Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân Lào và Việt Nam đang tiến hành đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới, đồng thời đặ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Võ Kim Cương
Phản biện 1: GS.TS Trần Thị Vinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền
Khoa Sử học, Học viện Khoa học xã hội
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Quế
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
tại Học viện Khoa học xã hội Vào hồi …… giờ, ngày … tháng … năm 2017
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là hai nước láng giềng, có mối quan hệ hữu nghị và truyền thống tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau từ lâu đời Vị trí địa lý và truyền thống lịch sử thân thiện đã gắn kết chặt chẽ hai dân tộc với nhau trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo cách mạng ba nước Đông Dương chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc Mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào tiếp tục được xây dựng, vun đắp, thử thách qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược của hai dân tộc giai đoạn (1945 - 1975) và trải qua thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Mối quan hệ đó đã trở thành mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, thủy chung, hiếm có, là tài sản quý báu của hai dân tộc
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, biến đổi nhanh chóng, khó lường Vì vậy, việc hợp tác trong lĩnh vực an ninh giữa Lào và Việt Nam là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo an ninh của mỗi nước, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh khu vực và thế giới
Nhìn lại chặng đường lịch sử về quan hệ hợp tác trên lĩnh vực an ninh giữa Lào và Việt Nam, thì lực lượng an ninh Việt Nam luôn chủ động đảm nhiệm, gánh vác những công việc khó khăn nhất để hỗ trợ lực lượng an ninh
Lào với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng
chính là an ninh của mình” Điều đó cũng phải được hiểu là: Đào tạo đội ngũ
cán bộ an ninh giúp Lào cũng chính là đào tạo cán bộ an ninh cho Việt Nam
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân Lào và Việt Nam đang tiến hành đã tạo ra những
cơ hội và thách thức mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước nói chung, giữa Bộ An ninh Lào và
Bộ Công an Việt Nam nói riêng trên những phương diện và nội dung mới Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ chiến lược lâu dài giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam, nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa lực lượng công an hai nước, tạo lòng tin vững chắc, lâu dài, góp phần tăng cường, bền vững mối quan
hệ giữa hai đảng, hai nhà nước và hai dân tộc
Có thể khẳng định quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh đã có bề dày lịch sử hơn 50 năm và là một điểm sáng, một bằng chứng sinh động trong bức tranh chung về mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo cán bộ an ninh cho Lào thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách cụ thể và toàn diện Đây thực sự là một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước Chính vì vậy, dưới góc
Trang 4nhìn của một nhà nghiên cứu về lịch sử, đặc biệt là một người tham gia công tác nghiên cứu và đào tạo tại các trường Công an nhân dân - Bộ Công an Việt Nam, tôi thấy rằng, việc nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam trong hợp tác, đào tạo cán bộ an ninh là một đề tài cần được nghiên cứu một cách cụ thể và
nghiêm túc Do đó, nghiên cứu đề tài: “Quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012” có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, khoa học và thực tiễn Đó cũng chính là
lý do mà tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận án tiến sĩ khoa học lịch sử
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình phát triển và những đặc điểm của hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012 Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm, dự báo xu thế phát triển và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào, Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của luận án nhằm tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây:
Một là, làm rõ cơ sở khách quan hình thành, phát triển mối quan hệ hợp
tác an ninh và tính tất yếu trong hợp tác an ninh giữa Lào và Việt Nam
Hai là, phân tích thực tiễn quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
Ba là, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
an ninh của Lào tại các cơ sở đào tạo, các cơ quan chức năng, công an các địa phương có chung đường biên giới với Lào thuộc Bộ Công an Việt Nam, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh giữa Lào và Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận án được nghiên cứu trên các địa bàn sau: Bộ An
ninh Lào, Bộ Công an Việt Nam, các trường công an của Lào và Việt Nam,
Công an các tỉnh có chung đường biên giới giữa Lào và Việt Nam
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1962 đến
năm 2012
- Nội dung nghiên cứu: Tình hình và kết quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ an ninh của Lào giữa Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam trong
50 năm (1962 - 2012)
Trang 54 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng những quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về đường lối đối ngoại giữa hai nước trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp nghiên cứu so sánh để có cái nhìn khách quan, sát thực hơn về mối quan hệ này
Quá trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu nói trên được nhìn nhận, tiếp cận trên quan điểm mác xít
4.3 Nguồn tài liệu
Luận án tham khảo và sử dụng những nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu gốc: Tài liệu gốc của hai đảng, hai nhà nước, của Bộ An ninh
Lào và Bộ Công an Việt Nam, các trường công an của Lào và Việt Nam về hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, đặc biệt là các văn bản về những thỏa thuận hợp tác, báo cáo sơ kết, tổng kết, công văn, quyết định, biên bản hội đàm, thông báo của Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào
- Tài liệu chuyên khảo: Một số luận án, bài viết nghiên cứu, tham luận
khoa học liên quan trực tiếp đến quan hệ Lào - Việt Nam nói chung và quan hệ trên lĩnh vực an ninh, chủ yếu là hợp tác đào tạo, bồi dưỡng nói riêng
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quá trình hợp tác Lào - Việt Nam trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào từ năm 1962 đến năm 2012; đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Bộ An ninh Lào tại các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Công an Việt Nam; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ đặc biệt giữa Lào và Việt Nam, về tính tất yếu trong hợp tác an ninh giữa hai nước, trong đó có sự cần thiết phải hợp tác đào tạo cán bộ an ninh trong giai đoạn (1962 - 2012) giữa Lào và Việt Nam Luận án cũng gợi mở một
số vấn đề thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hợp tác an ninh nói chung; hợp tác, đào tạo bồi dưỡng cán bộ an ninh nói riêng giữa Lào và Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận án là công trình khoa học có giá trị tham khảo tốt đối với các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu toàn diện, nhiều lĩnh vực trong mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và các đơn vị thuộc Bộ Công an Việt Nam như: Văn phòng Bộ Công an, Vụ Hợp tác quốc tế, Viện Chiến lược và Khoa học công an, Viện Lịch sử Công an, Cơ quan đại diện Bộ Công an Việt Nam tại Lào, Cục Tham mưu xây dựng lực lượng, Cục Tổ chức cán bộ, Cục
Trang 6Đào tạo, Cục Công tác chính trị và Công tác quần chúng, Cục Chính sách Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các trường công an của Lào và Việt Nam trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh của Lào
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm có 4 chương
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào nói chung
- Công trình nghiên cứu “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -
Việt Nam (1930 - 2007)” do Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào tổ chức hợp tác cùng nghiên cứu và biên soạn
- Nhóm những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào của các cơ quan, đơn vị, các nhà khoa học của Việt Nam, Lào
và nước ngoài
1.2 Những công trình nghiên cứu về hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ an ninh giữa Lào - Việt Nam
- Nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt Nam
- Nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả người Lào
1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Nhìn lại tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến luận án có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -
Lào, Lào - Việt Nam đã nêu bật những nhân tố tạo nên mối quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước trong mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Thứ hai: Xác định hợp tác về an ninh giữa hai quốc gia là nhiệm vụ cấp
bách và quan trọng hàng đầu trong quan hệ hợp tác của hai nước Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình hợp tác an ninh giữa Lào - Việt Nam và đặc biệt trong đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh của Lào từ trước đến nay có rất ít tài liệu Các vấn đề nghiên cứu đa số được trình bày dưới dạng các bài viết tham luận tại các cuộc hội thảo quốc tế về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; hội thảo về đào tạo đại học tại các trường công an nhân dân Việt Nam, các trường an ninh, cảnh sát của Lào; hoặc nghiên cứu dưới dạng các bài nghiên cứu về một vài vấn đề cụ thể được đăng trên các tạp chí nội bộ của ngành Công an Nội dung của những vấn đề nghiên cứu đã phần nào khái quát
Trang 7được sự cần thiết trong hợp tác an ninh nói chung và hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh nói riêng
1.4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục làm rõ
Thứ nhất: Làm rõ vai trò của hợp tác an ninh trong quan hệ giữa Lào và
Việt Nam
Thứ hai: Phân tích thực tiễn hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh
của Lào từ năm 1962 đến năm 2012
Thứ ba: Rút ra nhận xét, đánh giá, tổng kết để phát hiện những vấn đề
mang tính quy luật, những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị và đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh giữa Lào và Việt Nam
*
* *
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ CỦA HỢP TÁC AN NINH TRONG QUAN HỆ LÀO - VIỆT NAM
2.1 Khái quát về mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
2.1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào không phải là một hiện tượng nhất thời, mà đã có tiền đề tự nhiên, cơ sở lịch sử, xã hội từ lâu đời, bắt nguồn từ chính nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và những nguyện vọng chính đáng của các thế hệ dân cư, nhất là các tộc người cư trú dọc biên giới hai nước Trong đó, mối quan hệ về địa - tự nhiên và địa - quân sự kết hợp với nhau, tạo nên một mối quan hệ chỉnh thể thống nhất mà trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển của mỗi nước, hai dân tộc Lào và Việt Nam đều nhận thức được phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau không thể tách rời như một tất yếu của lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông cùng các thế hệ lãnh đạo hai đảng, hai nhà nước cùng nhân dân hai nước dày công vun đắp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam Sự tự nguyện đoàn kết của nhân dân hai nước Lào và Việt Nam trong chống ngoại xâm, nhất là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
2.1.2 Mối quan hệ Lào - Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập
và trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
- Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đoàn kết, gắn bó đánh giặc ngoại xâm
Trang 8Từ đầu thế kỷ XX, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào Việt Nam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Như vậy, trước 1930, Lào và Việt Nam đã có sự đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử Từ khi được chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào - Việt Nam, tình đoàn kết đó đã được phát triển liên tục và ngày càng bền chặt trong hai cuộc kháng chiến
-Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4 - 1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời Đây là thắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào
- Hợp tác và giúp đỡ nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hội nhập và phát triển
Sau năm 1975, quan hệ Lào - Việt Nam bước sang một trang mới Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trở thành đảng cầm quyền ở mỗi nước; cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện
về chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục…
2.2 Nhận thức chung về an ninh quốc gia và vai trò của hợp tác an ninh trong quan hệ giữa Lào và Việt Nam
2.2.1 Nhận thức chung về an ninh quốc gia
An ninh quốc gia là vấn đề cốt tử đối với mỗi quốc gia ANQG là sự ổn định và phát triển vững mạnh về mọi mặt của chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng của một quốc gia ANQG bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa,
xã hội, quốc phòng… trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt Như vậy,
ANQG được hiểu là trạng thái an toàn, vững mạnh và phát triển của quốc gia
trên các lĩnh vực
Lào và Việt Nam là một mẫu hình nhằm củng cố thêm tình hữu nghị đặc biệt, bền chặt Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành thì an ninh là nhu cầu thiết yếu đối với sự tồn tại của quốc gia Vì vậy, Lào và Việt Nam đã huy động mọi nguồn lực cho sức mạnh bảo vệ ANQG và các lợi ích thiết yếu của từng quốc gia Bên cạnh thách thức về an ninh truyền thống nảy sinh trong sự tương tác về quan hệ lợi ích chiến lược luôn uy hiếp và đe doạ trực tiếp đến an ninh quốc gia, là thách thức về an ninh phi truyền thống ngày càng trở nên nghiêm trọng, khó lường Hoàn toàn biện chứng và thực tiễn khi hai nước Lào - Việt Nam có
Trang 9nhu cầu củng cố đoàn kết, thúc đẩy hợp tác để cùng đối phó với các thách thức
đe đoạ trên
2.2.2 Vai trò của hợp tác an ninh trong quan hệ giữa Lào và Việt Nam
- Hỗ trợ cho nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ
a Giai đoạn (1962 - 1975)
Từ khi hai nước Lào - Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1962, hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước lúc nào cũng cùng vai sát cánh chung tay, giúp đỡ nhau một cách tận tình trong từng giai đoạn của cuộc cách mạng để chống lại kẻ thù xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập, bảo vệ an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước Trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc cách mạng đều có sự đóng góp rất quan trọng và tham gia tích cực của lực lượng công an Việt Nam và lực lượng an ninh Lào với sự kế tiếp của nhiều thế hệ
b Giai đoạn (1976 - 2012)
Từ năm 1976 đến đầu thế kỷ XXI, Lào và Việt Nam bị nhiều thế lực thù địch từ bên ngoài vừa tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phản động lưu vong quay trở về phá hoại an ninh quốc gia Theo tinh thần các văn bản đã ký kết giữa hai chính phủ, lực lượng an ninh Lào và công an Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụ được giao trên mặt trận chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọn phản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam
Trong thời gian đó, Việt Nam đã hỗ trợ Lào củng cố và xây dựng được lực lượng an ninh có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trước yêu cầu của tình hình mới, là chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ chính trị ở Lào
Lào và Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ trong giải quyết và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc - tôn giáo để kích động, tuyên truyền, xuyên tạc gây chia rẽ mất đoàn kết, kích động bạo loạn hòng chứng minh là có lực lượng đối lập ở mỗi nước, nhằm tạo cớ cho lực lượng nước ngoài vào can thiệp, kích động tư tưởng ly khai
Lào và Việt Nam đã tăng cường phối hợp trao đổi thông tin, phối hợp hành động, tích cực và thẳng thắn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số ở mỗi nước như: vấn
đề đồng bào dân tộc bị kích động, lôi kéo di dân tự do, vượt biên trái phép; đồng bào bị lôi kéo tham gia và nuôi dưỡng lực lượng phỉ trong rừng Đồng thời, lực lượng an ninh Lào và Việt Nam tích cực trao đổi về nghiệp vụ công an như: Tranh thủ người có uy tín trong dân tộc thiểu số, công tác điều tra cơ bản, công tác nắm tình hình địa bàn; tăng cường trao đổi về kinh nghiệm tiến hành công tác dân vận tại những địa bàn có “điểm nóng”, tập trung giải quyết vấn đề
tư tưởng trong đồng bào dân tộc Bên cạnh đó, Lào và Việt Nam còn trao đổi kinh nghiệm về tăng cường giáo dục tinh thần cảnh giác đấu tranh chống các thế lực thù địch, xây dựng phong trào tự quản chống các hành vi vi phạm pháp luật; kinh nghiệm trong việc phòng chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề
Trang 10dân tộc, tôn giáo để chống phá chính quyền; kinh nghiệm xử lý, đấu tranh tiếp nhận dân tị nạn hồi hương và kinh nghiệm bố trí tái định cư cho dân hồi hương Ngoài ra, Việt Nam còn trao đổi với Lào về kinh nghiệm trong quản lý việc tiếp cận địa bàn, đăng tải thông tin và quyền tiếp cận thông tin Được sự hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam, các đơn vị, cơ quan chức năng trực tiếp liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số của Lào đã có sự chủ động trong phối hợp tham mưu cho các cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở thực hiện tốt các chính sách tôn giáo, dân tộc, tổ chức tốt việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tăng cường giáo dục văn hoá, tinh thần cho đồng bào, xây dựng
và củng cố các tổ chức đoàn thể quần chúng, để các tổ chức này đủ sức thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, đóng góp thiết thực vào công tác bảo đảm
an ninh trong vùng dân tộc, tôn giáo và an ninh vùng biên của Lào
Như vậy, có thể thấy xuất phát từ tình hình thực tiễn cụ thể của Lào mà Việt Nam đã không ngừng giúp đỡ Lào xây dựng lực lượng an ninh của mình
để Lào có thể tự đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia trong giai đoạn kháng chiến cũng như trong quá trình phát triển hiện nay Trong mối quan hệ an ninh giữa hai nước, phía Việt Nam luôn chủ động và đảm nhiệm gánh vác các công việc khó khăn nhất với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng chính là an ninh của mình” Việt Nam đã giúp Lào củng cố và xây dựng một lực lượng an ninh có chất lượng cao và đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
- Giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, củng cố phòng tuyến an ninh biên giới của mỗi nước trong tình hình mới
Trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị, kinh tế thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mới phức tạp, đa dạng, khó dự báo, tác động đến an ninh, trật tự của hai nước, lực lượng Công an Việt Nam và lực lượng Công an Lào đã chủ động phối hợp chặt chẽ, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lưu vong người Việt, người Lào lợi dụng vấn đề
“dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” chống phá Việt Nam và Lào Phối hợp tổ chức thành công các hội nghị hợp tác an ninh và phòng, chống tội phạm thường niên, qua đó kịp thời trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, đánh giá sâu sắc, toàn diện các nội dung hợp tác; kiến nghị, bổ sung, điều chỉnh cơ chế hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các loại tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm kinh tế, hình sự,
ma tuý; phối hợp xác minh, truy bắt các đối tượng có lệnh truy nã… Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa công an các tỉnh giáp biên trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy qua biên giới; phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Hải quan hai nước truy bắt số đối tượng trong các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép
ma túy, góp phần kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả tội phạm ma túy qua biên giới hai nước
Sự giúp đỡ và hỗ trợ to lớn từ Việt Nam đã giúp cho các cơ quan chức năng về an ninh của Lào có thêm những kinh nghiệm quý báu trong tổ chức,
Trang 11quản lý điều hành và thực hành gìn giữ trật tự và an toàn xã hội, bảo đảm cho cán bộ, nhân dân có được cuộc sống thanh bình, yên tâm lao động sản xuất, các nhà đầu tư, du khách nước ngoài ngày càng đến với Lào nhiều hơn bởi họ cảm nhận được sự an toàn về an ninh và trật tự xã hội tại đây
Sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa Việt Nam và Lào trên lĩnh vực an ninh
đã tạo ra một trong những nhân tố cơ bản thường xuyên, bảo đảm lợi ích trực tiếp về an ninh và phát triển của mỗi nước, không chỉ tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh và khả năng phòng thủ của mỗi bên mà còn làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đổi mới ở hai nước
Do đó, sự hợp tác về an ninh giữa hai nước là vấn đề cần thiết và có giá trị thực tiễn to lớn, nó không thuần tuý chỉ là biểu tượng ngoại giao giữa hai nước mà đã trở thành tài sản vô giá của cách mạng hai nước, trở thành một nhân tố nền tảng bảo đảm sức mạnh của hai dân tộc trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau Củng cố, tăng cường và đẩy mạnh hơp tác an ninh giữa Lào - Việt Nam chính là tạo thế và lực cho nhau, là điều kiện
để hai nước xây dựng được môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế,
ổn định chính trị, an ninh, văn hoá, góp phần xây dựng nước CHDCND Lào phồn vinh, thịnh vượng và tươi đẹp, xây dựng nước CHXHCN Việt Nam giàu mạnh vì hoà bình và an ninh khu vực
- Hợp tác an ninh Lào - Việt góp phần đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc
Có thể nói, tiến trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam và Lào đang đối diện trước thách thức của một số nguy cơ đe dọa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, sự lựa chọn định hướng chính trị, vai trò của nhà nước
Đã xuất hiện những mưu đồ lấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước để hạ thấp chủ quyền quốc gia; lấy một thị trường không biên giới để phủ nhận tính bất khả xâm phạm của toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; lấy các thiết chế quốc tế làm mô hình siêu nhà nước đứng trên các nhà nước quốc gia, áp đặt các giá trị dân chủ
và nhân quyền phương Tây trong quan hệ quốc tế, đưa ra thuyết nhân quyền
cao hơn chủ quyền Hội nhập quốc tế đối với Việt Nam và Lào rõ ràng không
thể tách rời cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình của các thế lực chống đối
trên nhiều lĩnh vực Chính vì vậy, sự thắt chặt mối quan hệ hợp tác, trong đó hợp tác trên lĩnh vực an ninh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tầm quan trọng to lớn trong việc đảm bảo sự phát triển của cả hai nước
Sự gia tăng quan hệ với Việt Nam và Lào của các nước lớn có lợi ích tại khu vực thời gian qua cần được đánh giá một cách nghiêm túc trong mối tác động qua lại với an ninh quốc gia trên từng lĩnh vực hợp tác Lào và Việt Nam cần cảnh giác cao độ trước âm mưu của các thế lực thù địch, chúng lấy đó làm thời cơ “can dự” thúc đẩy “chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ để chống phá cách mạng hai nước Với lực lượng vũ trang, chúng có âm mưu “phi chính trị hoá”, mà Liên Xô là một bài học luôn mang tính thời sự đối với cách mạng Việt Nam và Lào Cho nên, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò nhân tố địa -
Trang 12chính trị và địa - quân sự của hai nước, khai thác nhân tố đó làm tăng sức mạnh nội tại của mỗi nước là vấn đề có tính chiến lược to lớn nhằm duy trì, củng cố
và phát triển mối quan hệ an ninh - quốc phòng giữa Việt Nam và Lào
Tóm lại, mối quan hệ an ninh giữa Lào - Việt Nam được hình thành và phát triển không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ bên nào, mà là do yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do chống kẻ thù chung, từ yêu cầu xây dựng đất nước của hai dân tộc qua các giai đoạn lịch sử Chính do yêu cầu khách quan của hai dân tộc mà Việt Nam và Lào đã liên kết với nhau, đó chính
là tính quy luật cho sự tồn tại và phát triển của hai dân tộc, là một nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Lào cũng như Việt Nam Trong mối quan hệ giữa Lào và Việt Nam thì hợp tác về đào tạo, bồi dưỡng lực lượng an ninh là tất yếu khách quan và cấp thiết Vì hợp tác trong lĩnh vực này đều xuất phát từ lợi ích riêng của từng nước
*
* *
Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, từ chặng đường đấu tranh chống chế độ thuộc địa, kháng chiến giành chính quyền rồi chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược cho đến thời kỳ củng cố và xây dựng đất nước, quan hệ đặc biệt Lào - Việt đã minh chứng cho tấm gương mẫu mực, hiếm có
về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng, đầy hiệu quả và trở thành tài sản chung, vô giá của hai dân tộc
Trền nền tảng chung đó, lực lượng công an hai nước không chỉ góp một nhịp cầu hữu nghị thân tình mà còn tích cực hợp tác, hỗ trợ, bổ khuyết cho nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng; giữ vững ổn định chính trị và an ninh trật tự của mỗi nước; củng cố phòng tuyến an ninh biên giới; trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phòng, chống tội phạm, tạo điều kiện đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia
Chương 3 THỰC TIỄN HỢP TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ AN NINH
CỦA LÀO TỪ NĂM 1962 ĐẾN NĂM 2012
3.1 Nhận thức chung về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo (GD - ĐT) là vấn đề có tính quy luật trong quá trình phát triển của xã hội loài người nhằm tạo ra những con người đáp ứng yêu cầu của xã hội GD - ĐT bao gồm nhiều nội dung, trong đó có nội dung hợp tác quốc tế về GD - ĐT Hợp tác quốc tế về GD - ĐT cũng là vấn đề có tính quy
Trang 13luật nhằm giữ gìn, phát triển và lưu truyền những di sản tinh thần mà nhân loại
đã tích lũy được
Xét trên bình diện quan hệ quốc tế, quan niệm: “Quan hệ quốc tế là những mối quan hệ kinh tế, chính trị, đối ngoại, quân sự chiến lược và tư tưởng tồn tại một cách khách quan giữa các quốc gia, dân tộc với nhau”, thì hợp tác quốc tế
về GD - ĐT là một trong những lĩnh vực của quan hệ quốc tế Sự hợp tác đó được thể hiện trên các vấn đề cụ thể của giáo dục như: trao đổi các vấn đề khoa học, trao đổi các cán bộ khoa học, trao đổi lưu học sinh, viện trợ các phương tiện kỹ thuật, máy móc, thiết bị, tài liệu khoa học, đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ Hình thức hợp tác có thể là sự hợp tác trực tiếp giữa các quốc gia với nhau; giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế; giữa các cơ sở đào tạo với nhau; giữa các đơn vị, các trường với các tổ chức xã hội, cá nhân nước ngoài xung quanh các nội dung giáo dục cụ thể
Ở bình diện chung, sự hợp tác GD - ĐT cán bộ giữa hai nước Lào - Việt
Nam được lãnh đạo hai đảng và hai nhà nước đặt ở tầm chiến lược, được bắt đầu từ trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ và liên tục được phát triển, trải qua nhiều khó khăn, gian khổ của chiến tranh và những biến động, thay đổi của tình hình chính trị thế giới
Trong thời kỳ chiến tranh, nhiệm vụ giúp Lào về giáo dục được Việt Nam dành ưu tiên chủ yếu đối với giáo dục phổ thông Song, với tầm nhìn chiến lược, chủ động đón những bước phát triển đột biến của cách mạng, từ năm
1962, theo yêu cầu của bạn Lào, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia sang Lào hợp tác
Sau năm 1975, hợp tác GD - ĐT giữa Việt Nam - Lào phát triển khá toàn
diện cả về cấp độ và loại hình chuyên môn, nghiệp vụ, với trọng tâm là đại học, trên đại học
Nội dung hợp tác GD - ĐT được triển khai trên nhiều lĩnh vực trong đó có
lĩnh vực, hợp tác đào tạo lực lượng an ninh góp phần bảo đảm vững chắc và ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội của mỗi nước, làm thất bại âm mưu và hành động của các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, chia rẽ quan hệ giữa hai đảng và nhân dân hai nước
3.2 Thực tiễn và kết quả hợp tác đào tạo, bồi dưỡng giữa các cơ quan chức năng, các cơ sở đào tạo của Bộ An ninh Lào và Bộ Công an Việt Nam
3.2.1 Giai đoạn từ năm 1962 đến năm 1975
- Bộ Công an Việt Nam giúp Lào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ an ninh tại Lào
Tháng 4 năm 1962, theo yêu cầu của Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ Công an Việt Nam cử đoàn chuyên gia đầu tiên do đồng chí Lê Đông, lúc đó đang là Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị, làm trưởng đoàn sang giúp Ban
An ninh Trung ương Lào