1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo cứu cộng đồng người mông theo đạo tin lành qua một số nghi lễ (tóm tắt trích đoạn)

52 329 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 914,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Các sách tham khảo của tác giả trong nước Nghiên cứu về đạo Tin lành và văn hóa, lối sống của người theo đạo Tin lành tác giả Nguyễn Thanh Xuân với hai cuốn sách B

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN QUANG HƯNG

Hà Nội – 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dựa trên những tài liệu, tư liệu từ đề tài:

“Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Mông ở Việt Nam: Hiện trạng

và giải pháp” do PGS TS Nguyễn Quang Hưng chủ trì nhóm nghiên cứu,

Trường Đại học KHXH & NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) là cơ quan chủ trì

Em xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý giá về mặt tài liệu, những chuyến điền dã của đề tài, đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn PGS TS Nguyễn Quang Hưng Em xin chân thành cảm

ơn thầy!

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô đã giảng dạy tại Bộ môn Tôn giáo học nói riêng và Khoa Triết, trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân nói chung đã giúp em có được những tri thức chuyên ngành quý giá

Cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn theo sát, giúp đỡ, động viên em trong cuộc sống

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HIỆN TRẠNG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI MÔNG 9

1.1 Vài nét về cộng đồng người Mông 9

1.1.1 Lịch sử tộc người Mông và quá trình di cư vào Việt Nam 9

1.1.2 Về tổ chức xã hội, dòng họ và gia đình cùng với đời sống văn hóa vật chất, tinh thần và những giá trị biểu hiện đặc trưng 13

1.2 Vài nét về cộng đồng Mông theo Tin lành ở Việt Nam 19

1.2.1 Khái quát chung về đạo Tin lành và quá trình du nhập đạo Tin lành vào cộng đồng người Mông ở Tây Bắc 19

1.2.2 Hiện trạng 26

1.2.3 Nguyên nhân của sự cải đạo 30

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐỐI VỚI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MÔNG QUA KHẢO CỨU MỘT SỐ NGHI LỄ 41

2.1 Ảnh hưởng của đạo Tin lành đến các nghi lễ cộng đồng 41

Trang 5

2.1.1 Ảnh hưởng của đạo Tin lành đến quan hệ gia đình và nghi lễ thờ cúng

tổ tiên 41

2.1.2 Sự thay đổi trong thiết chế xã hội và các nghi lễ cộng đồng 56

2.2 Sự ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với các nghi lễ cá nhân 66

2.2.1 Lễ cúng khi sinh con 66

2.2.2 Nghi lễ cưới xin 74

2.2.3 Nghi lễ tang ma 90

Tiểu kết chương 2 105

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Số người theo đạo Tin lành ở các tỉnh Tây Bắc 28

Bảng 1.2 Các lý do người Mông theo đạo như sau: 30

Bảng 1.2: Mức độ biết sử dụng nhạc cụ truyền thống dân tộc của thanh niên Mông 38

Bảng 2.1 Thay đổi trong tín ngưỡng tôn giáocủa người Mông theo đạo Tin lành 48

Bảng 2.2 Các lễ hội cộng đồng truyền thống của người Mông 56

Bảng 2.3 Các ngày lễ chính của người Mông theo đạo Tin lành 58

Bảng 3.4 Quy trình tổ chức lễ cưới 84

Bảng 3.5 So sánh đám cưới của người Mông theo Tin lành và người Mông truyền thống 84

Bảng 3.6 So sánh giữa đám tang của người Mông truyền thống và người Mông theo Tin lành 101

Trang 7

Từ giữa thập niên 1980 đến nay, sự bùng nổ trào lưu chuyển đổi sang đạo Tin lành trong đồng bào các dân tộc thiểu số và đặc biệt là ở cộng đồng người Mông đã dẫn tới nhiều biến đổi trong đời sống của đồng bào và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Những vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm từ phía chính quyền mà còn thu hút sự chú ý của các nhà khoa học Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá khác nhau về vấn đề này Các nhà thần học Tin lành và những người Mông theo Tin lành cho rằng cải đạo mang lại cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là con đường của sự sáng tạo và hình thành một nền văn hóa mới của người Mông nhằm thích ứng với trào lưu văn hóa có tính toàn cầu hiện nay Ngược lại, các nhà nghiên cứu cũng có những ý kiến trái chiều về tác động tiêu cực của Tin lành đối với văn hóa tộc người, lo ngại việc chuyển sang Tin lành là một mối đe dọa nguy hiểm, làm phai nhạt

và tàn lụi bản sắc văn hóa dân tộc và làm mất đi tính đa dạng của các nền văn hóa Ngoài ra, sự cải đạo này cũng đặt ra mối lo về an ninh của vùng biên giới phía Bắc nước ta

Trang 8

Về mặt văn hóa, sự cải đạo sang Tin lành của một bộ phận người Mông

có làm phong phú hơn đời sống văn hóa hay ngược lại làm tàn lụi đi các giá trị văn hóa truyền thống đa dạng của họ? Tin lành đã làm biến đổi đời sống văn hóa của cộng đồng người Mông như thế nào? Vì sao lại có sự thay đổi đó? Những đánh giá và cách ứng xử với hiện tượng này như thế nào? Để tìm

lời giải đáp cho những vấn đề trên, tác giả chọn đã chọn: “Khảo cứu cộng

đồng người Mông theo đạo Tin lành qua một số nghi lễ” làm đề tài của

Luận văn

2 Tình hình nghiên cứu

Các sách tham khảo của tác giả trong nước

Nghiên cứu về đạo Tin lành và văn hóa, lối sống của người theo đạo

Tin lành tác giả Nguyễn Thanh Xuân với hai cuốn sách Bước đầu tìm hiểu

đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam (2002) và Một số tôn giáo ở Việt Nam (2007) đã khái quát trình bày về những vấn đề cơ bản của đạo Tin lành

trên thế giới và Việt Nam như lịch sử ra đời, phát triển, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, mối quan hệ và ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với đời sống an ninh, chính trị xã hội tại những nơi có đạo

Viết về người Mông và văn hóa Mông truyền thống, tác giả Trần Hữu

Sơn với cuốn sách Văn hóa Hmông (1996)đã khảo sát những nét khái quát về

điều kiện tự nhiên, dân cư, dân số, đặc điểm kinh tế - xã hội, lịch sử tộc người cũng như truyền thống lịch sử của người Mông tại tỉnh Lào Cai Từ đó phân tích những yếu tố mới trong đời sống văn hóa tinh thần và những vấn đề đặt

ra của người Mông tại đây

Viết về người Mông Tin lành, cuốn Văn hoá tâm linh của người

Hmông ở Việt Nam - truyền thống và hiện đại (2005) của Vương Duy Quang,

Trang 9

đồng bào Mông theo tôn giáo mới - đạo Tin lành, cũng như đã nêu lên những tác động đến xã hội, cộng đồng của người Mông

Trong cuốn Dân tộc Mông Sơn La với việc giải quyết vấn đề tín

ngưỡng tôn giáo hiện nay do Thào Xuân Sùng chủ biên (2009), các tác giả đã

nhìn vấn đề người Mông và tôn giáo từ góc độ của nhà quản lý, đề cập đến thực tế người Mông ở Sơn La và đưa ra nguyên nhân của việc đạo Công giáo

và Tin lành thâm nhập và phát triển trong đời sống của người Mông tại địa phương này, từ đó đã nêu ra những kinh nghiệm, giải pháp và phương hướng giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong dân tộc Mông ở Sơn La

Tác giả Nguyễn Văn Thắng (chủ biên) với cuốnGiữ “lý cũ” hay theo

“lý mới” Bản chất của những cách phản ứng khác nhau của người Mông ở Việt Nam với ảnh hưởng của đạo Tin lành(2009) đã bàn trực diện về sự

truyền bá của đạo Tin lành trong cộng đồng người Mông ở các tỉnh Tây Bắc với những kết quả nghiên cứu điền dã tập trung vào những điểm dân cư đa số theo đạo Tin lành của nhóm nghiên cứu Viện Dân tộc học Tuy công trình thực hiện trên quy mô còn khá khiêm tốn, nhưng với nhiều tranh minh họa và một số bảng biểu, công trình phác họa “sự giằng co” về mặt tôn giáo xung quanh vấn đề bảo vệ tín ngưỡng truyền thống với những tập tục văn hóa lâu đời của tổ tiên hay theo đạo Tin lành trong cộng đồng người Mông ở Việt Nam

Luận án, đề tài, dự án khoa học các cấp

Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), đề án cấp nhà nước Khảo sát thực

trạng vấn đề đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ - kiến nghị giải pháp Công trình đề cập đến tổng thể nhiều khía cạnh về đời

sống kinh tế, văn hóa, an ninh xã hội, trong đó vấn đề tôn giáo và đặc biệt là đạo Tin lành được nhấn mạnh Từ đó đề án đưa ra dự báo, kiến nghị và giải pháp cho công tác đối với đạo Tin lành trong tương lai

Trang 10

Đỗ Quang Hưng (2006), chủ nhiệm Đề án Vấn đề Công giáo và Tin

lành trong các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc những năm gần đây

Đề án phân tích rõ về nguồn gốc, lịch sử về tộc người, văn hóa, tôn giáo của các dân tộc nơi đây, trong đó yếu tố tôn giáo đã có những tác động làm thay đổi đời sống xã hội ở khu vực Qua đó đề án đã đưa ra những dự báo và giải pháp cho công tác tôn giáo đối với hai khu vực trên

Đặng Nghiêm Vạn, chủ nhiệm đề tài cấp Bộ (2006), Về tình hình phát

triển của đạo Tin lành ở miền núi phía Bắc, Trường Sơn – Tây Nguyên Đề tài

phân tích có 5 nguyên nhân đạo Tin lành phát triển ở hai khu vực trên, chỉ ra những hệ quả của việc theo đạo Tin lành theo hai khía cạnh cả tích cực và tiêu cực Trên cơ sở đó đề tài đã đưa ra các giải pháp, kiến nghị, đề xuất với các cấp, các ngành có những chính sách cụ thể, phù hợp để công tác đối với đạo Tin lành được tốt hơn

Đề án cấp nhà nước Nghiên cứu đánh giá xu hướng tín ngưỡng của

cộng đồng dân tộc Mông theo đạo Tin lành và một số hiện tượng tôn giáo mới vùng Tây Bắc (2015) do Nguyễn Quang Hưng chủ nhiệm đề tài đã tiến hành

nghiên cứu đã: Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về những biến đổi đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng Mông ở Tây Bắc Thứ hai, đánh giá thực trạng và nhận diện những điểm nóng cộng đồng người Mông theo đạo Tin lành ở Tây Bắc Thứ ba, chỉ ra vấn đề các hiện tượng tôn giáo mới ở Tây Bắc như hiện trạng, nhận diện những điểm nóng và hệ lụy xã hội Thứ tư đề xuất các chính sách ứng xử của các cấp chính quyền trong và ngoài vùng Tây Bắc đối với các vấn đề đạo Tin lành Thứ năm, đề xuất những giải pháp xây dựng cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc phát triển bền vững Có thể nhận định đây là một công nghiên cứu một cách toàn diện các khía cạnh cụ thể của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa của cộng đồng người Mông tại

Trang 11

Về luận án, tác giả Nguyễn Quỳnh Trâm với luận án Văn hóa của

người Hmông theo đạo Tin lành ở tỉnh Lào Cai (2016) đã có những nghiên

cứu về quá trình truyền bá đạo Tin lành trong vùng đồng bào Mông ở Lào Cai

và những nguyên nhân của việc một bộ phận người Mông theo đạo Tin lành Luận án cũng chỉ ra quá trình chuyển đổi từ văn hóa tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin lành trong người Mông ở tỉnh Lào Cai, cùng những tác động tích cực và tiêu cực của việc người Mông theo Tin lành đối với văn hóa, xã hội Từ đó chỉ việc nghiên cứu những vấn đề đặt ra và xu hướng vận động của việc theo đạo Tin lành của người Hmông ở tỉnh Lào Cai, cùng những đề xuất, kiến nghị

Một số bài viết của các nhà nghiên cứu, học giả trên tạp chí

Cùng với các công trình được xuất bản, viết về người Mông và văn hóa Mông, còn có những bài viết đăng trên các tạp chí Nhà nghiên cứu Vương Duy Quang đã có hàng loạt bài viết về đạo Vàng Chứ mà ông gọi là hiện tượng tôn giáo mới ở người Mông ở Việt Nam, về truyền thống văn hóa dân

tộc trước các hiện tượng tôn giáo mới Vương Duy Quang, Vấn đề người

Hmông theo đạo Kitô hiện nay, tạp chí Dân tộc học, số 4-1999, ở bài viết này,

Tác giả Vương Duy Quang đã khái quát văn hoá truyền thống của người Mông trên cả nước, nguyên nhân người Mông theo và không theo đạo Thiên

Chúa, từ đó đưa ra một số giải pháp cho vấn đề người Mông theo đạo; Vấn đề

sử dụng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển đạo Tin lành qua khảo sát ở người Hmông, Tạp chí Khoa học công an,

số 2-2003; Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam truyền thống và

hiện đại, Nxb Văn hóa Thông tin, H.2005, Tác phẩm đã nêu những nét đại

cương về người Mông ở Việt Nam và những biến đổi trong văn hoá tâm linh

của người Mông; Hiện tượng “xưng Vua” ở người Hmông, Tạp chí Dân tộc

học, số 2-2004

Nguyễn Văn Thắng có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề được đăng trên

các tạp chí chuyên ngành này như bài viết “Về động thái ứng xử với bệnh tật

Trang 12

của người Hmông” tạp chí Dân tộc học, số 3, 2006, trang 18 - 29 Ứng xử với

bệnh tật của người Mông được chế định bởi văn hóa Mông, trong đó tôn giáo

là một trong những yếu tố quan trọng và làm thành một phần bản sắc riêng của họ Vì vậy, việc sử dụng hệ thống y học cổ truyền là chính thì người Mông sẽ bảo lưu được cơ bản bản sắc riêng trong văn hóa, nhưng hạn chế trong việc kiểm soát bệnh tật Trái lại, khi áp dụng hệ thống y học hiện đại là chính, người Mông theo Ki-tô giáo kiểm soát được bệnh tật, nhưng lại làm

mờ nhạt dần bản sắc riêng trong cách ứng xử với bệnh tật của họ

Nguyễn Thanh Xuân, Vài nét khái quát về tôn giáo trong vùng dân tộc

thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2-2007 Vi Hoà Bắc, Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của đạo Tin lành tới văn hóa truyền thống ở vùng đồng bào Hmông, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Tạp chí Dân tộc học, số

1-1997 Tác giả đã nêu lên quá trình thâm nhập đạo Kitô vào huyện Bắc Hà, qua đó cho thấy bức tranh toàn cảnh về tình hình theo đạo tại địa phương Từ

đó nêu lên những ảnh hưởng của đạo tới văn hoá truyền thống cũng như nguyên nhân tiếp nhận đạo của đồng bào Mông

Những bài nghiên cứu khác như: Một số vấn đề thực tiễn về đạo Tin

lành ở các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hiện nay của tác giả Nguyễn Văn

Minh và Hồ Ly Giang, đăng trên tạp chí Dân tộc học số 5 (173), 2011, trang 3 – 14 gồm ba nội dung chính: Nội dung thứ nhất giới thiệu về tình hình đạo Tin lành ở Tây Bắc; nội dung thứ hai đưa ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc đạo Tin lành phát triển ở vùng Tây Bắc, từ nguyên nhân chủ quan (như đường lối chính sách, cán bộ đảng viên tại địa phương, tổ chức hệ thống chính trị) đến nguyên nhân khách quan (như điểm lợi thế từ bản thân của đạo Tin lành); Nội dung thứ ba trình bày những ảnh hưởng của sự phát triển Tin lành ở Tây Bắc, từ ảnh hưởng trên lĩnh vực phát triển kinh tế đến sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, văn hóa

Trang 13

nói chung hoặc người Mông ở một địa phương cụ thể; về đạo Tin lành, đạo Tin lành ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên không chỉ là nguồn tư liệu rất quan trọng và bổ ích để tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện Luận văn mà còn là cách tiếp cận, giải thích lập luận để tác giả học tập Tuy nhiên, các nghiên cứu về quá trình người Mông theo Tin lành và nhất

là việc chuyển đổi từ văn hóa truyền thống sang văn hóa Tin lành của một bộ phận người Mông chưa được đề cập nhiều Vì vậy tác giả chọn vấn đề này để làm để tài cho Luận văn của mình giúp cho mọi người có cái nhìn chung nhất,

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần triển khai ba nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu quá trình du nhập và nguyên nhân phát triển của đạo Tin lành trong cộng đồng Mông

- Khảo sát sự thay đổi trong việc thực hành một số nghi lễ giữa hai cộng đồng người Mông truyền thống và người ông theo đạo Tin lành

- Đánh giá về sự thay đổi này

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu văn hóa truyền thống của

người Mông, văn hóa của người Mông theo đạo Tin lành ở 6 tỉnh Tây Bắc là Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, trong phạm vi địa

lý hữu ngạn sông Hồng

Trang 14

- Thời gian thực hiện Luận văn: Luận văn được thực hiện từ 12/2015 đến 12/2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và phương pháp luận tôn giáo học

- Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn này gồm có:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập các tài liệu liên quan đến

đề tài, dựa trên những tài liệu nghiên cứu, phân tích, chọn lọc những thông tin cần thiết cho đề tài

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Sau khi thu thập tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm xử lý thông tin

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

- Luận văn cung cấp một số luận cứ, làm cơ sở cho đội ngũ cán bộ quản

lý các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp về công tác tôn giáo đối với đạo Tin lành nói chung, công tác với việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa Mông truyền thống và cách ứng xử với các yếu tố văn hóa mới

- Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy

về công tác đối với đạo Tin lành trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở bài, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 2 chương 4 tiết

Trang 15

NỘI DUNG Chương I: KHÁI QUÁT VỀ HIỆN TRẠNG ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO,

TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI MÔNG 1.1 Vài nét về cộng đồng người Mông

1.1.1 Lịch sử tộc người Mông và quá trình di cư vào Việt Nam

Người Mông có nhiều tên gọi khác nhau: Mèo, Mẹo, Mieo, Hmông Còn người Mông vẫn tự gọi mình là HMôngz, đọc theo âm ngữ Việt là

“Mông” do trong tiếng Mông âm H là âm câm Luận văn sử dụng cách viết tên tộc người là “Mông” căn cứ vào Công văn số 903 – CV/HĐDT, ngày 04/12/2001 của Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa X “đề nghị từ nay đọc và viết tên tộc người Mông là “Mông”

Về nguồn gốc tộc người Mông, có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà

nghiên cứu Nhà truyền giáo Savia F.M tác giả cuốn “Lịchsử người Mèo” là

một trong những học giả phương Tây đầu tiên tìm hiểu về nguồn gốc tộc người này dựa trên những truyền thuyết Ông đoán rằng người Mông có từ thời cổ đại ở vùng Trung Á, giữa sông Ti-gre và sông Eu-phrate Về sau họ di dân đến vùng đồng khô Xi-bê-ri rồi chuyển cư đến khu vực sông Hoàng Hà ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc ngày nay, từ đó lan ra các địa vực khác

Cũng có quan điểm khác cho rằng người Mông xuất xứ từ vùng Trung

Á lên Xi-bê-ri sau chia làm hai nhánh, một nhánh di cư vào Trung Quốc, một nhánh dạt ra quần đảo Nhật Bản Bên cạnh những ý kiến trái chiều về nguồn gốc người Mông, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng người Mông từng sinh sống ở khu vực sông Hoàng Hà và là chủ nhân của nhà nước Tam Miêu Tên gọi Tam miêu là căn cứ vào ba màu sắc trang phục của người Mông lúc đó (Hồng miêu, Bạch miêu, Thanh miêu)

Trang 16

Theo truyền thuyết của người Mông, sau thất bại của thủ lĩnh người Mông là Suy Vưu do chống lại Hoàng Đế đã bị Huy Viên đánh bại, người Mông buộc phải di cư để tồn tại, hay theo cách nói của người Mông thì đó là

“chạy chết”, di cư để thoát khỏi sự tàn sát của kẻ thù, để tìm đường sống cho mình và cho các thế hệ kế tiếp Vùng đất cuối cùng của người Mông ở Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Tây Hải Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Vân Nam bị nhà Thanh thôn tính vào thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX Để tránh họa diệt vong họ buộc phải thiên di về phía Nam, chọn những vùng núi cao làm nơi sinh sống Dân ca Mông miêu tả sự kiện này như sau:

“Người Mèo ta ở Quý Châu,

Quý Châu là đất nước ta,

Vì người Mèo không có chữ;

Thua kiện nên ta mới đi…” [12,170]

Người Mông từ di cư vào Việt Nam bằng nhiều con đường và nhiều đợt nhưng có 3 đợt đông nhất

Đợt một: Đời nhà Minh, ban hành chính sách “Cải thổ quy lưu’’ đồng

thời cho người Hán đến vùng người Mông cai trị người Mông, người Mông

đã đứng dậy chống lại chính sách này nhưng bị đánh dẹp Người Mông di cư xuống phía Nam vào Mèo Vạc, Đồng Văn (Việt Nam) cách đây khoảng 350 năm, vào cuối nhà Minh đầu nhà Thanh

Đợt hai: cách đây khoảng 200 năm, đời nhà Thanh có đạo luật quy định

5 hộ Mông mới được dùng một con dao mỏng, cấm không được dùng kim khí làm công cụ Vì phẫn uất người Mông đã nổi dậy chống lại, phong trào bị đàn

áp, họ phải lánh nạn xuống các nước Đông Nam Á và di cư vào Đồng Văn,

Hà Giang, Lào Cai

Trang 17

Đợt ba: cuối triều Mãn Thanh phong trào nông dân “Thái bình thiên

quốc” đã nổ ra chống lại triều đình trong đó có người Mông Đến năm 1872,

phong trào đấu tranh của người Mông bị thất bại Đại bộ phận người Mông phải di cư lánh nạn, đây là cuộc thiên di lớn vào Việt Nam với quy mô trên 10 ngàn người Ngoài ba đợt di cư lớn kể trên, hàng năm vẫn có hiện tượng người Mông di cư nhỏ lẻ vào Việt Nam

So với các dân tộc khác, người Mông vào Việt Nam khá muộn Họ đến khi những vùng thấp đã có cư dân các dân tộc khác cư trú Với bản tính ngại tiếp xúc, va chạm cùng tâm thế “chạy chết” của mình, họ đã chọn những vùng núi cao, nơi các tộc người khác chưa sinh sống làm địa vực cư trú của mình

Điểm đầu tiên, họ đặt chân đến là Mèo Vạc trên cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), nơi địa đầu Tổ quốc Vì thế, người Mông sinh sống ở Việt Nam đều coi cao nguyên Đồng Văn là quê hương đất tổ của mình:

Nhìn chung, địa vực cư trú chủ yếu của người Mông hiện nay vẫn là vùng núi cao, nơi có điều kiện tự nhiên rất khó khăn Về địa vực của người Mông ở vùng Tây Bắc, ngạn ngữ Thái có câu :

“Xá ăn theo lửa

Trang 18

Thái ăn theo nước

Mông ăn theo sương mù”

Người Mông luôn cư trú ở những nơi cao nhất của miền núi, họ phát rừng, cày xới và làm nương thâm canh Tại vùng biên giới Việt – Trung, nơi

có địa hình chủ yếu là núi đá cao, cây cối thưa, khó canh tác thì mật độ người

kéo dài từ phía tây tỉnh Lai Châu xuống phía tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ

An với nhiều núi đất, thực vật phong phú và đất canh tác nhiều, mật độ người

Địa vực cư trú chủ yếu là các vùng núi cao, giao thông đi lại hết sức khó khăn tạo nên một khoảng cách biệt nhất định giữa cộng đồng người Mông

và xã hội, hạn chế giao lưu văn hóa, lạc hậu về tri thức khoa học và kỹ thuật, con người chưa đủ khả năng giải thích các hiện tượng tự nhiên Đó là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh và phát triển tín ngưỡng, tôn giáo

Khí hậu vùng cao cũng có nhiều bất lợi đối với con người, cây trồng và vật nuôi Mùa mưa quá ẩm ướt, mùa khô lại quá hanh heo, thêm vào đó gió Tây và lũ lụt, ở những nơi thảm thực vật đã mất xuất hiện sương muối nhiều, ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi

Để thích ứng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ấy, người Mông đã tự xác lập cho mình một hệ thống nông nghiệp hoàn chỉnh Về trồng trọt, ngô là cây lương thực chủ yếu, theo lối canh tác “đao canh, hỏa chủng” nghĩa là phát, đốt nương rồi chọc lỗ tra hạt Họ trồng lúa ở những nơi đất rừng gỗ, tre hay nứa mà đất đỏ, vàng, độ ẩm nhiều, đất kết lại thành hạt

Người Mông có những giống vật nuôi nổi tiếng như giống bò Đồng Văn Quy mô chăn nuôi chủ yếu theo hộ gia đình, chủ yếu để phục vụ cho

Trang 19

Một số nghề thủ công như trồng lanh, dệt vải, làm giấy, đóng giầy, rèn, đúc, mộc,… được sản xuất nhỏ lẻ, theo quy mô hộ gia đình và có tính chất thời vụ Cuộc sống của đồng bào Mông gắn bó và phụ thuộc vào rừng nên họ

có nhiều kinh nghiệm hái lượm, nắm bắt từng loại cây theo mùa vụ

1.1.2 Về tổ chức xã hội, dòng họ và gia đình cùng với đời sống văn hóa vật chất, tinh thần và những giá trị biểu hiện đặc trưng

Người Mông theo thiết chế xã hội phụ quyền với cấu trúc xã hội cơ bản

là gia đình, dòng họ và làng bản Người Mông chưa bao giờ có một đất nước riêng, họ coi những rẻo núi cao là nhà, là quê hương của họ Khái niệm đất nước chỉ xuất hiện trong văn học dân gian, trong dân ca của người Mông mà thôi Làng (dò; người Mông Xanh gọi là giào) là đơn vị xã hội duy nhất có tên gọi và quy ước lãnh địa trong xã hội truyền thống của người Mông [40,83] Tên làng người Mông có thể được đặt theo tên dòng họ đến lập làng đầu tiên, theo đặc điểm địa lý tự nhiên, dấu ấn riêng biệt hay địa danh điển tích hoặc là gọi tên theo tộc người đã ở từ trước Đây là nơi có đất canh tác và nguồn nước cho sinh hoạt và trồng trọt Cư dân trong làng có thể là thuần Mông hoặc đan xen với các dân tộc khác Nếu là nơi có nhiều dân tộc sống thì người Mông thường quần tụ lại thành một khu vực riêng Đặc điểm cư trú theo kiểu da báo này phản ánh truyền thống khép kín và tính cố kết cộng đồng của người Mông, tuy vậy họ luôn sống hòa hợp, tôn trọng phong tục tập quán của các dân tộc khác Những quy ước, luật tục do dân làng đặt ra và tự nguyện tuân theo như là cách quản lý làng Hai loại quan hệ chủ yếu trong làng là quan hệ theo dòng họ và quan hệ hàng xóm láng giềng Trong xã hội truyền thống, trưởng làng là người có vai trò quan trọng, do dân làng suy tôn nên rất được tôn trọng Trưởng làng có thể là trưởng họ của một dòng họ lớn, là người giỏi giao thiệp, thông thạo phong tục, tập quán, lý lối Trong xã hội trước đây, trưởng làng là người đứng ra duy trì các luật tục, tộc phong, phát ngôn, xử

Trang 20

phạt, hòa giải, truyền đạt chiếu chỉ, mệnh lệnh của quan trên Một đặc điểm nổi bật khi đến làng của người Mông, dù cư trú bất kì nơi đâu cũng dễ nhận thấy là: trong từng khuôn viên của mỗi gia đình đều được rào bằng tường đá hoặc rào bằng tre gỗ Cách làm trên nhằm mục đích phòng thủ, bảo vệ người, gia súc và của cải nếu có sự tấn công từ bên ngoài, phòng thú dữ

Đơn vị hạt nhân trong xã hội người Mông là gia đình Trong gia đình người Mông có sự phân công lao động chặt chẽ theo giới Đàn ông là người

sẽ gánh vác việc đốt than, rèn đúc, lấy vật liệu làm nhà, dựng nhà, khai mương, cày bừa, chài cá, giết mổ, cúng khấn mời tổ tiên Ngoài ra là những công việc thuộc về bổn phận của người phụ nữ như xe lanh, dệt, nhuộm vải, thêu thùa, chăn nuôi và nội trợ Những công việc lớn trong gia đình như khai ruộng, tậu trâu bò, làm nhà sẽ có sự bàn bạc cùng quyết định của cả hai vợ chồng Theo chế độ gia đình phụ quyền, chủ nhà là người đàn ông, người cha, khi người cha không còn thì quyền chủ nhà sẽ được chuyển sang cho người con trai lớn Chủ nhà sẽ là người có quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong gia đình, thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ tiên và làm công việc đối ngoại, tham

gia các công việc của dòng họ, làng bản Tục ngữ Mông có câu: “hổ chết còn

da, bò chết còn sừng, cha chết còn con trai” [40,71], quyền lợi của người đàn

ông được đề cao, phụ nữ không được coi trọng

Trong dân tộc Mông, dòng họ và quan hệ dòng họ có vai trò quan trọng

là một đặc điểm văn hóa hiếm thấy ở các dân tộc khác Quan hệ dòng họ không chỉ cấu thành nên xã hội Mông là còn là điểm nhấn quan trọng thể hiện bản sắc tộc người Quan niệm dòng họ của người Mông là một cộng đồng cùng tổ tiên, cận huyết thống, cùng do ông bà tổ tiên sinh ra và nhất là cùng

có các nghi lễ, cách thức và nội dung làm ma giống nhau Dòng họ người Mông là cơ sở để duy trì tính cố kết tộc người Sống trong điều kiện luôn bị

Trang 21

dòng họ nổi lên như một tổ chức chặt chẽ, trở thành quy ước, luật tục chung đảm bảo cho xã hội người Mông trật tự, ổn định Sự cố kết đó ở người Mông vượt lên sự phân tán về địa bàn cư trú và sự chia cắt bởi ranh giới hành chính

Do địa vực cư trú hiểm trở, phân tán nên dòng họ người Mông cũng buộc phải phân tán theo Dù ở xa nhưng người trong cùng họ đều chịu sự chi phối bởi thiết chế “cùng ma” của dòng họ Nhờ đó người Mông đã tồn tại một cách quật cường, vượt qua những thử thách khắc nghiệt và bi thảm trong lịch sử Tuy vậy, đặc điểm quan hệ này cũng có mặt hạn chế do tính khép kín, cục bộ, hẹp hòi, tranh giành về lợi ích và địa vị xã hội mang lại

Dòng họ của người Mông là một bộ máy tự quản riêng gồm trưởng họ, bà

cô, “người cầm quyền ma, quyền khách”, cùng các vị già làng trong dòng họ

Trưởng họ là người có đạo đức, sống ngay thẳng, am tường về các chuẩn mực, lý lối, cách thứ cưới gả, tang lễ, làm ma, các lễ thức cúng bái Ông là người có quyền quyết định công việc xã hội và đời thường trong cộng đồng dòng họ

Bà cô (Fâux hay Pu Nhăngx) dù là người đã lấy chồng, làm ma dòng

họ khác nhưng vẫn có trách nhiệm lớn với con cháu của anh em trai Có thể

có nhiều bà cô nhưng chỉ có một bà cô uy tín đại diện tham gia vào công việc chung của dòng họ Bà cô là người giám sát, phối hợp, trợ giúp cho trưởng họ

và các thành viên trong dòng họ về vấn đề thực hiện các quy định của dòng

họ Bà cô có vai trò quyết định trong việc hôn nhân, cưới xin hay thậm chí là đưa ra quyết định liên quan đến việc sửa đổi “ký hiệu” tín ngưỡng của dòng

họ khi thấy có điều cần thiết

“Người cầm quyền ma, quyền khách” (Cho Đaz Khuô) có nhiệm vụ

như một cố vấn cho trưởng họ trong việc quyết định các công việc liên quan đến đối ngoại Đó là người rất am tường về nghi lễ, cách thức làm ma của

Trang 22

dòng họ và trực tiếp phụ trách những việc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của dòng họ mình

Tuy không phải là một bộ máy hành chính nhưng khi xảy ra những sự việc trong dòng họ hoặc giữa các dòng họ với nhau thì những người trong tổ chức dòng họ sẽ bàn bạc với nhau để tìm hướng giải quyết Tổ chức dòng họ

xử lý công việc dựa vào luật tục, quy định của cộng đồng và một phần tình cảm Nó mang tính dân chủ và mọi thành viên trong dòng họ đều chấp nhận, thực hiện một cách tự nguyện

Trong sinh hoạt hàng ngày của người Mông, trân trọng nâng niu việc

ăn uống cũng chính là thể hiện sự cẩn trọng trong quan hệ giao tiếp và không chỉ thái độ ứng xử trong gia đình, làng xóm, khi đến nhà người khác và khi

có khách đến nhà mà còn thể hiện cả việc ứng xử với tiên tổ, thần linh, vạn vật Trong dịp lễ tết, hay nhà có khách thường được thiết đãi bằng thịt gà, rượu Xưa kia mỗi khi ngồi vào mâm rượu, chủ nhà sẽ lặng lẽ nhúng tay vào chén rượu búng vài giọt lên trời, vài giọt xuống đất, vài giọt qua hai vai với ý nghĩa cảm tạ trời đất, tiên tổ và chư vị thần linh Bữa cơm người Mông kị rơi vãi, nói năng thô tục, kỵ cãi nhau, chẳng may có cơm vãi thì không được giẫm lên sợ sẽ gây cho thần lương thực nổi giận [33;181,182] Đó là những nét đẹp trong văn hóa người Mông cần phải được giữ gìn và phát huy

Các vùng người Mông sinh sống thường có chợ phiên Chợ - nơi giao lưu văn hóa, đậm đà bản sắc vùng cao Chợ phiên người Mông không gặp cảnh mời chào chèo kéo mua hàng, mà chỉ thấy những gương mặt thuần phác trong bộ quần áo dân tộc sặc sỡ Họ đến chợ ngoài mục đích mua bán còn là

để vui với chợ, vui với khách đi chợ Nếu như có ai đó múa khèn lập tức được mọi người kéo đến cùng tham gia Đối với đàn ông vùng cao thì chợ cũng là nơi để một tuần họ có thể gặp gỡ cùng uống rượu bên chảo thắng cố Rượu

Trang 23

đặc trưng đó là rượu ngô Và cũng ở những phiên chợ, nhiều trai gái đã nên

vợ nên chồng Cuộc sống cứ diễn ra như vậy, thật đơn giản, tự nhiên, không cầu kỳ Người dân cũng rất đỗi thật thà, chất phác Họ không biết nói dối, chẳng mấy khi tính toán thiệt - hơn Chợ tình được tổ chức mỗi năm một lần (chợ tình Sa Pa) là một nét văn hoá đẹp đặc sắc của người Mông Hay với chợ Bắc Hà, với cao nguyên Bắc Hà vẫn mang vẻ đẹp nguyên sơ với những con người thân thiện, từ giữa chợ ngước nhìn những triền núi là bạt ngàn mận tam hoa, mùa hoa nở là trắng muốt cả một vùng nên địa danh này còn có tên "cao nguyên trắng", gọi theo thiên bút kí của một nhà văn người Mông

Trang phục truyền thống biểu hiện ngay bản sắc của mỗi dân tộc, nhất

là trang phục của phụ nữ Trang phục Mông thể hiện trên bộ váy, áo truyền thống của người phụ nữ, khi đã mặc thì ở bất kì đâu thì cũng không thể lẫn với các tộc người khác Trang phục của người Mông đồng nghĩa với vải lanh Người Mông có câu: "Đói đến chết cũng không ăn thóc giống Khi khuất núi phải mặc đồ Mông" Kiểu trang phục đó còn giúp cho những ai thường quan tâm tìm hiểu tộc người này nhận diện ra các ngành Mông khác nhau như: Mông đu, Mông hoa, Mông lềnh, Mông si… Đặc biệt, trang phục Mông không chỉ mang tính thẩm mĩ thuần tuý mà nó còn chứa đựng đặc thù văn hoá truyền thống trong thế giới quan, nhân sinh quan của người Mông và góp phần tạo nên sự hấp dẫn về văn hoá vùng miền trong một quốc gia đa dân tộc

Trang phục của phụ nữ Mông rất đa dạng về màu sắc, gồm áo xẻ ngực, váy, thắt lưng và xà cạp Áo có cổ chữ V, hai bên được nẹp thêm vải màu tùy thích, phía sau là một bức thêu hình chữ nhật được trang trí hoa văn hài hòa Hai ống tay áo thường thêu những đường vằn ngang với đủ màu sắc từ nách đến cửa tay Váy của phụ nữ Mông có nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra mềm mại như cánh hoa Trên nền váy may những sợi chỉ to với nhiều màu sặc sỡ Ngược với trang phục của nữ giới, trang phục của nam giới Mông khá thống

Trang 24

nhất Đa phần họ đều mặc quần kiểu chân què, cạp rộng lá toạ, đũng quần rất thấp, khi mặc, cạp được dắt sang một bên rồi dùng thắt lưng thắt lại chặt Áo của nam giới Mông lại có nhiều vẻ khác nhau Nam giới Mông Đen mặc áo ngắn, phía trước chỉ đủ che một phần ngực, bên trong mặc một chiếc áo lót trắng dài hơn, áo của nam giới Mông Trắng lại có tay hẹp, có 4 túi và cài khuy ngang bằng vải, cổ áo tròn, đứng và cao từ 2,5-3cm Nam giới Mông Hoa lại mặc áo cài khuy bên nách, không có cổ đứng nhưng rìa cổ được viền một dải nhỏ vải khác màu

Bên cạnh những nét đẹp trong đời sống vật chất, tinh thần như ăn uống, chợ phiên, trang phục thì người Mông còn mang những nét đặc trưng trong tín ngưỡng, tâm linh như việc thờ thần, thờ cúng tổ tiên và nghi thức dòng họ cũng như qua các nghi lễ vòng đời như việc sinh con, cưới xin, ma chay Những nét đẹp này chúng ta sẽ đi tìm hiểu qua chương sau để làm rõ hơn bản sắc văn hóa của người Mông truyền thống cũng như những thay đổi mang tính tích cực của người Mông theo đạo Tin lành trong những nghi lễ của gia đình, dòng họ

Dân tộc Mông có một kho tàng văn hoá dân gian phong phú và rất độc đáo, trong đó nhạc cụ truyền thống nổi lên như những viên ngọc lung linh toả sáng Người Mông say đắm dân ca dân tộc mình đó là Tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), Tiếng hát cưới xin (gầu xuống), Tiếng hát làm dâu (gầu na nhéng), Tiếng hát mồ côi (gầu tú gua), Tiếng hát cúng ma (gầu tuờ)… Đặc điểm chung của những bài hát dân ca này không chỉ hát bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, kèn môi…) trong những dịp lễ hội nhạc cụ dân tộc được coi là linh hồn của người Mông gửi gắm và thể hiện tiếng lòng của mình với bạn tình, với cộng đồng và với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ Từ những sinh hoạt văn hoá dân gian sống động như

Trang 25

biết thổi khèn, múa khèn, thổi sáo, hát ống Nhạc cụ dân tộc Mông thể hiện sâu nặng chất trữ tình đằm thắm, mượt mà, khoẻ khoắn Những âm thanh mà

nó bộc lộ là vẻ đẹp tự nhiên của vùng cao bao la, hùng vĩ, nét tươi sáng và giản dị của tâm hồn người Mông

Dân tộc Mông sinh sống rải rác khắp mọi nơi trên miền núi rừng phía Bắc Việt Nam và Tây Nguyên, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá độc đáo của họ Văn hoá Mông là một thành tố văn hoá Việt Nam, bản sắc văn hoá độc đáo của họ đã đóng góp và làm phong phú cho niền văn hoá Việt Nam

"thống nhất trong đa dạng, đa dang trong thống nhất"

1.2 Vài nét về cộng đồng Mông theo Tin lành ở Việt Nam

Cộng đồng người Mông theo đạo Tin lành là những người đã hoàn toàn

từ bỏ niềm tin tôn giáo truyền thống và một phần các tập tục và nghi lễ truyền thống để tiếp cận và thực hành với giáo lý và nghi lễ Tin lành một cách chủ

động và tự nguyện Họ đã “thay đổi lối sống, nghi lễ và tập tục từ niềm tin

vào sự tồn tại của các linh hồn và thần linh, và mối liên hệ giữa con người với thế giới siêu nhiên ấy sang việc tin vào Đức Chúa Jesus và làm theo những lời răn dạy của Kinh Thánh” [8;7]

1.2.1 Khái quát chung về đạo Tin lành và quá trình du nhập đạo Tin lành vào cộng đồng người Mông ở Tây Bắc

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc

tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt

Đạo Tin lành ra đời xét về mặt văn hoá, tư tưởng được thúc đẩy bằng phong trào Văn hóa Phục Hưng - chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu thế kỷ XV, XVI Với chủ trương đề cao con người, đề cao nhân tính,

Trang 26

nhân quyền đối lại việc đề cao thần tính, thần quyền, đề cao tự do cá nhân, dân chủ và sự hưởng lạc, đối lại sự kìm hãm dục vọng và sự ràng buộc của chế độ phong kiến và luật lệ Công giáo, đề cao lòng yêu nước cụ thể đối lại đề cao lòng yêu Thiên Chúa và một nước Chúa chung chung diệu vợi

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức Từ nước Đức, phong trào lan sang các nước Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Scốtlen, Ai-rơ-len, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy để đến giữa thế kỷ XVII, cả châu Âu và giáo triều Rôma chấp nhận những người cải cách và từ đó hình thành một tôn giáo mới tách ra khỏi đạo Công giáo - đạo Tin lành

Đạo Tin lành ra đời ở châu Âu, sau đó truyền sang các nước Bắc Mỹ Ở Bắc Mỹ gặp môi trường tự do, đạo Tin lành phát triển, hình thành nhiều tổ chức, hệ phái Rồi từ Bắc Mỹ, bằng nhiều con đường, trong đó có việc nhờ dựa vào vị thế, ảnh hưởng của Mỹ, đạo Tin lành truyền trở lại châu Âu và lan toả ra toàn thế giới Đó là con đường phát triển của đạo Tin lành, đồng thời lý giải: cái nôi của đạo Tin lành ở châu Âu, còn trung tâm (điều hành) Tin lành thế giới ở Bắc Mỹ

Từ rất sớm, đạo Tin lành đã hướng các hoạt động truyền giáo đến vùng dân tộc thiểu số Trên bình diện thế giới vào những thế kỷ trước, châu Á, châu Phi, châu Mỹ là những vùng xa xôi của "châu Âu văn minh" Hiện nay, đối với từng quốc gia, vùng miền núi, biên giới, hải đảo là những nơi dân tộc thiểu số sinh sống

Chính những tiền đề, bối cảnh ra đời cùng với quá trình phát triển đã tạo cho Tin lành những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, đạo Tin lành được tổ chức và hoạt động theo hướng đơn giản để phù hợp với cuộc sống hiện đại Đây là đặc điểm thể hiện cao nhất về sự cải cách của Tin lành đối với đạo Công giáo, được thể hiện ở các yếu tố như về luật lệ, lễ nghi đơn

Ngày đăng: 10/05/2017, 10:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm