Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, công chức Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, Bảo hiểm Xã hội tỉnh; lãnh đạo, công chức Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thạnh
Trang 1––––––––––––––––––
NGUYỄN HOÀNG MINH
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN BIÊN GIỚI
THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
––––––––––––––––––
NGUYỄN HOÀNG MINH
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN BIÊN GIỚI
THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành : Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN PHÚ TỤ
Tp.Hổ Chí Minh, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý, thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu và đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Phú Tụ đã dành nhiều thời gian, công sức trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và toàn thể cán bộ, công chức cơ quan nơi tôi công tác đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học giúp nâng cao trình độ, hiểu biết để phục vụ tốt hơn cho công tác tại địa phương trong thời gian tới
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, công chức Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, Bảo hiểm Xã hội tỉnh; lãnh đạo, công chức Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thạnh Hóa và cán bộ xóa đói giảm nghèo, Trưởng, Phó trưởng các Ấp thuộc 3 xã Thủy Tây, Thủy Đông, Tân Tây đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và chia sẻ những kinh nghiệm bổ ích để thực hiện đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, bản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp và bạn bè những người quan tâm đến đề tài tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến
để luận văn hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Hoàng Minh, là học viên lớp Cao học Chính sách công Sau quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học kinh tế TP HCM, cùng sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô Khoa Kinh tế phát triển, tôi đã hoàn thành đề tài luận văn
“Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở huyện biên giới Thạnh Hóa, tỉnh Long An”
Tôi cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các số liệu và đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều này là trung thực và chính xác nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế TP HCM
Tác giả: Nguyễn Hoàng Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ vi
TÓM TẮT vii
CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 01
1.1 Đặt vấn đề 01
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 02
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 02
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 02
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 02
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 02
1.5 Phương pháp nghiên cứu 03
1.6 Phương pháp thu thập số liệu 03
1.7 Cấu trúc luận văn 04
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 05
2.1 Khái niệm nghèo 05
2.2 Phân loại nghèo 06
2.2.1 Nghèo tuyết đối 06
2.2.2 Nghèo tương đối 06
2.3 Các phương pháp xác định đối tượng nghèo 07
2.3.1 Dựa vào tiêu chí chi tiêu hộ gia đình 07
2.3.2 Dựa vào thu nhập hộ gia đình 07
2.3.3 Phương pháp xếp hạng nghèo 08
2.3.4 Phương pháp vẽ bản đồ 08
Trang 62.4.1 Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế 09
2.4.2 Lý thuyết về nghèo đói và bất bình đẳng trong thu nhập 10
2.4.3 Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và tình trạng nghèo ở nông thôn 11
2.4.4 Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế 12
2.4.5 Mô hình nghèo đói của Gillis-Perkins-Roemer-Snodgrass 13
2.5 Khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 14
2.5.1 Theo Country Economic Report 14
2.5.2 Theo Nguyễn Trọng Hoài 15
2.5.3 Theo Nguyễn Sinh Công 16
2.6 Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo 16
2.6.1 Việc làm 16
2.6.2 Trình độ học vấn 17
2.6.3 Giới tính 18
2.6.4 Quy mô hộ 19
2.6.5 Tuổi của chủ hộ 19
2.6.6 Nguồn vốn chính thức 19
2.6.7 Về đất đai 20
2.6.8 Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu 22
2.6.9 Nghèo theo vị trí địa lý 22
2.7 Đặc điểm người nghèo 23
2.8 Đề xuất mô hình nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NGHÈO Ở HUYỆN THẠNH HÓA VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 24
3.1 Tổng quan tình hình nghèo ở Việt Nam 24
3.2 Khái quát về tỉnh Long An và thực trạng nghèo của tỉnh 24
Trang 73.3 Khái quát về huyện Thạnh Hóa và thực trạng nghèo ở huyện 26
3.4 Xây dựng mô hình nghiên cứu 30
3.4.1 Khung phân tích 30
3.4.2 Sử dụng thu nhập bình quân làm tiêu chí phân tích nghèo 31
3.4.3 Cơ sở xác định nghèo 31
3.4.4 Giải thích các biến 32
3.4.5 Mô hình kinh tế lượng hồi quy Binary Logit 34
3.5 Nguồn dữ liệu 36
3.5.1 Số liệu sơ cấp 36
3.5.2 Số liệu thứ cấp 36
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Mô tả, phân tích dữ liệu nghiên cứu 37
4.1.1 Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình 37
4.1.2 Nghèo và giới tính của chủ hộ 37
4.1.3 Nghèo và trình độ học vấn của chủ hộ 38
4.1.4 Nghèo và quy mô diện tích đất 39
4.1.5.Nghèo và tình trạng của hộ có người đi làm xa 40
4.1.6 Nghèo và vay vốn của chủ hộ 40
4.1.7.Nghèo và quy mô hộ gia đình 41
4.1.8 Nghèo và nghề nghiệp của chủ hộ 42
4.1.9 Nghèo và tuổi của chủ hộ 42
4.1.10 Khả năng tiếp cận với các điều kiện sinh sống cơ bản 43
4.2 Kiểm định sự tương quan các biến độc lập trong mô hình 46
4.3 Kết quả phân tích mô hình hồi quy Logit các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ gia đình 46
Trang 84.3.2 Các biến không có ý nghĩa thống kê 48
4.3.3 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 49
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Gợi ý chính sách 51
5.2.1 Nâng cao trình độ học vấn, giải quyết việc làm 51
5.2.2 Tiếp cận đất đai 52
5.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay 52
5.2.4 Các chính sách khác 53
5.3 Giới hạn nghiên cứu 53
5.4 Gợi ý nghiên cứu tiếp theo 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Phân phối mẫu ở 3 xã nghiên cứu 3
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của người nghèo 18
Bảng 2.2 Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình phân theo nhóm chi tiêu 21
Bảng 3.1 Tổng hợp số liệu nghèo 29
Bảng 4.1 Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm hộ 37
Bảng 4.2 Nghèo phân nhóm hộ theo giới tính 37
Bảng 4.3 Học vấn, trình độ theo nhóm hộ 38
Bảng 4.4 Diện tích đất sản xuất 39
Bảng 4.5 Hộ gia đình trong việc "làm xa" 40
Bảng 4.6 Tình hình vay vốn của hộ gia đình 40
Bảng 4.7 Số người trung bình trong hộ 41
Bảng 4.8 Thống kê nghề nghiệp chủ hộ 42
Bảng 4.9 Thống kê tuổi chủ hộ 42
Bảng 4.10 Tình hình kinh tế đời sống so 2 năm trước 43
Bảng 4.11 Số hộ gia đình sử dụng nguồn nước 43
Bảng 4.12 Số hộ dân sử dụng điện 44
Bảng 4.13 Loại nhà vệ sinh hộ gia đình 44
Bảng 4.14 Loại nhà ở của hộ gia đình 45
Bảng 4.15 Sử dụng nhiên liệu dùng nấu ăn 45
Bảng 4.16 Tóm tắt kết quả hồi qui logit 46
Bảng 4.17 Ước lượng xác suất nghèo theo tác động từng yếu tố 47
Bảng 4.18 Dự báo tính chính xác của mô hình 49
Danh mục sơ đồ Hình 2.1 Đồ thi tương quan giữa tỷ lệ nghèo và hệ số Gini 11
Hình 2.2 Vòng lẩn quẩn của nghèo 13
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu 23
Trang 11TÓM TẮT
Đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo của hộ gia đình ở huyện biên giới Thạnh Hóa, tỉnh Long An" nhằm xác định nguyên nhân tác động
đến nghèo của hộ gia định ở huyện biên giới này Số liệu được được phân tích
từ 150 hộ gia đình vùng này và xác định yếu tố chịu ảnh hưởng đến nghèo là: việc làm của chủ hộ, qui mô hộ gia đình, số năm đi học của chủ hộ, diện tích đất canh tác, Từ phân tích thực trạng nghèo của các hộ gia đình sẽ làm cơ sơ khoa học tin cậy cho các cấp chính quyền hoạch định, lựa chọn chính sách phù hợp để giảm nhanh tỷ lệ nghèo của huyện so với thời điểm hiện tại
Trang 12
CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở mọi quốc gia Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước phát triển vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo Tỷ
lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước phát triển thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước đang phát triển, song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảm nghèo không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng Quốc tế Việt Nam là nước đang phát triển có thu nhập thấp so thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến Chúng ta biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát triển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển,…
Nhờ chính sách đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng tương đối nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt Xóa đói giảm nghèo từ chỗ là phong trào (giai đoạn 1990-1997) đến năm 1998 đã trở thành một chương trình mục tiêu quốc gia Qua hơn 10 năm thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đáng kể, bình quân mỗi năm giảm khoảng 2% Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng ngập lụt, vẫn đang còn cảnh đói nghèo, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Vấn đề xóa đói giảm nghèo là phải bền vững để đạt được mục tiêu của tỉnh,
Vì vậy việc phân tích, đánh giá đồng thời nghiên cứu đưa ra những giải pháp đồng
bộ nhằm xóa đói giảm nghèo có hiệu quả trên địa bàn huyện biên giới Thạnh Hóa, tỉnh Long An trong những năm tới là hết sức cần thiết Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề xóa đói giảm nghèo của cả nước, của tỉnh
Trang 13Long An nói chung và huyện Thạnh Hoá nói riêng trong quá trình hội nhập và phát
triển, tác giả chọn vấn đề “Các yếu tố ảnh hưởng nghèo của hộ gia đình ở huyện
biên giới Thạnh Hóa, tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính sách công
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tiễn, tác giả phân tích và tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ dân huyện Thạnh Hóa Từ đó giúp cho việc đưa ra các chính sách, chương trình, dự án nhằm thoát nghèo bền vững
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo của các hộ gia đình huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An ?
Các giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình trạng nghèo của các hộ gia đình ở các xã thuộc huyện Thạnh Hóa
Bảng 1.1 Phân phối mẫu ở 3 xã nghiên cứu:
Trang 14Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nên nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát các hộ gia đình nghèo và không nghèo trên địa bàn 3 xã Tân Tây, Thủy Tây và Thủy Đông thuộc huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An Tác giả tiến hành chọn mẫu bằng cách điều tra trực tiếp 150 hộ gia đình thuộc 3 xã Tân Tây, Thủy Tây và Thủy Đông theo cách lấy mẫu như sau:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, theo Green W.H.(1991), số mẫu tối thiểu được xác định:
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu về công tác giảm nghèo ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An trong thời gian qua, đề tài sử dụng phương pháp định lượng và thống kê mô tả Mô
tả dữ liệu kết hợp với so sánh dữ liệu sơ cấp và thứ cấp theo số liệu điều tra hộ nghèo
1.6 Phương pháp thu thập số liệu
1.6.1 Số liệu thứ cấp
Các tài liệu, thông tin khái quát về huyện Thạnh Hóa được thu thập Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh và website của Ủy ban nhân dân tỉnh để dùng làm cơ sở so sánh đánh giá với những phần có liên quan trong nghiên cứu
1.6.2 Số liệu sơ cấp
Trang 15Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo của hộ gia đình nên khi thu thập số liệu tác giả chọn thực hiện điều tra theo phương pháp chọn mẫu định mức Tác giả tiến hành điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp 150
hộ gia đình tại huyện Thạnh Hóa theo bảng câu hỏi chuẩn bị trước Đây là nguồn dữ liệu sơ cấp quan trọng để có thể phản ánh một cách trung thực tình trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng
Tác giải chọn mẫu điều tra theo hai cấp, trước tiên ba xã được chọn để đại diện cho toàn huyện, sau đó tại mỗi xã sẽ tiến hành chọn mẫu định mức để đảm bảo tính đại diện và có thể suy rộng của mẫu điều tra Mẫu khảo sát phát ra tương đối đồng đều trên ba xã Tân Tây, Thủy Tây và Thủy Đông
1.6.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Dữ liệu khảo sát được mã hóa và phân tích bằng phần mềm Stata và Excel
Dữ liệu định tính cũng được tổng hợp và phân tích để có căn cứ khoa học Thông tin dữ liệu được thể hiện qua các bảng biểu để nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu của luận văn
1.7 Cấu trúc của luận văn
Tác giả sử dụng 5 chương để trình bày luận văn:
Chương 1 Phần mở đầu - Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, cấu trúc luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết - Trình bày tổng quan các lý thuyết về nghèo đói liên quan đến khái niệm, thước đo chỉ số nghèo, các phương pháp xác định nghèo, nguyên nhân nghèo và đặc điểm nghèo
Chương 3 Thực trạng nghèo của huyện Thạnh Hóa và xây dựng mô hình nghiên cứu - Mô tả sơ lược về vùng nghiên cứu, khung lý thuyết làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu nghèo cho huyện
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về nghèo
Nghèo không có một khái niệm duy nhất Có thể hiểu nghèo là tình trạng thiếu thốn về nhiều mặt như thiếu cơ hội tạo thu nhập, thu nhập còn hạn chế, thiếu tài sản thiết yếu, dễ bị tổn thương trong các mối quan hệ,
Theo Ngân hàng thế giới, qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau trong báo cáo của mình Năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như dịch vụ y tế, giáo dục, dinh dưỡng Đến năm 2000 và 2001, Ngân hàng thế giới thêm vào khái niệm tình trạng gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, nghèo có nghĩa là đói không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế Người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt bên lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó (NHTG, 1990)
Tại Hội nghị thượng định thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 định nghĩa "Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD một ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ để mua sản phẩm thiết yếu
để tồn tại (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007)
Theo Đinh Phi Hổ (2006), bản thân khái niệm nghèo nó cũng bao hàm mức
độ nghèo khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải là nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém Do đó, cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau Tại Việt Nam, Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội
Băng-Cốc (Thái Lan) năm 1993 "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không
Trang 17được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này
đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương" (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007)
Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng Như vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: Một là, không được thụ hưởng những yêu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng xã hội đó Hai là, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư Ba là, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
2.2 Phân loại nghèo
2.2.1 Nghèo tuyệt đối
Theo Ngân hàng thế giới, khái niệm nghèo tuyệt đối được hiểu là một người hoặc một bộ phận gia đình khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất
định
2.2.2 Nghèo tương đối
Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương
Theo Đinh Phi Hổ (năm 2006), nghèo tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định Như vậy, nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội Do đó, theo khái niệm này thì người nghèo tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào
Trang 18Liên hợp quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người, thành tựu y tế-xã hội và trình độ văn hóa giáo dục, tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người (HDI)
2.3 Các phương pháp xác định đối tượng nghèo
2.3.1 Dựa vào tiêu chí chi tiêu hộ gia đình
Những hộ gia đình có mức chi tiêu đầu người không đảm bảo đủ 2100 Kcalo/ngày theo tiêu chuẩn Ngân hàng thế giới thì thuộc diện nghèo Phương pháp này được áp dụng tại các cuộc điều tra mức sống dân cư hoặc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục thống kê thực hiện Việc thu thập số liệu điều tra về chi tiêu sẽ tương đối chính xác hơn tiêu chuẩn thu nhập, vì người dân thường dễ dàng cung cấp thông tin về chi tiêu của hộ hơn là các khoản thu nhập Tuy nhiên, phương pháp này
có hạn chế là mức chi tiêu đôi khi không phản ánh được tình trạng nghèo hay sung túc, đó là trường hợp hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhưng chi tiêu lớn hơn thu nhập nên phải vay tiền để chi tiêu, từ đó dẫn đến nợ nần, lâm vào cảnh nghèo
2.3.2 Dựa vào tiêu chí thu nhập hộ gia đình
Thu nhập càng thấp thì mức độ nghèo càng tăng Hiện nay, theo Quyết định
số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Trang 19Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí thu nhập hộ gia đình để đánh giá nghèo cũng chưa chính xác, đặc biệt là việc thu thập số liệu qua phỏng vấn hộ gia đình, do người dân không nhớ rõ hoặc có tâm lý không muốn khai báo đủ thu nhập
2.3.3 Phương pháp xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thực hiện thông qua thảo luận nhóm nhằm chọn lựa những
hộ nghèo Những người tham gia bình chọn gồm có chính quyền địa phương và đại diện cộng đồng như: già, trẻ, nam, nữ, người nghèo, người giàu Nhóm tự đưa ra đặc tính nghèo, sau đó chính quyền phát phiếu ghi tên những hộ trong ấp cho đại biểu tham dự để phân loại hộ vào các mức nghèo, trung bình, khá, giàu Phương pháp này có tính khách quan và toàn diện Tuy nhiên, phương pháp này tốn nhiều chi phí
2.3.4 Phương pháp vẽ bản đồ
Phương pháp này được nhóm tác chiến bản đồ nghèo liên Bộ sử dụng để ước lượng các chỉ số nghèo cấp xã, huyện và tỉnh ở Việt Nam Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số Theo
đó các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu hộ gia đình mà còn các biến khác như: qui mô, trình độ học vấn của các thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản hộ gia đình
Phương pháp vẽ bản đồ gắn hai cuộc điều tra thông qua ba giai đoạn cụ thể Giai đoạn thứ nhất liên quan đến việc xác định các biến mô tả các đặc điểm của hộ
có thể liên quan đến chi tiêu và nghèo có cả trong điều tra hộ gia đình và tổng điều tra dân số cùng thời kỳ Giai đoạn thứ hai là đo lường phúc lợi Chi tiêu bình quân đầu người được ước lượng bằng hàm hồi qui của các đặc điểm hộ theo số liệu điều tra hộ gia đình Giai đoạn thứ ba, dùng kết quả hồi qui để ước tính chi tiêu hộ gia đình theo kết quả tổng điều tra dân số và mức chi tiêu dự báo này được dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không Về mặt này vẽ bản đồ nghèo vẫn là một phương pháp dựa vào chi tiêu, nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ không phải là chi tiêu của hộ
Trang 20Tuy nhiên, phương pháp này cho kết quả không hoàn toàn chính xác Mặt khác trong giai đoạn thứ hai, những đặc điểm của hộ không thể ước tính giá trị chi tiêu một cách hoàn hảo được, đồng thời có sự khác nhau giữa các hộ điều tra mức sống và các hộ trong điều tra dân số Do đó, chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với hai số
2.4 Một số lý thuyết về nghèo
2.4.1 Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên được coi là lĩnh vực sản suất truyền thống Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp xét theo đối tượng sản xuất sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản
Mọi nỗ lực xóa nghèo đói và bất bình đẳng về thu nhập ở các nước đang phát triển cũng chưa đủ hiệu ứng để thúc đẩy phát triển kinh tế Khi vẫn còn một bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông thôn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, công nghiệp chưa đủ sức để lôi kéo hết lao động thặng dư nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế còn bị ảnh hưởng đáng kể bởi tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp, nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển Nông nghiệp có phát huy được vai trò tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế chỉ khi được quan tâm đầu tư đúng mức và thoát khỏi sự trì trệ lạc hậu Do đó, phát triển nông nghiệp cũng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế Nông nghiệp có những đặc điểm khác biệt:
- Nông nghiệp có đối tượng sản xuất là những cây trồng, vật nuôi, chúng có quy luật sinh học riêng gắn với môi trường tự nhiên như nước, đất, thời tiết, khí hậu nên môi trường tự nhiên không thuận lợi sẽ dễ làm tổn thương đến nông dân làm nông nghiệp
- Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt, nên việc bảo tồn quỹ đất và nâng cao chất lượng đất là vấn đề tồn tại của nông nghiệp
Trang 21- Hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp có tính thời
vụ nên việc chuyên môn hóa và đa dạng hóa sản xuất với sự can thiệp của Chính phủ đối với thị trường nông nghiệp để tránh thiệt hại do tính thời vụ gây ra
- Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn nhưng lại mang tính khu vực nên các chính sách kinh tế - xã hội phải thích hợp cho từng khu vực
Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho dân cư là cơ sở
để thoát khỏi vòng lẩn quẩn này Trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang phát triển thì nông nghiệp cũng được chọn là một lĩnh vực sản xuất quan trọng
để tác động tăng trưởng Điều này càng quan trọng hơn đối với những nước có ưu thế về tiềm năng tự nhiên gắn với nông nghiệp Nông nghiệp tham gia giải quyết khó khăn của tình trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển được thông qua vai trò kích thích tăng trưởng và đóng góp của nông nghiệp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế
Theo Adelman và C.T Morris (1973), tăng trưởng kinh tế không chỉ làm gia tăng mất công bằng, mà còn làm xấu đi sự nghèo đói tuyệt đối, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế
2.4.2 Lý thuyết về nghèo đói và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Mặc dù phát triển kinh tế đã nâng dần chất lượng cuộc sống của dân cư ở các quốc gia, nhưng người nghèo vẫn còn hiện diện khắp nơi Nghèo đói không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia mà còn mang tính toàn cầu Nhiều nước đã hưởng ứng chương trình xóa đói giảm nghèo do Liên hiệp quốc khởi xướng và chưa thể xóa bỏ chỉ trong một sớm một chiều
Người bị rơi vào cảnh nghèo còn đồng nghĩa với phần thu nhập mà họ nhận được thấp dẫn tới thiếu thốn Do đó, khi bàn đến nghèo đói không thể tách biệt với bất bình đẳng về phân phối thu nhập, nó là vấn đề tồn tại tất yếu ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển kinh tế
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là có sự khác biệt lớn về tình trạng thu nhập giữa các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội Tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập biểu hiện với những mức độ khác nhau ở các quốc gia
Trang 22Thước đo cho bất bình đẳng về phân phối thu nhập đã được các nhà kinh tế
và tổ chức quốc tế sử dụng phổ biến trong phân tích và nghiên cứu kinh tế là đường cong Lorenz, hệ số GINI, tiêu chuẩn WB, hệ số chênh lệch thu nhập và chỉ số phát triển giới…
Hệ số GINI là thước đo xác định sự bất bình đẳng, nhận giá trị trong khoảng
từ 0 (khi tất cả mọi người có mức chi tiêu hoặc thu nhập như nhau) đến 1 (khi một người nắm giữ mọi thứ của xã hội), nó càng gần tới 1 thì sự bất bình đẳng trong phân phối càng lớn Ở Việt Nam, trong giai đoạn 1993 – 1998 hệ số GINI đã tăng từ 0,33 lên 0,35 Đối với các nước đang phát triển, hệ số GINI nằm trong khoảng từ 0,3 đến 0,6
Hình 2.1: Đồ thị tương quan giữa tỷ lệ nghèo (%) và hệ số Gini
Nguồn: Ước lượng từ Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 và KSMS dân cư Việt Nam 2010
2.4.3 Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và tình trạng nghèo ở nông thôn:
Rao C.H.H và Chopra K (1991), trích trong Đinh Phi Hổ (2006) tranh luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp và nghèo đói nông thôn như sau: Trong quá trình phát triển nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được áp dụng là quảng canh (tăng sản lượng do mở rộng diện tích) và thâm canh (tăng năng suất trên đơn
vị diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào)
Trang 23- Phương thức quảng canh là phải khai thác tối đa chất dinh dưỡng trong đất,
mở rộng diện tích từ việc phá rừng Phương thức này làm cho tăng trưởng nông nghiệp đạt tốc độ cao trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn thì tốc độ tăng trưởng chậm lại và quan trọng hơn là để lại nhiều hậu quả như hủy hoại môi trường, suy thoái tài nguyên, thu nhập giảm trong khi dân số tăng và hệ quả là tình trạng thất nghiệp và nghèo đói xuất hiện
- Phương thức thâm canh: Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nông nghiệp nhanh, tình trạng quá lạm dụng các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng tăng làm suy thoái tài nguyên nước Khi sự suy thoái này bắt đầu gây tác dụng thì năng suất và thu nhập giảm dần trong khi dân số ngày càng tăng, khu vực nông thôn không thu hút được việc làm và hệ quả là tình trạng thất nghiệp và nghèo đói xuất hiện
Sepherd (1998), trích trong Đinh Phi Hổ (2000), cho rằng ngay cả việc đảm bảo không suy thoái tài nguyên môi trường bằng kỹ thuật tốt cũng xuất hiện nghèo đói do đặc điểm tự nhiên khác nhau theo vùng, hiệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng đem lại kết quả khác nhau Giai đoạn đầu áp dụng kỹ thuật mới do đòi hỏi phải tăng nhanh đầu tư về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất cũng gắn với rủi
ro cao
Như vậy, chỉ có các hộ giàu vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và hưởng lợi từ việc đầu tư này Sau đó, các mô hình này được nhân rộng và nhận được sự hỗ trợ của nhà nước cho đến khi tất cả các hộ dân thụ hưởng mô hình này thì sản lượng tăng nhanh và giá bắt đầu giảm xuống làm giảm hiệu quả đầu tư của nông dân Nếu quá trình này tiếp tục nông dân sẽ tiếp tục lún sâu vào gánh nặng nợ nần và từ bỏ đầu tư trong khi dân số ngày càng tăng làm gia tăng tình trạng thất nghiệp và nghèo đói lại xuất hiện
2.4.4 Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế
Theo Rao C.H.H và Chopra K (1991), trích trong Đinh Phi Hổ (2006), những
nỗ lực xóa bỏ nghèo đói và bất bình đẳng về thu nhập ở các nước đang phát triển hiện nay chưa đủ hiệu ứng để phát triển kinh tế Khi một vùng hoặc một quốc gia
Trang 24vẫn còn một bộ phận dân cư sống ở nông thôn mà thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp thì ngành nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc gia đó Ngành nông nghiệp chỉ phát huy được vai trò tích cực trong tiến trình phát triển kinh tế khi nó được quan tâm đầu tư đúng mức và thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển Do vậy, phát triển ngành nông nghiệp cũng phải đặt trong mối quan hệ với phát triển chung cả nền kinh tế của một quốc gia
Do ngành nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn nhưng lại mang tính khu vực nên các nhà kinh tế học mô tả "vòng lẩn quẩn nghèo đói" như sau:
Hình 2.2 Vòng lẩn quẩn của nghèo
Nguồn: Theo Rostow trong Đinh Phi Hổ (2006)
2.4.5 Mô hình nghèo đói của Gillis-Perkins-Roemer-Snodgrass: 1
Bệnh tật
Thất học
Thiếu dinh
Năng suất
Thu nhập thấp (nghèo)
Đầu tư
Tích lũy
Trang 25Ngoài ra, các nhà kinh tế học còn chỉ ra mối quan hệ giữa tình trạng nghèo đói và vùng địa lý Nghĩa là người nghèo tập trung phần lớn ở những vùng địa lý có GNP/người thấp Các số liệu thống kê nghèo đói các khu vực trên thế giới, ở Việt Nam và ở các địa phương cho thấy rõ điều này
Ta thấy rằng tăng trưởng kinh tế là cơ sở để giảm nghèo Tăng trưởng kinh tế
sẽ làm tăng thu nhập, là điều kiện cần thiết, trước tiên để cải thiện chính sách phúc lợi, khắc phục tình trạng nghèo đói của một quốc gia, hay một địa phương Tăng trưởng kinh tế sẽ nâng cao thu nhập cho ngươi nghèo và như vậy sẽ giảm số người nghèo.2
2.5 Khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.5.1 Theo Country Economic Report (2005), Các yếu tố quyết định nghèo
ở Lào
Nghiên cứu này trên nước Lào là một phần của một loạt các nghiên cứu hàng năm, được thực hiện bởi các trường đại học Thụy Điển khác nhau và các viện nghiên cứu khoa học trong sự phối hợp với Sida Mục đích chính của những nghiên cứu này là nhằm tăng cường kiến thức và sự hiểu biết về phát triển kinh tế hiện nay
và thách thức trong nước đối tác chính của Thụy Điển cho phát triển hợp tác Báo cáo này được chuẩn bị bởi Magnus Andersson, Anders Engvall và Ari Kokko tại
2 Agrawal, 2008, Economic Growth and Poverty Reduction: Evidence from Kazakhtan, www.adb.org
Trang 26trường Stockholm Nghiên cứu Châu Á tại Trường Kinh tế Stockholm Nó phân tích các yếu tố quyết định nghèo Lào thông qua mô hình kinh tế của các hộ gia đình dựa trên toàn diện từ bộ tộc Lào và Khảo sát tiêu dùng 2002/2003 Nó cũng cung cấp một bản đồ duy nhất của nghèo chia nhỏ trên khu vực cũng như các nhóm dân tộc chính Các phân tích xác định năm lĩnh vực rất quan trọng để giảm nghèo: (i) giảm
số người phụ thuộc trong hộ gia đình, (ii) đầu tư vào giáo dục, không ít nhất là cho trẻ em gái, (iii) thúc đẩy tinh thần kinh doanh, (iv) nâng cao nông nghiệp năng suất,
và (v) cải thiện cơ sở hạ tầng
Mô hình thực nghiệm để kiểm tra các yếu tố quyết định đói nghèo ở Lào Nó bao gồm chi tiêu bình quân đầu người thực tế là biến phụ thuộc Một hồi qui có dạng:
ln (C/cap) = α + βV + γW + δX + θY + ηZ + ε
Trong đó C là tiêu thụ phụ thuộc vào biến V, W, X, Y, Z và là vecto của các yếu tố sản xuất, đặc điểm hộ gia đình, môi trường yếu tố tinh thần, đặc điểm dân tộc
và đặc điểm địa lý, α hằng số, và β γ δ θ và η là các vecto tương ứng của hệ số, và ε
là thuật ngữ sai số ngẫu nhiên phân bố bình thường, nhất biến được xác định bằng mức độ hộ gia đình: các môi trường và các biến địa lý được xác định ở cấp thôn hoặc tỉnh
2.5.2 Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005):
Tác giả sử dụng phương pháp chi tiêu để xác định hộ gia đình nghèo Một hộ gia đình nghèo nếu mức chi tiêu bình quân nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu hộ gia đình trong quá trình điều tra, theo 5 nhóm chi tiêu được phân chia từ thấp nhất đến cao nhất
Kết quả hồi quy cho thấy rằng có 3 yếu tố tác động đến chi tiêu của hộ gia đình nhiều nhất là việc làm, đất để canh tác và vay được vốn Tuy nhiên hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng vốn rất thấp Vì vậy tác giả nhấn mạnh rằng, trong nỗ lực giảm nghèo thì việc giao thêm đất hay cho vay nhiều hơn sẽ không có tác dụng nhiều nếu không có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu suất của việc sử dụng đất
Trang 27và vốn vay Đây là những kết luận quan trọng được sử dụng để tham khảo khi thực hiện nghiên cứu này
2.5.3 Theo Nguyễn Sinh Công (2004):
Trên cơ sở số liệu thu thập được từ 333 hộ gia đình, tác giả đã sử dụng hai mô hình kinh tế lượng để phân tích
Mô hình thứ nhất để xác định các nhân tố tác động đến thu nhập và mô hình thứ hai là mô hình binary logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ gia đình
Ngoài ra tác giả còn phân tích độ nhạy của xác suất nghèo bởi sự ảnh hưởng của các nhân tố (biến độc lập) được nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu, tác giả đã xác định được 9 nhân tố tác động đến thu nhập (ảnh hưởng đến khả năng nghèo của các hộ gia đình) là:
- Yếu tố làm tăng thu nhập: diện tích đất canh tác, số năm đào tạo bình quân,
ý thức tiết kiệm
- Yếu tố là giảm thu nhập: dân tộc, khoảng cách nơi cư trú, nghề nghiệp của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, thiếu việc làm, tỷ lệ người phụ thuộc
2.6 Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo
Nghèo là một vấn đề nghiêm trọng trong chính sách phát triển bền vững của mỗi quốc gia Trong thời gian qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về nghèo đói Điều này cho thấy tình trạng nghèo đói ở Việt Nam là vấn đề cần sớm giải quyết Tuy nhiên nhìn chung thì nghèo ở Việt Nam có những đặc thù riêng như về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử Những kết quả nghiên cứu trước đây chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghèo ở Việt Nam như: trình độ học vấn, việc làm, tuổi, khả năng tiếp cận nguồn lực, vị trí địa lý, nhân khẩu học,
2.6.1 Việc làm
Người nghèo thường không có việc làm, làm thuê hoặc làm nông nghiệp, trong khi người giàu thường có việc làm trong lĩnh vực có thu nhập cao và tương
Trang 28đối ổn định như buôn bán, công chức nhà nước Theo phân tích tình trạng đói nghèo của Đồng bằng sông Cửu Long (AusAID, 2004) tỷ lệ nghèo ở cấp tỉnh vùng này có tương quan tỷ lệ thuận với số dân hoạt động trong nông nghiệp của tỉnh đó và nền kinh tế phi nông nghiệp mới phát triển ở Việt Nam có thể là một định hướng quan trọng để thoát nghèo
Dự án diễn đàn miền núi Ford (2004) cũng khẳng định các hộ có thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp có tỷ lệ đói nghèo cao Các cơ hội đa dạng hóa sang các hoạt động phi nông nghiệp lại bị hạn chế do bản thân năng lực tự thân của người nghèo thấp Ngoài ra chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng sang các ngành nghề phi nông nghiệp còn chậm
Nghiên cứu của đánh giá đói nghèo khu vực sông Cửu Long cũng cho rằng phần lớn các hộ nghèo làm việc trong ngành cơ bản, hơn 77% số người nghèo vùng Đồng bằng sông Cửu Long làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong khi chỉ có 9% người nghèo làm việc trong ngành công nghiệp và gần 13% trong ngành dịch vụ Chính vì lĩnh vực nông nghiệp với sự thay đổi mang tính thời vụ và chu trình kinh doanh dài nên việc đa dạng hóa sang lĩnh vực hoạt động phi nông nghiệp
và sản xuất kinh doanh mang lại một phần thu nhập chính cho hộ và góp phần cải thiện tình trạng nghèo của hộ
2.6.2 Trình độ học vấn
Người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy họ không có điều kiện nâng cao trình trình độ trong tương lai để thoát nghèo Trình độ học vấn làm hạn chế khả năng làm việc trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định
Học vấn có vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo Nó tạo ra khả năng tiếp cận vấn đề liên quan tới việc tiếp thu các kiến thức kỹ thuật, kỹ năng làm việc
và nắm bắt thông tin Các nghiên cứu có sự tham gia của người dân trước đây cũng
Trang 29cho rằng những hộ thuộc nhóm khá, giàu là những hộ thường xuyên tiếp xúc, tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng
Theo số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ cấp II và thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ người chưa đi học chiếm 12%, tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm 37% Chi phí giáo dục đối với người nghèo còn lớn, gây không ít khó khăn cho họ trong việc tiếp cận với giáo dục nhiều hơn Học vấn thấp buộc chặt người nghèo với những công việc có thu nhập thấp trong nông nghiệp và hạn chế khả năng tìm việc trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của người nghèo
Trình độ học vấn cao
Tỷ lệ trong tổng
số dân (%) Không được đi học
Theo nghiên cứu của đánh giá đói nghèo khu vưc sông Cửu Long (2004), phụ
nữ nghèo sống ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều con hơn phụ
nữ nghèo ở đô thị hay phụ nữ có cuộc sống khá giả hơn Nhiều con thường có nghĩa
là phụ nữ nghèo phải làm việc nhiều hơn và bị nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản Con họ không được nhận dinh dưỡng đầy đủ cần cho sự tăng trưởng và phát triển
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam (2000), phần lớn những hộ có chủ hộ là nữ
là những hộ nghèo Hộ gia đình có chủ hộ là nữ thường bị các cán bộ nhà nước
Trang 30phân biệt đối xử (Oxfam, 1999) VHLSS (2002) cho thấy phụ nữ ở vùng nông thôn Việt Nam phải chịu đựng nhiều thiệt thòi, phụ nữ chủ yếu làm nghề nông Tiền công của nữ chỉ bằng 62% của nam giới Dù chiếm 50% lực lượng lao động, nhưng phụ nữ chỉ chiếm được 40% tổng tiền công Phụ nữ ít có tiếng nói hay cơ hội tham gia trong việc ra quyết định tại địa phương
2.6.4 Quy mô hộ
Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình còn rất cao Năm 1998, con số bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức 2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao
Tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 của nhóm giàu nhất do
đó, những hộ này không những có ít lao động, đồng nghĩa với việc có người ăn theo hơn mà còn phải chịu những chi phí lớn hơn như chi cho việc đi học hay chi cho việc khám chữa bệnh, những khoản chi thường gây bất ổn cho đời sống gia đình
( Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo - Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2685/VPCP-QHQT ngày 21/5/2002)
2.6.5 Tuổi của chủ hộ
Theo Owuor, Ngigi, Ouma và Birachi (2007) cho rằng những người lớn tuổi hơn với nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ giúp họ đạt được năng suất cao hơn và giảm nguy cơ rơi vào ngưỡng nghèo
Tuổi của chủ hộ có mối tương quan chặt chẽ đến tình trạng nghèo đói của hộ Theo nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi từ 20 đến 50 tuổi đóng góp 66% tổng thu nhập của hộ, hay tuổi trung bình của chủ hộ các hộ nghèo thấp hơn trung bình của chủ hộ những hộ giàu hơn trên cả nước và cả vùng đồng bằng sông cửu long Điều này cho thấy xu hướng nghèo truyền thống của các hộ gia đình mới hình thành
vì thời gian tích lũy tài sản của hộ ngắn hơn
2.6.6 Nguồn vốn chính thức
Vốn là nguồn lực quan trọng nhất trong sản xuất Theo Waheed (2006), trích trong Nguyễn Trọng Hoài (2007) thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng xuất thấp, kéo theo
Trang 31thu nhập thấp Tiết kiệm thấp lại là nguyên nhân của thiếu hụt vốn đầu tư, đầu tư thấp, thu nhập lại tiếp tục thấp Không đủ vốn thì hầu như người nghèo không thể hoạt động sản xuất kinh doanh gì cả từ việc cơ bản nhất là mua giống cây trồng và vật nuôi, phân bón chứ đừng nói đến cải tiến hay áp dụng khoa học kỹ thuật sản xuất Muốn thoát khỏi vòng lẩn quẩn của sự nghèo đói phải có nguồn vốn từ bên ngoài, trong trường hợp này nguồn vốn vay hay vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức hay từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo của Chính phủ
Các nghiên cứu ở Việt Nam thường cho thấy người nghèo gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức của Chính phủ, trong khi đó những nguồn tín dụng phi chính thức chỉ thường mang giải pháp tình thế chứ ít có khả năng giúp
hộ gia đình thoát nghèo Mặt dù hiện nay có rất nhiều nguồn, nhiều dự án cấp tín dung cho người nghèo thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo nhưng vẫn còn nhiều người nghèo không thể tiếp cận nguồn vốn vay này Có nhiều nguyên nhân nhưng nếu loại trừ nguyên nhân do sự nhũng nhiễu của những người có trách nhiệm thì nguyên nhân còn lại là do người nghèo thiếu hiểu biết, không có tài sản thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả nợ
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2008) và Nguyễn Trọng Hoài (2002) cho thấy khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức và không chính thức của hộ nghèo thấp hơn hộ không nghèo khá nhiều do hộ nghèo không có tài sản thế chấp và hộ nghèo thường vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp và không có nhiều khả năng vay tín dụng từ các ngân hàng theo lãi suất thị trường, do vậy tiền vay được của hộ nghèo ít hơn hộ khá
2.6.7 Về đất đai
Người nghèo thường thiếu nguồn lực đồng thời cũng có ít khả năng tiếp cận nguồn lực (như đất đai) không có nguồn lực để đầu tư, người nghèo lại càng nghèo hơn Do đó, họ thường rơi vào vòng lẩn quẩn nghèo đói và thiếu nguồn lực
Trang 32Diện tích và chất lượng đất đóng vai trò quyết định đến sức sống của những
hộ sống bằng nghề nông nghiệp Không có đất, thiếu đất, đất đai xấu hoặc không có quyền canh tác sẽ ngăn các hộ phát triển hoạt động nông nghiệp và đó là lý do khiến nhiều hộ nông dân rơi vào hoàn cảnh không thể sản xuất đủ lương thực hoặc tạo ra thu nhập đủ để nuôi sống gia đình họ
Theo báo cáo phát triển Việt Nam (2000), các hộ nghèo coi diện tích đất và chất lượng đất là các yếu tố quan trọng đến mức sống Không có đất đai hoặc hầu như không có đất đai đồng nghĩa với nghèo đói Các hộ này được mô tả như những
hộ đặc biệt dễ bị tổn thương Trong năm 1998, 10% hộ ở nông thôn được đánh giá
là không có đất Việc không có đất phổ biến hơn ở đồng bằng sông Cửu Long với hơn 1/5 số hộ ở nông thôn không có đất
Luật pháp Việt Nam hiện nay qui định đất không thuộc quyền sở hữu của các
hộ gia đình nhưng họ được quyền sử dụng đất trong thời gian dài và họ cũng có quyền chuyển nhượng Người nghèo do không có khả năng sản xuất và túng thiếu nên thường chuyển nhượng quyền sử dụng cho các hộ giàu Chính vì vậy mà người dân được chia đất bình đẳng thì những hộ nghèo vẫn thường có ít đất hơn so với các
hộ giàu Bảng sau cho thấy diện tích đất canh tác cây trồng hàng năm và cây trồng lâu năm của các hộ tăng lên theo nhóm chi tiêu bình quân đầu người, với số lượng đất trồng cây hàng năm của các hộ thuộc nhóm giàu nhất lớn hơn diện tích của các
hộ ở nhóm thấp nhất đến 1,4 lần Sự khác biệt còn lớn hơn nhiều ở diện tích trồng cây lâu năm tính trên đầu người 6 lần
Bảng 2.2 Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình phân theo nhóm chi tiêu (m 2 )
Nghèo Khá
nghèo
Trung bình
Khá giàu
Giàu
Tổng diện tích đất,
trong đó:
Diện tích trồng cây hàng năm
Diện tích trồng câu lâu năm
Trang 332.6.8 Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu
Cơ sở hạ tầng càng tốt thì người dân trong vùng có nhiều cơ hội làm ăn hơn
do điều kiện sản xuất kinh doanh thuận tiện hơn đồng thời khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn Từ đây, người dân trong vùng có điều kiện để cải thiện mức sống gia đình mình Vì vậy, có thể xem cơ sở hạ tầng là một yếu tố chính quyết định mức
độ nghèo của các hộ trong vùng Các chỉ số về hạ tầng thường được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu đánh giá nghèo là khoảng cách đến con đường giao thông,
có điện hay không có điện, khoảng cách đến các chợ lớn, số lượng trường học và trung tâm y tế có trong vùng là khoảng cách đến trung tâm hành chính của địa phương,
Theo báo cáo phát triển Việt Nam (2004), đầu tư vào giao thông được xem là một công cụ quan trọng để giảm chênh lệch về mức sống giữa vùng thành thị và nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Theo ước tính của báo cáo trên thì chi đầu
tư một tỷ đồng vào đường nông thôn thì sẽ tác động giảm nghèo nhiều nhất là 270,6 người, sau đó nếu đầu tư một tỷ đồng vào giáo dục thì sẽ có 46,8 người thoát nghèo
và cuối cùng là đầu tư một tỷ đồng vào thủy lợi thì sẽ có 10,6 người thoát nghèo
2.6.9 Nghèo theo vị trí địa lý
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu sản xuất đa phần dựa vào nghề nông,
đa số người nghèo sống bằng nghề nông dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, khả năng đối phó
và khắc phục rủi ro của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất nguồn lao động, mất sức khỏe, ) Với năng lực kinh
tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp
do không có trình độ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Khả năng nâng cao năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng nhiều, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp
Trang 342.7 Đặc điểm của người nghèo
Người nghèo thường có những đặc điểm: trình độ học vấn thấp, tuổi thọ thấp, hay bệnh tật, khó vay tín dụng, thiếu đói, dễ xảy ra bạo lực gia đình, khó tiết kiệm
dư tiền, ít có cơ hội làm việc trong môi trường tốt, Từ đó có thể thấy rằng nghèo đói là cái vòng luẩn quẩn
Qua kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn đã xác định được một số nguyên nhân chủ yếu có thể ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói của
hộ gia đình Để công tác giảm nghèo của địa phương đạt kết quả tốt thì việc xác định nguyên nhân gây ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình là vô cùng quan trọng Chống đói nghèo là một cuộc chiến đấu lâu dài và quyết liệt, mặc dù trong điều kiện còn khó khăn nhưng nhà nước vẫn ưu tiên giành những nguồn lực
để phục vụ cho công tác xóa đói giảm nghèo
2.8 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Qua phân tích các nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo của các nghiên cứu trước, tác giả xin đề xuất mô hình nghiên cứu nghèo cho huyện biên giới Thạnh Hóa, tỉnh Long An với các yếu tố cơ bản như sau:
Diện tích đất
Giới tính chủ hộ
Nghề nghiệp chủ hộ
Vay vốn
Trang 35CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG NGHÈO Ở HUYỆN THẠNH HÓA
VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về tình hình nghèo của Việt Nam
Cuộc chiến chống đói nghèo của Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước, nhất là từ năm 2001 đến nay đã thu được nhiều kết quả thiết thực Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 30% năm 2001 xuống còn 17,5% năm
2005 thì đến năm 2010 còn dưới 10%
Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Phải nói rằng, Việt Nam đã thành công và tạo dấu ấn về xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên, những thành tựu xóa đói, giảm nghèo vẫn chưa vững chắc và còn nhiều vấn đề bất cập, có thể nêu ra như sau:
- Sự thay đổi chuẩn nghèo làm tăng tỷ lệ nghèo
- Tỷ lệ nghèo kinh niên, tỷ lệ cận nghèo còn cao và nguy cơ tái nghèo khá cao, nhất là khi có những tác động bất lợi từ bên trong và bên ngoài
- Người nghèo được hưởng những thành tựu tăng trưởng kinh tế chưa nhiều, còn hạn chế trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ xã hội cơ bản
- Thiên tai, dịch bệnh đã ảnh hưởng xấu đến người nghèo
- Khoảng cách thu nhập giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo ngày càng tăng và với tốc độ ngày càng nhân hơn
3 2 Khái quát về tỉnh Long An và thực trạng nghèo của tỉnh
Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang
Tỉnh Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam và cận kề với thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm sản xuất và tiêu thụ hàng hoá lớn nhất
cả nước, Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát
Trang 36triển kinh tế Việt Nam Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (huyện Mộc Hóa) và Tho Mo (huyện Đức Huệ) Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là có chung đường ranh giới với TP Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như: quốc lộ 1, quốc lộ 50, các đường tỉnh lộ: ĐT.823, ĐT.824, ĐT.825 v.v Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai Với cửa sông Soài Rạp hướng ra biển Đông, Long An có khả năng phát triển công nghiệp, dịch vụ vận tải, xuất nhập khẩu
Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449.194,49 ha, dân số 1.542.606 người (theo số liệu dân số tính đến tháng 5 năm 2013) Tọa độ địa lý : 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc
Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện: Đức Huệ, Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An; có 192 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 166 xã, 12 phường và 14 thị trấn
Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 12,44% (năm 2005) còn 1,87% (năm 2010) vượt chỉ tiêu đề ra, không còn hộ chính sách thuộc diện hộ nghèo Năm 2009, tỉnh
Trang 37điều chỉnh chuẩn nghèo ( thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn từ 400.000đ/ tháng trở xuống, ở thành thị từ 540.000đ/ tháng trở xuống thuộc hộ nghèo); theo chuẩn đó, toàn tỉnh có 36.327 hộ , chiếm 10,5%, trong đó:
- Số hộ nghèo ở khu vực thành thị là 5.308 hộ, chiếm 7,67% trên tổng số hộ dân thành thị (69.183 hộ)
- Số hộ nghèo ở khu vực nông thôn là 31.019 hộ, chiếm tỷ lệ 11,28% trên tổng số hộ dân nông thôn (275.041 hộ)
Kết quả tổng điều tra hộ nghèo năm 2010 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2015; toàn tỉnh có 26.720 hộ (khu vực thành thị: 3.962 hộ, khu vực nông thôn 22.758 hộ), tỷ lệ 7,37%; 20.409 hộ cận nghèo (khu vực thành thị 4.446 hộ, khu vực nông thôn: 15.963 hộ) Đến cuối năm 2012, còn 17.694 hộ nghèo (khu vực thành thị 8.416 hộ, khu vực nông thôn.15.065 hộ), tỷ lệ 4,73%
Giảm xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 15% từ 77 xã (40.9%) năm 2005 xuống còn
12 xã (6.31%) năm 2010; cuối năm 2012, còn 9 xã (4,74%)
Đến cuối năm 2014, toàn tỉnh có 384.958 hộ dân cư Số hộ nghèo là 11.480
hộ (tỷ lệ 2,98%)
3.3 Khái quát về huyện Thạnh Hóa và thực trạng nghèo của huyện
Thạnh Hóa là 1 trong 5 huyện, 1 thị xã thuộc Đồng Tháp Mười và nằm phía bắc tỉnh Long An, cách thành phố Tân An 32 km về hướng Bắc theo Quốc lộ 62, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 80 km về hướng Đông Bắc theo Quốc lộ 62-Quốc lộ 1A và 68 km theo Quốc lộ N2 Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 46.826 ha, dân số là 55.214 người (13.976 hộ dân), mật độ dân số bình quân là 117 người/km2
Về ranh giới địa lý hành chính: Phía Đông giáp huyện Thủ Thừa, phía Tây giáp các huyện Tân Thạnh và Mộc Hóa, phía Nam giáp huyện Tân Phước của tỉnh Tiền Giang, phía Bắc và Đông Bắc giáp Campuchia và huyện Đức Huệ
Trang 38Toàn huyện được chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Thạnh Hóa và các xã Tân Hiệp, Thuận Bình, Thạnh An, Thạnh Phước, Thạnh Phú, Thuận Nghĩa Hòa, Thủy Tây, Thủy Đông, Tân Tây và Tân Đông Trong đó có
02 xã là xã biên giới đặc biệt khó khăn và 08 xã được hưởng chế độ khó khăn (địa
lý, khí hậu,…) Trung tâm huyện đặt tại thị trấn Thạnh Hóa, là nơi tập trung các cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa cấp huyện và là trung tâm kinh tế đô thị hàng đầu của huyện
Về mặt vị trí và điều kiện tự nhiên huyện Thạnh Hóa có những lợi thế sau:
- Với vị trí cửa ngõ vùng Đồng Tháp Mười đối với thành phố Tân An qua Quốc lộ 62 và trục sông Vàm Cỏ Tây - kênh Xáng Thủy Tân, Thạnh Hóa được xem như địa bàn vệ tinh và cánh tay nối dài của thành phố Tân An hướng về vùng Đồng Tháp Mười và có thuận lợi trong việc tiếp nhận các chuyển giao, đầu tư về công thương nghiệp, dịch vụ từ thành phố Tân An và cũng là một trong những điểm trung chuyển hướng về đô thị trung tâm Tân An
- Với quá trình hình thành và phát triển của 2 trục giao thông bộ quan trọng cấp vùng (Quốc lộ N1, Quốc lộ N2) đi qua địa bàn, kết hợp với tuyến kênh Dương Văn Dương, trong tầm nhìn dài hạn, huyện Thạnh Hóa có vai trò đầu cầu nối liền các tỉnh huyện khu vực trung tâm và phía Đông vùng Đồng Tháp Mười hướng về trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (thông qua 2 cửa ngõ Tân Thạnh và Đức Hòa), có nhiều tiềm năng phát triển các điểm trung chuyển - chế biến về nông sản phẩm và thương mại dịch vụ trong thế giao lưu kinh tế giữa 2 vùng trên
- Với đường biên giới dài 9 km (6,36% tổng chiều dài đường biên giới của tỉnh Long An), địa bàn Thạnh Hóa có tiềm năng phát triển và giao lưu kinh tế khu vực biên giới phía bắc tỉnh Long An, nhất là sau khi tuyến Quốc lộ 1A hình thành
- Quỹ đất dồi dào, giá đất còn thấp Tài nguyên đất đai khá đa dạng, nếu được khai thác và cải tạo tốt thì ngoài việc thích nghi tốt cho phát triển lâm nghiệp và lúa, địa bàn có nhiều tiềm năng trong phát triển các cây công nghiệp ngắn ngày và hình thành các vùng chuyên canh tập trung
Trang 39- Hệ thống sông kênh rạch phong phú, thuận lợi giao thông thủy với nhiều tuyến giao thông quan trọng (sông Vàm Cỏ Tây, kênh Dương văn Dương, kênh Xáng Thủy Tân)
- So với các huyện thị khác thuộc tỉnh long An, Thạnh Hóa là địa bàn có thảm rừng lớn nhất, độ đa dạng sinh thái cao hơn và có sinh cảnh đặc trưng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái
Về mặt hạn chế, các đặc điểm vị trí và điều kiện tự nhiên sau cần lưu ý:
- Địa bàn huyện nằm trong khu vực Đông Bắc vùng Đồng Tháp Mười, thuộc dạng địa mạo đồng lũ kín, địa hình trũng thấp và khó tiêu thoát nước, thau chua rửa phèn và thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của đại đa số cư dân trên địa bàn
- Phần lớn địa bàn có cao trình thấp, các đặc tính địa chất công trình kém gây nhiều khó khăn tốn kém trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và giảm sức hút đầu
tư công thương nghiệp
- Phần lớn đất đai trong khu vực có độ phì thấp do bị nhiễm phèn và nhiễm mặn vào mùa khô Khả năng sử dụng đất phèn trong nông nghiệp đạt hiệu quả chưa cao
- Với sự hình thành của hệ thống kênh mương nội đồng, độ chia cắt của địa bàn khá cao dẫn đến các yếu tố bất lợi về mặt đầu tư phát triển giao thông bộ
- Nguồn nước ngầm tầng nông không đạt tiêu chuẩn chất lượng cho khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt; nguồn nước ngầm tầng sâu đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nhưng khai thác còn nhiều hạn chế do giá thành khai thác cao
Đây là huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười thấp trũng và khó thoát nước, 01 năm có hơn 03 tháng bị ngập lụt do nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về Người dân Thạnh Hóa sống chủ yếu bằng nghề nông Trong chiến tranh, Thạnh Hóa
là vùng đất bị bom đạn tàn phá hết sức năng nề Bom đạn, chất độc hóa học đã biến phần lớn đất đai thành "đồng bưng cỏ cháy" Sau ngày giải phóng, mặt đất vẫn còn loang lổ hố bom, cơ sở hạ tầng đường giao thông, điện, nước sạch, công trình văn
Trang 40hóa, hầu như là không có Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn thiếu thốn, nhà tranh lá tạm bợ chiếm trên 80%, tỷ lệ hộ đói, nghèo rất cao
Từ cuối những năm 1990, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, với sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng của các ngành, các cấp và nhân dân trong tỉnh, huyện Thạnh Hoá đã đạt được những kết quả nhất định trong xoá đói giảm nghèo (năm
2013 còn 3,32%) Tuy nhiên hộ thoát nghèo chưa thật sự vững chắc, nguy cơ tái đói nghèo còn cao, số lượng hộ nghèo còn lớn Theo chuẩn mực hộ nghèo mới, huyện Thạnh Hoá có 469 hộ nghèo, chưa kể một bộ phận lớn dân số ở khu vực kinh tế nông nghiệp tuy không thuộc diện hộ nghèo, nhưng do thu nhập không ổn định, nằm giáp ranh chuẩn nghèo cũng có nguy cơ đói nghèo
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp số liệu nghèo
dân
Tổng hộ nghèo
Tỷ lệ (%)
Thạnh An Tân Hiệp Thủy Đông Thuận Nghĩa Hòa Thạnh Phước Thạnh Phú Thuận Bình Thủy Tây Tân Đông
Nguồn: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Thạnh Hóa