1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan niệm của john stuart mill về bầu cử trong tác phẩm “chính thể đại diện” và ý nghĩa của nó đối với việt nam hiện nay (tóm tắt trích đoạn)

40 410 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Nin: “đó là vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị, đến nỗi không những thời đại giông tố và cách mạng Lịch sử đã chứng minh sự tồn tại của rất nhiều học thuyết, lý t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ

Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ

Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Hạnh

Hà Nội - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 9

Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA J.S MILL VỀ BẦU CỬ TRONG TÁC PHẨM CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN 9 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 9

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX 9

1.1.2 Bối cảnh văn hóa - chính trị nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX 12

1.2 Tiền đề tư tưởng hình thành quan niệm của J.S Mill về bầu cử 15

1.2.1 Thuyết công lợi của Jeremy Bentham 15

1.2.2 Tư tưởng dân chủ của Alexis de Tocqueville 17

1.2.3 Luận thuyết về bầu cử của Thomas Hare 20

1.3 Khái quát về J.S Mill và “Chính thể đại diện” 23

1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của J.S Mill 23

1.3.2 Về “Chính thể đại diện” 28

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN NIỆM CỦA J.S MILL VỀ BẦU CỬ TRONG TÁC PHẨM CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 33

2.1 Hai nguyên tắc nền tảng cho quan niệm về bầu cử của J.S Mill 33

2.1.1 Nguyên tắc công lợi 33

2.1.2 Nguyên tắc về quyền tự do 35

2.2 Quan niệm cơ bản về bầu cử của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” 37

2.2.1 Mối quan hệ giữa chính thể đại diện và bầu cử 37

2.2.2 Quan niệm về mở rộng quyền bầu cử 41

2.2.3 Quan niệm về quyền bầu cử cho phụ nữ 57

2.2.4 Quan niệm về quy trình bầu cử 62

2.2.5 Quan niệm về cách thức bỏ phiếu và nhiệm kỳ của Nghị viện 66

2.3 Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” 68

Trang 4

2.3.1 Những giá trị chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill 68

2.3.2 Những hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill 73

2.4 Ý nghĩa quan niệm về bầu cử của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” đối với Việt Nam hiện nay 76

2.4.1 Ý nghĩa lý luận 76

2.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 80

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý nhân loại nói chung và lịch sử tư tưởng về nhà nước nói riêng, vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước được coi là vấn đề quan trọng và phức tạp nhất Theo V.I Lê Nin: “đó là vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị, đến nỗi không những thời đại giông tố và cách mạng

Lịch sử đã chứng minh sự tồn tại của rất nhiều học thuyết, lý thuyết hay quan niệm khác nhau về vấn đề nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước phải đứng trên nhiều góc nhìn, phản ánh nhiều mặt của vấn đề Các lý thuyết do con người sáng tạo nên và để phục vụ cho lợi ích con người Những giá trị thực tiễn và

lý luận mà các mô hình nhà nước dân chủ trên thế giới đem lại là một nguồn tài liệu quý giá cho Việt Nam nghiên cứu và học tập trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và kiện toàn hệ thống chính trị

Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một vấn đề cơ bản nhất của Hiến pháp ở bất kỳ quốc gia nào Quyền lực thuộc về nhân dân phải có các hình thức và biện pháp thực hiện nhất định Hình thức dân chủ đại diện với việc nhân dân bỏ phiếu bầu ra những người đại diện, những người này thay mặt nhân dân, được nhân dân ủy nhiệm giải quyết các công việc của nhà nước là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Phương pháp bầu cử trở thành một trong những hình thức thực hiện quyền tự

do dân chủ, một trong những biểu hiện quyền con người trong lĩnh vực chính trị

Về tầm quan trọng của bầu cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:“Tổng tuyển

cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộc tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không phân

Trang 6

chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam đều có hai quyền đó” (Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên Đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên, VietNamNet, 01/01/2006)

Phương Tây – là khởi nguồn của dòng tư tưởng xã hội dân chủ, nơi mà tất cả các công dân có quyền được tham gia tối đa một cách thực sự vào các quyết định chung cho sự phát triển, tồn vong của quốc gia Dòng tư tưởng này đã thấm đẫm vào thực tiễn đời sống chính trị, mang lại nhiều thành tựu quan trọng cho quá trình hình thành, phát triển và kiện toàn bộ máy nhà nước tại nhiều quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh hội nhập và tiếp biến văn hóa toàn cầu hiện nay, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá và tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng có giá trị của phương Tây Nghiên cứu triết học một cách nghiêm túc, chúng ta luôn ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu những tư tưởng triết học vĩ đại trong lịch

sử tư tưởng nhân loại để lấy đó như bài học, kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển của Việt Nam nói chung và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay nói riêng

“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Đó là tuyên bố trịnh trọng trong Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Điều 6 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm 2006) đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là “Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [47-tr.40] Một trong những phương hướng quan trọng để thực hiện nhiệm vụ chiến lược này là “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất

Trang 7

lượng đại biểu Quốc hội…phát huy tốt vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội”[47, tr.126] Như vậy, có thể thấy được định hướng của Đảng về đổi mới chế độ bầu cử được thể hiện khá rõ ràng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XII đã chỉ rõ cần phải “Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm cơ cấu và tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng đại biểu, tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách một cách hợp lý” và “Đổi mới bầu

cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu” Như vậy, xét về cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn, định hướng chính trị của Đảng cũng như định hướng nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học chính trị nhân loại, việc đổi mới nhận thức về pháp luật bầu cử là hoàn toàn cấp thiết, phù hợp với mục tiêu chính trị cũng như mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đời sống triết học chính trị thế giới đã vô cùng sôi động, ngay từ thời cổ đại chúng ta đã có “Nền Cộng hòa” của Plato – một tác phẩm nổi tiếng thể hiện ước mơ về một nhà nước lý tưởng, chúng ta cũng hoàn toàn kinh ngạc khi đọc “Chính trị luận” của Aristotle,…cho đến “Khảo luận thứ hai

về chính quyền của” John Locke, “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu hay “Bàn

về khế ước xã hội” của Jean-Jacques Rousseau Vấn đề nhà nước là gì, mục đích ra đời của nhà nước ra sao, nhà nước có thể làm được gì và cơ chế hình thành nhà nước như thế nào là những trăn trở, suy tư, phân tích chính của các triết gia Một vấn đề nan giải còn tồn tại chưa có cách giải quyết thỏa đáng đó là bằng cách nào để

có thể thiết lập được một hình thức nhà nước đại diện cho tất cả mọi người chứ không phải số đông nhằm tổ chức một xã hội quy củ, hệ thống, đảm bảo hài hòa quyền lợi của mọi người

Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn như vậy, tác giả mong muốn tìm tòi những tư tưởng về nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại Một triết gia gây sự chú ý đặc biệt chính là J.S Mill (J.S Mill) – nhà tư tưởng nổi tiếng người

Trang 8

Anh thế kỷ XIX, sự nghiệp chính trị và học thuật của ông có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng hệ thống chính trị ở nhiều quốc gia trên thế giới J.S.Mill (1806-1873) được coi là người đại diện chính cho trường phái chủ nghĩa Công lợi (Utilitarianism) Tư tưởng chính trị nổi bật của ông có thể coi là xuất phát từ lập luận rằng mọi hành động của con người đều phải hướng tới việc mang lại tối đa hạnh phúc (tức sự thỏa mãn các nhu cầu) cho đa số người Học thuyết của ông đã có đóng góp rất lớn trong việc đem lại các quyền tự do, dân chủ cho phụ nữ và tầng lớp lao động ở nước Anh đầu thế kỷ XIX cũng như để lại nhiều bài học to lớn đối với các quá trình thực hiện quản lý xã hội của các nhà nước dân chủ

Nghiên cứu sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, J.S.Mill đã để lại một kho tàng các tác phẩm tiêu biểu như “Bàn về tự do” (On Liberty, năm 1859), “Chính thể đại diện” (Representative government, năm 1861), “Chủ nghĩa công lợi” (Utilitarianism, năm 1863),v.v Trong các tác phẩm này, tác giả luận văn lựa chọn

“Chính thể đại diện” – được coi là tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây, tác giả luận văn muốn làm rõ những giá trị của các quan điểm của J S Mill về bầu

cử mà theo ông đó là phương thức để thiết lập chính thể lý tưởng Về cá nhân tác giả luận văn, hướng nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị xã hội phương Tây một cách hệ thống qua các tác phẩm nổi tiếng là hướng nghiên cứu yêu thích, lâu dài của

từ lâu

2 Tình hình nghiên cứu

“Chính thể đại diện” ra đời cách đây hơn một thế kỷ rưỡi và được xếp vào

Bộ sách “Great Books of the Western World” (Tạm dịch: Những cuốn sách vĩ đại của phương Tây”) Có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về quan niệm của J.S Mill Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học chính trị của J.S.Mill chiếm số lượng khiêm tốn trong các đề tài nghiên cứu, đặc biệt quan niệm về bầu cử của ông lại là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới mẻ

Trong số các tác phẩm của J S Mill, có hai tác phẩm được dịch ra tiếng Việt

đó là “Bàn về tự do” (Nguyễn Văn Trọng dịch, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành lần

Trang 9

đầu năm 2005) và “Chính thể đại diện” (Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành lần đầu năm 2008) Đây

là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của J S Mill Các bản dịch của hai dịch giả Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn cũng là những bản dịch công phu, tỉ

mỉ, có lời giới thiệu của người dịch phân tích đánh giá khái quát toàn bộ nội dung

Đề tài "Tư tưởng chính trị phương Tây cận, hiện đại" do TS Ngô Huy Đức, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ nhiệm là đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng chính trị Đề tài dành chương II để nghiên cứu

về các tư tưởng của Mandison và Mill, trong đó, tư tưởng chính trị của J S Mill được để cập thông qua các luận đề như quan niệm về con người chính trị, quan niệm về thể chế chính trị, mối quan hệ giữa con người chính trị và thể chế chính trị

Luận án Tiến sĩ Triết học của Ngô Thị Như (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2012) với tên đề tài: “Triết học chính trị của J.S Mill – Giá trị và bài học lịch sử”, trình bày một cách hệ thống triết học chính trị J.S.Mill và chỉ ra những nội dung cơ bản trong triết học chính trị của ông Luận án cũng phân tích và rút ra những giá trị, bài học lịch sử của triết học chính trị J.S.Mill trong vấn đề tự do cá nhân, quyền lực nhà nước, dân chủ, bầu cử, giáo dục và giải phóng phụ nữ, qua đó chỉ rõ những hạn chế của triết học chính trị J.S.Mill thể hiện ở tính chủ quan, thiếu nhất quán và thiếu một cơ sở thực tiễn thể hiện ở quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân

Luận văn cao học Triết học của Nguyễn Thị Thùy Linh (Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 10, năm 2010) với tên đề tài

“Quan niệm về Chính thể của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” Tác giả đi sâu phân tích nội dung tư tưởng của J.S.Mill về chính thể trong “Chính thể đại diện”, phân tích những giá trị và hạn chế của quan niệm đó Đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống đầu tiên tư tưởng của J.S.Mill trong “Chính thể đại diện” tuy nhiên quan niệm về bầu cử chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn

Trang 10

Như vậy, nghiên cứu tư tưởng của J.S.Mill về bầu cử vẫn còn là một hướng nghiên cứu mới mẻ, đầy khó khăn nhưng không kém phần hấp dẫn mà chúng tôi tin chắc rằng sẽ góp phần làm phong phú thêm tư tưởng chính trị của ông

J.S.Mill không xa lạ với giới học giả thế giới, đặc biệt là các học giả phương Tây Các đề tài nghiên cứu về J.S.Mill tập trung phân tích tư tưởng chính trị của ông, đặt nó trong mối quan hệ với dòng chảy tư tưởng triết học chính trị phương Tây thời kỳ cổ đại, cận đại và hiện đại để đánh giá những giá trị, điểm tiến bộ và hạn chế trong hệ thống tư tưởng của ông

J.S Mill (1806-1873) là nhà tư tưởng nổi tiếng người Anh ở thế kỷ XIX và

có ảnh hưởng sâu rộng đối với triết học chính trị phương Tây cận - hiện đại Do vậy, các học giả ở nhiều quốc gia đã nghiên cứu về nội dung tư tưởng chính trị của ông với những công trình có giá trị nhất định Trong đó, phải kể đến những tác phẩm sau:

"Great political thinkers" (Tạm dịch: Những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại) của William Thomas (Oxford University Press, New York, 1992) là công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị về 4 nhà tư tưởng gồm Niccolo Machiavelli, Thomas Hobbes, J S Mill và Karl Marx Trong công trình này, William Thomas nghiên cứu

về J S Mill theo từng luận điểm: tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học

J S Mill được đánh giá như một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ XIX, một nhà tư tưởng tiêu biểu của thời đại

Luận án Tiến sỹ của John Mercel Robson (Đại học Toronto, Tháng 12, 1956) với đề tài “The social and political thought of J.S Mill” (Tư tưởng chính trị - xã hội của J.S Mill) đề cập quan niệm của Mill về Chính phủ song còn rất hạn chế Tác giả chủ yếu đi phân tích những tư tưởng chính trị xã hội nói chung của Mill như Đạo đức học, Phương pháp khoa học hay một số vấn đề xã hội khác

Cuốn “Mill on Democracy: From the Athenian Polis to Representative Government” (Tạm dịch: Mill bàn về Dân chủ: Từ thành bang Athen đến Chính thể Đại diện) của Nadia Urbinati, giáo sư chuyên nghiên cứu về Lý thuyết chính trị và

Trang 11

lịch sử Hy Lạp thuộc Khoa Khoa học Chính trị của Đại học Columbia, Hoa Kỳ Công trình khoa học này được xem là nghiên cứu đầu tiên mang lại những kiến thức sâu rộng về lý thuyết Dân chủ của Mill

Cuốn sách “Tư tưởng chính trị của J.S Mill” được nhà xuất bản Đại học Cambridge xuất bản năm 2007 của hai tác giả Nadia Urbinati và Alex Zakaras đã đưa ra một cách đánh giá lại (theo cách diễn đạt của các tác giả) về giá trị trong tư tưởng chính trị Mill Trong cuốn này, các tác giả cố gắng liệt kê những bài viết đề cao giá trị triết học chính trị của Mill, từ đó các tác giả đưa ra nhận định riêng của mình về sức hấp dẫn của những ý tưởng đặc sắc trong tư tưởng J.S Mill

Tựu chung, có thể nói rằng góc độ tiếp cận triết học chính trị J.S.Mill của các tác giả trên thế giới thường tập trung nghiên cứu cả hệ thống tư tưởng hoặc những

tư tưởng chính trị của ông Quan niệm của J.S.Mill về bầu cử chỉ được nghiên cứu đan cài trong các công trình liên quan đến chính thể đại diện nói chung Tiếp thu giá trị từ những công trình nghiên cứu, tác giả luận văn mạnh dạn đi tìm hiểu những nội dung về quan niệm bầu cử của Mill được trình bày trong “Chính thể đại diện”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm về bầu cử của J.S Mill; làm rõ những quan niệm cơ bản về bầu cử của J.S.Mill trong “Chính thể đại diện”, từ đó rút ra ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ cơ bản:

- Phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm về bầu cử của J.S Mill trong “Chính thể đại diện”

- Phân tích những quan niệm cơ bản về bầu cử của J.S Mill, chỉ ra một số giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và rút ra ý nghĩa đối với việc đổi mới bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn lấy quan niệm về bầu cử của J.S Mill làm đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung vào những quan niệm cơ bản

về bầu cử của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” Luận văn cũng bước đầu phân tích

ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng và đổi mới bộ máy Nhà Nước

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử, hệ thống – cấu trúc, đồng thời sử dụng phương pháp tiếp cận từ góc độ chính trị - pháp lý

6 Đóng góp của luận văn

- Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn đã phân tích một cách tương đối hệ thống và đầy đủ những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm bầu cử của J.S.Mill; những nội dung cơ bản trong quan niệm về bầu cử của Mill trong “Chính thể đại diện” và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc đổi mới bầu cử ở Việt Nam hiện nay Do

đó, luận văn góp phần vào việc khẳng định giá trị hệ thống tư tưởng chính trị của J.S.Mill, đặc biệt là tư tưởng về bầu cử của ông

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học và những người quan tâm đến triết học chính trị của J.S Mill

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương, 7 tiết

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM

CỦA J.S.MILL VỀ BẦU CỬ TRONG TÁC PHẨM CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX

Thứ nhất, cuộc cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX thắng lợi làm tiền đề phát triển mạnh mẽ cho phương thức sản xuất tư bản

Đến thế kỷ XVII, Anh trở thành nước có nền kinh tế mạnh nhất châu Âu Khu vực phía Bắc, phía Nam nước Anh, đặc biệt là khu vực Luân Đôn mọc ra hàng loạt các công trường thủ công sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là hàng len dạ Các công trường thủ công phát triển là nhân tố thúc đẩy ngoại thương Anh, hàng loạt các bến cảng ra đời và phát triển đã đưa hàng hóa của Anh xuất khẩu khắp nơi trên thế giới Từ đó, chủ nghĩa tư bản xâm nhập mạnh mẽ đến cả nông thôn nước Anh

Về chính trị, đứng đầu nước Anh trong giai đoạn này là vua Charles I (1600 – 1649), chế độ phong kiến ngày càng tìm cách kìm hãm, ngăn trở sự phát triển của lực lượng sản xuất chủ nghĩa tư bản

Về tình hình xã hội trước cách mạng tư sản, giai cấp tư sản bao gồm chủ xưởng, nhà buôn giàu lên nhanh chóng và có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ nhờ công nghiệp len dạ và đặc biệt là buôn bán những người nô lệ

Qua quá trình phát triển của thủ công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực len

dạ đã thúc đẩy và giúp cho sự phát triển của nghề nuôi cừu, do đó ở nông thôn Anh giai đoạn này, một số quý tộc nhỏ và vừa đã chuyển hướng kinh doanh theo hướng

tư bản chủ nghĩa và tầng lớp quý tộc mới đã hình thành, đồng thời ngày càng có thế lực về kinh tế Đời sống quần chúng nhân dân ngày càng cơ cực, đặc biệt là nông dân Anh trong giai đoạn này, qua quá trình rào đất, cướp ruộng để trồng

cỏ nuôi cừu

Trang 14

Chính vì những mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm của giai cấp tư sản, quý tộc mới với các tầng lớp phong kiến đã đưa đến cuộc cách mạng tư sản Anh Cuộc cách mạng đã đánh dấu sự thắng lợi của liên minh giữa tư sản và quý tộc mới, có ý nghĩa

to lớn đối với tiến trình phát triển của lịch sử thế giới Đối với nước Anh, cuộc thắng lợi này đã mở đường thênh thang cho chủ nghĩa tư bản phát triển Đối với thế giới, cách mạng tư sản Anh đã đánh dấu thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang

là sự thay đổi về mặt kỹ thuật để tăng năng suất lao động cao hơn so với thời kỳ tư bản chủ nghĩa và để củng cố nền tảng mới

Anh là nước đầu tiên ở châu Âu diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp này, có thể nói nguyên nhân là do nước Anh là nước đầu tiên tiến hành cách mạng tư sản với sự phát triển lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất hay cụ thể là Anh hội đủ ba điều kiện chính để tiến hành cách mạng công nghiệp Đầu tiên, Anh là nước có cách mạng tư sản nổ ra sớm đưa chính quyền thuộc về giai cấp tư sản, khi chế độ phong kiến sụp đổ, giai cấp tư sản tiếp tục củng cố vị thế của mình bằng cách phát triển về kinh tế mà chỉ có cách mạng công nghiệp mới có thể đáp ứng được yêu cầu đó, mục đích là tạo ra một phương thức sản xuất mới thay thế phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời Điều kiện thứ hai là do kinh tế tư bản phát triển mạnh mẽ ở nước Anh, đặc biệt là công nghiệp Thứ ba là do Anh có một hệ thống thuộc địa rộng lớn,

đủ điều kiện để cho nước Anh tích lũy tư bản nguyên thủy ban đầu (vốn ban đầu) Trong tất cả các điều kiện trên, có thể nói tích lũy tư bản nguyên thủy là việc vô cùng quan trọng để Anh có thể tiến hành được cách mạng công nghiệp vì có một nguồn vốn thặng dư lớn sẽ giúp nước Anh luôn sẵn sàng quay vòng sản xuất

Trang 15

Cùng với ba điều kiện chính trên, với việc phát minh ra máy hơi nước của

Stephenson năm 1814 đã tạo dựng gần như đầy đủ những điều kiện hoàn hảo để Anh tiến hành thành công cách mạng công nghiệp Để có được sự thành công của cuộc cách mạng không thể không kể đến những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng nước Anh với lượng than đá khổng lồ và rất nhiều các mỏ sắt

Hai cuộc cách mạng trên có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới mọi mặt đời sống

xã hội nước Anh lúc bấy giờ, phơi bày những mâu thuẫn ngày càng gia tăng trong

xã hội Anh Người ta thấy rằng, mặc dù cuộc cách mạng tư sản đã giành thắng lợi với việc lật đổ tầng lớp phong kiến mới chỉ đem lại những quyền lợi cho giai cấp cầm quyền – giai cấp tư sản mà thôi, nông dân và quần chúng lao động bị mất đất

và đời sống thì ngày càng khó khăn hơn Đây cũng là lý do vì sao cuộc cách mạng

tư sản ở nước Anh là cuộc cách mạng tư sản không triệt để Hệ quả của các cuộc cách mạng đã làm biến đổi sâu sắc đời sống của nông dân và quần chúng lao động ở nước Anh lúc đấy giờ, cấu trúc gia đình và xã hội có sự thay đổi rõ rệt

Về mặt xã hội, trước hiện trạng giai cấp tư sản rào đất cướp ruộng của nông dân để trồng cỏ nuôi cừu phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may đang khát nguyên liệu đã khiến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị ngày một nghiêm trọng Những người nông dân mất đất giờ đây không còn nơi để canh tác mưu sinh, không còn nhà cửa, phiêu bạt khắp nơi, họ dồn lên các thành phố công nghiệp gây một sức

ép lớn về các điều kiện sống Chỗ ở đông đúc, chật chội, không có đủ lương thực hay nước sạch khiến dịch bệnh hoành hành ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm diễn ra

và các tệ nạn xã hội như nghiệp rượu, ma túy, mại dâm cũng tất yếu đi kèm

Trong những công xưởng công nghiệp, tình trạng sống và điều kiện lao động của tầng lớp công nhân cũng không có gì khả quan hơn Điều kiện sống và làm việc

vô cùng cực khổ, bị các ông chủ tư sản bóc lột một cách tàn bạo, mỗi người phải làm việc từ khoảng 12 đến 15 tiếng một ngày, thậm chí có khi lên tới 19 tiếng và sáu ngày trong một tuần Tình trạng thất nghiệp thêm nghiêm trọng và có xu hướng

Trang 16

tăng cao đã khiến cả phụ nữ và thậm chí là cả trẻ em cũng phải làm việc trong các nhà máy để kiếm sống Từ hiện thực vô cùng khắc nghiệt này dẫn đến những cuộc đấu tranh của công nhân mà bắt đầu là phong trào đập phá máy móc, phong trào này diễn ra bộc phát và không đạt được nhiều thành công Đặc biệt, vị trí và quyền lợi của phụ nữ trong xã hội rất thấp kém, họ bị đàn áp, bóc lột và không có quyền được tham gia vào các công việc xã hội Nhiều nhà tư tưởng đã lên tiếng bênh vực cho phụ nữ, đòi quyền đi bầu cho họ Ngoài ra, tình hình đất nước sau cách mạng cũng gặp phải rất nhiều khó khăn cho công tác tổ chức nhà nước, quản lý xã hội

Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội như vậy đã thôi thúc các nhà tư tưởng lúc bấy giờ mong muốn tìm ra cách giải quyết những tình trạng đó và J.S Mill là một đại diện tiêu biểu Với một nhà tư tưởng lớn, chưa bao giờ thỏa hiệp trong công cuộc đấu tranh cho công bằng, tự do, dân chủ như J.S.Mill, ông suy tư, trăn trở cho số phận những kiếp người khốn khổ, bị ức hiếp trong xã hội, những con người không có những “quyền cơ bản” của một con người, để từ đó đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm mang tính triết học, đạo đức, chính trị, xã hội vĩ đại của mình

1.1.2 Bối cảnh văn hóa - chính trị nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX

Muốn hiểu rõ và sâu sắc những tư tưởng và luận giải của Mill trong “Chính thể đại diện” không thể không có cái nhìn khái quát về tình hình chính trị Anh ở thời kỳ này

Sau cách mạng, thắng lợi thuộc về liên minh giữa giai cấp tư sản và tầng lớp

quý tộc mới, hình thức chính thể Cộng hòa nghị viện được thiết lập mà quyền lực

tối cao được tập trung trong vào Hạ nghị viện Nhưng chính thể này không tồn tại được lâu do giai cấp tư sản sau cách mạng đã không giải quyết nhiệm vụ chia ruộng đất cho nông dân dẫn đến mâu thuẫn xã hội phát triển thêm gay gắt giữa tư sản với quần chúng nhân dân lao động

Trước tình thế đó, giai cấp tư sản đã phải thoả hiệp với tầng lớp quý tộc mới nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn xã hội

Hai sự kiện quan trọng thể hiện rõ sự thỏa hiệp này là:

Trang 17

Thứ nhất, sau khi Oliver Cromwell – người lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản qua đời vào năm 1658, kéo theo sự sụp đổ của nền Cộng hòa, Charles II đang lưu vong ở nước ngoài đã được mời về nước lên ngôi vua năm 1660

Thứ hai, vào tháng 2/1689, Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật mới có tên

là "Đạo luật thừa nhận ngôi vua và quyền hành của nghị viện" Đạo luật này là cơ

sở pháp lý cho sự ra đời nhà nước quân chủ lập hiến tồn tại cho đến ngày nay Nội dung chủ yếu của đạo luật này là đề cao vai trò của Nghị viện và khẳng định ngôi vua

sẽ được giữ lại nhưng chỉ mang tính biểu tượng - nhà vua trị vì mà không cai trị

Như vậy có thể khẳng định rằng chính thể quân chủ lập hiến ở Anh ra đời là kết quả của sự thỏa hiệp giữa giai cấp tư sản và quý tộc mới, là sản phẩm và biểu hiện của cuộc cách mạng tư sản không triệt để

Lúc bấy giờ, Thượng viện thuộc tầng lớp đại quý tộc chỉ định có uy lực hơn

Hạ nghị viện do quần chúng nhân dân bầu ra Cuộc bầu cử Hạ nghị viện cũng được tiến hành theo những quy tắc rất hạn chế quyền bầu cử Phần lớn thành viên ở Hạ nghị viện là những người được bầu ra từ những vùng đất ít dân cư sinh sống mà việc bầu cử thường bị các chúa đất thao túng Không chỉ có các ghế ở nghị viện được mua bán bằng tiền mà cả đến các cử tri hay thậm chí là những lá phiếu bầu cũng trở thành vật trao đổi của nhà giàu Vấn đề này được Mill đề cập rõ nét trong những lập luận của mình Tầng lớp lao động và cả tầng lớp trung gian trong xã hội cũng bị tước đoạt quyền chính trị

Ở Thượng viện là sự tranh chấp quyền lực của Đảng Whig (nay là Đảng Dân chủ tự do) và Đảng Tory (nay là Đảng Bảo thủ) Đảng Tory có quan hệ với giới thượng lưu và Giáo hội Anh, trong khi đảng Whig gần gũi hơn với giới nghiệp đoàn, tài chính và chủ đất Hai đảng này thay nhau quản lý đất nước và tranh chấp

để giành đa số ghế trong nghị viện Nhìn chúng, cả hai đảng đều bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản và quý tộc thượng lưu, củng cố quyền thống trị của giai cấp tư sản Hình thức quân chủ lập hiến này khác hẳn so với hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế trước đây của Anh, ở hình thức mới, Thủ tướng và nội các chính phủ

Trang 18

thuộc về tay đảng nào chiếm đa số ghế trong nghị viện do đảng có cử ra và ủng hộ Thủ tướng và nội các chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện chứ không thông qua vương quyền

Bối cảnh văn hóa tinh thần phương Tây thời Mill chứng kiến cuộc khủng hoảng tinh thần hậu cách mạng tư sản và cách mạng công nghiệp Hai cuộc cách mạng to lớn đã thay đổi tận gốc rễ các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật,

nó xuất phát từ nước Anh rồi sau đó lan tỏa ra toàn thế giới Bên cạnh những tiến bộ

xã hội không thể phủ nhận của một giai đoạn lịch sử sôi động, hai cuộc cách mạng cũng để lại những nhiệm vụ to lớn không giải quyết được – chính những nhiệm vụ này lại là căn nguyên dẫn đến đấu tranh, phản đối trong xã hội Anh

Cuộc cách mạng tư sản diễn ra đã mở đường cho một bước phát triển ngoạn mục của giai cấp tư sản khi chế độ phong kiến phản động đã bị lật đổ, mọi quyền lợi giờ đã thuộc về tay giai cấp tư sản, tuy nhiên lực lượng mạnh mẽ sát cánh và quyết định sự thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản Anh là giai cấp nông dân lại không có được quyền lợi gì, nhiệm vụ đòi đất cày không thực hiện được mà tình hình rào đất cướp ruộng còn diễn ra gay gắt hơn Đời sống nông dân trở nên nghèo khổ, tha hương cầu thực, phải di dân lên thành phố làm thuê, đói khổ

Ngoài ra, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong lịch sử về mặt cơ khí - kỹ thuật để tăng năng suất lao động và mở ra một thời kỳ phát triển chưa từng thấy về mọi lĩnh vực đời sống xã hội Anh Giai cấp công nhân ra đời từ đây và nhanh chóng trở thành lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Trái lại với quy mô cũng như vai trò của mình, những người công nhân bị bóc lột thậm tệ, là tầng lớp đông đảo nhất nhưng cũng là tầng lớp đói khổ vào bậc nhất Các cuộc tấn công, nổi dậy chống lại các ông chủ tư sản để đòi quyền lợi diễn ra ở khắp nơi trên nước Anh

Tất cả những hệ quả này đã đã tạo điều kiện giải phóng con người khỏi những sự kiềm chế độc đoán của chế độ phong kiến, dẫn đến phản kháng, đấu tranh diễn ra khắp nơi Đồng thời cũng giải phóng tư tưởng, con người ngày càng có ý

Trang 19

thức về các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng Chính mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và công nhân, nhân dân lao động, sự phân biệt đối xử bất công với phụ

nữ hay tham vọng tham chính bịp dân của các chính trị gia thời kỳ này đã làm cho những học thuyết về quyền tự do cá nhân và quyền của các dân tộc đã được hình thành, khiến cho những cá nhân mẫn tiệp như J.S Mill không ngừng day dứt, trăn trở Và chính từ bệ phóng này, ông đã viết hăng say và tạo nên một hệ thống tác phẩm đồ sộ và giá trị về các lĩnh vực triết học, chính trị, xã hội

1.2 Tiền đề tư tưởng hình thành quan niệm của J.S Mill về bầu cử

Nhìn chung, ảnh hưởng của các nhà tư tưởng đi trước đối với sự hình thành

hệ thống triết học chính trị - xã hội J.S Mill có thể kể đến như: Jeremy Bentham, James Mill, Wilhelm von Humboldt… Đặc biệt, xem xét dưới hệ thống quan điểm của J.S Mill trong “Chính thể đại diện” mà phạm vi nghiên cứu là quan niệm về bầu cử của ông thì không thể không kể đến ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà

tư tưởng: Jeremy Bentham (1748 – 1832), Alexis Tocqueville (1805 - 1859), Thomas Hare (1806 – 1891) Trước hết, tác giả luận văn đi phân tích những nét tư tưởng chính của những tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của J.S Mill

về bầu cử

1.2.1 Thuyết công lợi của Jeremy Bentham

Jeremy Bentham (1748 – 1832) là một triết gia kiêm nhà cải cách xã hội người Anh, ông là cha đẻ của Thuyết Công lợi (Utilitarianism), ông cho rằng lợi ích

cá nhân hoàn toàn đồng nhất với lợi ích xã hội Ông giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa tinh thần của nước Anh

Jeremy Bentham khai triển đạo đức công lợi, theo ông, tính chất tốt hay xấu của một hành vi được đo lường theo tính lợi ích của nó, nghĩa là theo cái gì đem lại cho chúng ta tối đa “khoái lạc” và tối thiểu “khổ đau” Học thuyết đạo đức và chính trị này của Bentham bắt nguồn từ việc ông không hài lòng với những cơ sở lý thuyết về luật pháp hiện hành và cách áp dụng luật tại các tòa án Ông cho rằng những cơ sở bất hợp lý và hỗn loạn của những hệ thống pháp lý và cấu trúc xã hội

Trang 20

lúc bấy giờ là nguyên nhân gây ra bất ổn chính trị Các tác phẩm chính của Bentham

có thể kể tới như “Những đối thoại của Chính phủ” (1776), “Về các nguyên tắc đạo đức và pháp luật (xuất bản năm 1789), “Cải cách Nghị viện” (1817), “Đạo đức học hay khoa học về đạo đức” (gồm hai tập, được công bố vào năm 1843)…

Bentham mở đầu Về các nguyên tắc đạo đức và pháp luật với một tiền đề cơ

bản: “Thiên nhiên đã đặt nhân loại dưới sự cai quản của hai ông chủ tối cao là đau khổ và khoái lạc Chúng chỉ ra những gì chúng ta nên làm và quyết định những gì chúng ta phải làm Bên cạnh chúng, một mặt là tiêu chuẩn đúng và sai, mặt kia là chuỗi các nguyên nhân và hậu quả” Như vậy, theo Bentham, dưới góc độ tâm lý, khi tìm hiểu cội rễ hành động của con người thì đều thấy tất cả chỉ để chạy theo lạc thú và né tránh đau khổ Hay nói cách khác, bàn về tư cách con người, sự đau khổ

và khoái lạc quyết định việc chúng ta phải làm Ngoài tính chất tâm lý của chủ nghĩa khoái lạc còn có khía cạnh đạo đức, trong đó, yếu tố đúng hay sai về mặt luân

lý phụ thuộc đau khổ hoặc sung sướng nhiều hay ít Như vậy sự đau khổ và khoái lạc chỉ cho chúng ta biết cái nên làm là gì

Nếu đau khổ và khoái lạc là tiêu chuẩn của đạo đức thì các hành động phải được đánh giá bằng hậu quả của chúng Do đó, chủ nghĩa công lợi là “thuyết đạo đức cứu cánh” Chủ nghĩa công lợi là nguyên tắc của lợi ích, hữu dụng Theo Bentham, hành động phù hợp với nguyên tắc lợi ích khi nó có xu hướng làm gia tăng hạnh phúc của cộng đồng nhiều hơn là làm giảm Nói khác đi, hạt nhân của Thuyết Công lợi là “Luôn luôn hành động để đem lại hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất”, nó hướng hành động đúng phải theo là nhằm gia tăng tối đa sự sung sướng hoặc giảm tới mức tối thiếu đau khổ Học thuyết này trở nên quen thuộc với tên gọi Thuyết Công lợi, những người ủng hộ thuyết này áp dụng chúng vào đời sống đạo đức cá nhân cũng như vào chính sách chính trị, luật pháp và xã hội Nó có ảnh hưởng lớn đến đến đường lối cai trị nước Anh lúc đó

Có thể nói, một mặt Bentham là người bảo vệ chủ nghĩa cá nhân bởi ông đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong sự thỏa mãn hay đau khổ của họ Mặt khác, tính

Ngày đăng: 10/05/2017, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w