Với mục đích tiếp tục tìm kiếm trong tự nhiên các chủng Azotobacter có nhiều hoạt tính sinh học quý, đặc biệt là có khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA với hàm lượng cao, có khả
Trang 1MỤC LỤC Trang
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Thủy Tuyển chọn vi
khuẩn Azotobacter có khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA 3-9
Hoàng Vũ Thơ Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá, quả, hạt và
sự nảy mầm của hạt Đinh đũa (Sterrospermum colais) 10-20
Mai Hải Châu Ảnh hưởng của giống và mật độ trồng đến
sinh trưởng và năng suất lá Chùm ngây (Moringa oleifera L.)
làm rau
21-31
Đặng Văn Hà Đặc điểm phân bố và hình thái loài Đỗ quyên
hoa trắng hồng (Rhododendron cavaleriei H Lév.) tại Vườn Quốc
gia Tam Đảo
32-41
Bùi Việt Hải, Trương Thanh Hào Ảnh hưởng của phân bón
đến sinh trưởng của cây con Trai Nam Bộ (Fagraea cochinchinensis) trong giai đoạn vườn ươm tại Vườn Quốc gia
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
42-49
Lê Xuân Trường, Nguyễn Đức Hải, Nguyễn Thị Điệp Xác
định hàm lượng cácbon trong các bộ phận cây Luồng
(Dendrocalamus barbatus Hsueh.et.E.Z.Li)
50-56
Đồng Thanh Hải, Phan Đức Linh Tính đa dạng thành phần
loài và giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái
57-64
Trần Quốc Hoàn Phân định và phân tích lưu vực chi trả dịch
Nguyễn Đắc Mạnh, Đồng Thanh Hải, Nguyễn Bá Tâm, Nguyễn Tài Thắng Lựa chọn sinh cảnh sống của Sơn Dương
(Capricornis milneedwardsii David, 1869) vào mùa hè ở dãy núi
đá Đông Bắc, Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông
73-80
Hoàng Thị Hồng Nghiệp, Nguyễn Thế Nhã Kết quả nghiên
cứu bước đầu giá trị dinh dưỡng của sâu tre (Omphisa
fuscidentalis Hampson) (Lepidoptera: Crambidae)
81-85
Cao Quốc An, Triệu Văn Hải, Vũ Mạnh Tường, Lê Văn Tung Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ ép đùn đến chất lượng composite nhựa – vỏ cây
86-91
Nguyễn Văn Diễn, Lê Xuân Phương Ảnh hưởng của xử lí
thủy – nhiệt đến một số tính chất công nghệ của gỗ Bạch Đàn
(Eucalyptus urophylla S.T Blake)
92-100
Triệu Văn Hải, Cao Quốc An, Phạm Thị Ánh Hồng Nghiên
cứu sự ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ trong sản xuất vật
liệu composite từ vỏ cây và polyethylene
101-107
Tạ Thị Phương Hoa Độ ẩm bão hòa thớ gỗ của gỗ Trám
trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch) 108-112
Hoàng Xuân Niên, Nguyễn Minh Hùng Nghiên cứu hệ
thống thiết bị thí nghiệm sấy gỗ bằng năng lượng mặt trời kết hợp
nồi dầu
113-122
Dương Thị Thanh Mai Đánh giá hoạt động xuất khẩu của
Mai Quyên Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập
Nguyễn Thị Xuyến, Lê Thị Tuyết Anh Vai trò của phụ nữ
tỉnh Nam Định với phát triển hệ thống chính trị ở cơ sở trong xây 142-150
Thư viện – Đại học Lâm nghiệp
Xuân Mai – Chương Mỹ – Hà Nội
In tại cơ sở in Bùi Văn Chiểu
Khu Miếu Môn - Xã Trần Phú
Chương Mỹ - Hà Nội
Giấy phép số: 01W8000678
Trang 2CONTENTS Page
Nguyen Thi Thu Hang, Nguyen Thi Thuy Screening of
azotobacter strains with the ability of nitrogen fixing and
synthesis of indole acetic acid (IAA)
3-9
Hoang Vu Tho Rsearch on morphological characteristics of
leaves, fruits and seeds as well as seed germination of yellow
snake tree (Sterrospermum colais)
10-20
Mai Hai Chau Effect of varieties and spacing on the growth
and leaf yield of drumstick tree (Moringa oleifera Lam), a leafy
vegetable crop
21-31
Dang Van Ha Characteristics of distribution and morphology
of pink white flowers Rhododendron (Rhododendron cavaleriei
H Lév.) at Tam Đao National Park
32-41
Bui Viet Hai, Truong Thanh Hao Fertilizer effect to grow
seedlings of Fagraea cochinchinensis in nurery stage at Phu Quoc
National Park, Kien Giang province
42-49
Le Xuan Truong, Nguyen Duc Hai, Nguyen Thi Diep
Determination of carbon content in the white bamboo parts
(Dendrocalamus barbatus Hsueh.et.EZLi)
50-56
Dong Thanh Hai, Phan Duc Linh The diversity and
conservation solutions of repriles and amphibians in Na Hau
nature reserve, Yen Bai province
57-64
Tran Quoc Hoan Delimitation and analysis of basin for
payment for forest environmental services in Binh Phuoc
province
65-72
Nguyen Dac Manh, Dong Thanh Hai, Nguyen Ba Tam, Nguyen Tai Thang Research on the habitats selection by
southwest china serow (Capricornis milneedwardsii David, 1869)
in summer in Pu Luong Nature Reserve
73-80
Hoang Thi Hong Nghiep, Nguyen The Nha Initial results on
nutritional value of Bamboo cartepillar (Omphisa
fuscidentalis Hampson) (Lepidoptera: Crambidae)
81-85
Cao Quoc An, Trieu Van Hai, Vu Manh Tuong, Le Van Tung Study on effect of extruding technology to quanlity of WPC from bark
86-91
Nguyen Van Dien, Le Xuan Phuong Effect of the hydro -
thermal treatment on technological properties of Eucalyptus
urophylla S.T Blake wood
92-100
Trieu Van Hai, Cao Quoc An, Pham Thi Anh Hong Study
on the influence of some technology factors in production
composite materials from bark and polyethylene
101-107
Ta Thi Phuong Hoa The moisture content at fibre saturation
Hoang Xuan Nien, Nguyen Minh Hung Research on wood
drying experiment equipment system using solar energy
combined with oil tank
Nguyen Thi Xuyen, Le Thi Tuyet Anh The women’s roles
in Nam Dinh province with development of local political system
in the reform rural construction
Library – Vietnam Forestry University
Chuong My – Ha Noi – Viet Nam
Trang 3TUYỂN CHỌN VI KHUẨN AZOTOBACTER CÓ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH
NITƠ VÀ SINH TỔNG HỢP IAA
Nguyễn Thị Thu Hằng 1 , Nguyễn Thị Thủy 2
cơ sở đó đã tuyển chọn được 2 chủng Azotobacter, kí hiệu AZT1 và AZT7, vừa có khả năng cố định nitơ phân
tử trong không khí thành nitơ dạng ammonium (NH 4
+
), vừa có khả năng sinh Indole acetic acid (IAA) với hàm lượng cao Trong môi trường Ashby lỏng bổ sung 2% glucose, pH 7, nuôi cấy ở 30oC trong 72 giờ, chủng AZT1 và AZT7 có khả năng cố định nitơ tương ứng là 3,36 mg/l và 3,32 mg/l, sinh tổng hợp IAA với hàm lượng tương ứng 10,11 µg/ml và 12,87 µg/ml Ngoài khả năng cố định nitơ và sinh IAA, hai chủng AZT1 và AZT7 còn có hoạt tính phosphatase, cellulase
Từ khoá: Azotobacter sp., cố định nitơ, IAA, phân lập, vi khuẩn
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi sinh vật cố định nitơ là các nhóm vi sinh
vật có khả năng chuyển hóa khí N2 dồi dào
trong không khí (79%) thành nitơ dạng
ammonium (NH4+) cung cấp cho thực vật
Trong tự nhiên, các nhóm vi sinh vật cố định
nitơ có thể cung cấp cho hành tinh tới 240 x
106 tấn N/năm (gấp 6 lần lượng nitơ cả thế giới
sản xuất bằng con đường hóa học) (Harunor
Rashid Khan, 2008) Trong số các vi sinh vật
có khả năng cố định nitơ theo kiểu không cộng
sinh, vi khuẩn Azotobacter được quan tâm và
ứng dụng nhiều nhất trong sản xuất phân bón
sinh học cố định nitơ Ngoài khả năng cố định
nitơ, Azotobacter còn có nhiều đặc tính hữu ích
khác như: Sinh chất kích thích sinh trưởng
thực vật, tăng cường sự hấp thu lân và các hợp
chất hữu cơ từ đất của thực vật bởi chúng có
thể sinh enzyme phosphatase, cellulase
(Ridvan Kizilkaya, 2009)
Phân bón vi sinh cố định nitơ luôn được
quan tâm nghiên cứu và đẩy mạnh sản xuất,
ứng dụng cho cây trồng nông - lâm nghiệp
Với mục đích tiếp tục tìm kiếm trong tự nhiên
các chủng Azotobacter có nhiều hoạt tính sinh
học quý, đặc biệt là có khả năng cố định nitơ
và sinh tổng hợp IAA với hàm lượng cao, có khả năng thích ứng rộng, nghiên cứu được thực hiện nhằm tạo nguồn vật liệu vi sinh vật quý cho sản xuất phân bón sinh học cố định nitơ
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thu thập mẫu
20 mẫu đất (10 g/mẫu) được thu thập ở các khu ruộng trồng lúa khác nhau ở Sơn Tây và Xuân Mai, Hà Nội Mẫu đất được lấy ở độ sâu
6 – 15 cm, sau khi đã loại bỏ khoảng 5 cm phần đất và tàn dư thực vật ở trên
2.2 Phân lập và nuôi cấy vi khuẩn
Azotobacter có khả năng cố định nitơ tự do
Hòa tan 10 g đất trong 90 ml nước cất tiệt trùng, để ổn định ở 30oC trong 15 phút, pha loãng mẫu (đến nồng độ 10-6), cấy trải dịch pha loãng lên môi trường Ashby mannitol agar (mannitol 20 g; K2HPO4 0,2 g; MgSO4.7H2O 0,2 g; NaCl 0,2g; K2SO4 0,1 g; CaCO3 5 g; agar 15 g; nước cất 1000 ml; pH 7 - 7,2), ủ ở
30oC trong 72 giờ Nhận dạng khuẩn lạc vi
khuẩn Azotobacter theo khóa phân loại của
Bergey (1989) dựa trên một số đặc điểm: Hình thái khuẩn lạc, hình dạng tế bào vi khuẩn (nhuộm Gram, quan sát dưới kính hiển vi), khả năng di động, đặc tính sinh hóa (hoạt tính
Trang 4catalase, khả năng đồng hóa đư
glucose, fructose, lactose, sucrose
2.3 Tuyển chọn chủng có khả năng cố định nit
Dịch nuôi lỏng các chủng Azotobacter
phân lập (mật độ tế bào khoảng 10
được cấy cùng tỉ lệ vào 15 ml môi trư
lỏng đựng trong các ống 50 ml, nuôi l
vòng/phút ở 30oC trong 72 giờ Ly tâm t
trong và xác định nồng độ NH4+
bởi từng chủng Azotobacter trong d
bằng phương pháp so màu với thuốc thử Nessler
sử dụng đường chuẩn ammonium
Hình 1 Đồ thị chuẩn ammonium (NH
2.4 Tuyển chọn chủng có kh
tổng hợp IAA
Vi khuẩn được nuôi cấy trong môi tr
lỏng bổ sung 0,1% tryptophan, nuôi lắc (
vòng/phút) trong tủ tối ở 30oC trong
Hàm lượng IAA thô được sinh ra trong d
nuôi cấy được xác định bằng ph
thực hiện phản ứng màu với thuốc thử
Salkowski tạo sản phẩm có màu,
màu trên máy quang phổ so màu
530 nm, dựa vào đồ thị chuẩn IAA
xác định xác định được hàm lư
(Glickmann & Dessaux, 1995)
Hình 2 Đồ thị chuẩn IAA
y = 0.011x + 0.003 R² = 0.996
ới thuốc thử Nessler, (hình 1)
ới thuốc thử
àu, đo cường độ
àu ở bước sóng IAA (hình 2) sẽ
15 g; nước cất 1000 ml; pH 7trong 72 giờ Đo đường kính v
Ca3(PO4)2 để xác định khả năng phân giải phosphate khó tan theo công th
đường kính vòng phân giải phosphd: đường kính khuẩn lạc)
2.6 Xác định ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy đến sinh tr
cố định nitơ, sinh IAA c tuyển chọn
Ảnh hưởng của pH môi trưTiến hành cấy cùng thể tích dịch lỏng
chủng Azotobacter (105 CFU/ml)
cố định nitơ, sinh tổng hợp IAA cao, đchọn trong môi trường Ashby lỏngtrường được điều chỉnh đến pH khác nhau
4, 5, 6, 7, 8, 9 Xác định đặckhả năng cố định nitơ và sinh tcủa chủng vi khuẩn tương môi trường, trên cơ sở đó xác định đkhoảng pH thích hợp đối với
Ảnh hưởng của nguồn car
chủng Azotobacter trong
lỏng bổ sung nguồn mannitol, glucose, carboxymethyl cellulose (CMC)môi trường đến pH thích h30ºC, lắc 125 vòng/phút Sau khả năng sinh trưởng, cố định nithợp IAA của các chủngtuyển chọn
Khả năng sinh trưởng, phát triển của vi khuẩn được đánh giá thông qua l
g; yeast extract 0,5 g; agar ml; pH 7) Nuôi ở 30oC ờng kính vòng thủy phân ịnh khả năng phân giải khó tan theo công thức: D/d (D:
ải phosphate khó tan;
ởng của một số điều
ện nuôi cấy đến sinh trưởng và khả năng
, sinh IAA của các chủng được
môi trường nuôi cấy:
ể tích dịch lỏng các CFU/ml) có khả năng ổng hợp IAA cao, đã tuyển ờng Ashby lỏng có pH môi
ợc điều chỉnh đến pH khác nhau: pH
ịnh đặc điểm sinh trưởng,
ơ và sinh tổng hợp IAA ương ứng với từng loại
ở đó xác định được
ảng pH thích hợp đối với Azotobacter sp
ồn carbon: Nuôi cấy các ong môi trường Ashby carbon khác nhau: glucose, sucrose, maltose, carboxymethyl cellulose (CMC) Điều chỉnh
pH thích hợp, nuôi ở nhiệt độ vòng/phút Sau 72 giờ, xác định ởng, cố định nitơ và sinh tổng
ủa các chủng Azotobacter được
ởng, phát triển của vi
ợc đánh giá thông qua lượng sinh
Trang 5khối vi khuẩn xác định theo phương pháp đo
độ đục của dịch nuôi cấy trên máy quang phổ
so màu UV/VIS ở bước sóng 600 nm Khả
năng cố định nitơ xác định bằng phương pháp
Nessler Xác định hàm lượng IAA trong môi
trường theo phản ứng màu với thuốc thử
Salkowski
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Phân lập vi khuẩn Azotobacter
Từ 20 mẫu đất thu thập ở các ruộng trồng
lúa, đã phân lập được 14 chủng vi khuẩn có
khả năng là Azotobacter mọc tạo khuẩn lạc
trên môi trường phân lập đặc hiệu không chứa
nguồn nitơ Trong số 14 chủng đã phân lập, có
7 chủng sinh trưởng, phát triển mạnh hơn trên
môi trường Ashby nên được lựa chọn làm đối tượng cho những nghiên cứu tiếp theo Kết quả nhận dạng 7 chủng vi khuẩn về đặc điểm hình thái khuẩn lạc, hình dạng tế bào vi khuẩn, xác định một số đặc điểm sinh hóa (theo khóa phân loại của Bergey, 1989), cho phép khẳng định
các chủng vi khuẩn này đều là Azotobacter có
khả năng cố định nitơ, gram âm, tạo bào nang với thành dầy, có khả năng di động, có hoạt tính catalase và oxidase, có khả năng đồng hóa mannitol, glucose, lactose, fructose, sucrose (bảng 1)
Bảng 1 Phân lập và nhận dạng các chủng Azotobacter sau 72 giờ nuôi cấy
trên môi trường Ashby mannitol agar ở 30 o C
Gram
Khả năng
di động
Hoạt tính enzyme Khả năng đồng hóa
các loại đường Catalas
e Oxidase Man Glu Fru Lac Suc
Man: Mannitol; Glu: Glucose; Fruc: Fructose; Lac: Lactose; Suc: Sucrose
3.2 Tuyển chọn chủng có khả năng cố định nitơ
Bảng 2 Khả năng cố định nitơ của các chủng
Azotobacter sau 72 giờ nuôi lắc 125 vòng/phút, 30 o C
Ký hiệu
chủng
Hàm lượng NH 4
+ (mg/ml)
Kết quả nhận được (bảng 2) cho thấy cả 7
chủng Azotobacter đều có khả năng cố định
nitơ (phù hợp với lý thuyết vì để các chủng này sinh trưởng được trên môi trường Ashby agar không chứa nitơ thì chúng phải có khả năng cố định N2 thành NH4+) Tuy nhiên, khả năng cố
định nitơ của 7 chủng Azotobacter là khác
nhau: 4 chủng có khả năng cố định nitơ mạnh, sinh NH4+ với hàm lượng trên 3 mg/ml, gồm các chủng AZT1, AZT4, AZT6, AZT7; trong
đó, chủng AZT1 có khả năng cố định nitơ mạnh nhất (3,24 mg/ml), sau đó đến chủng AZT7 (3,18 mg/ml), AZT6 (3,09 mg/ml), AZT4 (3,05 mg/ml)
Trang 63.3 Tuyển chọn chủng có khả năng sinh
tổng hợp IAA
Kết quả xác định khả năng sinh tổng hợp
IAA của các chủng Azotobacter (bảng 3) cho
thấy cả 7 chủng vi khuẩn đều sinh tổng hợp
IAA, điều này cũng phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Gomare và cộng sự (2013) đã
công bố khả năng sinh Indole là một trong các
đặc điểm đặc trưng của vi khuẩn Azotobacter
Trong đó, có 3 chủng có khả năng sinh tổng
hợp IAA với hàm lượng trên 10 µg/ml, lần lượt
là các chủng AZT7 (11,52 µg/ml), AZT1
(10,72 µg/ml), AZT4 (10,41 µg/ml); 2 chủng
có khả năng sinh IAA cũng khá cao là AZT6
(9,5 µg/ml) và AZT2 (9,36 µg/ml)
Bảng 3 Khả năng sinh tổng hợp IAA của
các chủng Azotobacter sau 72 giờ nuôi lắc
125 vòng/phút, 30 o C
Ký hiệu chủng vi
khuẩn
Hàm lượng IAA (µg/ml)
3.4 Xác định khả năng phân giải phosphate khó tan
Có nhiều bằng chứng khoa học trên thế giới
chứng minh vi khuẩn Azotobacter ngoài khả
năng cố định nitơ, sinh IAA, còn có thể phân giải phosphate khó tan thành phosphate dễ tan
Do vậy, nhiều loại phân bón sinh học cố định nitơ còn có tác dụng tăng cường hiệu quả của việc bón lân vô cơ cho cây trồng Khả năng phân giải phosphate khó tan thành phosphate
dễ tan của 2 chủng Azotobacter đã được tuyển
chọn về khả năng cố định nitơ và sinh IAA đã được xác định Kết quả (bảng 4) chỉ ra cả 2 chủng AZT1 và AZT7 đều có khả năng phân giải phosphate khó tan Hoạt tính phân giải phosphate sau 72 giờ nuôi trên môi trường Pykovskaya agar ở 30oC của chủng AZT1 là D/d = 3,00, chủng AZT7 có D/d = 1,83
Bảng 4 Khả năng phân giải phosohate của Azotobacter sp sau 72 giờ trên môi trường Pykovskaya agar
d - đường kính khuẩn lạc (mm)
Hoạt tính phân giải (D/d)
3.5 Xác định ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy
Kết quả xác định ảnh hưởng của pH, nguồn
carbon bổ sung vào môi trường nuôi cấy đến
sinh trưởng, khả năng cố định nitơ, sinh tổng
hợp IAA của hai chủng AZT1 và AZT7 (bảng 5) cho thấy:
Hai chủng AZT1 và AZT7 có khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA trong môi
Trang 7trường có pH từ 6 – 9, không cố định nitơ và
sinh tổng hợp IAA trong môi trường có pH 4
và pH 5 Khả năng cố định nitơ và sinh tổng
hợp IAA của hai chủng AZT1 và AZT7 là
mạnh nhất trong môi trường có pH 7 (hàm
lượng nitơ dạng ammonium được tạo ra bởi hai
chủng tương ứng là 3,24 mg/ml và 3,18
mg/ml), giảm nhẹ trong môi trường có pH 6 và
pH 8, giảm mạnh trong môi trường có pH 9
Do vậy, pH môi trường nuôi cấy thích hợp cho nuôi cấy AZT1 và AZT7 là pH 6 - 8, pH thích hợp nhất là pH 7 Kết quả đạt được là phù hợp với nhiều công bố khoa học trên thế giới về pH
thích hợp cho nuôi cấy Azotobacter là từ 7,2 -
8,2 (Aquilanti và cộng sự, 2004; Damir và cộng sự, 2011)
Bảng 5 Ảnh hưởng của pH môi trường và nguồn carbon đến khả năng sinh trưởng, cố định nitơ và
sinh tổng hợp IAA của chủng AZT1 và AZT7
Điều kiện nuôi cấy
Khả năng sinh trưởng, phát triển
Hàm lượng NH 4
+ (mg/ml)
Hàm lượng IAA (µg/ml)
Môi trường bổ sung một trong ba nguồn
carbon glucose, sucrose, mannitol là thích hợp
cho nuôi cấy chủng AZT1 và AZT7 Trong
môi trường bổ sung glucose, khả năng cố định
nitơ và sinh IAA của AZT1 và AZT7 tương
ứng là 3,36 mg/l và 3,32 mg/l NH4+; 10,11
µg/ml và 12,87 µg/ml IAA
Khả năng sinh trưởng, cố định nitơ, sinh
IAA của cả hai chủng giảm nhẹ trong môi
trường bổ sung maltose, giảm mạnh trong môi trường bổ sung CMC Đặc biệt, trong môi trường chứa CMC - hợp chất hữu cơ cao phân
tử, không thể thẩm thấu qua màng tế bào của vi khuẩn, mà vi khuẩn vẫn sinh trưởng, cố định nitơ, sinh IAA, tuy với cường độ yếu, nhưng điều đó cũng chứng tỏ các chủng vi khuẩn này
có khả năng sinh cellulase phân giải CMC thành các phần tử nhỏ hơn để có thể hấp thu
Trang 8- Đã phân lập được 7 chủng vi khuẩn
năng cố định nitơ, sinh trưởng, phát triển mạnh
trên môi trường Ashby mannitol
chủng vi khuẩn đã được tinh sạch
dạng là vi khuẩn Azotobacter theo khóa phân
loại của của Bergey (1989), với
đặc trưng: gram âm, tạo bào nang v
dầy, có khả năng di động, có hoạt tính c
và oxidase; có khả năng đồng hóa
glucose, lactose, fructose, sucrose
- Đã tuyển chọn được 2 chủng A
sp kí hiệu AZT1 và AZT7 có khả năng cố định
nitơ và sinh tổng hợp IAA với h
Trong môi trường Ashby lỏng (
a
b
d
ĐC AZT1 AZT2 AZT3 AZT4
Một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu
à sinh khối vi khuẩn Azotobacter trên môi trường Ashby agar;
ạng bào nang với thành dầy của vi khuẩn Azotobacter chủng AZT1;
ệm xác định khả năng cố định nitơ; e: thí nghiệm xác định khả năng sinh tổng hợp IAA.
ợc 7 chủng vi khuẩn có khả ởng, phát triển mạnh mannitol agar Các
ợc tinh sạch và nhận
theo khóa phân
ại của của Bergey (1989), với các đặc điểm
ào nang với thành
ờng Ashby lỏng (glucose 20 g;
K2HPO4 0,2 g; MgSO4.7H
K2SO4 0,1 g; CaCO3 5 g;
1000 ml; pH = 7), nuôi cgiờ, chủng AZT1 và AZT7 có khđịnh nitơ tương ứng là 3,36 mg/l và 3,32 mg/l, sinh tổng hợp IAA với hàm lư
10,11 µg/ml và 12,87 µg/ml
- Ngoài khả năng cố định hợp IAA, chủng AZT1 vtính phosphatase (có khphosphate khó tan) và cellulase (có khphân giải cellulose Do vậy, hai chủng ntriển vọng trong sản xuất phân bón vi sinh đa chức năng (cố định nitơ,
sinh trưởng, tăng cường tác dụng của việc bón
c
e
ZT4 AZT5 AZT6 AZT7
Bào nang
ờng Ashby agar;
ầy của vi khuẩn Azotobacter chủng AZT1;
ệm xác định khả năng sinh tổng hợp IAA
.7H2O 0,2 g; NaCl 0,2 g; g; Agar 15 g; nước cất ml; pH = 7), nuôi cấy ở 30oC trong 72
à AZT7 có khả năng cố 3,36 mg/l và 3,32 mg/l,
àm lượng tương ứng µg/ml và 12,87 µg/ml
ả năng cố định nitơ và sinh tổng
ợp IAA, chủng AZT1 và AZT7 còn có hoạt
ase (có khả năng phân giải
e khó tan) và cellulase (có khả năng
ải cellulose Do vậy, hai chủng này có
ản xuất phân bón vi sinh đa , sinh chất kích thích ờng tác dụng của việc bón
Bào nang
Trang 9lân vô cơ, phân giải cellulose)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Harunor Rashid Khan, Mohiuddin, Rahman (2008)
Enumeration, isolation and identification of
nitrogen-fixing bacterial strains at seeding stage in rhizosphere of
rice grown in non-calcareous grey flood plain soil of
Bangladesh Journal of the Faculty of Environmental
Science and Technology, Vol 13: 97-101.
2 Ridvan Kizilkaya (2009) Nitrogen fixation
capacity of azotobacter spp strains isolated from soils
in different ecosystems and relationship between them
and the microbiological properties of soils J environ
Biol, 30 (1): 73-82
3 Glickman E, Dessaux Y (1995) A critical
examination of the specificity of the Salkowski reagent for indolic compounds produced by phytopathogenic bacteria Appl Environ Microbiol 61: 793-795
4 Pikovskaya, R.I (1948) Mobilization of phosphorus in soil in connection with vital activities by some microbial species Microbiologia, 17, 362-367
5 Bergey's Manual of Systematic Bacteriology
Azotobacter sp are soil bacterium, Gram-negative, motile, aerobic respiration They have capability of nitrogen
fixing and synthesis of Indole acetic acid (IAA) Azotobacter sp are found in the soil and rhizosphere of many plants 20 soil samples collected from rice rhizosphere region, we isolated Azotobacter strains Among strains
of Azotobacter tested, two strains AZT1 and AZT7 that had the highest ability of N-fixing and synthesis of
IAA After 72 hours of incubation at 30oC, on Ashby medium with 2% glucose, pH 7, AZT1 and AZT7 strains have capable of N-fixing at the level of 3.36 mg/l and 3.32 mg/l, and synthesis of IAA at 10.11 µg/ml and 12.87 µg/ml, respectively Moreover, AZT1 and AZT7 strains have enzyme activity phosphatase, cellulase
Keywords: Azotobacter sp., bacteria, IAA, isolation, nitrogen fixing
Người phản biện : PGS.TS Vũ Quang Nam
Ngày nhận bài : 28/8/2015
Ngày phản biện : 15/9/2015
Ngày quyết định đăng : 20/9/2015
Trang 10NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI LÁ, QUẢ, HẠT
VÀ SỰ NẢY MẦM CỦA HẠT ĐINH ĐŨA (STERROSPERMUM COLAIS)
Hoàng Vũ Thơ
TS.Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá, quả, hạt và sự nảy mầm của hạt Đinh đũa cho thấy, dạng kép lông chim một
lần lẻ, dài 50 - 60 cm, 13 - 15 lá chét, phiến lá chét hình bầu dục thuôn, dài 15,1 cm, rộng 6,5 cm, không có
lông và không có lá kèm, mép lá nguyên hoặc hơi gợn sóng Cây thường rụng lá vào cuối Xuân, đầu Hè Vỏ
thân cây màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt Hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, hình loa kèm, màu trắng, đường kính
7,9 cm, 4 nhị đính trên ống tràng, thụ phấn nhờ côn trùng Cây ra hoa theo đợt rải rác từ tháng 5 đến tháng 11
Quả nang dài 86,9 cm, chín tự nứt vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 của năm sau, chu kỳ sai quả thường là 3 năm
Hạt nhỏ có cánh dài 3,0 cm, rộng 0,9 cm, không còn cánh dài 0,7 cm, rộng 0,5 cm, khối lượng 1000 hạt đạt
62,5 gram, thu hái xong nên gieo ươm ngay, để lâu có thể giảm sức nảy mầm Tỷ lệ nảy mầm của hạt tươi mới
đạt 56,8%; 56,2% và 55,7% tương ứng với công thức NT; NN và HM Hạt qua cất trữ một năm trong điều kiện
phòng chỉ nảy mầm khi xử lý GA3, 20 ppm, tỷ lệ chỉ đạt 3,4% Thế nảy mầm của hạt tươi mới đạt 38,6%;
37,1% và 35,9% tương ứng với các nghiệm thức NT; NN và HM, của hạt cất trữ 1 năm là 2,5% (HM) Chỉ số
nảy mầm của hạt đạt 2192; 2085 và 2000 tương ứng với NT; NN và HM Thành công của nghiên cứu này góp
phần cung cấp thông tin, cơ sở cho nhân giống Đinh đũa bằng hạt, tạo cây con cho trồng rừng tập trung hay
trồng cây phân tán trong các khuôn viên cơ quan, công sở
Từ khóa: Đặc điểm hình thái lá, nảy mầm của hạt, nhân giống Đinh đũa, quả và hạt
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đinh đũa (Stereospermum colais) hay Quao
xanh, một loài cây bản địa có phổ sinh thái
rộng, giá trị nhiều mặt, ngoài cung cấp gỗ lớn
có giá trị kinh tế, các bộ phận khác của cây có
thể dùng làm nguyên liệu dược liệu chữa bệnh
hữu hiệu trong các bài thuốc y học cổ truyền
và hiện đại
Tuy nhiên, cho tới nay hiểu biết về loài cây
này chưa nhiều, nhất là những nghiên cứu về
đặc điểm hình thái lá, hoa, quả, hạt và kỹ thuật
nhân giống, gây khó khăn cho gây trồng tập
trung hay trồng phân tán trong các khuôn viên
cơ quan, công sở
Do đó, nghiên cứu đặc điểm hình thái lá,
hoa, quả, hạt và nảy mầm của hạt Đinh đũa
nhằm xác định sức sống và tỷ lệ nảy mầm của
hạt, góp phần cung cấp cây con cho khảo
nghiệm giống, gây trồng và phát triển là hết
và hạt đã cất trữ một năm trong phòng thí nghiệm, nguồn hạt thu từ những cây trội đã được đánh giá, chọn lọc
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Đo, đếm xác định kích thước về chiều dài
lá, chiều rộng lá, số lượng lá chét và kích thước lá chét được thực hiện theo phương pháp thông thường, thực hiện riêng và tính theo từng công thức Đo, đến số lượng và kích thước nụ hoa, kích thước các bộ phận của hoa bằng thước kẹp panme
Quan sát mô tả hình thái, đo kích thước quả, hạt bằng thước kẹp panme; xác định khối
Trang 11lượng 1000 hạt bằng cân điện tử có độ chính
xác 10-4 gram cho từng mẫu riêng biệt, thí
nghiệm lặp lại 3 lần
Xử lý hạt trước khi gieo theo 3 phương
pháp khác nhau: Ngâm hạt trong nước lã thông
thường ở nhiệt độ phòng (20 - 30oC), (kí hiệu
là NT); Ngâm hạt trong nước ở nhiệt độ 40 -
45oC, (kí hiệu là NN) và Ngân hạt trong
hormone (GA3, nồng độ 10 ppm, kí hiệu là
HM), sau đó hạt được rửa sạch dưới vòi nước
chảy Thời gian xử lý cho cả 3 phương pháp là
6 giờ Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học thường dùng trong lâm nghiệp trên phần mềm ứng dụng Excel 5.0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả và hạt của loài Đinh đũa
Lá của loài Đinh đũa dạng kép lông chim một lần lẻ, kích thước khá lớn, số lượng lá chét
từ 13 đến 17 hoặc hơn Kết quả đo đếm các chỉ tiêu về kích thước lá, số lượng lá chét được tổng hợp trong bảng 1
Bảng 1 Hình thái và kích thước lá của loài Đinh đũa
Số liệu bảng 1 cho thấy, lá của Đinh đũa dạng
kép lông chim một lần lẻ, cuống lá dài 8 cm,
chiều dài và rộng là 55,0 và 29,0 cm tương
ứng Trên mỗi lá kép mang từ 13 đến 17 lá
chét, không cuống, chiều dài và chiều rộng là
15,1 và 6,5 cm tương ứng, lớn hơn lá chét của
cây Lát hoa (12 và 5 cm tương ứng) Các lá
chét mọc đối nhau từng cặp, lá cuối to, dài, đầu
lá nhọn, mép lá nguyên hoặc hơi gợn sóng
Tuy nhiên, quan sát thực tế cho thấy có sự
khác nhau về màu sắc lá của loài cây này trong
khu vực nghiên cứu Theo đó, ngoài sự xuất
hiện những cá thể có lá màu vàng xanh, số
lượng lớn, còn phát hiện thấy nhiều cá thể khác
có lá màu xanh thẫm Song nhìn chung số cá
thể có lá màu vàng xanh chiếm ưu thế hơn
Tìm hiểu sâu hơn sự khác nhau về màu sắc
lá có thể là cần thiết, chẳng hạn nghiên cứu về
biến dị màu sắc lá, hay xác định nguồn giống
ban đầu đem trồng (tại rừng thực nghiệm núi
Luốt) được lấy ở một hay nhiều địa điểm,
hoặc có thể từ các xuất xứ khác nhau của cùng
một loài
Kiểu hình lá, hoa, quả thường có hệ số di truyền cao, hay nói cách khác, đặc tính này của con cái được thừa hưởng nhiều hơn những đặc tính khác từ bố mẹ của chúng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, Đinh đũa là loài rụng lá theo mùa, song lại khác với một số cây thường rụng lá vào mùa Đông, chẳng hạn như Bàng hay Gạo v.v Đinh đũa thường rụng lá vào cuối mùa Xuân đến đầu mùa Hè, cuối tháng 4 đầu tháng 5 hàng năm
Tập tính rụng lá cuối Xuân đầu Hè là một đặc điểm khác lạ, gây chú ý cho nhiều nhà nghiên cứu Chẳng hạn, lựa chọn làm đối tượng cây trồng tại nơi thường xuyên có gió bão vào mùa hè, có thể giảm thiểu thiệt hại do
đổ ngã bởi gió to, bão lớn
Mặt khác, kết quả theo dõi nhiều năm cho thấy, ngay sau thời điểm rụng lá cũng là thời điểm phát tán hạt của chúng Thông thường phải chờ ít nhất 2 tháng sau rụng lá, tán cây với nhiều chồi non mới bật ra và bung lá
Song bù lại những chồi lá non mới xuất hiện
có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, không tới 3
Trang 12tuần lễ, toàn thân cây đã thay bằng một bộ tán
lá mới xanh mướt, cảm giác mát rượi
Trong chọn giống cây rừng, tìm hiểu đặc
điểm vật hậu của một loài cây nào đó là việc
làm bắt buộc Trong nghiên cứu này, đặc điểm
hình thái hoa và kích thước các bộ phận của
chúng được điều tra, đo đếm từ các mẫu thu thập tại hiện trường
Kết quả đo đến kích thước và mô tả đặc hiểm hoa của Đinh đũa được tổng hợp trong bảng 2
Bảng 2 Đặc điểm hình thái và kích thước các bộ phận của hoa loài Đinh đũa
nhánh mang 3 nụ hoa,
nụ giữa lớn hơn 2 nụ bên, tràng hoa dạng ống hình loa, màu trắng
Nhụy hoa Dài vòi nhụy (cm) 4,9 1,3 Nhụy nhô cao hơn nhị
Số liệu bảng 2 và hình 1 cho thấy, Đinh
đũa là loài có hoa lưỡng tính với đầy đủ các
bộ phận của một bông hoa Thời điểm hoa nở
rộ, mỗi bông hoa như chiếc loa đại, màu
trắng sáng, với những chỉ nhị có bao phấn
màu vàng đính xung quanh gốc ống tràng hình loa kèn Đinh đũa là loài cây cho hoa đẹp, có giá trị cho trồng cây cảnh đường phố, khuôn viên cơ quan, công sở, tạo dáng đẹp, rợp mát và ưa nhìn
Hình 1 Nụ hoa và quả non (trái), hoa nở rộ (phải) của loài Đinh đũa
Hoa Đinh đũa dạng chùm, tập trung đầu
cành, mỗi nhánh có 3 nụ hoa, song thường chỉ
có nụ to nhất nhô cao ở giữa có độ hữu thụ cao
hơn Đường kính hoa với ống tràng xòe rộng,
kích thước đạt tới 7 cm hoặc hơn làm cho bông
hoa nổi bật giữa tán lá xanh của cây
Tuy nhiên, chỉ nhị 4, gốc hợp, dài 4,0 cm,
ngắn hơn chiều dài của vòi nhụy (4,9 cm) Mặt
khác, kết quả theo dõi nhiều năm liên tục cho
thấy, chu kỳ sai quả của Đinh đũa thường là 3
năm, điều này rất có ý nghĩa cho việc thu hái hạt để phục vụ nhân giống
Như vậy, cấu trúc hoa với vòi nhụy nhô lên cao hơn mặt phẳng hoa, có thể giúp cho hoa dễ dàng nhận được hạt phấn từ những cây xung quanh hơn là nhận hạt phấn của chính bông hoa đó Nói cách khác, đặc điểm hình thái, cấu trúc hoa của loài Đinh đũa tạo thuận lợi cho gia tăng thụ phấn chéo hơn là tự thụ phấn Một đặc tính đặc biệt quan trọng giúp tăng sức
Trang 13sống, tính chống chịu và sinh trưởng tốt hơn ở
các thế hệ tiếp theo
Quả nang, hình dáng như quả Đậu đũa
thường dùng trong các bữa ăn gia đình, chính
đặc điểm này nên cây có tên gọi là Đinh đũa
Mặc khác, do có phân bố rộng, cùng với tán lá
có màu xanh nên còn gọi là Quao xanh hay
Quao núi
Trong nghiên cứu này, kết quả điều tra, thu
thập mẫu và đo đếm kích thước quả, hạt của
Đinh đũa được tổng hợp trong bảng 3
Số liệu bảng 3 và hình 2 cho thấy, quả Đinh đũa thường thẳng đến hay hơi xoắn vặn, kích thước chiều dài quả đạt 86,9 cm hoặc hơn, chiều rộng (bề dày) là 1,4 cm Khi chín quả buông thõng với kích thước dài, tạo cảm giác
ưa nhìn, khá thú vị Cắt ngang quả chín cho thấy, một trục hóa gỗ cứng chắc nằm chính giữa quả, đặc điểm này giúp cho quả có khả năng chịu đựng được sức nặng khi mang quả
và hạt của chúng trong suốt thời gian dài Khi chín quả tự nứt dọc theo chiều dài giúp gia tăng khả năng phát hạt cùng một lúc hiệu quả hơn
Bảng 3 Kích thước quả, hạt và khối lượng 1000 hạt của loài Đinh đũa
Ảnh quả Đinh đũa khô (hình 2) cũng cho
thấy, dọc hai bên trục gỗ chính giữa quả là 2
dãy hạt xếp lớp chồng lên nhau theo kiểu mái
lợp Đặc điểm này giúp cho số lượng hạt chứa
đựng bên trong mỗi quả đạt trị số cao hơn, có
thể lên tới vài chục hạt hoặc hơn trên mỗi quả
Hạt của Đinh đũa gần giống hạt Lát hoa, chiều
dài và chiều rộng hạt khi còn cánh đạt 3,0 và
0,9 cm tương ứng, trong khi dạng không còn cánh chỉ tiêu trên chỉ đạt 0,7 và 0,5 cm Tuy nhiên, hạt khá mỏng, phần giữa hơi gồ cao hơn xung quanh, tất cả hạt được xếp chồng lớp một cách khéo léo dọc hai bên trục giữa hóa gỗ cứng chắc của quả nang dài trên nửa mét có thể là hơi xoắn vặn
Hình 2 Hình thái quả (trên) và hạt (dưới) của loài Đinh đũa
Trang 14Như vậy, rõ ràng với dạng hạt mỏng, có
Bảng 4 Sinh trưởng và hình thái vỏ của loài Đinh đũa
Cây có vỏ màu vàng nhạt, vết nứt vở ít hoặc không rõ; cây có
vỏ màu nâu nhạt, vết nứt dọc nhiều và rõ
7 Chiều dài trung bình vết nứt vỏ 6,8 37,2
Nhưng mọi sự lo lắng của con người về vấn
đề nêu trên có thể không cần thiết Vì như đã
mô tả ở phần trên, thời điểm quả chín và phát
tán hạt giống lại trùng vào thời điểm rụng lá
của cây, khi đó cây thưa thoáng chỉ có thân,
cành, rõ ràng thực vật cũng “khôn ngoan”, tự
biết rụng lá để hạt phát tán đi xa hơn thay vì
phải vận chuyển tương tự
Kết quả xác định một số chỉ tiêu về hạt cho
thấy, khối lượng 1000 hạt đạt 62,5 gram, tương
đương 16.000 hạt/kg hạt, song tương đối ổn
định với hệ số biến động nhỏ (4,4%), trong khi
các chỉ tiêu về kích thước có hệ số biến động
cao hơn (15,1 - 21,7%)
Như vậy, từ những kết quả và phân tích
trên, có thể cho phép nghĩ rằng, đặc điểm hình
thái, cấu trúc hoa, kích thước, khối lượng hạt
và sự sắp xếp hạt trong mỗi quả của loài Đinh
đũa không ngoài mục đích giúp cho chúng có
khả năng thích nghi cao với môi trường sống, đặc biệt là thụ phấn chéo và phát tán hạt đi xa Thông thường mỗi loài cây có đặc điểm hình thái, màu sắc vỏ khác nhau Những đặc điểm này thường được các nhà phân loại thực vật sử dụng làm căn cứ cho phép nhận diện ra chúng, nhất là trong các khu rừng tự nhiên Trong nghiên cứu này, đặc điểm hình thái vỏ được điều tra, mô tả và tổng hợp trong bảng 4
và hình 3
Số liệu bảng 4 và hình 3 cho thấy, Đinh đũa
là loài có thân vỏ màu vàng nhạt đến nâu nhạt, với nhiều vết nứt vỏ khá đặc trưng Đặc điểm này giúp cho việc phân biệt và nhận diện chúng trong các khu rừng một cách khá dễ dàng, thuận tiện Chính do vỏ thân cây có màu vàng nhạt nên loài cây này còn có tên tiếng Anh “Yellow snake tree” hay tạm dịch là “cây con rắn vàng”
Hình 3 Hình thái vỏ (trái) và dạng vết nứt (phải) của Đinh đũa tại khu vực núi Luốt
Trang 15Mặt khác, số liệu bảng 4 cũng cho thấy, tốc
độ sinh trưởng đường kính, chiều cao của Đinh
đũa là khá đến trung bình Kết quả điều tra
cũng cho thấy, những cá thể có vỏ thân màu
nâu nhạt (có số vết nứt vỏ trung bình là 18,2
trên mỗi dm2, chiều dài vết nứt trung bình
khoảng 6,8 cm/vết nứt), thường có trị số đường
kính và chiều cao lớn hơn so với cá thể cùng
loài có vỏ màu vàng nhạt và nứt vỏ nông hơn
Tóm lại, từ những kết quả bước đầu đạt
được ở các phần trên có thể cho phép nhận xét
sơ bộ rằng, Đinh đũa là loài cây bản địa, lá kép
lông chim một lần lẻ, với 13 - 15 lá chét, các lá
chét mép lá nguyên hoặc hơi gợn sóng, cây
rụng theo mùa, thời gian rụng lá thường là cuối
Xuân, đầu Hè Đinh đũa có hoa lưỡng tính,
cánh tràng màu trắng, hình loa kèm, 4 chỉ nhị,
gốc hợp, đính xung quanh ống tràng, vòi nhụy
nhô cao trên mặt phẳng bông hoa
Quả nang, hơi dài, tự nứt, bên trong chứa nhiều hạt mỏng, có cánh, xếp lợp hai bên trục hóa gỗ dọc theo chiều dài quả Khối lượng
1000 hạt đạt 62,5 gram, kích thước chiều dài
dm2 vỏ, chiều dài vết nứt trung bình là 6,8 cm
3.2 Khả năng nảy mầm của hạt ở loài Đinh đũa
Tỷ lệ nảy mầm là chỉ tiêu phản ánh sức sống của hạt, thông thường hạt có sức sống cao thì có tỷ lệ nảy mầm cao và ngược lại Kết quả xác định tỷ lệ nảy mầm của hạt Đinh đũa với các phương pháp xử lý khác nhau được tổng hợp trong bảng 5
Bảng 5 Tỷ lệ nảy mầm của hạt theo các phương pháp xử lý khác nhau
Số liệu bảng 5 và trị số trên cột biểu đồ hình 4
cho thấy, hạt của loài Đinh đũa có tỷ lệ nảy mầm
trung bình và tương đối đồng đều giữa các
phương pháp xử lý, đạt trị số từ 55,7 - 56,8%
Trong đó, xử lý hạt bằng nước thường (NT)
có tỷ lệ nảy mầm đạt 56,8%, trội hơi đôi chút
so với các công thức còn lại trong cùng thí nghiệm Như vậy, với hạt Đinh đũa có thể xử
lý hạt bằng ngâm nước lã thông thường, sau đem gieo vừa đơn giản, thuận tiện
3,4
0 10 20 30 40 50 60
NT NN HM Nghiệm thức
Tỷ lệ (%)
Hạt tươi mới Hạt cất trữ 1 năm
Hình 4 Tỷ lệ nảy mầm của hạt theo nguồn hạt và cách xử lý khác nhau
Trang 16Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự
khác biệt giữa hạt tươi mới (vừa thu hái xong
đem gieo ươm ngay) và hạt đã qua cất trữ 1
năm trong điều kiện phòng Chẳng hạn, hạt
tươi mới ở nghiệm thức NT có tỷ lệ nảy mầm đạt 56,8% trong khi hạt cất trữ 1 năm lại không thấy có sự nảy mầm xuất hiện
Bảng 6 Diễn biến nảy mầm của hạt theo thời gian và cách xử lý hạt
Tuy nhiên, cũng hạt cất trữ 1 năm nêu trên,
xử lý bằng GA3 nồng độ 10 ppm như trong
nghiệm thức HM, lại thu được một tỷ lệ nảy
mầm thấp 3,4% Như vậy, đối với hạt Đinh đũa
khi thu hái xong cần đem gieo ngay, để lâu sẽ
giảm sức nảy mầm của hạt Điều này rất có ý
nghĩa thực tiễn đối với nhân giống bằng hạt
cho loài Đinh đũa
Kết quả kiểm tra thống kê cho thấy, phương
pháp xử lý khác nhau không ảnh hưởng rõ rệt
đến tỷ lệ nảy mầm Tuy nhiên, hạt giống đã qua cất trữ 1 năm, xử lý bằng GA3 nồng độ 10 ppm (HM) có tỷ lệ nảy mầm 3,4%, trong khi
xử lý hạt trên bằng các phương pháp (NT) và (NN) lại không thu được kết quả
Chứng tỏ, đối với hạt Đinh đũa mới thu hái, trước khi gieo có thể xử lý bằng nước lã thông thường ở nhiệt độ phòng 20 - 30oC, nhưng hạt
đã qua cất trữ lâu ngày, có thể xử lý bằng GA3 nồng độ 10 ppm
0,0 10,0 20,0 30,0 40,0 50,0 60,0 70,0 80,0
Hình 5 Diễn biến nảy mầm của hạt theo thời gian với các cách xử lý
Trang 17Số liệu bảng 6 và biểu đồ hình 5 về diễn
biến nảy mầm của hạt Đinh đũa cũng cho thấy,
phương pháp xử lý hạt bằng GA3 có số lượng
hạt nảy mầm đạt trị số cao sau 3 ngày đo đếm,
sớm hơn các nghiệm thức NT và NN 1 ngày
trong cùng điều kiện thí nghiệm
Chứng tỏ, sử dụng GA3 có thể đã xúc tiến
hạt nảy mầm nhanh hơn so với chỉ ngâm hạt
trong nước lã thông thường hay cả khi ngâm
hạt trong nước nóng Tuy nhiên, số lượng hạt
nảy mầm lại đạt trị số cao nhất 74,7 với nghiệm thức NN, giảm dần xuống 69,3 ở nghiệm thức NT và thấp nhất 65,0 là nghiệm thức HM
Thế nảy mầm là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh tốc độ nảy mầm nhanh hay chậm của
lô hạt giống Trong nghiên cứu này, thế nảy mầm của hạt theo các phương pháp xử lý khác nhau được tổng hợp trong bảng 7
Bảng 7 Thế nảy mầm của hạt theo nguồn hạt và cách xử lý khác nhau
Số liệu bảng 7 và hình 6 cho thấy, thế nảy
mầm của hạt Đinh đũa không có sự khác biệt
lớn giữa các phương pháp xử lý hạt, và đạt trị
số trung bình từ 35,9 - 38,6%
Mặc dù không có con số cụ thể về tỷ lệ nảy
mầm, song theo các kết quả nghiên cứu từ các
tài liệu đã công bố (Phạm Hoàng Hộ, 2000;
R.Vijaya Bharathi, B Kumudha Veni,
Jayashree, L Suseela and M Thirumal, 2010;
R Vijaya Bharathi, B Kumudha Veni, Jayashree, L Suseela and M Thirumal, 2010),
tỷ lệ nảy mầm của S colais là rất thấp
Nếu đúng như vậy thì ở Việt Nam, tỷ lệ nảy mầm trung bình của hạt Đinh đũa có nhiều khả quan hơn, tạo thuận lợi cung cấp cây con cho các nghiên cứu về chọn giống
hình 6 cũng cho thấy, hạt có thế nảy mầm cao,
thì cũng cho tỷ lệ nảy mầm cao tương ứng
Tuy nhiên, từ nghiên cứu thực tế cho thấy,
trong cùng thí nghiêm, hạt được xử lý bằng GA3 cho chiều dài rễ lớn hơn so với các công thức thí nghiệm khác trong cùng điều kiện môi trường (hình 7)
Trang 18Hình 7 Nảy mầm của hạt Đinh đũa theo các phương pháp xử lý khác nhau
Chất lượng gieo ươm của hạt giống là hết
sức quan trọng, có tính chất quyết định đến
chất lượng cây con, cùng với chất lượng di
truyền giúp nâng cao chất lượng rừng trồng
Trong nghiên cứu này, chất lượng gieo ươm
của hạt được phản ánh qua tiêu chí tổng hợp,
đó là: chỉ số nảy mầm của hạt (tích số giữa thế nảy mầm trung bình và tỷ lệ nảy mầm trung bình), nghĩa là hạt có chỉ số nảy mầm cao cũng phản ánh chất lượng hạt giống cao và ngược lại, kết quả của nghiên cứu này được tổng hợp trong bảng 8
Bảng 8 Chỉ số nảy mầm của nguồn hạt theo nghiệm thức khác nhau
Nguồn hạt Thế nảy mầm (%) Tỷ lệ nảy mầm (%) Chỉ số nảy mầm
Hạt tươi, mới 38,6 37,1 35,9 56,8 56,2 55,7 2192 2085 2000 2092,3
Số liệu bảng 8 cho thấy, hạt tươi mới chỉ số
nảy mầm trung binh 2092,3, vượt chỉ số nảy
mầm của hạt đã qua cất trữ một năm tới 738,5
lần Ngoài ra, xử lý hạt bằng nước thường cũng
cho chỉ số nảy mầm cao nhất 2192 Để tìm
hiểu ảnh hưởng của các phương pháp xử lý hạt tới sinh trưởng của cây con giai đoạn vườn ươm, tác giả đã đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao, kết quả tổng hợp trong bảng 9
Bảng 9 Sinh trưởng cây con 4 tháng tuổi theo các phương pháp xử lý hạt khác nhau
Trang 19Số liệu bảng 9 và biểu đồ hình 8 cho thấy, ở
giai đoạn 4 tháng tuổi, cây con ở nghiệm thức
NT có chỉ số nảy mầm cao thì cũng thu được
trị số cao về đường kính gốc 4,1 mm và chiều
cao 39,5 lớn hơn so với các nghiệm thức khác
trong cùng chỉ tiêu so sánh
Như vậy, một lần nữa chứng tỏ, hạt Đinh
đũa nên gieo ươm ngay khi thu hái, và xử lý
hạt trước khi gieo ươm bằng nước thường, vừa
đơn giản, rẻ tiền và đạt hiệu quả
Ngoài ra, trong nghiên cứu này thử nghiệm gieo ươm trên nền cát và trực tiếp vào bầu đất cũng đã được tiến hành, kết quả sơ bộ cho thấy, hạt gieo trên nền cát sau đó cấy vào bầu đất cho tỷ lệ cây sống cao và chất lượng tốt hơn Điều này rất có ý nghĩa trong gieo ươm nhằm nâng cao tỷ lệ cây xuất vườn và đảm bảo chất lượng cây con cho trồng rừng
39,5
0,0 5,0 10,0 15,0 20,0 25,0 30,0 35,0 40,0 45,0
Hinh 8 Sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao theo cách xử lý hạt khác nhau
IV KẾT LUẬN
Từ tất cả các kết quả nghiên cứu đạt được ở
trên, nghiên cứu đi đến kết luận sau:
1) Đinh đũa là loài cây có lá kép lông chim
một lần lẻ, dài 50 - 60 cm, với 13 - 15 lá chét,
phiến lá chét hình bầu dục thuôn, dài 15,1 cm,
rộng 6,5 cm, nhọn thành đuôi ở đầu, không có
lông và không có lá kèm, mép lá nguyên hoặc
hơi gợn sóng Cây thường rụng lá theo mùa
vào cuối Xuân, đầu Hè Vỏ thân cây màu vàng
nhạt hoặc nâu nhạt, khoảng 18,2 vết nức dọc
trên mỗi dm2 vỏ thân, chiều dài vết nứt của vỏ
trung bình 6,8 cm
2) Hoa lưỡng tính, mọc thành cụm dạng
chùy, đường kính hoa 7,9 cm, nhị 4 đính trên
cành tràng hình loa kèm màu trắng, dài 4,0 cm,
vòi nhụy dài 4,9 cm, thụ phấn nhờ côn trùng
Cây ra hoa theo đợt, rải rác từ tháng 5 đến
tháng 11 Quả nang, dài trung bình 86,9 cm, đường kính 0,9 - 2,0 cm, hóa gỗ nhiều hay ít, quả chín tự nứt vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 của năm sau, chu kỳ sai quả thường là 3 năm 3) Hạt nhỏ có cánh, vỏ và cánh đều mỏng (gần giống hạt Lát hoa), hạt còn cánh dài trung bình 3,0 cm, rộng trung bình 0,9 cm, hạt không còn cánh dài trung bình 0,7 cm, rộng trung bình 0,5 cm, khối lượng 1000 hạt đạt 62,5 gram, thu hái xong nên gieo ươm ngay, để lâu có thể giảm sức nảy mầm;
4) Tỷ lệ nảy mầm của hạt Đinh đũa mới thu hái đạt 56,8; 56,2 và 55,7% với công thức NT;
NN và HM tương ứng Hạt qua cất trữ một năm trong điều kiện phòng chỉ nảy mầm khi xử
lý bằng GA3 nồng độ 20 ppm, tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt 3,4% Thế nảy mầm của hạt tươi mới đạt trị số lần lượt là 38,6; 37,1 và 35,9% với
Trang 20NT; NN và HM tương ứng, trong khi hạt cất
trữ một năm chỉ thu được trị số thấp (2,5%) với
HM Chỉ số nảy mầm của hạt đạt trị số 2192;
2085 và 2000 với NT; NN và HM tương ứng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đại học Lâm nghiệp (Trung tâm Nghiên cứu thực
nghiệm và Phát triển rừng), (1996) Rừng nghiên cứu
thực nghiệm và sưu tập nguồn gen cây rừng nhiệt đới
Thuyết minh Thiết kế dự toán trồng rừng tại núi Luốt,
Chương Mỹ, Xuân Mai, Hà Tây
2 Phạm Hoàng Hộ (2000) Cây cỏ Việt Nam, Tập II
& Tập III Nxb TP Hồ Chí Minh
3 Hoàng Vũ Thơ (2014) Ảnh hưởng của một số
nhân tố đến khả năng tái sinh của Đinh đũa dưới tán
rừng trồng Tạp chí Khoa học công nghệ lâm nghiệp
(Trường ĐH Lâm nghiệp, 3/2014), tr 36- 42
4 R Vijaya Bharathi, B Kumudha Veni, Jayashree,
L Suseela and M Thirumal (2010) Antioxidant and wound healing studies on different extracts of
Stereospermum colais leaf, Int.J.Res Pharm Sci.Vol-1,
Issue- 4, pp 435- 439 Tamil Nadu, India
www.ijrps.pharmascope.org
5 R Vijaya Bharathi, B Kumudha Veni, Jayashree,
L Suseela and M Thirumal (2010) Antioxidant and wound healing studies on different extracts of
Stereospermum colais leaf, Int.J.Res Pharm.Sci.Vol-1, Issue-4, pp 435-439 Tamil Nadu, India
Studying on morphological characteristics of leaves, fruits and seeds as well as germination of Yellow snake tree show that, it has compound lesf of single feather pattern, 50-60cm in length, consisting 13-15 leaflets long oval-bladed, 6-15.1cm long, 3-6.5 wide, no fur, no stipule It is bisexual tree The flower has 4 staments, attached on the white trumpet-like corolla The flower are in cluster and insect-pollination; flowering time scratters from May to Norvember Capsule fruit is 86.9cm long or more, 0.9cm wide, more or less woody, cracked in late April early May of the next year The seed is small, thin skin, thin-membraned wing, 3.0cm long and 0.9cm wide including the wing; 0.7cm long and 0.5 wide including no wing; 1,000-grain weight seeds 62.5grm, harvested seeds should be sown soon, so long times reduced capacity germination The rate of germination of fresh seed reached 56.8; 56.2 and 55.7% with NT; NN and HM formulas respectively Meanwhile grain storage through one year in room conditions to germinate only when treated with GA3, 20ppm, the rate was only 3.4% The fresh germination 38.6; 37.1 and 35.9% respectively for the treatments NT; NN and HM, and grain storage 1 year is 2.5% (HM) The germination index reached in 2192; 2085 and
2000 with NT; NN and HM respectively The success of this research contribute to providing information, the basis for propagation and seedlings for reforestation or Scattered tree planting in the offices
Key words: Characteristics of leaves, fruits and seeds, propagation of Yellow snake tree, seed of germination
Người phản biện : GS.TS Ngô Quang Đê
Ngày nhận bài : 30/10/2015
Ngày phản biện : 17/11/2015
Ngày quyết định đăng : 28/11/2015
Trang 21ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
Mai Hải Châu
ThS Cơ sở 2, Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định giống và khoảng cách trồng phù hợp sản xuất Chùm ngây làm rau theo hướng hữu cơ tại tỉnh Đồng Nai Thí nghiệm hai yếu tố được bố trí theo kiểu lô phụ, 3 lần lặp lại, trên nền phân bò hoai mục với lượng 30 tấn/ha Yếu tố lô chính (A) là 3 mật độ trồng (A1: 100 cây/m2; A2: 133 cây/m2 và A3: 200 cây/m2) và yếu tố lô phụ (B) là 5 giống (B1: giống Chiatai nhập từ Thái Lan; B2: giống thu thập từ Bình Thuận; B3: giống thu thập từ Ninh Thuận; B4: giống thu thập từ Đồng Nai; B5: giống thu thập từ Bà Rịa – Vũng Tàu) Kết quả nghiên cứu cho thấy giống Chùm ngây Ninh Thuận có hàm lượng dinh dưỡng và flavonoid đạt cao nhất; sinh trưởng tốt trong điều kiện sinh thái ở Đồng Nai; năng suất sinh khối đạt 171,7 và 198,7 tấn/ha; năng suất lá thực thu 36,6 và 36,9 tấn/ha tương ứng với hai điểm nghiên cứu Cẩm Mỹ và Trảng Bom Mật độ gieo trồng thích hợp nhất trồng Chùm ngây làm rau là 100 cây/m2 Tổ hợp giống Chùm ngây Ninh Thuận và mật độ 100 cây/m2 cho năng suất lá thực thu đạt 30,53 tấn/ha, hiệu quả kinh tế cao nhất đạt 418 triệu đồng/ha
Từ khóa: Dinh dưỡng, giống Chùm ngây, mật độ, năng suất, flavonoid
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chùm ngây (Moringa oleifera L.) là loài
cây bản địa thuộc chi Moringa và họ
Moringaceae, hiện được hơn 80 quốc gia trên
thế giới sử dụng rộng rãi trong công nghệ dược
phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát, dinh dưỡng và
thực phẩm chức năng Các quốc gia đang phát
triển sử dụng Chùm ngây như dược liệu kỳ
diệu chữa bệnh hiểm nghèo (Fahey, 2005) Lá
Chùm ngây rất giàu dinh dưỡng, hiện được
WHO và FAO xem như là giải pháp ưu việt
cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh
dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới
thứ ba (Fuglie, 1999)
Ở Việt Nam, Chùm ngây là cây bản địa mọc
tự nhiên tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận,
Đồng Nai, Kiên Giang… Do cây Chùm ngây
có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và dược liệu
nên trong những năm vừa qua, phong trào
trồng Chùm ngây với mục đích lấy hạt, sản
xuất bột dinh dưỡng, nguyên liệu sản xuất mì
gói, làm rau xanh đã phát triển ở nhiều tỉnh
thành trong cả nước Tuy nhiên, quy trình
trồng trọt áp dụng để sản xuất Chùm ngây chủ
yếu là dựa vào kinh nghiệm dân gian, mang
tính mày mò tự phát, chưa có giống và kỹ thuật canh tác chuẩn để áp dụng Do đó, việc khai thác giá trị về kinh tế, dinh dưỡng và dược liệu của cây Chùm ngây từ các mô hình canh tác này chưa thật hiệu quả và rộng rãi
Các nghiên cứu về mật độ trồng đã được Foild (1999, 2001), Price (2000), L.H Manh (2005), L.H.Manh (2005), Amaglo (2006), Sanchez (2006) và Goss (2012) thực hiện và chỉ ra rằng mật độ trồng không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây Chùm ngây
mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng nguyên liệu lá Chùm ngây Mật độ trồng thay đổi tuỳ thuộc vào giống, mục tiêu sản xuất, kỹ thuật canh tác, điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai
Nghiên cứu về giống và chọn tạo giống Chùm ngây rất hạn chế, mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu về đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen Duy nhất tại Trường Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu, Periyakulam, miền Nam
Ấn Độ đã thành công trong việc phát triển và chọn ra được hai giống Chùm ngây Periyakulam 1(PKM-1) và Periyakulam2 (PKM-2)
Trang 22Theo quan sát của tác giả, hiện nay ở Việt
Nam xuất hiện hai giống Chùm ngây đọt xanh
và tím, nguồn gốc cũng không rõ ràng Để
đánh giá chắc chắn giống nào có năng suất,
hàm lượng dinh dưỡng, dược liệu cao đòi hỏi
phải có một công trình nghiên cứu một cách
bài bản về vấn đề này
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm
hiểu ảnh hưởng của giống và khoảng cách trồng
đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng lá
Chùm ngây trồng với mật độ dày, làm cơ sở cho việc đề xuất quy trình canh tác cây Chùm ngây làm rau theo hướng hữu cơ tại tỉnh Đồng Nai
II VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
5 giống Chùm ngây gồm 1 giống Chiatai có nguồn gốc từ Thái Lan và 4 giống có nguồn gốc từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu
Bảng 1 Ký hiệu giống và nguồn gốc của 5 giống Chùm ngây
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5 –
12/2013 trên 2 địa điểm: (1) Đất xám phù sa cổ
thuộc Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển
công nghệ, Trường Đại học Lâm nghiệp – Cơ
sở 2, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và (2)
Đất đỏ bazan thuộc Trung tâm Sinh học công
nghệ cao, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Nền thí nghiệm:
Các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc và
thu hoạch tại hai điểm thí nghiệm được thực
hiện theo quy trình như sau:
- Làm đất: Đất thí nghiệm được cày và bừa
bằng máy cày, sử dụng các công cụ làm đất để
làm sạch cỏ dại và thực bì sau đó lên luống,
phủ bạt nilon, đục lỗ trồng
- Trồng: Hạt giống xử lý nảy mầm và được
gieo ở độ sâu 2 cm, gieo 2 hạt/hố Ở 15 ngày
sau mọc mầm (NSMM) chỉ giữ lại 1 cây khoẻ
1 tuần Sử dụng chế phẩm BT, bột lá Xoan chịu hạn để kiểm soát sâu hại
- Thu hoạch: Bắt đầu thu hoạch ở thời điểm cây 60 NSMM, cắt 5 lần/vụ
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm hai yếu tố
được bố trí theo kiểu lô phụ, 3 lần lặp lại, diện tích ô thí nghiệm 12 m2 Yếu tố lô chính (A) là
ba mật độ trồng (A1: 100 cây/m2; A2: 133 cây/m2 và A3: 200 cây/m2; tương ứng với các khoảng cách trồng lần lượt là 5 x 20 cm; 5 x 15
cm và 5 x 10 cm) và yếu tố lô phụ (B) là 5 giống (B1: giống Chiatai nhập từ Thái Lan; B2: giống thu thập từ Bình Thuận; B3: giống thu thập từ Ninh Thuận; B4: giống thu thập từ Đồng Nai; B5: giống thu thập từ Bà Rịa – Vũng Tàu)
* Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
- Theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng theo phương pháp của Toledo và Schultze-Kraft năm 1982
Trang 23- Chỉ tiêu năng suất: Các cây trong ô thí
nghiệm được cắt ở độ cao cách mặt đất 30 cm,
các lần sau cắt cao hơn lần cắt trước 20 cm, cắt
5 đợt/vụ
Năng suất được phân thành: (1) Năng suất
sinh khối cá thể; (2) năng suất cuống lá (lá
kép); (3) năng suất lá lý thuyết và (4) năng suất
lá thực thu/12 m2
+ Năng suất sinh khối cá thể (g/cây): Năng
suất sinh khối tươi (thu cách mặt đất 30 cm ở
lần thu thứ 1 và các lần thu tiếp cách vị trí cắt
trước 20 cm) của trung bình trên 5 cây ngẫu
nhiên trên mỗi ô thí nghiệm (g/cây)/3 lần lặp
lại Năng suất sinh khối lý thuyết (tấn/ha) =
năng suất sinh khối cá thể x mật độ lý thuyết
(cây/ha) x hệ số quy đổi đơn vị
+ Năng suất cuống lá lý thuyết (tấn/ha):
Năng suất tươi sau khi loại bỏ phần thân cây,
chỉ để lá kép (gồm cuống lá và lá) của trung bình
5 cây ngẫu nhiên trên mỗi ô thí nghiệm (g/cây) x
mật độ lý thuyết x hệ số qui đổi đơn vị
+ Năng suất lá lý thuyết (tấn/ha/lần thu
hoạch): Năng suất ngọn non và lá tươi của
trung bình 5 cây ngẫu nhiên trên mỗi ô thí
nghiệm (g/cây) x mật độ lý thuyết x hệ số qui
đổi đơn vị
+ Năng suất lá thực thu (kg/12 m2/lần thu
hoạch): Năng suất ngọn và lá tươi thực thu
trung bình 3 ô thí nghiệm của 3 lần lặp lại
- Hiệu quả kinh tế: tổng chi (triệu đồng/ha);
tổng thu (triệu đồng/ha); lợi nhuận (triệu
đồng/ha)
- Phân tích dinh dưỡng và dược liệu theo
phương pháp của Kass và ctv (1993), gồm:
protein, sắt, kali, canxi, vitamin A, vitamin C
và flavonoid tổng số
- Phân tích thành phần cơ giới và các chỉ
tiêu hoá học của đất trước khi bố trí thí nghiệm
tại Trảng Bom và Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
2.4 Phân tích số liệu: Các số liệu được xử lý
bằng phần mềm EXCEL, SPSS và SAS 9.3
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng
và năng suất cây Chùm ngây
a Ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng cây Chùm ngây
- Chiều cao cây: Hạt giống nảy mầm trong khoảng thời gian từ 10 – 14 ngày sau khi gieo Chiều cao cây trung bình ở tất cả các giống tham gia thí nghiệm tại Trảng Bom và Cẩm
Mỹ tăng cùng với thời gian, có sự khác biệt có
ý nghĩa (p<0,05) ở tuần thứ 1 – 8 Ở cả hai địa điểm quan sát cho thấy, chiều cao cây của các giống tăng nhẹ trong giai đoạn cây từ 1 – 6 tuần tuổi, nhưng tăng mạnh ở tuần thứ 7, 8 Điều này có thể giải thích là ở tuần thứ 7, bộ rễ Chùm ngây đã phát triển khá hoàn thiện, có khả năng hấp thụ dinh dưỡng từ đất tốt nên tốc độ sinh trưởng chiều cao diễn ra mạnh Chiều cao cây đạt cao nhất là giống Ninh Thuận, thấp nhất là giống Chiatai Thái Lan ở hai địa điểm nghiên cứu
- Số lá trên cây: Chỉ tiêu số lá/cây đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng suất
lá Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về chỉ tiêu số lá/cây từ lúc gieo đến cây đạt 60 ngày tuổi (tuần thứ 8) Ở Trảng Bom, số lá/cây giữa các giống tham gia thí nghiệm không có sự khác biệt có ý nghĩa (P>0,05) ở tuần tuổi thứ 1, 3, 5, 6, 7 Ngược lại ở Cẩm
Mỹ, số lá/cây giữa các giống tham gia thí nghiệm có sự khác nhau một cách có ý nghĩa (p<0,05) ở các giai đoạn của cây từ lúc gieo đến lúc cây đạt 60 ngày tuổi Ở hai điểm nghiên cứu, số lá trung bình có xu hướng giảm dần từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 5, sau đó tăng dần Ở tuần thứ 8, các giống khác nhau có số lá/cây khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,05), trong đó giống có số lá/cây cao nhất là giống Ninh Thuận đạt 9,02 và 9,22 lá; kế đến là giống Bình Thuận đạt 8,68 và 8,57 lá; giống có
số lá/cây thấp nhất là giống Thái Lan đạt 7,95
và 8,06 lá, tương ứng với hai điểm nghiên cứu Trảng Bom và Cẩm Mỹ (bảng 2) Nghiên cứu
Trang 24này chỉ ra rằng, các giống Chùm ngây đã phản
ứng không giống nhau với điều kiện thời tiết,
khí hậu và đất đai giữa hai điểm nghiên cứu
- Đường kính thân: Số liệu bảng 2 cho thấy,
đường kính cây của các giống tham gia thí
nghiệm khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
và giữa các điểm nghiên cứu Có sự tăng lên về
đường kính cùng với thời gian, trước hết là ở
mật độ thưa, sau đó là mật độ trung bình và cuối cùng là mật độ dày Giống có đường kính thân lớn nhất ở 60 ngày sau khi gieo là giống Ninh Thuận đạt 6,85 cm và 7,04 cm; kế đến là giống Bình Thuận 6,42 cm và 6,57 cm; giống có đường kính thấp nhất là giống Thái Lan 5,74
cm và 5,91 cm, tương ứng với hai điểm nghiên cứu Trảng Bom và Cẩm Mỹ
Bảng 2 Ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng cây Chùm ngây ở 60 NSMM
Giống
Chiều cao (cm)
Số lá (lá/cây)
Đường kính thân (mm)
Chiều cao (cm)
Số lá (lá/cây)
Đường kính thân (mm)
7,95 d 8,68 b 9,02 a 8,24 c 8,40 c
7,74 c 6,42 b 6,85 a 6,18 b 6,21 b
56,53 e 61,24 c 70,62 a 63,34 b 58,66 d
8,06 c 8,57 b 9,22 a 8,57 b 8,44 b
5,91 c 6,57 b 7,04 a 6,38 b 6,39 b CV%
b Ảnh hưởng của giống đến năng suất và
dinh dưỡng cây Chùm ngây
- Năng suất sinh khối cá thể: Số liệu bảng 3
cho thấy, năng suất sinh khối giữa các giống
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở tất cả
các lần cắt và ở cả hai địa điểm nghiên cứu
Năng suất sinh khối cá thể về cơ bản giảm sút
sau mỗi lần thu hoạch, sự giảm năng suất sinh
khối thể hiện rõ ở lần thu hoạch thứ 2 và thứ 5
Tổng năng suất sinh khối cá thể qua 5 lần cắt
giữa các giống ở hai điểm nghiên cứu có sự
khác biệt về mặt thống kê (p<0,05) Trong đó
năng suất sinh khối cá thể cao nhất là giống
Ninh Thuận (120,48 và 138,98 g/cây), kế tiếp
là giống Bình Thuận (111,92 và 125,63 g/cây), Đồng Nai (105,89 và 130,29 g/cây) và cuối cùng là giống Thái Lan (92,16 và 110 g/cây), tương ứng với hai điểm nghiên cứu Trảng Bom
và Cẩm Mỹ Số liệu nghiên cứu cũng cho thấy, năng suất sinh khối cá thể ở Cẩm Mỹ cao hơn Trảng Bom Sở dĩ điều này là vì Chùm ngây được trồng trên nền đất đỏ bazan giàu dinh dưỡng, thêm vào đó lượng mưa ở khu vực này cũng cao hơn khu vực Trảng Bom, do vậy đã làm tăng năng suất sinh khối cá thể
Bảng 3 Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh khối Chùm ngây
Giống
Cá thể (g/cây)
Lý thuyết (tấn/ha)
NSCL (tấn/ha)
Cá thể (g/cây)
Lý thuyết (tấn/ha)
NSCL (tấn/ha)
TL
BT
92,16 e 111,92 b
130,79 e 159,60 b
48,39 d 58,77 b
110,27 d 125,63 b
156,24 d 178,25 bc
53,38 d 60,46 bc
Trang 25NT
ĐN
BR
120,48 a 105,89 c 98,23 d
171,79 a 150,77 c 139,61 d
65,49 a 55,19 bc 51,67 cd
138,98 a 130,29 b 117,46 c
198,73 a 184,86 b 166,76 cd
67,88 a 63,26 b 57,00 cd CV%
- Năng suất sinh khối lý thuyết: Số liệu
bảng 3 cho thấy năng suất lý thuyết của các
giống tham gia thí nghiệm ở các điểm nghiên
cứu khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Có sự giảm sút năng suất sinh khối lý thuyết
của tất cả các giống theo thời gian cùng với số
lần thu hoạch ở cả hai điểm thí nghiệm Giống
có năng suất sinh khối lý thuyết tổng cộng cao
nhất là giống Ninh Thuận (171,79 và 198,73
tấn/ha), kế đến là giống Bình Thuận, Đồng Nai
và cuối cùng là giống Thái Lan (130,79 và
156,24 tấn/ha), tương ứng với hai điểm nghiên
cứu Trảng Bom và Cẩm Mỹ Không giống kết
quả nghiên cứu ở Trảng Bom, tại Cẩm Mỹ,
giống Đồng Nai lại cho năng suất lý thuyết
cao hơn giống Bình Thuận, điều này chỉ có
thể giải thích là do giống Đồng Nai đã thích
nghi cao với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất
đai tại khu vực Cẩm Mỹ nên sinh trưởng, phát
triển tốt hơn
- Năng suất cuống lá (gồm cuống và lá) và năng suất lá (ngọn và lá non) là hai chỉ tiêu quan trọng nhất đối với sản xuất Chùm ngây làm rau ăn lá Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy, năng suất cuống lá và năng suất lá của các giống tham gia thí nghiệm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở các lần thu hoạch Ở lần thu hoạch đầu tiên, tại thời điểm cây đạt 60 NSMM, năng suất lá đạt cao nhất, sau đó giảm dần và giảm mạnh mẽ ở lần thu hoạch thứ 5 Tổng năng suất lá của các giống sau 5 lần thu hoạch khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), trong đó giống có năng suất lá thực thu cao nhất là giống Ninh Thuận (35,17 và 36,93 tấn/ha), kế đến là giống Bình Thuận (33,43 và 34,32 tấn/ha), Đồng Nai (31,66 và 34,12 tấn/ha), thấp nhất là giống Thái Lan (28,29 và 29,92 tấn/ha), tương ứng với hai điểm nghiên cứu Trảng Bom và Cẩm Mỹ
Bảng 4 Ảnh hưởng của giống đến năng suất lá Chùm ngây
Giống
NSLT (tấn/ha)
NSTT (kg/12m 2 )
NSLT (tấn/ha)
NSTT (kg/12m 2 )
28,29 e 33,43 b 35,17 a 31,66 c 29,85 d
32,75 d 37,10 bc 41,64 a 38,81 b 34,95 c
29,92 e 34,31 b 36,93 a 34,12 b 31,60 c CV%
- Hàm lượng dinh dưỡng và dược liệu:
Hàm lượng dinh dưỡng và dược liệu là chỉ
tiêu rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với giá trị của lá Chùm ngây tươi làm rau Kết quả
Trang 26nghiên cứu về chỉ tiêu hàm lượng một số chất
dinh dưỡng và flavonoid tổng số được thể hiện
ở bảng 5
Số liệu trình bày ở bảng 5 cho thấy, giống
Chùm ngây Bà Rịa có hàm lượng canxi chiếm
cao nhất 4946,0 mg/kg, kế đến là giống Bình
Thuận 4848,0 mg/kg và thấp nhất là giống
Ninh Thuận 2839,0 mg/kg Hàm lượng sắt cao nhất cũng ở giống Bà Rịa đạt 29,0 mg/kg, kế đến là giống Thái Lan (25,5 mg/kg), giống Ninh Thuận (24,1 mg/kg) và thấp nhất là giống Đồng Nai (21,6 mg/kg) Hàm lượng kali giữa các giống khác nhau không đáng kể đạt từ 4136,0 – 4848,0 mg/kg
Bảng 5 Hàm lượng dinh dưỡng và flavonoid tổng số của 5 giống Chùm ngây
Chỉ tiêu Đơn vị
Giống Thái Lan Bình
Thuận
Ninh Thuận Đồng Nai Bà Rịa
Hàm lượng protein của các giống thu nhận
trong nghiên cứu này dao động từ 6,7 – 7,5%,
trong đó giống Ninh Thuận có hàm lượng
protein cao nhất 7,6%, thấp nhất là giống Đồng
Nai 6,7% Kết quả thu được cũng tương tự như
một số công trình đã công bố trước đây Phân
tích hàm lượng protein trong lá Chùm ngây
trồng với mật độ dày tại Ghana đạt 8,4%
(Amaglo, 2006), 193 – 264 g/kg khối lượng
khô theo các tác giả khác (Aregheore, 2002; Al
– Masri, 2003; Foidl và ctv, 1999; L.H Manh
và ctv, 2003; Makkar và Becker, 1996,1997)
Hàm lượng protein trong lá Chùm ngây làm
cho chúng trở thành nguồn protein thô cao nhất
khi so sánh với các cây trồng khác như rau dền
(3,6%), cà pháo (4,6%) (Amaglo, 2006)
Hàm lượng vitamin A và C khác nhau
giữa các giống, trong đó giống Ninh Thuận
có hàm lượng vitamin A, C đạt cao nhất
tương ứng 7197,1 IU/kg và 1479,2 mg/kg
Kết quả này cao hơn nhiều so với báo cáo
của Fuglie (1999)
Hàm lượng flavonoid giữa các giống đạt từ
4,1 – 10,5%, trong đó giống có hàm lượng
flavonoid cao nhất là giống Ninh Thuận (10,5%), kế đến là Bà Rịa (10,4%) và thấp nhất
là Bình Thuận (4,1%) Hàm lượng flavonoid càng cao thì càng có giá trị về mặt dược liệu bởi vì flavonoid có tác dụng kháng sinh, ngăn ngừa các loại bệnh tật (Havsteen, 2002; Middleton và ctv, 2000; Morris và ctv, 2006)
3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng suất các giống Chùm ngây
a Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng Chùm ngây ở 60 NSMM
Mật độ trồng 200 cây/m2 cho chiều cao cây cao nhất (68,57; 71,12 cm), kế đến là mật độ
133 cây/m2 (58,28; 62,46 cm) và thấp nhất là mật độ 100 cây/m2 (49,89; 52,69 cm)
Số lượng lá/cây khác nhau ở các giai đoạn sinh trưởng, giống và địa điểm nghiên cứu Nhìn chung, số lá/cây ở tuần thứ 5 đạt thấp nhất, sau đó tăng dần từ tuần thứ 6 – 8 Chùm ngây là cây có bộ rễ kém phát triển, giai đoạn đầu, cây con sinh trưởng nhờ vào dinh dưỡng
dự trữ trong hạt, giai đoạn sau (tuần thứ 6) khi
bộ rễ phát triển khá hoàn chỉnh, cây có thể tự
Trang 27hút nước và chất khoáng trong đất để sinh
trưởng và phát triển, nhờ đó số lá/cây cũng
tăng Kết quả nghiên cứu ở bảng 6 cho thấy,
mật độ 100 cây/m2 có số lá/cây cao nhất đạt
9,41 và 9,46 lá; kế đến là mật độ 133 cây/m2
đạt 8,81 và 8,89 lá và cuối cùng là mật độ 200
cây/m2 đạt 7,16 và 7,37 lá, tương ứng với hai
điểm nghiên cứu Sở dĩ điều này là vì khi mật
độ trồng dày, đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra
sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng, ánh
sáng và để thiết lập lại sự cân bằng và giảm sự
cạnh tranh, một giải pháp luôn được thực vật
lựa chọn là hiện tượng tỉa thưa tự nhiên, làm giảm số lá/cây và mật độ cây trên đơn vị diện tích
Đối với đường kính thân, cùng với thời gian, có sự tăng đường kính thân một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,01) ở các mật độ trồng khi Chùm ngây đạt 7, 8 tuần tuổi Mật độ trồng
100 cây/m2 có đường kính thân cao nhất (7,05;
7,12 mm), kế đến là mật độ 133 cây/m2 (6,32;
6,32 mm) và cuối cùng là mật độ 200 cây/m2(5,46; 5,45 mm), tương ứng với hai điểm nghiên cứu
Bảng 6 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng trung bình
Số lá (lá/cây)
Đường kính thân (mm)
Chiều cao (cm)
Số lá (lá/cây)
Đường kính thân (mm)
100
133
200
49,89 c 58,28 b 68,57 a
9,41 a 8,81 b 7,16 c
7,05 a 6,32 b 5,46 c
52,69 c 62,46 b 71,12 a
9,46 a 8,89 b 7,37 c
7,16 a 6,32 b 5,46 c CV%
Các trung bình cùng ký tự không khác biệt có nghĩa thống kê ở mức xác suất p < 0,05
Đối với chiều cao cây, số liệu chỉ ra rằng
chiều cao cây tăng nhanh nhất ở nghiệm thức
mật độ dày và tăng chậm ở nghiệm thức mật
độ thưa Tuy nhiên, số lá/cây thì ngược lại, số
lá/cây đạt cao nhất ở mật độ thưa và thấp nhất
ở mật độ dày Sự gia tăng mật độ cây trồng
không ảnh hưởng đến sự thể hiện của mỗi cá
thể thực vật khi mật độ cây trồng dưới ngưỡng
gây lên sự cạnh tranh về dinh dưỡng giữa các
cá thể Ở mật độ dày (200 cây/m2) sự cạnh
tranh về các yếu tố thiết yếu như dinh dưỡng,
ánh sáng diễn ra rất mạnh, làm các lá phía dưới
rụng nhiều Ngược lại, các lá ở nghiệm thức
133 cây/m2 và 100 cây/m2 nhận đủ yếu tố sinh
trưởng cần thiết thì phát triển bình thường bởi
mức độ cạnh tranh của các yếu tố vẫn đảm bảo
trên ngưỡng cạnh tranh giữa các cá thể
b Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến
năng suất các giống Chùm ngây
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất sinh khối cá thể tổng cộng sau 5 lần thu hoạch khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), trong đó mật
độ thưa cho năng suất sinh khối cá thể cao nhất (108,86; 132,95 g/cây), theo sau là mật độ trung bình (110,51; 126,14 g/cây) và cuối cùng
là mật độ dày (97,84; 60,80 g/cây), tương ứng hai điểm nghiên cứu (bảng 7) Có sự khác biệt thống kê ở mức xác suất (p<0,05) về năng suất sinh khối lý thuyết và năng suất cuống lá trồng
ở mật độ khác nhau và ở các lần thu hoạch
Mật độ dày (200 cây/m2) cho năng suất sinh khối lý thuyết cao nhất (195,69; 230,19 tấn/ha), kế đến là mật độ trung bình (133 cây/m2) (146,98; 167,77 tấn/ha) và cuối cùng
là mật độ thưa (100 cây/m2) (108,86; 132,95 tấn/ha), tương ứng hai điểm nghiên cứu
Trang 28Bảng 7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất sinh khối Chùm ngây
Mật độ
(cây/m 2 )
Cá thể (g/cây)
Lý thuyết (tấn/ha)
NSCL (tấn/ha
Cá thể (g/cây)
Lý thuyết (tấn/ha)
NSCL (tấn/ha)
100
133
200
108,86 a 110,51 a 97,84 b
108,86 c 146,98 b 195,69 a
49,04 c 63,76 a 54,91 b
132,95 a 126,14 ab 115,09 b
132,95 c 167,77 b 230,19 a
53,18 c 67,22 a 60,80 b CV%
Các trung bình cùng ký tự không khác biệt có nghĩa thống kê ở mức xác suất p < 0,05
Thí nghiệm ở Trảng Bom cho thấy, tổng
năng suất lá ở mật độ trồng trung bình (133
cây/m2) đạt cao nhất 38,62 tấn/ha, kế đến là ở
mật độ dày đạt 33,92 tấn/ha và cuối cùng là
mật độ thưa đạt 30,33 tấn/ha Tương tự, ở Cẩm
Mỹ, năng suất lá đạt cao nhất ở mật độ trung
bình (40,33 tấn/ha), kế đến là mật độ dày đạt
36,48 tấn/ha và cuối cùng là mật độ thưa đạt
34,34 tấn/ha Từ kết quả nghiên cứu này cho
thấy, năng suất lá của thí nghiệm bố trí ở Cẩm
Mỹ cao hơn Trảng Bom từ 2 – 4 tấn/ha
Năng suất sinh khối cá thể ở 60 NSMM của
các nghiệm thức khác nhau khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Kết quả quan sát ở cả hai điểm nghiên cứu chỉ ra, năng suất sinh khối
cá thể cao nhất là ở mật độ trồng dày, theo sau
là mật độ trồng trung bình và cuối cùng là mật
độ trồng thưa Năng suất lá tổng cộng của các lần thu hoạch/ha cũng có sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) (bảng 8) Năng suất sinh khối
lý thuyết đạt 195,69 tấn/ha (Trảng Bom) và 130,19 tấn/ha (Cẩm Mỹ) ở mật độ 200 cây/m2, cao hơn so với báo cáo của Foidl (2001) được thực hiện ở Nicaragua (97,10 tấn/ha), Amaglo (2006) thực hiện ở Ghana (101,52 tấn/ha)
Bảng 8 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất lá Chùm ngây
Mật độ
(cây/m 2 )
NSLT (tấn/ha)
NSTT (tấn/ha)
NSLT (tấn/ha)
NSTT (tấn/ha)
100
133
200
30,33 c 38,62 a 33,92 b
30,22 b 30,99 b 33,82 a
34,34 b 40,33 a 36,48 b
32,52 b 32,12 b 35,48 a CV%
Sự giảm năng suất cá thể lại được bù vào
nhiều hơn nhờ số lượng cây trên đơn vị diện
tích và điều này làm tăng năng suất khi tăng
mật độ cây trồng (Ball và ctv, 2000) Tuy
nhiên, trên bình diện sản xuất, việc lựa chọn
mật độ phù hợp để trồng không nhất thiết phải
là mật độ cho năng suất cao nhất Trong quá
trình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản
xuất rau nói riêng, để tạo ra được sản phẩm có năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng thì người sản xuất luôn tính tới hiệu quả kinh tế, tức là đầu tư như thế nào để tăng năng suất cây trồng trên đơn vị diện tích và phải luôn tỷ lệ thuận với giá trị kinh tế mà mức đầu tư đó đem lại Trong nghiên cứu này, mặc dù năng suất lá ở mật độ
Trang 29thưa (100 cây/m2) thấp hơn so với mật độ trung
bình và dày, nhưng tỷ lệ cây chết sau mỗi lần
thu hoạch và mức chí phí sản xuất lại thấp hơn
so với mật độ trung bình và dày
3.3 Ảnh hưởng tổng hợp giữa giống và
khoảng cách trồng đến sinh trưởng và năng
suất Chùm ngây
Ảnh hưởng giữa giống và mật độ trồng đến
số lá/cây Chùm ngây ở thời điểm 60 NSMM
(tuần thứ 8) có ý nghĩa về mặt thống kê ở cả
hai điểm nghiên cứu (p<0,05) Ở Trảng Bom,
giữa các kiểu kết hợp có sự xếp hạng khá rõ
ràng theo mật độ và giống, trong đó kiểu kết
hợp giữa giống Ninh Thuận với mật độ thưa
(100 cây/m2) cho số lá/cây đạt cao nhất, kế đến
là giống Bình Thuận với mật độ thưa và cuối
cùng là kiểu kết hợp giữa giống Thái Lan với
mật độ trồng dày (200 cây/m2) Tương tự ở
Cẩm Mỹ, sự kết hợp giữa giống Ninh Thuận
với mật độ trồng thưa cho số lá/cây đạt cao
nhất, kế đến là kiểu kết hợp giữa giống Bình
Thuận và Đồng Nai với mật độ trồng thưa và
cuối cùng là giữa giống Thái Lan với mật độ
là mật độ thưa Kiểu kết hợp giữa giống Bà Rịa, Thái Lan với mật độ trung bình và giữa giống Thái Lan với mật độ dày cho đường kính thân nhỏ, không có xếp hạng Ở Cẩm Mỹ, kiểu kết hợp giữa giống Ninh Thuận với mật độ trung bình cho đường kính thân to nhất, kế đến
là với mật độ thưa, cuối cùng là kiểu kết hợp giữa giống Thái Lan với mật độ dày
Số liệu trình bày ở bảng 10 cho thấy, không
có sự ảnh hưởng rõ nét giữa giống và mật độ trồng đến năng suất sinh khối, năng suất lá Kiểu kết hợp giữa giống Ninh Thuận với mật
độ dày cho năng suất sinh khối, năng suất lá đạt cao nhất, kế đến là kiểu kết hợp giữa giống Đồng Nai với mật độ trồng dày và thấp nhất là kiểu kết hợp giữa giống Thái Lan với mật độ trồng thưa
Bảng 9 Ảnh hưởng của giống và khoảng cách trồng đến sinh trưởng Chùm ngây ở thời điểm 60 NSMM
Trang 30Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giống và
mật độ trồng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và
năng suất Chùm ngây, ảnh hưởng rõ rệt đến
năng suất sinh khối, đường kính thân và năng
suất lá Vì vậy, việc sản xuất Chùm ngây như
nguồn rau ăn lá sẽ yêu cầu các yếu tố khác
nhau trong đó mật độ là yếu tố được quan tâm
Sau khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả sản xuất Chùm ngây làm rau theo hướng
hữu cơ bao gồm: Giống thích hợp với điều
kiện sinh thái ở Đồng Nai, có hàm lượng dinh
dưỡng và dược tính cao; số cây mất đi sau mỗi
lần cắt; điều kiện canh tác trên đồng ruộng;
mật độ tối ưu thì giống phù hợp để trồng là
giống Ninh Thuận và mật độ trồng là 1 triệu
và mật độ dày (200 cây/m2) Sở dĩ như vậy là
vì Chùm ngây trồng trong điều kiện mật độ quá dày dẫn đến sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng làm một số cây chết, giảm năng suất Ngoài ra, các khoản chi phí như lượng giống, công lao động ở mật độ dày luôn cao hơn trồng ở mật độ thưa
Giống Chùm ngây Ninh Thuận cho hiệu quả kinh tế cao nhất, kế đến giống Bình Thuận và thấp nhất là giống Thái Lan Giống Chùm ngây
Trang 31Ninh Thuận có sinh trưởng, phát triển khá tốt
với điều kiện sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai, cho hiệu quả kinh tế vượt trội với các
giống khác khi trồng ở mật độ thưa (1 triệu
cây/ha) đạt 418 triệu đồng/ha
IV KẾT LUẬN
- Giống Chùm ngây Ninh Thuận có hàm
lượng dinh dưỡng và flavonoid đạt cao nhất
(2.839 mg/kg Ca; 24,1 mg/kg Fe; 4314 mg/kg
K; 7,6% protein; 7197,1 IU/kg vitamin A;
1479,2 mg/kg vitamin C; flavonoid: 10,5%),
sinh trưởng tốt trong điều kiện sinh thái ở
Đồng Nai, cho năng suất lá thực thu cao từ
29,30 – 30,77 tấn/ha
- Mật độ gieo trồng thích hợp nhất trồng
Chùm ngây làm rau theo hướng hữu cơ trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai là 100 cây/m2 Giống Chùm
ngây Ninh Thuận và mật độ trồng 1 triệu
cây/ha cho năng suất lá thực thu đạt 30,53
tấn/ha và hiệu quả kinh tế là 418 triệu đồng/ha
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Al-Masri M.R (2003) An in vitro evaluation of
some unconventional ruminant feeds in terms of the organic matter digestibility, energy and microbial
biomass Trop Anim Health Prod 35: 155–167
2 Amaglo N.K., Timpo G.M., Ellis W.O and Bennett R.N (2006) Effect of spacing and harvest frequency on
the growth and leaf yield of moringa (Moringa oleifera Lam), a leafy vegetable crop In Moringa and other
highly nutritious plant resources: Strategies, standards and markets for a better impact on nutrition in Africa
Accra, Ghana, November 16-18, 2006
3 Aregheore E.M (2002) Intake and digestibility of
Moringa oleifera-batiki grass mixtures for growing
goats Small Rum Res 46: 23–28
4 Ball R.A., Purcell L.C., and Vories E.D (2000)
Short-season soybean yield compensation in response to
population and water regime Crop Sci 40: 1070–1078
5 Fahey J.W (2005) Moringa oleifera: a review of the medical evidence for it’s nutritional, therapeuotic
and prophylactic properties Part 1.Tree For Life
Journal: 1-5
EFFECT OF VARIETIES AND SPACING ON THE GROWTH
AND LEAF YIELD OF DRUMSTICK TREE (Moringa oleifera Lam),
A LEAFY VEGETABLE CROP
Mai Hai Chau SUMMARY
A serries of experiments were performed to investigate varieties and spacing effects on the growth, leaf yield
and quality of Moringa Oleifera L at Trang Bom and Cam My district of Dong Nai province The spacing (5 x
20 cm, 5 x 15 cm, 5 x 10 cm) and the 5 varieties (TL, BT, NT, DN, BR) were studied in a completely
randomised split plot design with three blocks The variety of Ninh Thuan was found to be richest in nutrients
and flavonoid (Ca:2839 mgkg-1; Fe: 24.1 mgkg-1; K: 4314 mgkg-1; Protein: 7.6%; vitamin A: 7197.1 IU kg-1;
vitamin C: 1479.2 mgkg-1; flavonoid: 10.5%), produced the highest fresh matter yield, 171.7 and 198.7 Mg ha-1,
and fresh leaf yield, 36.6 and 36.9 Mg ha-1, at Trang Bom and Cam My district, respectively The close spacing
(5 x 10 cm) gave the highest leaf yields, 33.8 and 35.4 Mg ha-1 respectively But, the combination of variety
Ninh Thuan and wide spacing have the highest profit, 418 millon VN dong per ha after 5 cutting times The
studies showed that optimum variety of Moringa and spacing in Dong Nai province were Ninh Thuan and 5 x
20 cm (1 millon plants per hectare)
Key words: Flavonoid, Moringa oleifera L., Nutrient, space, yield
Người phản biện : PGS.TS Phạm Xuân Hoàn
Ngày nhận bài : 15/10/2015
Ngày phản biện : 10/11/2015
Ngày quyết định đăng : 20/11/2015
Trang 32ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ HÌNH THÁI
LOÀI ĐỖ QUYÊN HOA TRẮNG HỒNG (Rhododendron cavaleriei H Lév.)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
Đặng Văn Hà
TS Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố, cấu trúc rừng và đặc điểm hình thái Đỗ
quyên hoa trắng hồng tại Vườn Quốc gia Tam Đảo Nghiên cứu đã xác định được Đỗ quyên hoa trắng hồng
phân bố ở độ cao từ 700 m – 1388 m, tập trung nhiều ở sườn núi phía Đông – Bắc với độ cao từ 900 m – 1388 m
Các loài ưu thế trong tổ thành tầng cây cao tại khu vực có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố bao gồm: Giổi
nhung, Cứt ngựa, Sồi phảng, Nanh chuột, Re hương, Thị núi, Kháo lá bắc to, Dẻ đỏ, Dẻ tùng sọc trắng hẹp Tổ
thành các loài cây tái sinh tại khu vực có Đỗ quyên phân bố khá phong phú, trong đó số lượng cây tái sinh của
các loài Đỗ quyên chiếm tỷ lệ cao so với số lượng cây tái sinh của các loài khác Cây bụi, thảm tươi trong khu
vực nghiên cứu có độ cao trung bình 0,25 - 1,45 m với độ che phủ khoảng 50 - 58% Đặc biệt nghiên cứu đã
khẳng định rằng, tại khu vực Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố đất có đặc tính: đất hơi chua, độ phì và các chỉ
tiêu khác từ mức trung bình trở lên, thành phần cơ giới thịt nhẹ
Từ khoá: Đỗ quyên, Đỗ quyên hoa trắng hồng, rừng Tam Đảo, thực vật Tam Đảo
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đỗ quyên là tên gọi chung cho các loài cây
trong chi Đỗ quyên (Rhododendron sp.) thuộc
họ Đỗ quyên (Ericaceae) Hiện nay trên thế
giới đã phát hiện có khoảng 850 - 1000 loài Đỗ
quyên Hoa Đỗ quyên đẹp, nhiều màu sắc, cây
cho hoa màu đỏ, màu tím, màu vàng, màu
hồng, màu trắng… Chính vì Đỗ quyên có hoa
đẹp độc đáo, hoa nở rộ vào mùa xuân, mùa hoa
kéo dài nên hiện nay Đỗ quyên rất được ưa
chuộng trên thị trường cây cảnh và được xem
là loại cây cảnh quý, sang trọng chơi trong dịp
Tết Theo nghiên cứu của Nông Văn Duy,
2014, Đỗ quyên ngoài tác dụng làm cảnh còn
có một số tác dụng khác như: chiết suất lấy
tinh dầu, gỗ dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ, và
đặc biệt một số loài còn có thể làm thực phẩm,
dược liệu…
Đỗ quyên hoa trắng hồng (Rhododendron
cavaleriei H Lév.) có tên đồng nghĩa là
Rhododendron dentampullum Chun ex P C
Tam; R henryi Hance var pubescens K M
Feng & A L Chang Ở Việt Nam, Đỗ quyên hoa
trắng hồng phân bố ở một số tỉnh như Lào Cai,
Ba Vì, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc…, đặc biệt phân
bố nhiều ở Vườn Quốc gia Tam Đảo và Vườn Quốc gia Hoàng Liên (Trần Thị Thanh, 2010)
Tam Đảo là dãy núi cao ở phía đông Bắc
Bộ, nằm tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ Đây
là nơi hội tụ của hệ thực vật Nam Trung Hoa
và Bắc Việt Nam nên tổ thành loài cây ở đây khá phong phú Hệ thực vật rừng Tam Đảo có những nét rất đặc trưng của hệ thực vật rừng nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới núi cao, bên cạnh những loài cây cho gỗ, dược liệu quý thì đây cũng là nơi hội tụ của nhiều loài cây cảnh quý hiếm như các loài trong họ Orchidaceae, Theaceae và Ericaceae… Trong những năm gần đây, việc khai thác cây cảnh quý ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đem bán ra thị trường đang diễn ra khá mạnh Những loài cây bị khai thác với số lượng lớn như Phong lan, Địa lan, Trà,
Đỗ quyên…, có những loài bị khai thác gần như không còn hoặc còn với số lượng rất ít như
Đỗ quyên hoa vàng, Phong lan, Địa lan Theo đánh giá, các loài Đỗ quyên được khai thác từ rừng đưa bán ra các vùng khác rất khó tồn tại
vì thiếu những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học của loài Chính vì thế, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người chơi hoa Đỗ quyên,
Trang 33đồng thời góp phần duy trì, bảo tồn và phát
triển loài cây này thì việc tìm hiểu đặc điểm
phân bố và hình thái của các loài Đỗ quyên nói
chung, Đỗ quyên hoa trắng hồng nói riêng là
việc làm rất cần thiết và cấp bách
II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Do phạm vi khu vực nghiên cứu rộng lớn,
địa hình phức tạp, hiểm trở, nên tác giả tập
trung nghiên cứu tại 3 địa điểm đặc trưng: đỉnh
Phù Nghĩa, đỉnh Thạch Bàn và đỉnh Quạ Há
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm phân bố của Đỗ quyên hoa trắng
hồng theo đai độ cao và hướng sườn núi;
- Đặc điểm cấu trúc rừng nơi có Đỗ quyên
hoa trắng hồng phân bố;
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên ở khu vực phân
bố của Đỗ quyên hoa trắng hồng;
- Đặc điểm thổ nhưỡng nơi Đỗ quyên hoa
trắng hồng phân bố;
- Đặc điểm hình thái Đỗ quyên hoa trắng
hồng tại khu vực nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp kế thừa: Thu thập các tài liệu
có liên quan như: Bản đồ hiện trạng tài nguyên
rừng; tài liệu về khí tượng thuỷ văn, điều kiện
tự nhiên, dân sinh kinh tế khu vực nghiên cứu;
các tài liệu nghiên cứu về Đỗ quyên…
* Phương pháp ngoại nghiệp:
- Đặc điểm phân bố Đỗ quyên hoa trắng hồng
+ Phỏng vấn cán bộ và nhân dân địa phương
về tình hình xuất hiện loài Đỗ quyên hoa trắng
hồng trong khu vực nghiên cứu;
+ Căn cứ vào bản đồ địa hình và bản đồ
hiện trạng tài nguyên rừng, xác định danh giới
khu vực điều tra và vạch tuyến điều tra trên
bản đồ;
+ Điều tra sơ thám ngoài thực địa để nắm
bắt được đặc điểm địa hình và sơ bộ về tình
hình xuất hiện cũng như phân bố của loài Đỗ
quyên hoa trắng hồng, cụ thể: dạng địa hình, đai độ cao, các kiểu rừng, trạng thái rừng… Trên cơ sở đó xác đinh các tuyến điều tra và dự kiến các vị trí lập ô tiêu chuẩn;
+ Thu thập số liệu về đặc điểm phân bố: mỗi đỉnh núi thiết kế 6 tuyến điều tra theo hình nan quạt hướng từ trên đỉnh xuống chân theo các hướng khác nhau Các tuyến này kéo dài cho đến khi không còn gặp sự xuất hiện của
Đỗ quyên hoa trắng hồng;
+ Trên các tuyến điều tra chọn ra tuyến có loài Đỗ quyên trắng hồng phân bố nhiều nhất
để tiến hành lập các ô tiêu chuẩn (OTC) 2000
m2 (40 x 50) ở các độ cao khác nhau, cạnh dài của OTC song song với đường đồng mức Xác định mật độ Đỗ quyên hoa trắng hồng trong các OTC
- Đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố:
+ Điều tra tầng cây cao: Trên các OTC 2000
m2 đã chọn tiến hành đo đường kính, chiều cao của tất cả các cây có D1.3>6 cm;
+ Điều tra cây bụi, thảm tươi: Trên OTC
2000 m2, tiến hành lập 4 OTC dạng bản ở 4 góc và 1 ô ở giữa, kích thước mỗi ô 5 x 5 m Trong mỗi ô dạng bản điều tra số lượng, chiều cao và độ che phủ của từng loài
- Đặc điểm thổ nhưỡng nơi Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố:
Để tìm hiểu đặc điểm thổ nhưỡng nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố, do điều kiện địa hình phức tạp, đi lại khó khăn nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu 2 phẫu diện đất: 1 tại đỉnh Phù Nghĩa, 1 tại đỉnh Thạch Bàn Phẫu diện đất được đào ở chính giữa OTC và được
mô tả theo mẫu biểu điều tra trong giáo trình đất của trường Đại học Lâm nghiệp
- Đặc điểm hình thái Đỗ quyên hoa trắng hồng:
Để nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu của Đỗ quyên hoa trắng hồng, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát kết hợp với
Trang 34đo đếm, mô tả ở thực địa, thu thập số liệu cho
một số nội dung sau: Hvn, D00, D1.3, kích thước
hoa, lá, quả Dung lượng cần thu thập ít nhất là
30 cây
+ Đặc điểm về lá: Từ kết quả điều tra về
D00, D1.3, Hvn trên mỗi ô tiêu chuẩn, chọn ra
một cây tiêu chuẩn trung bình, trên cây tiêu
chuẩn chọn ra 9 cành: 1 cành ở ngọn, 4 cành ở
giữa tán, 4 cành ở dưới tán, theo hướng Đông -
Tây - Nam - Bắc Trên mỗi cành chọn ngẫu
nhiên 4 lá đã thành thục, không sâu bệnh,
không dị dạng và không bị tổn thương cơ giới
để đo đếm các chỉ tiêu về lá: Hình dạng lá,
chiều dài, chiều rộng, chiều dài cuống lá, số
lượng gân lá, màu sắc lá…
+ Đặc điểm về hoa: Hoa được thu hái ngẫu
nhiên với số lượng lớn hơn 30, đang phát triển
bình thường, không bị sâu bệnh, không bị tổn
thương cơ giới Quan sát, mô tả và đo đếm các
chỉ tiêu sau: Màu sắc, chiều dài cuống, đường
kính hoa, chiều cao hoa, chiều cao ống
* Phương pháp xử lý số liệu:
- Tính toán các trị số trung bình và các trị số
đặc trưng mẫu của loài: Dung lượng mẫu quan
sát để tính toán cho các nội dung đều >30; các
trị số trung bình của loài được tính theo
phương pháp bình quân cộng;
- Xác định mật độ loài: (N/ha): N=N0 x 10000/S0 Trong đó, N là số cây/ha, N0 là số cây của loài có trong ô điều tra, S0 là diện tích
ô tiêu chuẩn điều tra;
- Xác định tổ thành loài cây: Ntb= N/m Trong đó, Ntb là số cây trung bình của một loài, N là tổng số cây điều tra, m là số loài điều tra Những loài được xác định là những loài chính khi có N>Ntb thì được tham gia vào trong công thức tổ thành rừng nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố;
- Số liệu thu thập được chỉnh lý và tổng hợp bằng phần mềm Excel
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm phân bố loài Đỗ quyên hoa trắng hồng theo đai độ cao và hướng sườn núi
Độ cao và hướng sườn núi là nguyên nhân
cơ bản làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, chế độ gió, chế độ ánh sáng… Những nhân tố này ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài thực vật nói chung và Đỗ quyên hoa trắng hồng nói riêng Kết quả điều tra về phân bố của Đỗ quyên hoa trắng hồng tại 3 đỉnh Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Quạ Há được tổng hợp trong bảng 1
Bảng 1 Đặc điểm phân bố Đỗ quyên hoa trắng hồng theo đai độ cao và hướng sườn núi
STT Khu vực điều tra Đai độ cao (m) Sườn Đông – Bắc Sườn Tây – Nam
Trang 35Qua bảng 1 ta thấy, Đỗ quyên hoa trắng
hồng phân bố từ độ cao 700 m trở lên, ở độ cao
dưới 700 m không thấy loài này phân bố Càng
lên cao thì mật độ phân bố của Đỗ quyên hoa
trắng hồng càng dầy, và đặc biệt ở độ cao 1100
- 1388 m Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
nhiều nhất với 270 cây/ha (đỉnh Quạ Há),
225 cây/ha (đỉnh Thạch Bàn) và 255 cây/ha
(đỉnh Phù Nghĩa) Như vậy, độ cao có ảnh
hưởng rõ rệt đến sự phân bố của Đỗ quyên
hoa trắng hồng
Cũng từ kết quả điều tra trong bảng 1 ta
thấy, hướng sườn núi cũng là một nhân tố quan
trọng ảnh hưởng đến sự phân bố của Đỗ quyên
hoa trắng hồng Cùng một loài cây, cùng một
đai độ cao nhưng hướng sườn núi khác nhau
thì sự phân bố của loài cũng khác nhau, ở sườn
Đông - Bắc mật độ phân bố Đỗ quyên nhiều
hơn so với sườn Tây - Nam, cụ thể: Tại đai độ
cao 1100 - 1300 m, đỉnh Phù nghĩa có mật độ
phân bố là 255 cây/ha (sườn Đông - Bắc) và
100 cây/ha (sườn Tây - Nam), đỉnh Thạch bàn
có mật độ phân bố là 225 cây/ha (sườn Đông
-Bắc) và 90 cây/ha (sườn Tây - Nam), đỉnh Quạ
há có mật độ phân bố là 270 cây/ha (sườn
Đông - Bắc) và 125 cây/ha (sườn Tây - Nam)
Như vậy, độ cao và hướng sườn núi có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân bố của Đỗ quyên hoa trắng hồng Tại khu vực nghiên cứu, loài Đỗ quyên này phân bố ở độ cao 700 m trở lên và càng lên cao thì mật độ phân bố của loài càng dày Ở cả 3 địa điểm nghiên cứu: đỉnh Phù Nghĩa, Thạch Bàn và Qụa Há, Đỗ quyên hoa trắng hồng tập trung phân bố ở sườn Đông - Bắc tại đai độ cao 1100 - 1388 m
3.2 Đặc điểm cấu trúc rừng nơi Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
3.2.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao tại khu vực có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
Kế thừa kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố của loài, chọn 6 OTC nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố nhiều nhất để tiến hành điều tra trạng thái của rừng và thu được kết quả như sau: Các trạng thái rừng nơi có Đỗ quyên phân bố đều thuộc trạng thái rừng IVb với độ tàn che từ 0,6 - 0,7, ở độ cao 900 m trở lên và nằm trong khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Tam Đảo Từ kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu xác định được công thức tổ thành tầng cây cao trong các ô tiêu chuẩn như trong bảng 2
Bảng 2 Tổng hợp công thức tổ thành tầng cây cao nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
Dẻ đỏ + các loài khác
2 1100 - 900 Đông – Bắc
0,46 Giổi nhung + 0,43 Thông tre lá dài + 0,43 Cứt ngựa + 0,37 Sồi phảng + 0,34 Thị núi + 0,31 Nanh chuột + 0,28 Kháo lá bắc to + 0,25 Kháo vàng + 0,22 Dẻ tùng sọc trắng hẹp + 0,18 Re hương + các loài khác
Đỉnh Thạch
Bàn 3 1388 - 1100 Đông – Bắc
0,53 Re hương + 0,5 Mỡ hải nam + 0,46 Giổi nhung + 0,39 Nanh chuột + 0,39 Dẻ tùng sọc trắng hẹp + 0,35 Cứt ngựa + 0,32 Sồi phảng + 0,32 Kháo vàng + 0,21 Hoàng mộc + 0,21 Thông tre lá ngắn + 0,21 Dẻ đỏ + các loài khác
Trang 364 1100 - 900 Đông – Bắc
0,28 Cứt ngựa + 0,26 Nanh chuột + 0,23 Dẻ đỏ + 0,23 Sồi phảng + 0,23 Kháo vàng + 0,23 côm rừng + 0,21 Dẻ lá tre + 0,21 Dẻ tùng sọc trắng hẹp + 0,21 Dẻ cau + 0,18 Trọng đũa tuyến + 0,15 Chắp xanh + 0,15 Hoàng mộc + 0,15 Re hương + các loài khác
Đỉnh Quạ
Há 5 1300 - 1100 Đông – Bắc
0,55 Re hương + 0,51 Mỡ hải nam + 0,46 Giổi nhung + 0,33 Nanh chuột + 0,32 Dẻ tùng sọc trắng hẹp + 0,35 Cứt ngựa + 0,32 Sồi phảng + 0,32 Kháo vàng + 0,21 Thông tre lá ngắn + 0,21 Dẻ đỏ + các loài khác
6 1100 - 900 Đông – Bắc
0,31 Cứt ngựa + 0,27 Nanh chuột + 0,25 Dẻ đỏ + 0,22 Sồi phảng + 0,21 Kháo vàng + 0,23 Côm rừng + 0,21 Dẻ lá tre + 0,24 Dẻ tùng sọc trắng ẹp + 0,21 Dẻ cau + 0,15 Trọng đũa tuyến + 0,17 Chắp xanh + 0,15 Hoàng mộc + 0,14 Re hương + các loài khác
Từ 6 công thức tổ thành trên cho thấy, tại các
ô tiêu chuẩn, nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng
phân bố, các loài Giổi nhung (Michelia
foveolata Merr Ex Dandy), Cứt ngựa
(Achidendron balansae (Oliv.) I Nielsen), Sồi
phảng (Lithocarpus fissus Champ ex Benth),
Nanh chuột (Cryptocarya lenticellata Lecomte),
Re hương (Cinnamomum iners Reinw), Thị núi
(Diospyros montana Roxb.), Kháo lá bắc to
(Machilus grandibracteata S K Lee et F N
Wei), Dẻ đỏ (Lithocarpus ducampii (Hikel &A
Camus) A Camus), Dẻ tùng sọc trắng hẹp
(Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg) là
những cây ưu thế, chiếm với số lượng lớn Như vậy, có thể nhận định rằng Đỗ quyên hoa trắng hồng là loài cây chịu bóng, thích nghi với độ tàn che 0,6 - 0,7 của rừng với các loài cây chủ yếu là: Giổi nhung, Cứt ngựa, Re hương, Thị núi,
Kháo lá bắc to (Machilus grandibracteata S K
Lee et F N Wei), Dẻ tùng sọc trắng hẹp, Mỡ hải
nam (Manglietia hainanensis Dandy) và Dẻ đỏ
3.2.2 Đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên nơi có
Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
Kết quả điều tra cây tái sinh trên các ô tiêu chuẩn được tổng hợp trong bảng 3
Bảng 3 Tổ thành cây tái sinh nơi có Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
Số
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Trang 37Từ kết quả điều tra tổ thành cây tái sinh ở
bảng 3 cho thấy, thành phần các loài cây tái
sinh ở khu vực nghiên cứu khá phong phú và
đa dạng (24 loài), trong đó số lượng cây tái sinh của các loài Đỗ quyên trên các ô tiêu chuẩn đều chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ cây tái
Trang 38sinh của các loài khác Ngoài các loài Đỗ
quyên, một số loài cũng có tỷ lệ cây tái sinh
cao như: Cứt ngựa, Kháo vàng (Machilus
odoratissima Nees), Nhựa ruồi (Ilex cymosa
Blume), Giổi nhung, Thị núi, Nanh chuột, Re
hương, Sồi phảng (Lithocarpus fissus Champ
ex Benth), Dẻ đỏ Các loài khác, tỷ lệ cây tái
sinh rất thấp, chỉ chiếm 1 - 2% Qua trên có thể
nhận định rằng, mức độ các loài cây tham gia
trong tổ thành cây tái sinh so với tổ thành cây
mẹ có trong khu vực là khá phù hợp
3.2.3 Cây bụi, thảm tươi
Cây bụi, thảm tươi là thành phần quan trọng
trong quần xã hệ sinh thái rừng, tham gia vào
quá trình hình thành đất rừng thông qua vật rơi rụng và hoạt động của bộ rễ Ngoài ra, cây bụi thảm tươi còn tham gia vào quá trình tạo lập hoàn cảnh sinh thái rừng, quá trình tiểu tuần hoàn nước, làm hạn chế dòng chảy bề mặt và tăng cường lượng nước thấm trong đất, từ đó tham gia vào quá trình hình thành tiểu khí hậu rừng Để điều tra, đánh giá cây bụi, thảm tươi tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành điều tra ở 30 ô dạng bản trong 6 OTC 2000 m2tại 3 khu vực nghiên cứu: đỉnh Phù Nghĩa, đỉnh Thạch Bàn, đỉnh Quạ Há Kết quả điều tra
về cây bụi, thảm tươi tại khu vực được thống
kê trong bảng 4
Bảng 4 Bảng điều tra cây bụi thảm tươi
Địa điểm OTC Độ che phủ Hvn (m) Loài cây bụi, thảm tươi
Đỉnh Phù
Nghĩa
1 58 1,44 Địa lan, Dương xỉ, Sặt, Lá dong,
Cẩm cang lá dài, Trầu tiên, Kè, Sừng hươu, Cỏ lá tre, Cỏ mác, Vạn niên thanh, Trọng đũa gỗ, Râu hùm, Trúc gai, Ô rô, Cơm cháy, Lá khôi, Sa nhân, Cao cẳng, Mía dò, Cơm nếp…
Qua bảng 4 ta thấy, cây bụi thảm tươi trong
khu vực nghiên cứu có chiều cao bình quân từ
1,32 – 1,45 m với độ che phủ khoảng 50 –
58% Thành phần cây bụi thảm tươi chủ yếu
tại khu vực nghiên cứu: Địa lan, Dương xỉ,
Sặt, Lá dong… Đặc biệt, tại 3 đỉnh nghiên
cứu, ngoài các loài cây kể trên thì các loài Đỗ
quyên (những cây thấp) cũng là thành phần chính tham gia vào tầng cây bụi, thảm tươi trong khu vực
3.3 Đặc điểm thổ nhưỡng nơi Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố
Kết quả mô tả phẫu diện và các chỉ tiêu phân tích được tổng hợp trong bảng dưới đây:
Bảng 5 Một số đặc điểm cơ bản của phẫu diện đất
STT Chỉ tiêu điều tra
Phẫu diện đất tại đai độ cao 900-1100m, đỉnh Phù Nghĩa (Phẫu diện 1)
Phẫu diện đất tại đai độ cao 1200-1388m, đỉnh Thạch Bàn (Phẫu diện 2)
Trang 398 Kết cấu Hạt – viên Hạt – viên
Bảng 6 Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý – hoá các phẫn diện đất
3.4 Đặc điểm hình thái Đỗ quyên hoa trắng hồng tại khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu liên quan đến hình thái của loài Đỗ quyên hoa trắng
Số lượng gân lá
Đường kính hoa
TB (cm)
Chiều cao hoa TB (cm)
Độ dài cuống hoa
TB (cm)
Trang 4003 3,60 15,30 13,50 x 4,55 13,97 6,22 4,26 3,04
Từ bảng số liệu 7 ta thấy rằng, Đỗ quyên
hoa trắng hồng tại các OTC có các chỉ tiêu về
hình thái tương tự nhau Trong tất cả các chỉ
tiêu quan sát và đo đếm được chỉ có duy nhất
chỉ tiêu về chiều cao vút ngọn là có sự khác
biệt đáng kể, còn các chỉ tiêu khác về hình thái
như đường kính thân, kích thước hoa, lá gần
như không có sự khác biệt nào Từ bảng số liệu
trên ta thấy rằng, chiều cao vút ngọn Đỗ quyên
hoa trắng hồng dao động từ 3,6 m – 4,12 m và
cây tại những vị trí thấp luôn có xu hướng cao
hơn cây ở những vị trí gần đỉnh Sự khác nhau
về chiều cao Đỗ quyên hoa trắng hồng có thể
là bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của địa hình, đất đai, và chiều cao của tổ thành rừng tại các vị trí cây phân bố
Các đặc điểm khác của Đỗ quyên hoa trắng hồng (màu sắc thân, màu sắc và cấu trúc hoa, đặc điểm và màu sắc lá…) không có sự khác biệt đáng kể so với phần mô tả chung như đã trình bày ở trên
IV KẾT LUẬN
- Đỗ quyên hoa trắng hồng phân bố ở đai độ
cao từ 700 m đến 1388 m, tập trung nhiều ở
sườn núi phía Đông – Bắc với độ cao từ 900 m
đến 1388 m
- Các trạng thái rừng có Đỗ quyên hoa trắng
hồng phân bố đều thuộc trạng thái rừng IVb
với độ tàn che từ 0,6 - 0,7, tập trung nhiều ở độ
cao từ 900 m trở lên Tổ thành tầng cây cao
chủ yếu là các loài: Nanh vàng, Cứt ngựa, Sồi
phảng, Nanh chuột, Re hương, Thị núi, Kháo
tỷ lệ cây tái sinh của các loài khác
- Cây bụi, thảm tươi trong khu vực nghiên cứu có chiều cao trung bình 1,32 - 1,45 m với
độ che phủ 50 - 58% với thành phần chủ yếu là Địa lan, Dương xỉ, Sặt, Lá dong…
- Đỗ quyên hoa trắng hồng thích hợp với điều kiện đất hơi chua, thành phần cơ giới thịt nhẹ, và độ phì của đất từ trung bình trở lên
Hình 1 Cành mang hoa
(Nguồn: Đặng Văn Hà)
Hình 2 Đặc tả hoa và lá
(Nguồn: Đặng Văn Hà)