền kinh tế hàng hoá đến lượt nó biến thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, rằng sự phân công lao động đó tất yếu dẫn đến sự phân hoá giai cấp trong những người sản xuất và làm cho thị trường trong nước phát triển Như vậy, Lê-nin đã bác bỏ những lý luận thịnh hành của phái dân tuý cho rằng ở Nga, chủ nghĩa tư bản tuồng như không có cơ sở
để phát triển, và Người chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản đã trở thành "cái nền cơ bản của đời sống kinh tế nước Nga" Đồng thời Người phê phán
những sự khẳng định của g.B Cra-xin, sau này những sự khẳng định này đã
Trang 3được bọn "mác-xít hợp pháp" bảo vệ nói rằng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
tất nhiên đòi hỏi phải có thị trường ngoài nước để thực hiện giá trị thặng dư, rằng việc sản xuất ra tư liệu sản xuất không gắn liền với việc sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng Lê-nin chỉ rõ rằng những quan điểm như thế thực chất không
có gì khác với các quan điểm của phái dân tuý về vấn đề thị trường, và Người nhấn mạnh tư tưởng sau đây: cái mà những người mác-xít cần phải quan tâm đến, không phải là thị trường cho giai cấp tư sản, mà là sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.Trong tác phẩm này, Lê-nin đã phát triển luận điểm của Mác nói về mối tương quan giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội, Người xác định sự phát triển ưu tiên của khu vực I, coi đó là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng Trên cơ sở công thức tái sản xuất của Mác, Lê-nin đã trình bày những thay đổi trong tái sản xuất mở rộng, do sự tiến bộ kỹ thuật đưa lại
Nội dung của tác phẩm
Tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” là một trong bốn tác
phẩm được in trong V.I.Lênin toàn tập Tập I.Nxb Tiến bộ, M 1974, từ trang
85 đến trang 146, nhưng tựu trung lại gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
1 V.I Lê-nin khái quát lập luận của phái dân tuý nhằm chống lại người Mác xít Nga
2 Lê-nin trình bày khái quát học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội của Mác, các điều kiện của tái sản xuất
3 Phê phán một số mâu thuẫn trong lập luận mà phái dân tuý mắc phải chỉ ra quy luật của nó trên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất
4 Trình bày lập luận của phái dân tuý về thị trường ở nước Nga
5 Lê-nin trình bày quan điểm về kinh tế hàng hoá, kinh tế tư bản chủ nghĩa, Kinh tế thị trường Những kết luận rút ra khi nghiên cứu thị trường
6 Lê-nin rút ra những kết luận về thị trường
Trang 47 Lê-nin chống lại phái dân tuý bằng việc đưa ra những số liệuvề thực trạng nền kinh tế nước Nga, bác bỏ những lập luận sai lầm của phái dân tuý
8 Lê-nin trình bày những kết luận của mình trên cơ sở phân tích những luận điểm chứa đầy những mâu thuẫn của Nicôlaiôn…
Trong tác phẩm “ Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường”, Lê-nin đã chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các quan điểm triết học và kinh tế của phái dân tuý, vào lập trường chính trị và sách lược của phái đó, vì lúc bấy giờ những quan điểm
và lập trường ấy là trở ngại chủ yếu về mặt tư tưởng, cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác và cho phong trào dân chủ - xã hội ở Nga Trong tác phẩm đó, Lê-nin cũng đã đấu tranh chống lại việc các đại biểu của "chủ nghĩa Mác hợp pháp" xuyên tạc chủ nghĩa Mác theo tinh thần tư sản
Mở đầu tác phẩm, Lê-nin khái quát cô đọng lập luận của phái dân tuý về khả năng phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga Phái dân tuý cho rằng chủ nghĩa tư bản liệu có thể phát triển được ở Nga không? và liệu có thể phát triển hoàn toàn được không khi quần chúng nhân dân bị nghèo khổ và ngày càng nghèo khổ?
Họ lập luận trên hai vấn đề:
Thứ nhất, Chủ nghĩa tư bản muốn phát triển được phải có thị trường rộng lớn ở trong nước Do không có thị trường trong nước nên chủ nghĩa tư bản ở Nga không phát triển được
Thứ hai, Nguyên nhân làm thị trường trong nước bị thu hẹp ở nước Nga lúc đó do quần chúng nhân dân bị bần cùng hoá
Từ đó, Lê-nin đã chỉ ra: Đó là những vấn đề mà người ta thường hay nêu trên sách báo để chống lại những người mác-xít Nga; không có thị trường, đó
là một trong những lý lẽ chủ yếu viện ra để bác bỏ khả năng áp dụng lý luận
của Mác vào nước Nga Bản thuyết trình "Vấn đề thị trường", được viết ra tựu
trung là để bác bỏ lý lẽ đó
Trang 5Sau khi trình bày tóm tắt học thuyết tái sản xuất tư bản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác, làm cơ sở để phê phán quan điểm sai trái của thuyết trình viên, Lê-nin rút ra kết luận về quy luật ưu tiên phát triển sản xuất và tái sản xuất Lê-nin cho rằng: nếu nghiên cứu sản xuất và tái sản xuất tư bản cá biệt, chỉ cần phân tích các bộ phận cấu thành tư bản và của sản phẩm Căn cứ vào giá trị các bộ phận là (C + V + m) Nhưng khi nghiên cứu về tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, cần phân tích sản phẩm và cơ cấu vật chất của nó, vì cái bộ phận sản phẩm gồm các yếu tố của tư bản thì không thể đem dùng vào việc cá nhân được Do đó cần phân chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực (khu vực I và khu vực II) Từ đó Lê-nin trình bày tóm tắt sơ đồ tái sản xuất của Mác về tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Trên cơ sở đó Người rút ra các nhận xét: thuyết trình viên không trình bày thật chính xác và thật dứt khoát những kết luận của mình, khi ông ta cho rằng trong khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực I), sự tích luỹ được tiến hành một cách độc lập, không phụ thuộc vào sự vận động của sản xuất sản phẩm tiêu dùng (khu vực II) và sự tiêu dùng của cá nhân
Trên thực tế, muốn mở rộng sản xuất thì cần phải có tư bản khả biến mới
và do đó cần phải có vật phẩm tiêu dùng Như vậy, để tái sản xuất mở rộng, dứt khoát phải có sự liên hệ, sự trao đổi giữa khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực I) với khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng (khu vực II) Khu vực I muốn tái sản xuất mở rộng ngoài việc khu vực có thêm C, thì cần phải có V phụ thêm để
sử dụng C đó Hiển nhiên điều đó khu vực I cần phải có thêm tư liệu tiêu dùng
Lê-nin chỉ ra quy mô tích luỹ của khu vực II là phụ thuộc khu vực I Khu vực II muốn tích luỹ bao nhiêu, phụ thuộc vào trao đổi máy móc của khu vực I Trong phần này, Lênin có sự phát triển học thuyết tái sản xuất của Mác: Muốn tái sản xuất mở rộng, cần phải có tư bản khả biến phụ thêm Do vậy, cần phải có tư liệu tiêu dùng và muốn chứng minh tư liệu sản xuất phát triển nhanh hơn tư liệu tiêu dùng Vì thế Lênin cho rằng chỉ cần nghiên cứu sơ đồ tái
Trang 6sản xuất của Mác với điều kiện đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào Lênin nói: Mác nghiên cứu tái sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện thay đổi C/V và không có tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ là giả định Cho nên khi vận dụng trong thực tế cần phải bỏ giả định ấy Người kết luận: “trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sản xuất tư liệu sản xuất tăng nhanh hơn sản xuất tư liệu tiêu dùng”
Trở lại vấn đề thị trường, Lê-nin khái quát lập luận của phái dân tuý về vấn đề thị trường ở nước Nga Phái dân tuý cho rằng: Sự phát triển chủ nghĩa
tư bản lấn át kinh tế tự nhiên và sản xuất tư liệu tiêu dùng… Muốn phát triển chủ nghĩa tư bản phải dựa vào thị trường bên ngoài, dựa vào tiêu dùng của quần chúng Nhưng tiêu dùng của quần chúng ngày càng ít đi Do vậy, khẳng định chủ nghĩa tư bản không thể phát triển đều khắp bao trùm toàn quốc được
Lê-nin đã nhận xét, quan điểm đó về sự phát triển về bề rộng của chủ nghĩa tư bản và sơ đồ minh hoạ quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với các quan điểm thịnh hành của phái dân tuy về vấn đề ấy Lê-nin cho rằng khó mà biểu hiện một cách nổi bật hơn và rõ ràng hơn sơ đồ trên kia, tất cả sự phi lý và trống rỗng của những quan điểm thịnh hành đó
Nhận xét về sơ đồ mà phái dân tuý trình bày, Lê-nin đã nói: sơ đồ đó luôn luôn nhìn chủ nghĩa tư bản nước Nga là một cái gì tách rời “chế độ nhân dân”, đứng ngoài “chế độ nhân dân”…Nhìn vào sơ đố ấy, người ta hoàn toàn không thể thấy được đâu là mối liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản và nhân dân Từ
đó, Người đặt ra những câu hỏi và đi đến kết luận: Quan điểm của phái dân tuý chưa bao giờ giải đáp được những câu hỏi: Tại sao hàng hoá được chuyển
từ bên A đi, lại được tiêu thụ ở bên W? Vì nguyên gì mà kinh tế tự nhiên ở bên
W lại biến thành kinh tế hàng hoá? Họ không bao giờ giải thích xem chủ nghĩa
tư bản ra đời từ đâu và ra đời như thế nào Không thể chỉ ra được: sản xuất hàng hoá, khi bành trướng sang bên W, thì tạo nên ở đó những công nhân tự do
Trang 7Lê-nin chỉ ra: sơ đồ đó không giải thích được gì về hiện tượng xảy ra trong chế độ
tư bản ở Nga, do đó nó là vô dụng Từ đó, Người đi đến kết luận về phái dân tuý:
“đó chẳng qua chỉ là cách hiểu “hết sức dễ dàng” về quá trình phát triển, “hết sức
dễ dàng” đến nỗi gọi đó là sự hoàn toàn không hiểu thì đúng hơn.”
Trên cơ sở đó, Lê-nin vạch ra những mâu thuẫn, những bất hợp lý, những sai lầm trong lập luận của phái dân tuý mà thuyết trình viên trình bày Lê-nin đưa ra những quan điểm về kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, và kinh tế tư bản chủ nghĩa Người chỉ ra: “Sản xuất hàng hoá chính là cách tổ chức của kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cá thể, riêng lẻ, sản xuất ra, mỗi người chuyên làm ra một thứ sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn các nhu cầu của xã hội thì cần phải có mua bán sản phẩm (vì vậy, sản phẩm trở thành hàng hoá)”
Lê-nin cho rằng, sản xuất hàng hoá chỉ là cách tổ chức kinh tế xã hội,
mà sản phẩm của những người sản xuất cá thể riêng lẻ được thực hiện trên thị trường với hình thức mua và bán Cứ ở đâu có những người sản xuất cá thể riêng
lẻ thì tất nhiên sản phẩm của họ không thể thoả mãn tất cả nhu cầu mà cuộc sống đặt ra và lại một tất nhiên nữa là phải có hoạt động trao đổi mua và bán Kinh tế hàng hoá chỉ là cách thức tổ chức sản xuất chứ không phải là một phương thức sản xuất, và càng không thể đồng nhất kinh tế hàng hoá với chủ nghĩa tư bản Vì chủ nghĩa tư bản chính là một giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hoá, trong đó không những sản phẩm lao động của con người trở thành hàng hoá, mà ngay sức lao động của con người cũng trở thành hàng hoá Chủ nghĩa tư bản chỉ là một giai đoạn của sản xuất hàng hoá Nghĩa là sản xuất hàng hóa đã có nhiều giai đoạn, cả trước, trong và sau chủ nghĩa tư bản Ngay trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cũng có nhiều nấc thang khác nhau, nhiều mô hình khác nhau
Trang 8Lê-nin khẳng định: đặc trưng nổi bật của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sức lao động trở thành hàng hoá Điều đó có nghĩa là hàng hoá sức lao động là điều kiện đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Từ đó, Lê-nin đi đến nhận định về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản:
“trong sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản, có hai nhân tố quan trọng: I)
Sự chuyển hoá nền kinh tế tự nhiên của những người trực tiếp sản xuất thành nền kinh tế hàng hoá, và II) sự chuyển hoá nền kinh tế hàng hoá thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa”
Lê-nin giải thích: trong lịch sử có hai kiểu sản xuất: sản xuất thoả mãn nhu cầu chính người sản xuất (kinh tế tự nhiên), và sản xuất thoả mãn nhu cầu người khác Sự chuyển hoá thứ nhất xảy ra do xuất hiện sự phân công lao động xã hội, nghĩa là chuyên môn hoá những người sản xuất cá thể, riêng lẻ
Sự chuyển hoá thứ hai xảy ra do những người sản xuất riêng lẻ, trong khi từng người riêng rẽ sản xuất cho thị trường, thì ở vào các quan hệ cạnh tranh với nhau: người nào cũng cố bán đắt hơn, mà mua thật rẻ Kết quả tất yếu của việc đó là người mạnh thì mạnh thêm, người yếu thì suy sụp đi; một số ít thì giàu có lên và quần chúng thì bị phá sản, khiến cho những người sản xuất độc lập biến thành công nhân làm thuê, và số đông những doanh nghiệp nhỏ biến thành số ít những xí nghiệp lớn
Lê-nin diễn giải quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản thông qua sơ đồ
6 thời kỳ, thể hiện các giai đoạn chuyển hoá của nền kinh tế tự nhiên thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên thực tế xảy ra: mỗi một người đều sản xuất riêng biệt, cá lẻ, biệt lập với các nhà sản xuất khác, mỗi người đều sản xuất cho thị trường Mối quan hệ như vậy giữa những ngừơi sản xuất riêng rẽ, sản xuất cho thị trường chung, thì gọi là cạnh tranh Người sản xuất khéo léo hơn, tháo vát hơn và mạnh hơn, sẽ ngày càng mạnh lên nhờ những tháo vát đó, còn người yếu ớt và vụng về thì bị những biến động đó đè bẹp Một số ít trở nên
Trang 9giàu có, còn quần chúng thì bị bần cùng hoá, đó là hậu quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh Kết cục là những người sản xuất bị phá sản mất hết độc lập về kinh tế của mình và trở thành công nhân làm thuê trong doanh nghiệp đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ Những người sản xuất còn lại làm thuê cho hai người này, và từ nay họ không còn lĩnh được toàn bộ sản phẩm lao động của họ nữa, vì giá rtị thặng dư đã bị người chủ chiếm hữu mất Những người sản xuất đó đúng ra đã là công nhân làm thuê rồi, chứ không còn là người chủ độc lập nữa, không còn mang ra thị trường một sản phẩm lao động nào của họ nữa, vì sự phá sản đã tước hết của họ những tư liệu sản xuất cần thiết để làm ra sản phẩm đó Họ bắt buộc phải tìm những khoản kiếm thêm, tức là mang sức lao động của mình ra thị trường bán, và lấy tiền bán được thứ hàng hoá đó mua sản phẩm cần thiết cho mình Trên cơ sở luận giải đó, Lê-nin
đã đưa ra những kết luận về thị trường:
Kết luận thứ nhất, bao gồm ba vấn đề:
* Vấn đề 1: Khái niệm thị trường không tách khỏi khái niệm phân công lao động xã hội, vì khái niệm này là cơ sở của mọi nền sản xuất hàng hoá và
là cơ sở của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa Do có sự phân công lao động mà bộ phận này trở thành thị trường của bộ phận khác
* Vấn đề 2: ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó có thị trường (có phân công lao động xã hội thì mới có thị trường) muốn có thị trường thì phải có sản xuất hàng hoá
* Vấn đề 3: Giới hạn của thị trường tư bản chủ nghĩa chính là do giới hạn của chuyên môn hoá, đó xét về bản chất là vô cùng vô tận, cũng như sự tiến bộ của kỹ thụât của lực lượng sản xuất là vô cùng vô tận
Qua đó, Lê-nin rút ra nhận xét:
Trang 10- Là sai lầm khi cho rằng, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sự mở rộng hai thị trường chấm dứt ngay khi tất cả những người sản xuất tự cung, tự cấp
đã biến thành người sản xuất hàng hoá
- Không có thị trường ngoài nước thì chủ nghĩa tư bản không thể phát triển được là sai lầm Nhưng một khi nền sản xuất phát triển đến một trình độ cao nên không thể đóng khung trong một quốc gia dân tộc, sự cạnh tranh bắt buộc các nhà tư bản phải mở rộng sản xuất tìm thị trường bên ngoài để tiêu thụ sản phẩm
Kết luận thứ 2: Sự bần cùng hoá của quần chúng nhân dân, không
những không làm trở ngại cho phát triển của chủ nghĩa tư bản, mà trái lại, chính là biểu hiện của sự phát triển đó, và chính lại là điều kiện của chủ nghĩa
tư bản, và làm chủ nghĩa tư bản đó mạnh thêm Chủ nghĩa tư bản cần có công nhân tự do, mà bần cùng hoá lại chính là ở chỗ những người sản xuất nhỏ biến thành công nhân làm thuê Quần chúng bị bần cùng hoá, một số ít bọn bóc lột thì giầu lên Hai hiện tượng đó đi đôi với nhau, các xí nghiệp nhỏ phá sản và suy sụp, còn các xí nghiệp lớn thì mạnh lên và phát triển Hai hiện trượng đó đi đôi với nhau; cả hai quá trình đó đều thúc đẩy thị trường mở rộng: Người nông dân bị bần cùng hoá, trước kia sống bằng doanh nghiệp của mình, thì ngày nay sống bằng đồng lương của mình, nghĩa là bằng việc bán sức lao động của mình Hiện nay, họ phải mua những vật phẩm cần thiết, mặt khác, những tư liệu sản xuất người nông dân bị tước mất, đều tập trung trong tay một
số ít người và biến thành tư bản, và sản phẩm làm ra từ nay được đưa ra thị trường
Kết luận thứ ba, Lê-nin khẳng định ưu tiên phát triển khu vực sản xuất
ra tư liệu sản xuất Người đưa ra một ví dụ và cho rằng: việc lao động bằng máy móc thay thế lao động thủ công – nói chung là sự tiến bộ kỹ thuật trong thời công nghiệp cơ khí, đòi hỏi phải phát triển mạnh ngành khai thác than và