1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em từ 7 đến 11 tuổi

86 859 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu của bài viết là phân tích các yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em tiểu học từ 7-11 tuổi.. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: 1 các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

  

NGUYỄN THỊ HỒNG NHƯ

PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ Ở TRẺ EM TỪ 7 ĐẾN 11 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

  

NGUYỄN THỊ HỒNG NHƯ

PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ Ở TRẺ EM TỪ 7 ĐẾN 11 TUỔI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân và béo

phì ở trẻ em tiểu học từ 7 đến 11 tuổi” là nghiên cứu do chính tôi thực hiện

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc và có

độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên thực hiện luận văn Nguyễn Thị Hồng Nhƣ

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC……… i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT………iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU………v

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ………vi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Tổng quan về thừa cân – béo phì 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Các thể béo phì và tiên lượng 5

2.1.3 Nguyên nhân 6

2.1.4 Đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì 7

2.2 Mô hình cơ sở 12

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước 14

2.3.1 Đặc điểm cá nhân của trẻ 14

2.3.2 Yếu tố di truyền tình trạng TC-BP 14

2.3.3 Môi trường gia đình 15

2.3.4 Lối sống và các yếu tố hành vi 16

2.4 Khung phân tích của đề tài 17

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu 19

Trang 5

3.3 Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu 19

3.3.2 Cỡ mẫu 19

3.3.3 Kỹ thuật lấy mẫu 20

3.4 Xử lý và phân tích số liệu 22

3.5 Các lý thuyết liên quan đến quá trình xử lý dữ liệu 23

3.5.1 Mô hình phân tích thực nghiệm 23

3.5.2 Mô hình hồi quy Binary logistic 23

3.5.3 Mô hình OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất) 24

3.6 Các biến trong mô hình 25

3.6.1 Biến phụ thuộc 25

3.6.2 Biến độc lập 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Phân tích thống kê mô tả 27

4.1.1 Thuyết minh mẫu 27

4.1.2 Thống kê mô tả và kiểm định phi tham số 27

4.1.3 Kiểm định thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng TC – BP của trẻ……… 28

4.1.3.1 Đặc điểm cá nhân của trẻ 29

4.1.3.2 Yếu tố di truyền 29

4.1.3.3 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ và tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ……….……… ……… 30

4.1.3.4 Mức sống của gia đình và tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 31

4.1.3.5 Số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình và tình trạng TC – BP 32

Trang 6

4.1.3.6 Lối sống, yếu tố hành vi của trẻ và tình trạng TC-BP 32

4.2 Phân tích ảnh hưởng của môi trường gia đình đến lối sống và yếu tố hành vi……… … ………33

4.2.1 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy bội về mối quan hệ giữa yếu tố di truyền, môi trường gia đình với lượng thực phẩm giàu năng lượng trẻ tiêu thụ 33

4.2.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy bội về mối quan hệ giữa yếu tố di truyền và môi trường gia đình với thời gian hoạt động tĩnh của trẻ 35

4.2.3 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy bội về mối quan hệ giữa yếu tố di truyền và môi trường gia đình với hành vi vận động của trẻ 37

4.3 Mô hình hồi quy Binary logit 39

4.4 Kết quả nghiên cứu 51

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BMI Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)

CDC Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (Center for Disease Control)

TC-BP Thừa cân – béo phì

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

WPRO Văn phòng khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới (Western Pacific Regional Office)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO và dành riêng cho người châu Á

(IDI và WPRO) 9

Bảng 2.2 Bảng đánh giá bách phân vị 9

Bảng 4.1 Thể trọng của nhóm trẻ khảo sát 27

Bảng 4.2 Thể trọng của trẻ từ 7 đến 11 tuổi 28

Bảng 4.3 Giới tính của trẻ và tình trạng TC – BP (Đơn vị tính: Giới) 29

Bảng 4.4 Thể trọng của cha mẹ và tình trạng TC – BP của trẻ 30

Bảng 4.5 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ 30

Bảng 4.6 Mức sống của gia đình 31

Bảng 4.7 Số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình (Đvt: Số trẻ) 32

Bảng 4.8 Lối sống, yếu tố hành vi 32

Bảng 4.9 Kết quả đánh giá yếu tố tác động đến thói quen ăn uống của trẻ 34

Bảng 4.10 Kết quả đánh giá yếu tố tác động đến thời gian hoạt động tĩnh 36

Bảng 4.11 Kết quả đánh giá yếu tố tác động đến hoạt động thể thao của trẻ 38

Bảng 4.12 Kì vọng ảnh hưởng các yếu tố lên tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ 39

Bảng 4.13 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logit 42

Bảng 4.14 Bảng dự đoán mức độ chính xác của dự báo 44

Bảng 4.15 Ước lượng xác suất mắc bệnh thừa cân – béo phì ở trẻ 44

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Sơ đồ 2.1 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì………7

Sơ đồ 2.2 Giá trị bách phân vị theo tuổi dành cho nam từ 2 đến 20 tuổi………….10

Sơ đồ 2.3 Giá trị bách phân vị theo tuổi dành cho nữ từ 2 đến 20 tuổi………… 11

Mô hình 2.1 Mô hình sinh thái các nhân tố ảnh hưởng đến trẻ thừa cân – béo phì 13

Hình 4.1 Xác suất tăng khả năng mắc bệnh thừa cân – béo phì……… 46

Trang 10

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

Béo phì đang được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xem xét dưới góc độ là nạn dịch toàn cầu và cho rằng béo phì xếp đầu tiên trong một nhóm được gọi là các căn bệnh của nền văn minh Trên thế giới, thừa cân - béo phì là yếu tố nguy cơ thứ năm gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm (WHO, 2014) Đáng lo ngại hơn là trẻ em cũng đã và đang trở thành nạn nhân của chứng béo phì, đây là nhân tố tác động lớn đến chất lượng dân số của quốc gia vì tác động trực tiếp đến thế hệ tương lai của đất nước Năm 1997, Ban chuyên gia tư vấn Tổ chức Y tế Thế giới nhận định tình hình thừa cân béo phì ở trẻ là một vấn đề cần được quan tâm vì đó là mối đe dọa lâu dài đến sức khỏe, tuổi thọ và duy trì tình trạng béo phì đến tuổi trưởng thành sẽ làm gia tăng nguy cơ đối với các bệnh mãn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, viêm xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm

mỡ và một số bệnh ung thư Béo phì ở trẻ em còn làm ngừng tăng trưởng sớm dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng

và học kém Vì vậy nếu không được quan tâm béo phì ở trẻ có thể trở thành nguồn gốc thảm họa của sức khỏe trong tương lai

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2014, trên toàn thế giới số người từ

18 tuổi trở lên bị thừa cân lên đến hơn 1,9 tỷ người Trong đó hơn 600 triệu người béo phì và chiếm 13% dân số thế giới Ở trẻ em, thống kê của WHO vào năm 2010 cho thấy có khoảng 10% trẻ từ 6 đến 17 tuổi bị thừa cân và từ 2-3% trẻ bị béo phì Đến năm 2013, khoảng 42 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân béo phì (WHO, 2015) Tại các nước đang phát triển, cùng với tăng trưởng kinh tế là hiện tượng chuyển tiếp về dinh dưỡng với sự thay đổi chế độ ăn và gia tăng năng lượng trong khẩu phần Chuyển tiếp dinh dưỡng gắn với chuyển tiếp về kinh tế và nhân khẩu học tạo nên gánh nặng kép về bệnh liên quan đến dinh dưỡng, trong khi gánh nặng suy dinh dưỡng vẫn chưa được giải quyết lại tăng thêm gánh nặng thừa cân - béo phì Hiện nay, trẻ em Việt Nam cũng đang chịu gánh nặng kép nói trên, tỷ lệ trẻ suy dinh

Trang 11

dưỡng chưa thể giảm thì tỷ lệ trẻ thừa cân - béo phì ngày càng gia tăng Các cuộc điều tra dịch tễ học trước năm 1995 cho thấy tỷ lệ thừa cân - béo phì là không đáng

kể Tuy nhiên đến năm 2005, theo kết quả điều tra thừa cân - béo phì ở người trưởng thành tại Việt Nam cho thấy 16,3% bị thừa cân - béo phì và tỷ lệ ở thành thị

là 32,5% cao hơn so với 13,8% ở nông thôn Ở trẻ em từ 5 đến 19 tuổi tỷ lệ thừa cân

- béo phì ở thành thị chiếm 37,4% cao gấp 2,7 lần khu vực nông thôn 13,5% (Bộ Y

tế, 2012) Số liệu tổng điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2000 và 2010 cho thấy tỷ

lệ thừa cân - béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 2,5% lên 5,6%, trong đó khu vực thành thị tăng từ 0,86% lên 6,5% và khu vực nông thôn từ 0,5% lên 4,2% Nhìn chung tình trạng thừa cân - béo phì đang ngày một gia tăng và đặc biệt là ở các khu vực thành thị Theo số liệu của Viện Dinh dưỡng năm 2012, tỷ lệ thừa cân - béo phì

ở học sinh tiểu học Hà Nội là 28-30%, tại thành phố Hồ Chí Minh lên tới 38,5%

Dù thừa cân - béo phì ở Việt Nam chưa phải là một vấn đề đáng ngại, nhưng các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo tình trạng thừa cân ở trẻ em đang gây nhiều vấn đề sức khỏe hơn tình trạng suy dinh dưỡng

Thừa cân - béo phì không chỉ gây ra nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động mạnh đến tình trạng kinh tế Theo WHO năm 2008, chi phí cho thừa cân - béo phì có thể lên đến 2-7% tổng chi phí cho chăm sóc y tế của các nước phát triển Có thể chia chi phí cho thừa cân - béo phì thành ba nhóm: 1) Chi phí trực tiếp

là các chi phí liên quan đến việc chữa trị thừa cân - béo phì; 2) Chi phí gián tiếp là các chi phí chữa trị các bệnh gây nên do thừa cân - béo phì; 3) Chi phí cơ hội phát sinh do giảm khả năng lao động, tử vong sớm có nguyên nhân từ thừa cân - béo phì Theo một nghiên cứu của Cawley J và Meyerhoefer C vào năm 2012 tại Hoa Kỳ, các chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến béo phì được ước tính khoảng 190 tỷ

đô la Mỹ và chiếm gần 21% chi phí y tế hàng năm Vào năm 2006 theo Marder W

và Chang S, chi phí điều trị cho béo phì ở trẻ em Hoa Kỳ là 14 tỷ đô la Mỹ Nếu không có sự can thiệp hiệu quả, chi phí mà bệnh béo phì gây nên có thể trở thành một mối đe dọa cho nền kinh tế, không chỉ phát sinh từ chi phí y tế mà còn từ việc năng suất lao động giảm gây ra bởi khuyết tật về thể chất và tinh thần ở người bị

Trang 12

thừa cân - béo phì Do đó nếu có thể làm giảm tỷ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ em sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ béo phì trong dân số, giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính không lây có liên quan đến béo phì và giảm chi phí y tế

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tại sao trẻ lại bị thừa cân – béo phì? Theo nghiên cứu 10% trẻ béo phì có nguyên nhân thứ phát sau một bệnh khác như nội tiết, di truyền, thần kinh và do thuốc Còn lại 90% trẻ béo phì được cho là nguyên phát, yếu tố môi trường (cả môi trường gia đình và môi trường xã hội) Trong đó các yếu tố mức độ gia đình có thể can thiệp được Đánh giá được các yếu tố gia đình nào có tác động đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ từ đó có thể đưa ra những giải pháp can thiệp hiệu quả

Dưới góc nhìn đó, mục tiêu của đề tài là đánh giá các yếu tố môi trường gia đình tác động đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em (7-11 tuổi) như thế nào Liệu những trẻ sống trong những gia đình có điều kiện khác nhau có nguy cơ mắc bệnh khác nhau hay không? Mối tương quan giữa các yếu tố đời sống gia đình, ăn uống

và hoạt động có liên quan thế nào đến tình trạng béo phì gia tăng ngày một nhiều của trẻ em tiểu học 7-11 tuổi hay không?

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu những yếu tố môi trường gia đình ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân, béo phì trẻ em tiểu học ở Việt Nam Câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

1) Đặc điểm cá nhân của trẻ tác động đến tình trạng TC-BP của trẻ 7 - 11 tuổi? 2) Những trẻ có cha mẹ mắc bệnh TC-BP liệu có nguy cơ mắc bệnh TC-BP cao hơn các trẻ khác hay không?

3) Yếu tố môi trường gia đình tác động đến lối sống và yếu tố hành vi của trẻ dẫn đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của bài viết là phân tích các yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em tiểu học từ 7-11 tuổi Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, bài viết

sử dụng mô hình hồi quy bội và mô hình binary logit Mô hình hồi quy bội theo

Trang 13

phương pháp bình phương bé nhất nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường gia đình, di truyền và đặc điểm cá nhân của trẻ đến thói quen ăn uống, thời gian hoạt động tĩnh và thói quen vận động của trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: 1) các yếu tố tuổi, di truyền, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, thu nhập của hộ gia đình và số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình có tác động đến thói quen ăn uống giàu năng lượng của trẻ; 2) các yếu tố tuổi, yếu tố di truyền, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân của cha mẹ và số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình có ảnh hưởng đến thời gian hoạt động tĩnh của trẻ; 3) thói quen vận động thể thao của trẻ cũng chịu tác động bởi các yếu tố di truyền và tình trạng hôn nhân của cha mẹ Mô hình hồi quy binary logit với biến phụ thuộc là tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng môi trường gia đình là tình trạng hôn nhân của cha mẹ, số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình, thói quen ăn uống, thời gian hoạt động tĩnh và vận động thể thao có ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân – béo phì Ngoài ra yếu tố di truyền cũng tác động đến xác suất mắc bệnh thừa cân – béo phì ở trẻ từ 7-11 tuổi

CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài bao gồm 5 chương Chương 1 giới thiệu bối cảnh, phạm vi, nội dung

nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, lược khảo các nghiên cứu trước và khung phân tích của đề tài Chương 3 mô tả dữ liệu, phương pháp phân tích, mô hình thực nghiệm và các biến trong mô hình Chương 4 trình bày các kết quả phân tích của đề tài Chương 5 kết luận và hàm ý chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương này tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết dùng để làm nền tảng cho các phân tích trong bài nghiên cứu Ngoài ra, nội dung trong chương cũng trình bày và phân tích một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan để từ

đó lựa chọn các biến đưa vào trong mô hình nghiên cứu của đề tài Chương 2 gồm bốn mục: 2.1) Tổng quan về thừa cân – béo phì; 2.2) Mô hình cơ sở; 2.3) Lược khảo các nghiên cứu trước; 2.4) Khung phân tích của đề tài

2.1 Tổng quan về thừa cân – béo phì

2.1.1 Khái niệm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006) thừa cân - béo phì là tình trạng tích tụ

mỡ cao hoặc bất thường trong cơ thể có khả năng gây ảnh hưởng sức khỏe Béo phì không thể xuất hiện trong một thời gian ngắn Thời gian thông thường để một cơ thể bình thường đạt đến cân nặng được chẩn đoán là béo phì tối thiểu vào khoảng một năm Quá trình nghiên cứu thừa cân – béo phì được ghi nhận từ thời Hy Lạp – La

Mã cổ Nhưng những hiểu biết khoa học về béo phì mới bắt đầu từ thế kỷ XX Béo phì còn được xem là một rối loạn phức tạp liên quan đến việc cơ thể chứa một lượng chất béo quá nhiều Béo phì không chỉ là mối quan tâm về mặt thẩm mỹ,

nó còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh và các vấn đề liên quan đến sức khỏe như bệnh tim, tiểu đường và cao huyết áp (Mayo Clinic, 2014)

2.1.2 Các thể béo phì và tiên lượng

Béo phì trung tâm: mô mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng, thường gặp ở nam giới, nguy cơ với sức khỏe thường cao do mỡ tập trung ở phủ tạng nhiều Béo phì vùng thấp: mô mỡ tập trung ở bụng dưới và đùi, thường gặp ở nữ giới, nguy cơ với sức khỏe tương đối ít hơn so với béo phì trung tâm Béo phì ngoại biên: mô mỡ tập trung ở các vùng ngoại biên như tay chân, nách, ngực và thường gặp ở trẻ em, nguy

cơ với sức khỏe không nhiều và có thể phục hồi nếu can thiệp đúng cách Tụ mỡ bất thường: thường gặp trong bệnh lý tuyến nội tiết, hoặc tai biến do dùng nội tiết tố

Mô mỡ tập trung bất thường ở vùng gáy và cổ làm hình dáng mất cân đối

Trang 15

2.1.3 Nguyên nhân

Nguyên nhân gây béo phì chủ yếu do mất cân đối giữa cung cấp năng lượng từ

ăn uống với mức tiêu hao năng lượng qua lao động và các hoạt động sống Các chất dinh dưỡng được cung cấp quá nhiều mà sự tiêu hao lại quá ít dẫn đến tình trạng tích lũy mỡ Thói quen ăn nhiều thức ăn có chứa lượng đường cao Hoàn cảnh làm việc tĩnh tại, ít vận động hoặc lười thể thao cũng là nguyên nhân của béo phì Thời gian xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, sử dụng điện thoại để giao tiếp nhiều hơn thay vì vận động Những người hoạt động thể lực thường ăn thức ăn giàu năng lượng, khi họ thay đổi lối sống, hoạt động giảm đi nhưng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên cơ thể tăng trọng lượng Thói quen ăn vặt, ăn nhiều bữa trong ngày cũng làm tăng nguy cơ béo phì Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với những trẻ béo phì thường có cha mẹ béo phì

Trang 16

Sơ đồ 2.1 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì

Nguồn: Trần Thị Xuân Ngọc (2012) 2.1.4 Đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì

Đánh giá tình trạng béo phì là một bước quan trọng trong việc quyết định chế độ can thiệp đối với bất kỳ bệnh nhân nào Sự phát triển cơ thể thay đổi theo tuổi, vì lí

do đó không thể áp dụng một chuẩn chung để đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì cho mọi lứa tuổi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2007) chia nhóm tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dưới 5 tuổi, từ 10-19 tuổi và trên 19 tuổi Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất để đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ là chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi và giới

1) Chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) được phân loại theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006 có thể là một phương pháp đơn giản nhất để nhận định độ gầy béo Chỉ số này được tính trên trung bình quần thể và có các mốc lệch

Năng lượng ăn vào

Tiêu hóa thức ăn

Chuyển hóa cơ bản

Tăng cân Cân nặng

ổn định

Dự trữ mỡ

Giảm cân Cân bằng năng lượng

Trang 17

chuẩn -4SD, -3SD, -2SD, -1SD, TB, +1SD, +2SD, +3SD và +4SD Bảng được lập riêng theo giới cho trẻ trai và trẻ gái

Theo WHO, tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ được tính theo chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) nếu vượt quá +2SD là thừa cân và nếu vượt quá +3SD là béo phì Tuy nhiên theo khuyến nghị mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra chỉ

số này thay đổi nhiều theo tuổi nên chỉ sử dụng trong một khoảng tuổi nhất định (dưới 9 tuổi)

2) Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) theo tuổi và giới được sử dụng để đánh giá thừa cân – béo phì theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới BMI còn được gọi là chỉ số Quetelet, là một phương pháp thống kê so sánh cân nặng và chiều cao của một người BMI đã được sử dụng bởi các tổ chức y tế thế giới như là một phương pháp thu thập số liệu thống kê béo phì từ đầu những năm 1980 Nó được định nghĩa là trọng lượng cơ thể của cá nhân chia cho bình phương chiều cao của mình

𝐵𝑀𝐼 = 𝐶â𝑛 𝑛ặ𝑛𝑔 (𝑘𝑔)

𝐶ℎ𝑖ề𝑢 𝑐𝑎𝑜2(𝑚2)Đối với người lớn (trên 20 tuổi), chỉ số khối cơ thể (BMI) là 23 hoặc hơn được coi là “thừa cân” và chỉ số BMI từ 25 trở lên được coi là “béo phì” Đối với hầu hết mọi người, BMI là một ước tính hợp lý của chất béo cơ thể Tuy nhiên, chỉ số BMI không trực tiếp đo lượng mỡ cơ thể, vì vậy một số người chẳng hạn như vận động viên thể hình có thể có chỉ số BMI bị béo phì mặc dù họ không có chất béo dư thừa trong cơ thể

Trang 18

Bảng 2.1 Bảng đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO và dành riêng cho người châu

Phân loại Giá trị bách phân vị

Trẻ gầy hoặc thiếu dinh dưỡng < 5 percentile

Trang 19

Sơ đồ 2.2 Giá trị bách phân vị theo tuổi dành cho nam từ 2 đến 20 tuổi

Nguồn: CDC (2000) Tương tự với bé gái sau khi tính chỉ số BMI, sử dụng bảng xếp hạng dành riêng cho bé gái để có thể xác định trẻ có vượt qua ngưỡng thừa cân, béo phì theo CDC hay không

Trang 20

Sơ đồ 2.3 Giá trị bách phân vị dành cho nữ từ 2-20 tuổi

Nguồn: CDC (2000) Bất kỳ giá trị chỉ số khối cơ thể từ 5th đến 85th percentiles đều được xem là nằm trong phạm vi bình thường, trẻ không rơi vào tình trạng thừa cân béo phì hay thiếu cân

Trang 21

2.2 Mô hình cơ sở

Trẻ rơi vào tình trạng thừa cân – béo phì là do rất nhiều nguyên nhân gây nên Trên 90% trường hợp béo phì là do yếu tố ngoại sinh, tức là do ăn uống, chế độ vận động, sinh hoạt, chỉ có không đến 10% là do di truyền và bệnh lý, thường gặp trong các bệnh lý về gen, nội tiết thể nguyên phát hay thứ phát Béo phì xảy ra khi năng lượng cung cấp cho cơ thể vượt lên trên nhu cầu cần thiết trong một thời gian dài,

có thể do thiếu hoạt động thể chất, mô hình ăn uống không lành mạnh dẫn đến năng lượng dư thừa

Béo phì là do sự mất cân bằng năng lượng và có khả năng không phải do di truyền mà là kết quả của những thay đổi trong thực phẩm và hoạt động thể chất (Spiegelman and Flier, 2001) Sự thay đổi thực phẩm và những thay đổi trong thành phần của chế độ ăn uống được hiểu như là việc thiếu trái cây và rau, sự gia tăng của việc sử dụng các loại nước ép, đồ uống có đường, gia vị, đồ ăn nhẹ, phomat và các bữa ăn tại nhà hàng, tiệm thức ăn nhanh (Helm, 2007; Nicklas, Baranowski, Cullen

và Berenson, 2001) Bên cạnh đó trẻ em bị béo phì thường là những trẻ tham gia các hoạt động thể chất ít hơn, ít vận động hơn so với những trẻ khác (Datar và Sturm, 2004; O’Brien, Nader, và Houts, 2007) Đối với trẻ dưới 12 tuổi môi trường gia đình được xem như là thành phần quan trọng cung cấp cho trẻ thực phẩm từ đó hình thành nên hành vi ăn uống và là môi trường để trẻ hình thành các hoạt động thể chất (Kumanyika, 2008; Kumanyika, Parker, và Sims, 2010) Cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong tình trạng cân nặng của trẻ (Li, Law, Conte, và Power, 2009)

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe khuyên rằng nên tập trung vào gia đình như là một phương tiện can thiệp đối với bệnh béo phì ở trẻ em (Bautista-Castano, Doreste, và Serra-Majem, 2004; Kirk, Scott và Daniels, 2005; Epsteir, 2007) Mô hình tiếp cận sinh thái xã hội giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường gia đình và tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ (Golan và Weizman, 2001; Rosenkranz và Dzewaltowski, 2008)

Trang 22

Mô hình 2.1: Mô hình sinh thái các nhân tố ảnh hưởng đến trẻ thừa cân-béo phì

Nguồn: Davison 2001 (Davison và Birch 2001)

Mô hình này tập trung vào cách tiếp cận gia đình để điều trị bệnh béo phì ở trẻ

em thông qua sự tương tác giữa môi trường gia đình và nhận thức của cha mẹ là tác nhân thay đổi chính Mô hình cũng chỉ ra mối quan hệ giữa cách thức nuôi dạy trẻ

và kiến thức dinh dưỡng của cha mẹ ảnh hưởng đến tình trạng cân nặng của trẻ (Golan và Weizman, 2001)

Kin

Tình trạng cân nặng của trẻ

Đặc điểm cộng đồng, nhân khẩu học, xã hội

Đặc điểm gia đình

Ăn ở

trường

Thực phẩm

có sẵn

Xem

TV Giờ làm

nhà hàng

Hoạt động

Giáo dục thể chất

Tội phạm

và an toàn khu phố Kiến

thức dinh dưỡng

Chế độ

ăn ưống của cha

mẹ Sở thích ăn

uống của cha mẹ

Cân nặng

cha mẹ Khuyến

khích hoạt

động

Cha

mẹ giám sát

Đặc điểm trẻ

Giới Tuổi

Chế

độ ăn uống

Hoạt động tĩnh

Hoạt động

thchất

Gene

Nuôi dưỡng Anh em Dân tộc Kinh tế -

xã hội

Trang 23

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước

Có rất nhiều các nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu về tình trạng thừa cân – béo phì và đánh giá các yếu tố tác động đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

2.3.1 Đặc điểm cá nhân của trẻ

Giới tính của trẻ

Đa số các nghiên cứu thống kê về tỷ lệ trẻ thừa cân – béo phì đều cho thấy bé trai

bị thừa cân – béo phì nhiều hơn bé gái Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Braddon và cộng sự (1986) nguy cơ phát triển bệnh béo phì cao hơn và tồn tại lâu hơn ở nữ giới

so với nam giới Lý giải điều này nghiên cứu cho rằng nữ giới thường hoạt động ít hơn nam giới dẫn đến khả năng tích tụ mỡ cao hơn, bên cạnh đó nữ giới còn trải qua các thời kỳ mang thai và nuôi con nên không thể duy trì được trọng lượng cơ thể ở mức bình thường

Độ tuổi

Một số nghiên cứu cho thấy tuổi xuất hiện thừa cân – béo phì là rất sớm, tuy nhiên độ tuổi xuất hiện phổ biến là lứa tuổi học đường 6-18 tuổi (Grundy S.M, 1998) Trong một nửa số trẻ bị béo phì sẽ tiếp tục tình trạng đó ở tuổi trưởng thành (Dietz, 1998) Tuổi vị thành niên cũng là một giai đoạn quan trọng cho việc xuất hiện những bệnh lý liên quan đến tình trạng thừa cân béo phì (Dietz, 1998; Mossberg, 1989) Kết quả nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học ở học sinh tiểu học tại Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh năm 2008-2009 cho thấy các trường hợp béo phì xảy ra nhiều ở các khối lớp 1, 2 và 3 (trẻ từ 6 đến 9 tuổi) và thấp nhất ở khối lớp

5 (10, 11 tuổi) Tuy nhiên, một nghiên cứu trước đó lại cho thấy trẻ ở độ tuổi cao hơn có tỷ lệ thừa cân – béo phì nhiều hơn (Trần Thị Hồng Loan, 2003)

2.3.2 Yếu tố di truyền tình trạng thừa cân – béo phì

Hiện nay có nhiều bằng chứng kết luận rằng béo phì có khuynh hướng di truyền Béo phì ở mẹ được xem là yếu tố dự báo quan trọng đối với nguy cơ thừa cân – béo phì ở trẻ (Richard S Strauss và Judith Knight, 1999) Nghiên cứu của Luo J và cộng sự trên 210 trẻ béo phì ở Trung Quốc cho thấy những gia đình có cha hoặc mẹ béo phì thì khả năng con béo phì cao gấp 3,7 lần so với trẻ không có cha mẹ béo phì

Trang 24

Trẻ có cha mẹ thừa cân có nhiều khả năng cũng sẽ thừa cân (Danielzik, Langase, Mast, Spethman, và Muller, 2002; Hunter, và Steele, 2008; Melgar – Quinonez và Kaiser, 2004) Đặc biệt trọng lượng của trẻ có khả năng chịu sự ảnh hưởng nhiều hơn bởi cha mẹ cùng giới (Perez-Pastor, Metcalf, Hosking, Jeffery, Voss, và Wilkin, 2009)

Đa số các nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng thu nhập hộ gia đình có tác động tích cực đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Alderman, 2006) Theo một nghiên cứu, tại nước giàu thừa cân – béo phì thường xảy ra ở người nghèo, ở nước nghèo tình trạng thừa cân – béo phì lại thường xảy ra ở người có thu nhập khá và trung bình (Andrew M.P, 2001) Andrew M.P kết luận rằng tại các nước giàu tỷ lệ người thừa cân béo phì cao hơn ở người có thu nhập thấp vì họ thiếu kiến thức, không có thời gian và chi phí để quan tâm đến tình trạng sức khỏe, ngược lại đối với các nước nghèo tỷ lệ béo phì lại cao ở các gia đình có thu nhập khá vì họ có điều kiện tiếp xúc với các loại thực phẩm giàu năng lượng và có khả năng trang bị các thiết bị điện

tử trong nhà Theo một số nghiên cứu khác, trẻ em trong gia đình có thu nhập thấp

bị béo phì nhiều hơn so với trẻ trong gia đình có thu nhập cao (Miech và cộng sự, 2006; Singh, Kogan, và Van Dyck, 2008) Lí giải cho điều này là do các gia đình có thu nhập thấp thiếu nguồn lực để chăm sóc, quan tâm đến trẻ cũng như kiến thức về sức khỏe hạn hẹp, và ít sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế (Baruch, Fonagy, và Robins, 2007)

Nhiều nghiên cứu cho thấy trình độ giáo dục của mẹ có tác động tích cực đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ (Thomas, 1990; Handa, 1999) Đối với tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ theo nghiên cứu của Richard S Strauss và Judith Knight những

Trang 25

trẻ có mẹ không hoàn thành trung học làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ Theo phân tích những người mẹ có trình độ kiến thức cao sẽ có nhận thức đúng đắn về tình trạng dinh dưỡng của trẻ và sẽ có những phương pháp chăm sóc trẻ phù hợp hơn, hạn chế tình trạng thiếu hoặc dư thừa dinh dưỡng ở trẻ (Crawford, Timperio,

Telford, và Salmon, 2006)

Tình trạng hôn nhân của cha mẹ cũng gây ảnh hưởng đến tình trạng thức cân – béo phì ở trẻ Một nghiên cứu về trẻ em thừa cân – béo phì ở Na Uy kết luận rằng tình trạng béo phì phổ biến hơn ở trẻ em có cha mẹ ly dị (Anna Biehl và cộng sự, 2014) Trước đó, nghiên cứu của Richard S Strauss và Judith Knight (1999) trên

2913 trẻ ở độ tuổi dưới 8 tuổi trong thời gian sáu năm cũng cho kết quả những trẻ chỉ sống với mẹ cũng có nhiều khả năng trở nên béo phì

Số anh chị em trong gia đình càng đông thì khả năng trẻ bị chi phối trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng càng nhiều (Alderman, 1994) Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã cho thấy thừa cân – béo phì có tính gia đình, nếu trẻ có càng nhiều anh chị

em trong gia đình bị thừa cân thì nguy cơ thừa cân của trẻ cũng tăng theo (Daniels

SR và cộng sự, 2005)

2.3.4 Lối sống và các yếu tố hành vi

Cha mẹ như là hình mẫu cho trẻ về hoạt động thể chất (Pugliese và Tinsley, 2007)

và chế độ ăn uống (Hood và Ellison, 2000; Orlet Fisher, Mitchell, Wright, và Birch, 2002) Cùng với đó, sự kiểm soát của cha mẹ đối với trẻ trong gia đình cũng liên

quan đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ (Golan và Weizman, 2001) Theo một

nghiên cứu của Grund A và cộng sự, trẻ từ 3 – 5 tuổi cho thấy tăng phần trăm mỡ ăn vào làm tăng chỉ số BMI, tương tự đó ở một nghiên cứu khác cũng cho rằng những trẻ mà cơ thể có nhiều mỡ thì tiêu thụ nhiều chất béo hơn (Shaw V và Lawson M., 2001) Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng cha mẹ gây ảnh hưởng hình thành thói quen ăn uống của trẻ thông qua phương pháp nuôi dạy trẻ, các loại thực phẩm cha

mẹ chuẩn bị sẵn trong nhà (Campbell và cộng sự, 2007; Kristjansdottir và cộng sự, 2006), thời gian giám sát và tham gia ăn uống cùng với trẻ Sở thích ăn uống của cha mẹ cũng gây ảnh hưởng trực tiếp và định hình thói quen ăn uống cho con họ

Trang 26

Những đứa trẻ có cha mẹ ăn chế độ dinh dưỡng cao cũng sẽ thói quen ăn những thực phẩm tương tự Các nhà tâm lý học cho biết cha mẹ nuông chiều và ân cần quá mức trong việc ăn uống của trẻ đã sử dụng những thực phẩm không lành mạnh theo

sự đòi hỏi của trẻ Vì vậy tạo cho trẻ thói quen ăn uống không lành mạnh, ảnh hưởng đến cân nặng và sức khỏe của trẻ (Hill JO và Peter JC, 1998; Strauss P.S và

Knight J., 1999)

Nghiên cứu của Kimmy SY và cộng sự (2005) cho thấy rằng những người có hoạt động thể lực trung bình ít nhất 30 phút một ngày trong năm ngày một tuần có BMI thấp hơn so với người ít hoạt động thể lực Tình trạng thừa năng lượng của trẻ không chỉ do khẩu phần ăn quá nhiều mà còn do tình trạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian xem vô tuyến nhiều làm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và tăng nguy cơ mắc thừa cân – béo phì ở trẻ (Robinson T.N., 1999; Sahota P và cộng

sự, 2001) Và trẻ sẽ tham gia các hoạt động thể chất nhiều hơn nếu trong gia đình không có quá nhiều trang thiết bị điện tử, vô tuyến (Timperio và cộng sự, 2008) Theo đó, tại các nước đang phát triển trong những gia đình có thu nhập trên mức trung bình cha mẹ trẻ thường trang bị những thiết bị điện tử trong nhà như tivi, máy tính, máy trò chơi… những thiết bị này làm hạn chế sự vận động thể chất của trẻ

2.4 Khung phân tích của đề tài

Thông qua khung lý thuyết, các kết quả thực nghiệm từ các nghiên cứu, khung phân tích của đề tài bao gồm 4 nhóm yếu tố tác động đến tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ em

Trang 27

- Thời gian hoạt động tĩnh của trẻ tại nhà

- Thói quen vận động của trẻ

Chỉ số nhân trắc học (BMI)

Đặc tính của trẻ (tuổi, giới tính) Đặc tính sinh học (không quan sát đƣợc)

Trang 28

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Chương 3 bao gồm các nội dung chính: 1) Đối tượng khảo sát của đề tài; 2) Thời gian tiến hành nghiên cứu và địa điểm; 3) Phương pháp nghiên cứu; 4) Xử lý và phân tích số liệu; 5) Các lý thuyết liên quan đến dữ liệu; 6) Các biến trong mô hình

3.1 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát của đề tài là các hộ gia đình có trẻ trong độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi

3.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu

Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015 Thời gian thu thập các dữ liệu nhân trắc của trẻ trong tuần từ ngày 18 tháng 1 năm

2015 đến ngày 31 tháng 1 năm 2015 và trong tuần từ ngày 1 tháng 2 năm 2015 đến ngày 8 tháng 2 năm 2015

Chọn ngẫu nhiên hai khu phố 6 và 9 trong phường 11 thuộc khu vực quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh Việc chọn địa điểm nhằm đảm bảo các hộ gia đình đồng nhất về môi trường xã hội, các trẻ sống trong cùng một điều kiện về xã hội (dịch vụ y tế trong khu vực, trường học, khả năng tiếp cận các khu vui chơi giải trí, chính sách của địa phương), điều này sẽ loại trừ khả năng tác động của môi trường

xã hội đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá tác động của đặc điểm cá nhân, yếu tố di truyền, môi trường gia đình và lối sống lên nguy cơ thừa cân và béo phì của trẻ bằng cách sử dụng các số liệu chiều cao, cân nặng và thông tin từ bảng câu hỏi khảo sát

3.3.2 Cỡ mẫu

Một nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự về thừa cân và béo phì ở học sinh tiểu học tại Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh năm học 2008 – 2009 xác định tỷ

Trang 29

lệ thừa cân là 20,8% và béo phì là 7,7% Qua lý thuyết xác suất, để xác định cỡ mẫu tính tỷ lệ dùng trong nghiên cứu với độ tin cậy là 95% ta có Z bằng 1,96, sai số cho phép ε là 0,05 và tỷ lệ điều tra trước p là 1,96

3.3.3 Kỹ thuật lấy mẫu

Nghiên cứu chia làm hai giai đoạn bao gồm điều tra trực tiếp vào ngày sinh hoạt khu phố (18/1/2015 và 1/2/2015) tại trường THCS Nguyễn Du Quận Gò Vấp TPHCM bằng cách yêu cầu những cha mẹ có trẻ trong độ tuổi từ 7 – 11 tuổi đưa trẻ cùng tham gia để lấy các dữ liệu nhân trắc về trẻ và phỏng vấn các thông tin liên quan từ cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ thông qua bảng câu hỏi được gửi về cho cha mẹ trẻ

Điều tra trực tiếp bằng phương pháp nhân trắc là việc đo những biến đổi các kích thước cơ thể và các mô cấu trúc trên cơ thể ở các lứa tuổi và mức độ dinh dưỡng khác nhau (Jelliffe, 1966) 1) Xác định tuổi của trẻ để có thể đánh giá đúng sự phát triển của trẻ Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO 1995) 2) Xác định cân nặng của cơ thể trẻ bằng cách sử dụng cân điện tử PRO100 (độ chính xác 0,1kg), kết quả ghi với một số lẻ, đơn vị đo cân nặng là kg Trẻ được tiến hành cân theo số phiếu nhận được và trong một phòng trống được mượn trong khuôn viên của trường nơi diễn ra hoạt động khu phố vào buổi sáng chủ nhật (18/1/2015 đối với khu phố 9 và 1/2/2015 đối với khu phố 6) Khi cân trẻ mặc quần

áo và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Cân được đặt ở vị trí

ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng số 0 Cân được kiểm tra và chỉnh trước khi sử dụng, sau khi cân khoảng 20 trẻ sẽ kiểm tra và chỉnh cân lần nữa Trẻ được hướng dẫn đứng giữa bàn cân, hạn chế cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân đều cả hai chân 3) Xác định chiều cao của trẻ bằng thước đo Microtoise (độ chính xác 1mm), kết quả được ghi với một số lẻ Sau khi cân trẻ được tiến hành

Trang 30

đo chiều cao Trẻ được yêu cầu bỏ giày, đi chân không, đứng quay lưng vào thước

đo Đảm bảo có năm điểm chạm trên bề mặt thước: chẩm, vai, mông, bắp chân và gót chân Mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang và hai tay để sát bên mình Kết quả được ghi vào bảng thông tin của từng trẻ: lớp, tuổi, giới tính, cân nặng và chiều cao 4) Tiêu chuẩn loại trừ khỏi nghiên cứu là các đối tượng trẻ bị gù, vẹo cột sống bẩm sinh và mắc các bệnh mãn tính

Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để thu thập các thông tin về môi trường gia đình của trẻ, hoạt động vui chơi, ăn uống của trẻ khi ở nhà Bảng câu hỏi được đánh mã số cùng với mã số mà trẻ sử dụng khi cân và được gửi cho cha mẹ của trẻ

và được thu lại vào chủ nhật ngày 25/1/2015 và ngày 8/2/2015 Đối với yếu tố di truyền thừa cân – béo phì sử dụng các câu hỏi về thông tin phụ huynh học sinh hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp như mối quan hệ với trẻ, giới tính, tuổi (tính theo năm sinh), chiều cao ( tính theo đơn vị centimet), cân nặng (tính theo đơn vị kilogram) Đối với môi trường gia đình của trẻ đưa ra các câu hỏi về nghề nghiệp, trình độ của cha mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ trẻ, điều kiện kinh tế của hộ gia đình (mức sống của gia đình, sử dụng các thiết bị điện), số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình Đánh giá mức tiêu thụ lương thực – thực phẩm giàu năng lượng trong khẩu phần của trẻ bằng cách áp dụng phương pháp hỏi số lần sử dụng của trẻ đối với những loại thực phẩm trong một tuần Kết quả được tính ra mức tiêu thụ lương thực thực phẩm, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần các thức ăn giàu năng lượng trong một tuần bằng cách dùng “Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam năm 2007” Đánh giá thói quen hoạt động tĩnh của trẻ thông qua việc đo lường thời gian xem truyền hình, chơi game, chơi máy tính của trẻ trong một ngày Đánh giá vận động hàng ngày của trẻ bằng cách đo lường năng lượng mà trẻ hoạt động thể thao trong một tuần thông qua phương pháp hỏi số lần tham gia hoạt động những môn thể thao của trẻ trong tuần Kết quả được dùng để tính mức tiêu hao năng lượng của trẻ thông qua các hoạt động thể lực dựa vào các mức độ như sau: nặng (đá banh và tập võ) tiêu tốn 200 kcal/30 phút, trung bình (bơi lội, đi xe đạp, nhảy múa và cầu lông) tiêu tốn 150 kcal/30 phút, nhẹ (đi bộ và làm việc nhà) tiêu tốn 100 kcal/30 phút

Trang 31

3.4 Xử lý và phân tích số liệu

Đề tài phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm cá nhân, yếu tố di truyền và môi trường gia đình đối với tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ trong độ tuổi tiểu học thông qua các chỉ số nhân trắc mà cụ thể là chỉ số BMI Trong khung phân tích của

đề tài áp dụng thử nghiệm hòa giải của Baron và Kenny (1986) xem lối sống và yếu

tố hành vi như là một biến trung gian giữa các mối quan hệ của biến độc lập là môi trường gia đình, yếu tố di truyền với biến phụ thuộc là tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ Từ dữ liệu điều tra trực tiếp bằng phương pháp nhân trắc tính toán chỉ số BMI cho từng trẻ theo tuổi và giới tính để đánh giá mức độ dinh dưỡng của trẻ với các mức độ trẻ gầy hoặc thiếu dinh dưỡng, trẻ bình thường, trẻ thừa cân và trẻ béo phì Đề tài được phân tích qua hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên áp dụng mô hình hồi quy logistic đa thức để kiểm tra mối tương quan giữa các yếu tố môi trường gia đình, yếu tố di truyền đến biến phụ thuộc

là các biến về lối sống, yếu tố hành vi của trẻ

Giai đoạn thứ hai tiến hành phân tích để xem xét tỷ lệ trẻ bị thừa cân – béo phì với các đặc điểm môi trường gia đình, kiểm định mối liên hệ giữa tỷ lệ trẻ bị thừa cân – béo phì với các đặc tính của trẻ, yếu tố di truyền, lối sống và yếu tố hành vi, môi trường gia đình Trong phần này, biến phụ thuộc là các chỉ số nhân trắc học BMI được nhị phân hóa trẻ không bị thừa cân – béo phì (BMI < 85th

percentile) và trẻ bị thừa cân – béo phì (BMI ≥ 85th percentile) Mô hình phân tích là mô hình binary logistic để kiểm tra mối tương quan giữa các yếu tố đặc tính của trẻ (giới tình, tuổi), yếu tố di truyền (có hay không có cha mẹ thừa cân – béo phì), môi trường gia đình (nghề nghiệp, trình độ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, thu nhập của hộ gia đình) và các biến về lối sống, yếu tố hành vi đến tình trạng thừa cân béo phì của trẻ

Từ dữ liệu thu thập được sau khi thu phiếu điều tra từ cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ tiến hành tính toán các chỉ số BMI cho cha mẹ của trẻ để xác định tình trạng dinh dưỡng của cha mẹ trẻ Các thông tin còn lại được kiểm tra làm sạch số liệu thô và mã hóa, xây dựng chương trình nhập số liệu trên phần mềm Excel 2010

và xử lý trên phần mềm SPSS 20

Trang 32

3.5 Giới thiệu về các phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu

3.5.1 Mô hình phân tích thực nghiệm

Đánh giá các yếu tố môi trường gia đình tác động đến tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ dựa trên hành vi ra quyết định chi tiêu của hộ gia đình (Douglas, 1983), hàm thỏa dụng hộ gia đình Beckerian (Shoshana Grossbard, 2010) và hàm sức khỏe của Michael Grossman (1972) Theo mô hình hộ gia đình được xem là đơn vị tiêu dùng trong nền kinh tế, là tập hợp tổng thể của nhiều cá nhân, hành vi ra quyết định cho một vấn đề nào đó vì vậy cũng chịu sự chi phối phần nào từ các thành viên trong hộ gia đình Hàm thỏa dụng hộ gia đình được định nghĩa như sau:

U = U(X, H) Theo đó X được xem là tiêu dùng của hộ gia đình, H là hàm sức khỏe của trẻ H = h(C, XH, μH), C là một vector đầu vào của sức khỏe, XH là yếu tố tác động quan sát được tác động lên sức khỏe của trẻ bao gồm các đặc tính của trẻ như giới tính và tuổi, yếu tố di truyền, đặc tính hộ gia đình như thu nhập, số thành viên trong gia đình, trình độ giáo dục, tình trạng hôn nhân của cha mẹ và yếu tố tác động không quan sát được tác động đến sức khỏe của trẻ như các đặc tính sinh học của trẻ μH

3.5.2 Mô hình hồi quy Binary logistic

Phân tích những yếu tố tác động đến khả năng thừa cân – béo phì của trẻ như sau:

Y = β0 + 𝑛𝑗 =1𝛽jXj + μ Trong đó Y là biến giả, có giá trị bằng 1 (nếu trẻ thừa cân hoặc béo phì) và bằng

0 (nếu trẻ không bị thừa cân hoặc béo phì), Xj là các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân, béo phì (j = 1-n) và μ là phần dư

Dạng tổng quát của mô hình hồi quy Binary Logistic:

Ln[𝑃(𝑌=1)𝑃(𝑌=0)] = βo + β1X1 + β2X2 + β3X3 +…+ βnXnXác suất trẻ bị thừa cân hoặc béo phì khi Y = 1 và xác suất trẻ không bị thừa cân hoặc béo phì khi Y = 0

P(Y=0) = Po là xác suất trẻ không bị thừa cân hoặc béo phì

Trang 33

𝑃 (𝑘ℎô𝑛𝑔 𝑡ℎừ𝑎 𝑐â𝑛,𝑏é𝑜 𝑝ℎì)LnOo = βo + β1X1 + β2X2 + β3X3 +…+ βnXnLog của hệ số Odds là một hàm tuyến tính với các biến độc lập Xi (i = 1, 2,…,n)

Để mô hình hồi quy Binary Logistic đảm bảo khả năng tin cậy, ta cần thực hiện hai kiểm định chính sau:

(1) Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy

Mục tiêu của kiểm định này nhằm xem xét biến độc lập tương quan có ý nghĩa với biến phụ thuộc hay không (xét riêng từng biến độc lập) Sử dụng kiểm định Wald, khi mức ý nghĩa của hệ số hồi quy từng phần có mức độ tin cậy ít nhất 95% (Sig < 0,05), kết luận tương quan có ý nghĩa thống kê giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

(2) Mức độ phù hợp của mô hình

Mục tiêu của kiểm định này nhằm xem xét có mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc hay không Mô hình được xem là không phù hợp khi tất cả các hệ số hồi quy đều bằng không, và mô hình được xem là phù hợp nếu

có ít nhất một hệ số hồi quy khác không

Giả thuyết cho rằng Ho là các hệ số hồi quy đều bằng không và H1 là có ít nhất một hệ số hồi quy khác không

Sử dụng kiểm định Omnibus để kiểm định Nếu mức ý nghĩa của mô hình đảm bảo có mức độ tin cậy ít nhất 95% (Sig < 0,05), chấp nhận giả thuyết H1, mô hình được xem là phù hợp

3.5.3 Mô hình OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất)

Mô hình OLS là phương pháp phổ biến trong kinh tế lượng Dạng hàm tuyến tính của mô hình trong phân tích hồi quy đa biến:

Y = β0 + β1X1,i + β2X2 + ε

Trang 34

Trong đó Y là biến phụ thuộc lối sống và yếu tố hành vi của trẻ, X1,i bao gồm các biến độc lập về môi trường gia đình tác động đến lượng thực phẩm hoạc hoạt động của trẻ, X2 là biến yếu tố di truyền tác động lên yếu tố lối sống hành vi của trẻ, β0 là

hệ số chặn, β1,2 là hệ số hồi quy thể hiện hướng tác động của biến X lên biến Y và ε

Phân loại theo ba nhóm như trong khung phân tích: nhóm biến về các đặc điểm

cá nhân của trẻ, nhóm biến về yếu tố di truyền và nhóm biến về môi trường gia đình, nhóm biến về lối sống và yếu tố hành vi của trẻ

Nhóm biến về các đặc điểm cá nhân của trẻ: đặc điểm cá nhân của trẻ bao gồm tuổi, giới tính Tuổi của trẻ được chia làm 5 nhóm tuổi Về giới tính của trẻ chia làm hai nhóm, sử dụng biến nhị phân gồm hai giá trị (nam, nữ)

Nhóm biến về yếu tố di truyền: thông qua chỉ số BMI của cha và mẹ trẻ để xác

định yếu tố di truyền tình trạng thừa cân – béo phì Những trẻ có cha mẹ béo phì

cũng gây ảnh hưởng đến cân nặng và chế độ dinh dưỡng của trẻ

Nhóm biến về môi trường gia đình: 1) nghề nghiệp của cha mẹ trẻ, biến định tính gồm các công việc mang tính chất toàn thời gian, một nửa thời gian làm việc ở bên ngoài, làm việc tại nhà và ở nhà không làm việc Những trẻ có cha mẹ làm những công việc không ổn định sẽ làm ảnh hưởng đến thời gian trẻ gần gũi cha mẹ, ảnh hưởng đến sự quan tâm cha mẹ dành cho trẻ; 2)Mức sống của hộ gia đình tác động trực tiếp lên chế độ dinh dưỡng và thời gian hoạt động của trẻ Những trẻ sinh ra trong gia đình có thu nhập trung bình và cao thì có chế độ dinh dưỡng cao hơn, khả năng tiếp xúc với các thực phẩm chế biến sẵn cũng nhiều hơn và gia đình được trang bị các thiết bị điện tử làm tăng thời gian hoạt động tĩnh của trẻ Những trẻ đó

được xem là có nguy cơ cao dẫn đến thừa cân – béo phì; 3) Trình độ giáo dục của

Trang 35

mẹ phản ánh tình trạng sức khỏe cũng như kiến thức dinh dưỡng của mẹ; 4) Tình

trạng hôn nhân của cha mẹ sẽ dẫn đến tâm lý của trẻ Những trẻ sống với cả cha lẫn

mẹ sẽ nhận được sự quan tâm chăm sóc từ cả hai phía và sẽ không bị ảnh hưởng nhiều về mặt tâm lý, không có những biểu hiện trầm cảm Ngược lại những trẻ chỉ sống với cha hoặc mẹ sẽ bị ảnh hưởng khi phát triển tâm lý, dễ dẫn đến những hành

vi gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng cũng như sức khỏe; 5) Số thành viên trong gia đình tạo cho trẻ một không gian sống sôi động hơn

Nhóm biến về lối sống, yếu tố hành vi: 1) Thói quen ăn uống của trẻ do cha mẹ nuông chiều tạo nên cho trẻ, những trẻ sử dụng nhiều thực phẩm chế biến sẵn, thức

ăn nhanh có nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn; 2) Những trẻ được tiếp xúc quá nhiều đến những thiết bị điện tử, truyền hình sẽ làm tăng thời gian hoạt động tĩnh của trẻ trong gia đình, từ đó trẻ sẽ ít vận động thể lực hơn; 3) Hoạt động thể chất tác động trực tiếp đến trẻ Những trẻ được cha mẹ hướng dẫn rèn luyện cơ thể được kỳ vọng sẽ không hoặc ít rơi vào tình trạng thừa cân – béo phì

mô hình binary logit

Trang 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mục đích của chương này là mô tả tổng quát tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ

và trình bày các kết quả nghiên cứu Các bước hồi quy, kiểm định, các kết quả của

mô hình hồi quy và kết quả phân tích thống kê

4.1 Phân tích thống kê mô tả

4.1.1 Thuyết minh mẫu

Nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát 373 trẻ trong độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi sinh sống tại khu vực quận Gò Vấp, chiếm 81,4% số trẻ trong khu vực tiến hành khảo sát

4.1.2 Thống kê mô tả và kiểm định phi tham số

Kiểm định thống kê tình trạng thừa cân béo phì của trẻ trong độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi Nhóm trẻ thừa cân - béo phì chiếm 41,3%, số trẻ không bị thừa cân béo phì chiếm 58,7% Điều đó cho thấy số trẻ trong độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi rơi vào tình trạng thừa cân béo phì đang tăng lên rất nhanh (so với số liệu 38,5% trẻ thừa cân béo phì cùng nhóm tuổi vào năm 2012 tại thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 37

Nguồn: Khảo sát tính toán và tổng hợp (2015) 4.1.3 Kiểm định thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng TC – BP của trẻ

Để có thể xem xét các yếu tố trong khung phân tích có ý nghĩa giải thích cho tình trạng thừa cân béo phì của trẻ, phương pháp thống kê bảng các yếu tố và phép kiểm định thống kê (𝐶ℎ𝑖)2, kiểm định Trung bình mẫu độc lập được sử dụng Nghiên cứu cho thấy có tám yếu tố có ý nghĩa thống kê trong việc tác động đến tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ từ 7 đến 11 tuổi bao gồm: (1) Giới tính của trẻ; (2) Yếu tố di truyền; (3) Tình trạng hôn nhân của cha mẹ; (4) Mức sống của hộ gia đình; (5) Số trẻ dưới 18 tuổi trong gia đình; (6) Thói quen ăn uống các thực phẩm phụ giàu năng lượng của trẻ; (7) Thời gian hoạt động tĩnh; (8) Thói quen vận động

Trang 38

4.1.3.1 Đặc điểm cá nhân của trẻ Bảng 4.3 Giới tính của trẻ và tình trạng thừa cân – béo phì(Đơn vị tính: Giới)

Biến giả về trẻ có giới tính nam hay không có giới tính nam tác động đến tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ Có thể giải thích ý nghĩa cho tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ: (1) những trẻ nam mặc dù có xu hướng năng động hơn trẻ nữ nhưng lượng thực phẩm mà trẻ nam sử dụng cũng có chiều hướng nhiều hơn điều đó góp phần gia tăng tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ nếu như hai hoạt động đó không cân bằng với nhau; (2) các gia đình thường có suy nghĩ muốn trẻ to con, đặc biệt là đối với những trẻ nam nên thường cung cấp cho trẻ chế độ dinh dưỡng rất giàu năng lượng

4.1.3.2 Yếu tố di truyền

Sử dụng biến giả trẻ có cha hoặc mẹ thừa cân béo phì hay không để đánh giá mối quan hệ giữa tình trạng thừa cân béo phì ở cha mẹ trẻ và tình trạng thừa cân béo phì

ở trẻ

Trang 39

Bảng 4.4 Thể trọng của cha mẹ và tình trạng TC – BP của trẻ

Giá trị Chi-square=69,398* P-value=0,000

Nguồn: Khảo sát và tính toán (2015) Kết quả thống kê cho thấy những trẻ có cha mẹ thừa cân béo phì sẽ có nguy cơ thừa cân béo phì cao hơn những trẻ có cha mẹ không bị thừa cân béo phì có thể do: (1) do mang gene di truyền; (2) những gia đình có cha mẹ thừa cân béo phì sẽ có thói quen tiêu thụ lượng thực phẩm cao hơn từ đó ảnh hưởng đến thói quen ăn uống, hoạt động của trẻ

4.1.3.3 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ và tình trạng thừa cân béo phì của trẻ

Biến giả trẻ có cùng chung sống với cha và mẹ hay không để đánh giá mối quan

hệ giữa tình trạng hôn nhân của cha mẹ và tình trạng thừa cân béo phì của trẻ

Bảng 4.5 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ

do nhiều nguyên nhân: (1) những trẻ chỉ sống với cha hoặc mẹ sẽ nhận được sự chăm sóc ít hơn, từ đó trẻ có thể theo xu hướng được cha hoặc mẹ nuông chiều theo

sở thích ăn uống dẫn đến tình trạng dinh dưỡng tăng hoặc trẻ không được quan tâm

Trang 40

nhiều về mặc thể trọng; (2) những trẻ có cha mẹ ly hôn sẽ mang tâm lý không tốt dẫn đến việc hạn chế giao tiếp, ít hoạt động và có thể sử dụng thức ăn không kiểm soát dẫn đến tình trạng dƣ thừa năng lƣợng

4.1.3.4 Mức sống của gia đình và tình trạng thừa cân béo phì của trẻ

Ngày đăng: 10/05/2017, 17:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm