Việc giáo dục đạo đức học sinh nếu chỉ diễn ra trong khuôn viên nhà trường tất yếu không phát huy được sức mạnh chung, không toàn diện và đầy đủ nên hiệu quả của công tác này trong các n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ GIÁP BÁT
QUẬN HOÀNG MAI - HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ GIÁP BÁT
QUẬN HOÀNG MAI - HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Thầy giáo
PGS.TS Phó Đức Hòa - Người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
luận văn này Thầy đã cho em biết thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như giúp em rèn luyện kỹ năng nghiên
cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo dạy tại trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội Cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hoàng Mai, các đồng chí cán bộ, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh trường THCS Giáp Bát đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn những người thân yêu, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn!
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vi
Danh mục biểu đồ, sơ đồ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động GDĐĐ 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Giáo dục đạo đức 13
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 17
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 18
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 18
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 18
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS 19
1.3.3 Nội dung, hình thức hoạt động giáo dục đạo đức 20
1.3.4 Phương pháp hoạt động giáo dục đạo đức 22
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 24
1.4.1 Quản lý lập kế hoạch GDĐĐ cho học sinh trường THCS 24
1.4.2 Quản lý tổ chức thực hiện GDĐĐ cho học sinh trường THCS 26
1.4.3 Quản lý chỉ đạo thực hiện GDĐĐ cho học sinh trường THCS 26
1.4.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDĐĐ cho học sinh trường THCS 27
1.4.5 Quản lý phương pháp hoạt động GDĐĐ cho học sinh THCS 29
1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh trường THCS 30
1.5.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh THCS 30
1.5.2 Trình độ, năng lực quản lý của Hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên (đặc biệt là năng lực sư phạm) tham gia GDĐĐ học sinh 31
1.5.3 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục tập quán của địa phương 32
1.5.4 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức 33
1.5.5 Công tác phối hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường 35
Kết luận chương 1 39
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ GIÁP BÁT
QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục đào tạo quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 40
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 40
2.1.2 Khái quát tình hình GD&ĐT quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 40
2.2 Vài nét về trường THCS Giáp Bát - Quận Hoàng Mai- thành phố Hà Nội 41
2.2.1 Đặc điểm tình hình trường lớp, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học 41
2.2.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên 41
2.2.3 Học sinh 42
2.3 Thực trạng đạo đức và hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 43
2.3.1 Thực trạng đạo đức của học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai 43
2.3.2 Thực trạng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội 51
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội 56
2.4.1 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức 56
2.4.2 Thực trạng việc tổ chức thực hiện quản lý giáo dục đạo đức 57
2.4.3 Thực trạng việc quản lý chỉ đạo giáo dục đạo đức 58
2.4.4 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá công tác GDĐĐ học sinh 59
2.4.5 Những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát 62
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 63
2.5.1 Ưu điểm 63
2.5.2 Hạn chế 64
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 65
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ GIÁP BÁT, HOÀNG MAI, HÀ NỘI 68
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 68
Trang 73.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 68
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 68
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát - quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội 68
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về GDĐĐ cho học sinh 68
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác GDĐĐ HS 73
3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng một môi trường học tập thân thiện để GDĐĐ cho HS 76
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp, lựa chọn bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GVCN trong công tác GDĐĐ HS 80
3.2.5 Biện pháp 5: Quản lý hoạt động GDĐĐ HS thông qua tổ chức hoạt động GDNGLL và các tình huống trong cuộc sống 82
3.2.6 Biện pháp 6: Phát huy vai trò tự quản của tập thể và tự rèn luyện của HS 88
3.2.7 Biện pháp 7: Phối kết hợp giữa nhà trường, và các lực lượng xã hội trong công tác GDĐĐ học sinh 90
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 93
3.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 95
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 95
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 95
3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 96
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 106
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng kết quả xếp loại học lực và hạnh kiểm của học sinh trường
THCS Giáp Bát trong 3 năm 42
Bảng 2.2 Bảng thăm dò ý kiến của học sinh về sự cần thiết của GDĐĐ 43
Bảng 2.3 Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho học sinh THCS hiện nay 44
Bảng 2.4 Thái độ của học sinh với những quan niệm về đạo đức 45
Bảng 2.5 Các biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh trong hai năm học 2014-2015 và 2015-2016 47
Bảng 2.6 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức cho học sinh 49
Bảng 2.7 Nhận thức của đội ngũ giáo viên về vai trò, vị trí của công tác GDĐĐ cho HS 52
Bảng 2.8 Thực trạng công tác GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội 53
Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các phương pháp GDĐĐ chủ yếu 54
Bảng 2.10 Các hình thức GDĐĐ HS 55
Bảng 2.11 Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát 56
Bảng 2.12 Thực trạng quản lý chỉ đạo GDĐĐ cho HS 58
Bảng 2.13 Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ kiểm tra công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 60
Bảng 2.14 Mức độ phối hợp giữa BGH với các lực lượng ngoài nhà trường 61
Bảng 2.15 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 62
Bảng 2.16 Nhận xét của cán bộ quản lý, tổ trưởng và nhóm trưởng về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến việc GDĐĐ cho học sinh 65
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 7 biện pháp đề xuất 96
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 7 biện pháp đề xuất 97
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 96 Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý 12
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn con người, vì vậy ở bất cứ quốc gia nào, thời đại nào việc giáo dục đạo đức cho thế hệ đang lớn lên cũng là trung tâm chú ý của các nhà lãnh đạo, quản lí xã hội và hệ thống giáo dục Giáo dục đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về những phẩm chất đạo đức, những chuẩn mực đạo đức,
từ đó tự hoàn thiện nhân cách của mình Đức và tài là những yếu tố cơ bản hợp thành trong một cá nhân Nhiều quan điểm cho rằng đạo đức là gốc của nhân cách Giáo dục đạo đức là một phần quan trọng không thể thiếu trong hoạt động giáo dục Bác Hồ đã từng khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Nhiều nhà hiền triết cũng đã nhấn mạnh
“con người muốn trở thành con người thì cần phải được giáo dục” Vì vậy, việc quan tâm tới công tác quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường là một việc làm hết sức quan trọng
1.2 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị
quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đảng và Nhà nước xác định mục
tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục
mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa xã hội Trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước ta luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện
Trang 11trị độc lập dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm về phát triển con người Việt Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ đổi mới”
1.3 Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của nhân loại đang là nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn của sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cũng đang còn không ít những vấn đề thuộc về lĩnh vực đạo đức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm Đó là vấn
đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ của nước nhà có được lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình người sâu sắc; loại bỏ lối sống thực dụng, ích
kỷ, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác Đứng trước những biểu hiện suy thoái đạo đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách của một bộ phận người trong xã hội, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một trong các nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
Trước tình hình và thực trạng này trong những năm qua các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành giáo dục đã quan tâm đầu tư chú trọng công tác giáo dục toàn diện cho các thế hệ học sinh Vấn đề giáo dục đạo đức được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong các nhà trường Nhưng thực tế việc giáo dục đạo đức trong nhà trường thường mới chú trọng tới nền nếp kỷ cương với nội quy, những bài học giáo huấn, chưa chú ý đến hành vi ứng xử thực tế Bên cạnh đó biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh chưa chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên Giáo dục là quá trình mang tính xã hội sâu sắc, thể hiện nhiều góc độ khía cạnh, có sự tham gia của nhiều lực lượng xã hội
Trang 12Việc giáo dục đạo đức học sinh nếu chỉ diễn ra trong khuôn viên nhà trường tất yếu không phát huy được sức mạnh chung, không toàn diện và đầy đủ nên hiệu quả của công tác này trong các nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo con người mới phù hợp với sự phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội trong những năm qua cũng
đã có nhiều chuyển biến trong các mặt giáo dục như các chỉ tiêu về hạnh kiểm, học sinh tốt nghiệp, chỉ tiêu học sinh giỏi, học sinh tiên tiến ngày càng tăng, nhưng bên cạnh đó hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh cũng còn có những hạn chế:
- Giáo viên lên lớp còn nặng dạy chữ, chưa chú trọng đến vấn đề dạy người, môn giáo dục công dân nhiều giáo viên và học sinh xem là “ môn phụ”, nặng lí luận chưa có sự đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy
- Có một số cán bộ giáo viên còn né tránh, thậm chí còn làm ngơ trước những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp còn một bộ phận chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa có
sự quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục đạo đức học sinh
- Giáo dục đạo đức học sinh chưa được tiến hành thường xuyên, chưa được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc; vẫn còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, các cấp uỷ Đảng chính quyền, các ngành hữu quan, các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân
- Vẫn tồn tại một bộ phận học sinh thường xuyên có biểu hiện vi phạm nội quy, có lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, xúc phạm tới danh dự, tự trọng của nhà giáo
Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh của trường lên một bước mới, góp phần tạo bước đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010
- 2020, đáp ứng việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh, việc nghiên cứu các biện pháp quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những lí do nói trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức học sinh trường THCS Giáp Bát - quận Hoàng Mai - TP Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ học
Trang 13sinh trường THCS, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh i
trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội hiện nay đã có đổi mới và thu lại một số kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội còn nhiều vấn đề cần giải quyết và chịu sự tác động của nhiều
yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố cơ bản là công tác quản lí của nhà trường Nếu
Hiệu trưởng trường THCS Giáp Bát áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp quản
lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh như tác giả đã nghiên cứu và đề xuất thì chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trường THCS Giáp Bát quận Hoàng Mai được nâng lên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trường THCS
5.2 Tìm hiểu, phân tích thực trạng của việc quản lí hoạt động GDĐĐ học
sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ học sinh cho trường
THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội của Hiệu trưởng
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Trang 146.3 Giới hạn khách thể khảo sát
Trong đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai,
thành phố Hà Nội Trong điều tra thu thập số liệu, tác giả tập trung vào những kết
quả giáo dục đạo đức của 22 lớp trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội các năm học 2013 - 2014 đến 2015 - 2016; đồng thời chọn các khách thể khác nhau để điều tra thực trạng GDĐĐ và tính khả thi của các biện pháp quản
lý GDĐĐ, các nhóm khách thể cụ thể là:
Cán bộ, chuyên viên phòng giáo dục quận Hoàng Mai; Ban Giám hiệu, Đoàn
thanh niên, Tổng phụ trách Đội, Đại diện Hội Cha mẹ học sinh (CMHS) và một số
giáo viên, học sinh trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
7.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục THCS nói riêng trong giai đoạn hiện nay; các công trình khoa học về giáo dục, GDĐĐ cho học sinh, các công trình khoa học về quản
lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
7.1.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa được sử dụng với mục đích xác định
cơ sở lý luận về hoạt động quản lý GDĐĐ cho học sinh trường THCS
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cơ sở thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là một phương pháp rất hiệu quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Ban Giám hiệu, Đoàn thanh niên, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và đại diện CMHS trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, để từ đó có những điều chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Ban Giám Hiệu, Đoàn
Trang 15thanh niên, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và đại diện CMHS trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng đạo đức
và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh của Hiệu trưởng trường THCS; đồng thời xem xét mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tác giả
sẽ đề xuất trong luận văn
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trong luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THCS Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS
Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS
Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển cá nhân và xã hội Đạo đức được hình thành, phát triển cùng với lịch
sử hình thành xã hội loài người và luôn được mọi tầng lớp, giai cấp, mọi thời đại quan tâm, xem nó như động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định chuẩn mực hướng con người người tới chân, thiện, mỹ chống lại cái giả dối, cái ác cái xấu… Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định Bất cứ trong thời đại lịch sử nào, đạo đức con người đều được đánh giá theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức chung của xã hội Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của sản xuất, của các mối quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng Đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng lại mang những đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử
Đạo đức vừa phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội được biến đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội
Trong quan niệm truyền thống dân tộc Việt Nam, GDĐĐ luôn được coi là vấn
đề cơ bản trong quan hệ Đức và Tài của nhân cách con người Văn hóa hương ước làng quê Việt Nam có nhiều quy định ràng buộc và yêu cầu cao về giáo dục con người sống
có đạo đức, thậm chí đề cao đạo đức là cốt cách con người Ngay từ thuở ấu thơ con trẻ
đã được răn dạy “cái nết đánh chết cái đẹp”, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, chế độ dân chủ nhân dân được thành
Trang 17lập, cùng với chế độ xã hội mới, nền văn hóa mới và nền giáo dục mới được xây dựng Gắn liền với bản sắc và truyền thống dân tộc, vấn đề GDĐĐ cho thế hệ trẻ và cho mọi tầng lớp nhân dân luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng Đường lối phát triển văn hóa giáo dục nhất quán và một hệ thống pháp luật, các thể chế về xây dựng đạo đức xã hội XHCN và GDĐĐ con người mới đã dần từng bước được hoàn thiện
và phát huy tích cực với thực tiễn đời sống xã hội, mà trước hết được thể hiện trong chương trình giáo dục, lồng ghép trong nội dung các môn học trong mọi cấp học
Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho cán bộ, HS Bác đã chỉ rõ rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Bác luôn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, HS thành những người thừa
kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung
cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng
Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học
Khổng Tử (551-478 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó, “Nhân” - Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”
Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ và một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm (Nxb Chính trị Quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng (Nxb Giáo dục, 2001)
Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng có nhiều đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này như:
Tác giả Hà Thế Ngữ [35] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ
Trang 18thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh;
Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [21] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức,
GDĐĐ, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về GDĐĐ Về mục tiêu GDĐĐ, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ:
“Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xẩy ra xung quanh Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức
xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” [15, tr 168-170]
Tác giả Hà Nhật Thăng [41] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của GDĐĐ, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ
trong giai đoạn hiện nay
Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới, có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến các công trình sau:
- “Một số vấn đề quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Thành phố Huế” Phạm Văn Công (Khoa Sư phạm ĐHQGHN, 1999)
- “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinhTHPT Huyện Mỹ Đức (Hà Tây) hiện nay” Bùi Đức Thảo (Khoa Sư phạm ĐHQG HN, 2008)
- “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Hưng Yên” Đỗ Quang Hợp (Khoa Sư phạm ĐHQG HN, 2007)
- Tác giả Kim Anh, Bích Lan, Minh Hòa/VOV.VN lại nêu rõ mối quan hệ
Trang 19giữa nhà trường, gia đình và xã hội “Để các em trở thành một người có nhân cách, việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức quan trọng”
Từ đó đưa ra những giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh
- Tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục- Đào tạo cho rằng, không chỉ ở cấp Tiểu học mà ở cả các cấp học khác, môn học Đạo đức- Giáo dục Công dân chưa được chú trọng Một trong những hạn chế trong chương trình dạy hiện nay là còn nặng về “dạy chữ”, xem nhẹ việc “dạy người” Theo ông Đỗ Ngọc Thống, hiện nay Bộ GD-ĐT đang tiến hành xây dựng chương trình đổi mới sách giáo khoa sau 2015 Sau khi được Chính phủ hoặc Quốc hội phê duyệt sẽ bắt đầu triển khai Việc dạy Đạo đức- Giáo dục công dân còn nhiều hạn chế, bất cập cần phải thay đổi, Bộ Giáo dục-Đào tạo vừa tổ chức Hội thảo quốc gia về giáo dục đạo đức công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam Những ý kiến tại cuộc hội thảo này sẽ góp phần quan trọng trong việc thay đổi bộ môn Giáo dục công dân “ Hiện môn GDCD đưa vào chương trình một số nội dung quá khó, chẳng hạn ở cấp 3 thì học thiên về triết học quá, chưa cần thiết đối với lứa tuổi Ở bậc thấp hơn thì môn giáo dục đạo đức chưa thực sự hấp dẫn Chính vì thế phải thay đổi chương trình, thay đổi cả cách dạy Bộ Giáo dục sẽ điều chỉnh theo hướng thay đổi nổi dung một cách cơ bản, thiết thực, học trò có thể vận dụng được Cùng với đó là thay đổi phương pháp dạy, làm học sinh tự thấm thía, tự thực hành trong cuộc sống”
Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở các trường Trung học phổ thông, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Nhưng đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội còn rất ít Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Trung học cơ sở vẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy nghiên cứu cơ sở lý luận về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trong trường trung học cơ sở; Tìm hiểu thực trạng quản lý GDĐĐ cho học sinh tại trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh trong trường trung học cơ
sở Giáp Bát trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội là rất cần thiết
Trang 20Với hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trước và cùng góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ HS trường THCS Giáp Bát, quận Hoàng Mai, cũng như các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động GDĐĐ
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Về nguồn gốc hình thành và phát triển của khái niệm “quản lý”, đã được Các
Mác khẳng định, chính là từ nhu cầu quản lý lao động xã hội: “Bất cứ lao động xã
hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải
là những chức năng chung, tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động cá nhân chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải nghe một nhạc trưởng” [21, tr.5]
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm chính
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất, theo Trần Kiểm [30, tr.8]
- Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong các điều kiện biến động của môi trường làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả
- Khái quát hơn, khoa sư phạm - ĐHQG HN các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [10, tr.1]
Từ những quan niệm trên có thể khái quát: Quản lý là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm phát huy
Trang 21nguồn lực và cơ hội để thực hiện tốt các chức năng quản lý, từ đó đưa công tác GDĐĐ đạt được mục tiêu phát triển các phẩm chất đạo đức học sinh (về ý thức, thái
độ, hệ thống hành vi ĐĐ lên một trình độ cao hơn) và đạt được mục tiêu với chất lượng, hiệu quả mong muốn bằng những cách thức hiệu quả nhất
Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công cụ
để đánh giá kết quả quản lý Để thực hiện những mục tiêu đó, nhà quản lý phải thực hiện các nội dung: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo điều hành
và kiểm tra đánh giá Ngoài ra, lý luận và thực tiễn quản lý trong những năm gần đây còn coi Thông tin quản lý như là một chức năng cơ bản của mọi hoạt động quản lý Lý
luận và thực tế cho thấy quản lý không những là một môn khoa học mà nó còn là một
“nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo để đạt tới mục đích
1.2.1.2 Bản chất quản lý
Bản chất quản lý đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã xác định
1.2.1.3 Chức năng quản lý
Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện
kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý
Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tác động với nhau một cách hợp lý
Trang 22Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra
Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra: trạng thái của hệ thống; kết quả thực hiện kế hoạch; phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa
TT (thông tin) được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết với cả 4 chức năng
Đạo đức phản ánh những giá trị , những quan hệ tốt đẹp giữa người và người ; mặt khác đạo đức còn phản ánh ý thức và hành vi tự nguyện , tự giác của con người trong mối tương quan giữa cá nhân và xã hội, giữa con người với nhau, đạo đức xuất hiện từ khi có loài người và nó không bao giờ biến mất, nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Vì vậy, con người càng vươn
tới và sáng tạo ra những giá trị đạo đức mới
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất phong phú và sâu sắc
Theo giáo trình “Đạo đức học” (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - Năm 2000) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [19, tr 8]
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con người
và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng XH, quan
Trang 23Theo quan điểm học thuyết Mác – Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc” (Dẫn theo Nguyễn Kim Bôi)
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [36, tr 211]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người
và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân
và xã hội” [12, tr 51]
Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên
ta có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:
Một là góc độ xã hội: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh
dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình
Trang 24Hai là góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
ĐĐ biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội Khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn Các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có
ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay
ĐĐ có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi Trong đó, điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Chức năng nhận thức: Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ cho
chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức mà tạo thành
ĐĐ cá nhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị ĐĐ xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp con
người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi ĐĐ Hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện KT- XH, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm cho
cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu Trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ xã hội Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị ĐĐ Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan trọng của ĐĐ:
“Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải
Trang 25Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [31]
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ
thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với
yêu cầu của xã hội” [28]
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [26]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của
xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa