Số học sinh còn lại gần 40% gặp khó khăn từ việc thực hành, thí nghiệm đến viết thu hoạch, báo cáo, thuyết trình trước lớp trên vật mẫu thí nghiệm hoặc bài viết * Lý do chọn sáng k
Trang 1Phần mở đầu:
* Bối cảnh của sáng kiến:
Sinh học là môn học khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học được hình thành chủ yếu bằng phương pháp quan sát, mô tả, tìm tòi thực nghiệm … Do đó, dạy học sinh học không chỉ có tranh ảnh, mô hình, vật mẫu, mà còn phải tiến hành các thí nghiệm và thực hành nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh (HS) Nhưng với đa số các em học sinh, việc tiến hành thí nghiệm, thực hành quan sát hay tìm tư liệu viết báo cáo được xem là không cần thiết, các
em nghĩ rằng chỉ cần học thuộc những gì ghi nhận trên lớp là xong Tiến hành thí nghiệm, tìm tư liệu vừa mất thời gian, vừa không được gì nên việc thực hiện các yêu cầu của giáo viên về chuẩn bị các điều kiện cho thí nghiệm hay thực hành quan sát thì nhiều học sinh có thói quen tiến hành một cách qua loa, chiếu
lệ như: Thao tác không như hướng dẫn, điều kiện thí nghiệm không đúng, vật mẫu không đạt yêu cầu, tư liệu không theo chủ đề, các bài báo cáo, thu hoạch viết sơ sài Nói chung các em chưa thật sự tích cực và chưa có kỹ năng hoạt
động hợp tác theo nhóm, chưa quen với việc tự mình làm chủ, tiến hành thực hành- thí nghiệm để tìm ra kiến thức mới, khắc sâu kiến thức đã học
Từ thực trạng trên đã chi phối không nhỏ đến kết quả các bài thực hành của các
em : Chỉ khoảng hơn 60% học sinh có kỹ năng thực hành, thí nghiệm; biết thao tác trên mẫu vật, biết quan sát ghi lại kết quả, biết khai thác thông tin và viết báo cáo Số học sinh còn lại ( gần 40% ) gặp khó khăn từ việc thực hành, thí nghiệm đến viết thu hoạch, báo cáo, thuyết trình trước lớp trên vật mẫu thí nghiệm hoặc bài viết
* Lý do chọn sáng kiến:
Đề tài thực hiện thông qua việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học,
lựa chọn phương pháp dạy học tích cực phù hợp vào từng bài ở các tiết thực hành, thí nghiệm sinh học, học sinh học tập tích cực hơn trong giờ học, giúp phát triển tư duy thực nghiệm, đồng thời phát triển kỹ năng thực hành, thí nghiệm đáp ứng yêu cầu đổi mới quá trình dạy- học, học đi đôi với hành
Đề tài giúp giáo viên luôn chủ động, sáng tạo trong vai trò người hướng dẫn các em học tập Vì vậy GV luôn có nhu cầu đòi hỏi cập nhật kiến thức, tự học, tự rèn, sáng tạo trong vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực, luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và tận tâm trong giảng dạy, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
Giúp học sinh tự tin vào bản thân, tự mình tìm ra con đường đi tới kiến thức Bồi dưỡng năng lực tự học, lòng yêu thích tự nhiên, biết vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống
* Phạm vi và đối tượng áp dụng:
+Phạm vi nghiên cứu: Các tiết thực hành trong chương trình sinh học lớp
6 trường THCS Chiềng Cang
Trang 2+Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 6 trường THCS Chiềng Cang.
* Mục đích của sáng kiến:
- Mục tiêu của Giáo dục hiện nay không chỉ đơn thuần giúp giúp học sinh ( HS) cách nắm bắt, tiếp thu kiến thức mà còn cần hướng dẫn các em cách vận dụng kiến thức như thế nào? Giúp các em có năng lực phát hiện, biết ghi chép và
đề xuất ý kiến về một số vấn đề có liên quan kiến thức đã học, đồng thời góp phần hình thành nhân cách cho các em, hình thành một số kĩ năng cần thiết
- Đề tài nghiên cứu nghiên cứu nhằm xây dựng các giờ học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình Dạy- Học, xây dựng các tiết dạy thực
hành-thí nghiệm, thực hành- quan sát theo hướng nghiên cứu, hạn chế dạy minh họa
và qua đó rèn kỹ năng thực nghiệm cho học sinh, kích thích tính tìm tòi, nghiên cứu, tích cực tham gia trong quá trình học tập Học sinh nắm được mục tiêu, đối tượng, các bước tiến hành, tự lực giải thích được kết quả thực hành, trên cơ sở đó khám phá kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức lý thuyết và biết vận dụng vào giải thích thực tế hoặc sản xuất ở gia đình, địa phương
- Nhiệm vụ của đề tài: Trao đổi một số vấn đề về
+Vai trò của thực hành, thí nghiệm trong dạy học Sinh học
+ Làm thế nào để dạy một tiết thực hành đạt kết quả cao nhất?
+ Rèn học sinh các kĩ năng cần thiết liên quan, trong đó có một số kĩ
năng giáo viên cần đặc biệt quan tâm: Kĩ năng quan sát, thu thập thông tin, viết báo cáo, báo cáo, hợp tác nhóm
Phần nội dung:
I Thực trạng cuả sáng kiến:
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, khoa học mở luôn đổi mới, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên các quan sát thực tế, các thí nghiệm, thực hành để rút ra những kiến thức chung, khái quát về các hiện tượng
tự nhiên và các qui luật của Sinh học Bên cạnh đó số bài có thực hành- thí nghiệm, thực hành- quan sát theo hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học của Bộ
Giáo dục- Đào tạo và Sở GD- ĐT Sơn La chiếm số tiết khá cao ( Sinh 6: 6/ 70 tiết;) Vì vậy mà yêu cầu đặt ra cho giáo viên khá cao và học sinh cũng gặp nhiều
khó khăn khi học các tiết có thực hành- thí nghiệm, thực hành- quan sát
Để dạy thành công một bài thực hành là vấn đề rất khó, nếu thực hành không thành công sẽ không đạt được yêu cầu bài học Sự thành công của tiết dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
Một số kinh nghiệm trong vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy ở các tiết thực hành, thí nghiệm sinh học THCS Chiềng Cang
Trang 3vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui và hứng thú học tập bộ môn
Qua thực tế giảng dạy và tiếp tục vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy tôi xin ghi lại một vài kinh nghiệm mà bản thân đã thực hiện để bạn bè, đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp ý kiến để việc dạy các tiết thực hành đạt hiệu quả cao nhất Đó là lý do của đề tài:
Ưu điểm của phương pháp dạy học cũ:
PPDH truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ
lâu đời, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học
sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Không cần chuẩn bị các dụng cụ, đồ dung thiết bị dạy học
Nhược điểm của phương pháp dạy học cũ:
Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế
II Nội dung sáng kiến
Bản chất giải pháp mới:
- Phương pháp “dạy học thông qua thực hành dạy” là một phương pháp
dạy học định hướng hoạt động, trong đó mỗi học sinh, (hay một nhóm học sinh, ) thay nhau đảm nhận vai trò như một giáo viên để dạy cho các bạn trong
lớp một vấn đề kiến thức nào đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên Vấn đề kiến thức này có thể là do học sinh tự lựa chọn hoặc cũng có thể do giáo viên phân
công Trong hình thức dạy học này giáo viên giữ vai trò là người quan sát, hướng dẫn và giúp đỡ học sinh hoàn thành nhiệm vụ
Môn sinh học lớp 6, nội dung chủ yếu là các kiến thức về hình thái, phân
loại thực vật, do đó phương pháp thực hành quan sát sẽ tạo ra hứng thú học tập tích cực cho việc dạy và học
- Phương pháp dạy học Thực hành quan sát được tiến hành theo các bước sau:
+ Bước 1: Giáo viên giao nhiệm vụ nhận thức cho HS Ví dụ: Phân biệt các loại thân, các loại rễ, các loại lá,…
+ Bước 2: Học sinh thực hành quan sát mẫu vật theo yêu cầu của giáo viên
+ Bước 3: HS báo cáo kết quả và thảo luận
- Mục đích của giải pháp dạy học qua phương pháp thực hành:
+ Giáo viên có nhiệm vụ giúp cho học sinh đảm nhận vai trò giảng dạy: định hướng hoạt động dạy, lựa chọn vấn đề kiến thức để thực hành giảng, gợi ý những tài liệu cần thết, hướng dẫn phương pháp hay tiến trình giảng… Tuy
Trang 4không trực tiếp tham gia đảm trách các khâu cơ bản của bài giảng nhưng giáo viên chính vẫn là người tổng kết đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề lí thuyết cần nắm, bổ sung hoặc chỉnh lý những chỗ sai hay thiếu sót trong bài giảng của học sinh, và đưa ra những nhận xét đánh giá về phương pháp dạy của mỗi học sinh, cũng như sự tham gia vào bài giảng của những học sinh, còn lại trong lớp
+ Một hay một nhóm học sinh, đảm nhận hết các khâu của quá trình dạy Những học sinh này có nhiệm vụ lựa chọn một nội dung theo gợi ý của giáo viên hay theo ý kiến của cá nhân mình: tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu để hiểu rõ vấn đề mà mình tìm hiểu; thảo luận trong nhóm chính về phần nội dung của mình đã chọn Sau đó HS tiếp thu kiến thức và thỏa luận các vấn đề trên lớp dưới
sự hướng dẫn của GV
Ưu điểm:
+ Học sinh làm việc có hứng thú, hiệu quả, năng động và tập trung hơn vì áp lực giảm và ý thức học tập cao hơn
+ Nâng cao kiến thức và hiểu biết về môn học
+ Tăng cường tình đoàn kết giữa bạn bè và mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên với học sinh, sinh viên
Nhược điểm:
+ Giáo viên và HS Phải chuẩn bị trước các dụng cụ, thiết bị dạy học, mẫu
vật để thực hành…
+ Phần giới thiệu phương pháp tốn nhiều thời gian
+ Học sinh và giáo viên phải làm việc nhiều hơn
+ Kiến thức và nghiệp vụ của học sinh vẫn còn chưa hoàn thiện nên khó tránh khỏi những sai lệch trong nội dung kiến thức hay những bất cập trong phương pháp giảng dạy
III Khả năng áp dụng của sáng kiến:
- Trong thực tế giảng dạy bản thân đã tiếp tục vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Sinh học, đặc biệt là các tiết thực hành Biến các em trở thành chủ thể của quá trình học tập, đưa các em vào vị trí chủ động, đòi hỏi các em phải tích cực suy nghĩ, tư duy bằng những câu hỏi- tình huống có tính chất nêu vấn đề, gợi mở…biết phân tích nguyên nhân, kết quả và liên hệ thực tế vận dụng vào cuộc sống
- GV cần nắm rõ từng đối tượng học sinh ở các lớp giảng dạy, bằng các phương pháp dạy học tích cực tạo nhu cầu nhận thức có mong muốn tìm hiểu các hiện tượng sinh học, các vấn đề thực tế hướng dẫn học sinh tự lực tham gia vào các hoạt động giáo viên đã thiết kế tạo điều kiện cho các em bộc lộ khả năng nhận thức, biết cách thu thập thông tin, trình bày và bảo vệ ý kiến của mình khi thảo luận ở nhóm, tranh luận trước lớp
Trang 5- Khuyến khích học sinh nêu thắc mắc, nêu tình huống có vấn đề và tham gia giải quyết vấn đề, đề xuất ý kiến khắc phục, giải quyết
- Sau đây là một số bài dạy THTN tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực lồng ghép với giáo dục môi trường, giáo dục kĩ năng sống cho các em kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Đối với các thí nghiệm có sự tham gia của học sinh trong thực hiện thí a/ nghiệm:
- Kiểm tra việc thực hiện thí nghiệm của học sinh, ghi nhận nhanh kết quả thực hiện của các nhóm: nhóm làm tốt, nhóm làm chưa tốt
- Cho học sinh quan sát thí nghiệm giáo viên đã tiến hành học sinh so sánh với kết quả nhóm đã thực hiện
- Cho 1 – 2 nhóm học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm trên
cơ sở nhóm đã thực hiện, nêu kết quả thu được, các nhóm nhận xét bổ sung
- Giáo viên nêu nhận xét tóm tắt các bước chủ yếu trong quá trình tiến hành làm thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm của các nhóm, khen ngợi nhóm làm tốt, hỏi về nguyên nhân thí nghiệm chưa thành công, giải thích cụ thể trên từng thí nghiệm hỏng và rút kinh nghiệm chung cho cả lớp Qua bài dạy rèn kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK tìm hiểu cách tiến hành thí nghiệm và quan sát TN , kĩ năng tự tin khi trình bày kết quả làm việc của nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề giải thích các hiện tượng thực tế cuộc sống liên quan sự vận chuyển các chất trong thân
Ví dụ1: Bài 17: "Vận chuyển các chất trong thân" ( Sinh học 6)
Mục 1 Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan trong thân, GV có thể dạy bằng phương pháp thực hành.
Bước 1: Giáo viên giới thiệu mục đích của tiết thực hành: Xác định nước và
muối khoáng vận chuyển qua bộ phận nào của thân?
Bước 2: Chuẩn bị 2 bình thủy tinh, 1 bình đựng mực xanh hoặc đỏ, 1 bình đựng nước cất, 2 cành hoa trắng ( hoa hồng hoặc hoa huệ), kính lúp, dao con
Bước 3: GV hướng dẫn HS các thao tác thực hành.
Bước 4: HS tiến hành thực hành theo nhóm ( để dễ quan sát HS làm trước thí
nghiệm ở nhà )
Bước 5: HS tiến hành khai thác thông tin từ kết quả thực hành:
+ Khi quan sát thấy cánh hoa chuyển màu, rõ nhất là gân hoa, cánh hoa có màu giống màu mực Vậy nó được chuyển qua bộ phận nào của thân?
Trang 6+ Cắt ngang qua thân, dùng kính lúp quan sát bộ phận nhuộm màu Kết
luận: Nước
và muối khoáng được vận chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ mạch gỗ của cây?
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
+ GV sau khi kiểm tra và ghi nhận sơ
lược kết quả thí nghiệm của các nhóm
Yêu cầu nhóm trình bày thí nghiệm đã
tiến hành trước ở nhà về sự vận chuyển
nước và muối khoáng hòa tan
+ GV cho HS cả lớp xem TN của mình
tiến hành trên cành mang hoa (cành
hoa hồng trắng hoặc cành huệ trắng ),
cành mang lá (cành dâu)
Hỏi: Vì cần thực hiện thí nghiệm trên
cả cành hoa hồng và cành dâu?
+ GV hướng dẫn HS cắt lát mỏng qua
cành của nhóm → quan sát bằng kính
lúp, kính hiển vi → xác định chỗ bị
nhuộm màu
+ Yêu cầu h/s thảo luận nhóm, cho
biết:
+ HS hoạt động theo nhóm, đại diện nhóm trình bày trước lớp các bước tiến hành TN và kết quả thực hiện của nhóm mình
- Nhóm khác nhận xét bổ sung
- Các nhóm so sánh xem nhóm nào có kết quả tốt
- Quan sát.
HS trả lời: Chứng minh có sự vận chuyển các chất trong thân lên hoa và lá.
+ HS tiến hành TN theo nhóm: Cắt lát mỏng ngang cành dâu và cành hoa hồng, quan sát nơi bị nhuộm màu + Các nhóm thảo luận
Trang 71/ Phần nào của thân đã bị nhuộm màu
? Vì sao em biết?
2/ Vậy nước và muối khoáng được vận
chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ bộ phận
nào của cây?
+ GV nhận xét, đánh giá cho điểm
nhóm trả lời tốt
• GV nêu nhận xét về kết quả thí
nghiệm của nhóm làm tốt, làm chưa
tốt, cho h/s tự giải thích nguyên
nhân tóm tắt ý chính của hoạt
động kết luận.
• Kết luận:
Nước và muối khoáng được vận
chuyển từ rễ lên thân nhờ mạch gỗ
- Đại diện 1 → 2 nhóm trình bày kết
quả của nhóm mình dựa trên vật mẫu
thí nghiệm hoặc vẽ lên bảng cho cả lớp theo dõi nhóm khác bổ sung
b/
Đối với các thí nghiệm do giáo viên tiến hành, học sinh chỉ dựa trên
quan sát phân tích để thu nhận kiến thức.
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu các thông tin liên quan đến thí nghiệm như: Mục đích thí nghiệm, điều kiện để thực hiện thí nghiệm, các bước tiến hành thí nghiệm, kết quả thí nghiệm
- Cho học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm thông qua các dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn Rèn kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK để tìm hiểu cách tiến hành TN và quan sát TN, kĩ năng trình bày thí nghiệm, thực hành thí nghiệm
Trang 8- Cho học sinh quan sát thí nghiệm mẫu đã có kết quả do giáo viên chuẩn
bị trao đổi thảo luận để tìm ra kiến thức được cung cấp thông qua thí nghiệm
Ví dụ 2: Bài 23 : "Cây có hô hấp không?", thí nghiệm 1 chứng minh hiện tượng cây thải ra môi trường khí cacbonic
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Thí nghiệm 1 (tr 77, SGK) :
+ Cho 1 HS đọc thông tin
+ Sau khi HS đọc xong, GV hỏi : Khi
để cốc nước vôi trong trong không khí
có lớp váng trắng đục mỏng, vì sao?
+ Cho HS gạch dưới các từ sau : “ Cốc
nước vôi trong để một thời gian, có lớp
váng trắng đục mỏng vì trong không khí
có khí cacbônic” chính khí cacbônic
làm cho cốc nước vôi trong có váng
trắng đục mỏng, điều đó diễn ra như thế
nào các em sẽ được học ở chương trình
hóa học sau này
+ Yêu cầu HS đọc thí nghiệm 1 → nắm
cách tiến hành, kết quả của thí nghiệm
Cho HS nêu các bước tiến hành thí
nghiệm thông qua dụng cụ được giáo
viên chuẩn bị sẵn: 2 chuông A, B; 2 tấm
kính ướt; 2 cốc nước vôi trong; 1 cây
nhỏ trồng trong cốc; 2 túi giấy đen.
+ Cho một số học sinh quan sát kết quả
thí nghiệm 1
Thảo luận: trả lời các câu hỏi
- Không khí trong hai chuông có
chất khí gì? Vì sao em biết?
- Vì sao trên mặt cốc nước vôi
+ HS đọc thông tin SGK tr.77 + Trả lời câu hỏi
+ HS thực hiện theo yêu cầu của giáo viên
+Quan sát hình 23.1, đọc thí nghiệm
tìm hiểu về chuẩn bị, cách tiến hành, kết quả
H/s thực hiện và nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng
cụ có sẵn.
+ HS quan sát kết quả thí nghiệm mà
GV đã thực hiện
+ HS thảo luận nhóm nhỏ
- Không khí trong hai chuông đều
có khí cacbônic, vì trên mặt cốc nước vôi trong 2 chuông đều có lớp váng trắng đục
- Lớp váng trắng trên mặt cốc nước vôi trong chuông A dày
Trang 9trong chuông A có lớp váng trắng
đục dầy hơn?
- Từ kết quả thí nghiệm 1 ta có thể
rút ra được kết luận gì?
GV hoàn thiện đáp án tiểu kết
Kết luận: Khi không có ánh sáng,
cây đã thải ra nhiều khí cácbônic.
hơn vì trong chuông có nhiều khí cacbônic hơn
- Cây đã thải ra nhiều khí cácbônic.
Ví dụ 3: Bài 21 Quang hợp ( Sinh học 6- tiết 23) HS tìm hiểu và phân
tích thí nghiệm để tự rút ra kết luận: khi có ánh sang, lá có thể tự chế tạo ra tinh
bột và nhả ra ô xy Bài này sử dụng kĩ thuật dạy học theo “Góc”
*Hoa ̣t động 1: Hướng dẫn hoạt động học theo góc
- GV giới thiệu các góc và nội dung hoạt động của các góc
+ Góc quan sát
+ Góc phân tích
+ Góc áp dụng
- GV cho HS chọn góc phù hợp với phong cách học vận động HS vào các góc cho cân đối về số lượng
- Thông báo thời gian hoạt động của các góc và cách thực hiện nhiệm vụ theo góc như phụ lục
Hoa ̣t động 2: Xác định chất mà lá cây chế tạo khi có ánh sáng
- GV quan sát, theo dõi hoạt động của các nhóm học sinh và hổ trợ nếu
các em cần giúp đỡ HS làm việc theo cặp, nhóm để thực hiện nhiệm vụ của góc
- GV hướng dẫn HS báo cáo kết quả: GV yêu cầu mỗi nhóm dán kết quả tại góc tương ứng và kết quả ở góc cuối cùng dán lên bảng
-Yêu cầu đại diện các nhóm báo cáo theo thứ tự từ góc quan sát góc phân tích góc áp dụng Các nhóm theo dõi, bổ sung nếu cần
- HS các góc tự so sánh, đánh giá kết quả sau khi GV chuẩn kiến thức
IV Hiệu quả dự kiến có thể thu được khi áp dụng sáng kiến:
Trang 10a Hiệu quả kinh tế:
Dụng cụ thí nghiệm sẵn có trong phòng thí nghiệm, không phải mất tiền
mua.
b Hiệu quả xã hội:
-Dạy học Sinh học nhất là giảng dạy các thí nghiệm là một vấn đề tương
đối khó nhưng với điều kiện cơ sở vật chất ( thiết bị dạy học) của nhà trường khá
đầy đủ và các nguồn tư liệu trên internet, thư viện Giáo dục, trang web của bạn
bè giúp GV dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học mới vào giảng dạy (lấy học sinh làm trung tâm ), biến các em trở thành chủ thể của quá trình học tập,
kích thích các em tham gia tích cực trong giờ học, đồng thời biết cách nghiên cứu khoa học thông qua thực hiện thí nghiệm, rèn kỹ năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, kĩ năng hợp tác, kĩ năng thực hành - thí nghiệm
-Đề tài nghiên cứu đã có tác động tích cực, góp phần đổi mới cách tổ chức- thiết kế giờ dạy của GV một cách sáng tạo, cách học của học sinh trong điều kiện học tập cụ thể
+ Giáo viên luôn chủ động, sáng tạo trong vai trò người hướng dẫn các em học tập Giáo viên luôn có nhu cầu đòi hỏi phải cập nhật kiến thức, tự học, tự rèn, ứng dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp từng loại bài Luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và tận tâm trong hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh học tập, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
+ Học sinh tự tin vào bản thân, thông qua hợp tác nhóm tích cực, độc lập nghiên cứu, tranh luận và bảo vệ vấn đề mình đưa ra, rèn luyện kĩ năng cần thiết,
phát triển tư duy từ thực hành, thí nghiệm (trực quan cụ thể) biết vận dụng
vào giải thích các hiện tượng và ứng dụng trong thực tế cuộc sống
Phần kết luận:
- Bài học kinh nghiệm rút ra khi áp dụng sáng kiến:
Việc tổ chức các hoạt động thực hành- thí nghiệm, thực hành- quan sát phù hợp với loại hình bài, đối tượng HS sẽ đem lại hiệu quả trong học tập, hình thành ở
HS các kĩ năng như: Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK tìm hiểu cách tiến hành thí nghiệm, kĩ năng tiến hành thực hành, thí nghiệm và quan sát
TN , kĩ năng tự tin khi trình bày kết quả làm việc của nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề giải thích các hiện tượng thực tế, tư duy sáng tạo Có như vậy HS sẽ lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sâu sắc hơn, theo tôi nghĩ đây chính là hiệu quả của việc giảng dạy các tiết thực hành; góp phần nâng cao chất lượng, đem lại niềm vui và hứng thú học tập bộ môn
- Ý nghĩa của sáng kiến trong công tác thực tiễn: