1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại việt nam (tóm tắt trích đoạn)

47 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 834 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ..... NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DIỆU QUYÊN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG

LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số : 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Năng

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 3

i

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 7

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN .7

1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 7

1.1.2 Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán 8

1.1.3 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 10

1.1.3.1 Nhà phát hành 10

1.1.3.2 Nhà đầu tư 10

1.1.3.3.Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 11

1.1.3.4.Các tổ chức liên quan đến chứng khoán 12

1.1.3.5 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán 16

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 18

1.2.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 18

1.2.2 Khái niệm địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 21

1.2.3 Cơ sở pháp lý và nguyên tắc xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 24

1.2.4 Kinh nghiệm của một số nước trong việc điều chỉnh địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 27

1.2.4.1 Pháp luật Brazil 27

1.2.4.2 Pháp luật Thái Lan 30

1.2.4.3 Pháp luật Hàn Quốc 33

Kết luận chương I 37

Chương II QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 38

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 38

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1975 đến 1987 38

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến 1996 40

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến 2006 44

Trang 4

ii

2.1.4 Giai đoạn từ 2006 đến nay 47

2.2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 50

2.2.1 Các chính sách và bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 50 2.2.1.1 Chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 50 2.2.1.2 Bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK 51 2.2.2 Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam 56 2.2.3 Quy định về quyền của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 62 2.2.4 Các nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường chứng

khoán Việt Nam 71 2.2.5 Thủ tục tham gia thị trường chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài 77

2.3 QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ

THÀNH VIÊN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 80

2.3.1 Hiệp định đầu tư toàn diện Asean (ACIA) 80 2.3.2 Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư 83 2.3.3 Hiệp định giữa Việt Nam và Vương quốc Anh và Bắc Ireland về khuyến khích

và bảo hộ đầu tư 84

Kết luận chương II 86

3.1 THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI

VIỆT NAM 87

3.1.1 Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 87 3.1.2 Những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 91

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 94

3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 94 3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 97 3.2.2.1 Hoàn thiện quy định khái niệm nhà đầu tư nước ngoài 97

Trang 5

iii

3.2.2.2 Xác định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng

khoán Việt Nam 98

3.2.2.3 Quy định về phát hành cố phiếu không có quyền biểu quyết 99

Kết luận chương III 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ cái viết

ACIA Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN

AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN

AIA Hiệp định chung về khu vực đầu tư ASEAN

BCTC Báo cáo tài chính

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

TTCK Thị trường chứng khoán

TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán

TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

VSD Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có một nền tảng kinh tế nói chung và tài chính nói riêng ổn định

và phát triển Với tư cách là ngành dẫn dắt, hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia đã và đang có những bước phát triển, cải cách và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy quá trình đi lên của đất nước Việc ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm 2000 được coi như mốc phát triển quan trọng tất yếu của hệ thống tài chính hiện đại

Có thể thấy, thị trường chứng khoán là bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế phát triển, đó là bức tranh phản ánh sâu sắc và chính xác sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tồn tại rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới tầm quan trọng của sự phát triển của thị trường chứng khoán trong đó có ba yếu tố cốt lõi là: Môi trường pháp lý, hàng hóa giao dịch trên thị trường và tình hình chính trị quốc gia, sự hiểu biết của công chúng về thị trường chứng khoán Thị trường năng động này không thể vận hành và vươn lên nếu không có một khung pháp lý cần thiết cho

tổ chức và hoạt động của thị trường

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng hiện nay, mọi thị trường của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có sự tham gia của một chủ thể quan trọng có tác động rõ rệt đến thị trường – đó là Nhà đầu tư nước ngoài Và điều tất yếu đặt ra là các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi và khuôn khổ pháp lý thích đáng để bảo vệ quyền lợi của nhóm chủ thể này nhằm thu hút vốn đầu

Với vị trí là quốc gia đang phát triển không ngừng, Việt Nam trong thời gian gần đây vấn đề thu hút, mở rộng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán nước ta đang ngày càng được chú trọng và trở thành một trong những vấn đề được công chúng quan tâm Đặc biệt mới đây, sự ra đời của Nghị định 60/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán trong đó nội dung nổi bật liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài là tăng tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài lên

Trang 8

2

đến 100% Đây là điều đáng mừng về việc tăng độ mở của thị trường chứng khoán thông qua tỷ lệ sở hữu, là biện pháp tăng cường các hoạt động đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán, cũng như là động lực để đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường

Dẫu vậy, thị trường chứng khoán nước ta còn non trẻ, mới mẻ cũng vì vậy mà

hệ thống pháp luật chứng khoán của nước ta còn chưa hoàn thiện, vẫn tồn tại những bất cập, thiếu sót nhất định cần sớm được khắc phục để phù hợp với sự vận động, phát triển không ngừng của loại thị trường này nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung Một trong những quy định quan trọng liên quan đến đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán chính là xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này Bởi vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu mang tính hệ thống toàn diện về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam để so sánh với một số nước có thị trường chứng khoán phát triển điển hình trên thế giới, từ đó vận dụng những kinh nghiệm tích cực của quốc tế vào thị trường nước ta để đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư, rộng mở cánh cửa đầu

tư hơn nữa cho các nhà đầu tư ngoại, thu hút vốn cho thị trường

Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Địa vị pháp lý của nhà đầu

tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ luật

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau liên quan đến thị trường chứng khoán Tuy nhiên, do tính khá mới mẻ của thị trường này nên các nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố của thị trường còn bị giới hạn trong đó có vấn đề về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trên thị trường chứng khoán Hiện nay, vấn đề này đang nằm rải rác trong một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực chứng khoán nói chung như:

- Hoàng Văn Thứ (2009), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học Nghd: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Trang 9

3

- Lê Anh Tuấn (2010), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ luật

học, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Tác giả Nguyễn Đức Hiến với đề tài “Hành vi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận án Tiến sĩ, trường Đại học Kinh tế quốc dân, bảo vệ

thành công năm 2012 Luận án nghiên cứu những lý luận và đo lường các yếu tố cấu thành hành vi của nhà đầu tư chứng khoán Tâm lý nhà đầu tư theo trình độ học vấn Qua đó khuyến nghị những thay đổi một số chính sách liên quan đến quản lý điều hành thị trường chứng khoán

- Tác giả Nguyễn Thủy Anh với đề tài “Minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án

Tiến sĩ, trường Đại học Ngoại thương, bảo vệ thành công năm 2012 Luận án trình bày cơ sở khoa học về minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán Thực trạng, phương hướng và giải pháp tăng cường minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

- Tác giả Phạm Thị Giang Thu với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam” được đăng

trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2006, tr 36 – 41;

- Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung” được đăng trên tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 4/2004,

Trang 10

4

trường Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

hệ thống hóa nhất các quy định luật và thực tiễn áp dụng các quy định này về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đặc biệt là của các nước Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc Do đó, luận văn sẽ nghiên cứu về thị trường chứng khoán của các nước nêu trên để người đọc thấy được tính đa dạng cũng như những kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam cần học hỏi, đồng thời đóng góp những nghiên cứu, tìm hiểu mới mẻ, cập nhật của mình cho bạn đọc

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán

Nhiệm vụ của luận văn:

- Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm

có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán

- Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc

- Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu

tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới

Trang 11

5

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một

cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật Về lý thuyết và thực tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống

Tác giả sẽ tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông qua các ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó, so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật với thực tiễn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán để chỉ ra những điểm hạn chế, không phù hợp trong các quy định pháp luật hiện hành Từ đó có những kiến nghị, đề xuất phù hợp, hiệu quả

6 Kết cấu luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán

Trang 13

7

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA

NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và trở nên đa dạng, phong phú Người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, người thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết, tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đáp ứng được

Vì vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính Thông qua thị trường tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho phát triển kinh tế

Ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao Chính vì vậy, thị trường vốn đã ra đời

để đáp ứng các nhu cầu này Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán Khi một bộ phận các chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán chứng khoán Và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là một bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các loại

Hiện nay có rất nhiều quan điểm về thị trường chứng khoán, có quan điểm cho rằng thị trường chứng khoán đồng nghĩa với thị trường vốn, có quan điểm cho rằng thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn, có quan điểm cho

Trang 14

8

rằng thị trường chứng khoán là giao giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ

Nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến nhất như sau: Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch trao đổi các loại chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành

và trao đổi

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư

Đặc điểm chủ yếu của thị trường chứng khoán được thể hiện như sau:

- Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính;

- Là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu;

- Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn

1.1.2 Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán

Thứ nhất, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Sự hoạt động của thị trường chứng khoán tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Thị trường chứng khoán cung cấp phương tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới Chức năng này được thực hiện khi công ty phát hành chứng khoán và công chúng mua chứng khoán Nhờ vào hoạt động của thị trường mà doanh nghiệp có thể huy động được một số lượng vốn đầu tư dài hạn Khi mua chứng khoán do các công ty

Trang 15

9

phát hành, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Trong quá trình này, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của doanh nghiệp

Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

Thứ hai, chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán

TTCK là nơi các chứng khoán được mua bán, trao đổi, bởi vậy nhờ các chứng khoán các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền hay các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền) là một trong những yếu tố quyết định tính hấp dẫn của chứng khoán đối với các nhà đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt của chứng khoán Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán là chức năng quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách năng động và có hiệu quả

Thứ ba, chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình kinh tế

TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của cả nền kinh

tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường

Từ đó tạo ra một môi trường cạch tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Thứ tư, giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

TTCK là nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau Trên thị trường chứng khoán, giá cả các chứng khoán phản ánh sự phát triển các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, các giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang được mở rộng, nền kinh tế đang tăng trưởng và ngược lại khi giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Chính vì vậy, thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trường chứng khoán,

Trang 16

10

Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế

1.1.3 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

1.1.3.1 Nhà phát hành

Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của thị trường chứng khoán Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp

và một số tổ chức khác như: Quỹ đầu tư, tổ chức tài chính trung gian

- Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể chủ yếu phát hành các chứng khoán nợ như: Trái phiếu Chính phủ; trái phiếu địa phương; trái phiếu công trình; tín phiếu kho bạc

- Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

- Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ hưởng thụ phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợp với đặc thù hoạt động của họ theo luật định

1.1.3.2 Nhà đầu tư

Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu tư có thể được chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

- Nhà đầu tư cá nhân là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Những nhà đầu tư này có vốn nhàn rỗi tạm thời muốn đầu tư để kiếm lời Khi nền kinh tế còn yếu kém thì các nhà đầu tư thường đưa vốn của mình vào những lĩnh vực an toàn Nhưng khi nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng tốt thì các nhà đầu tư cá nhân lại thường chọn thị trường chứng khoán để đầu tư, vì thị trường chứng khoán phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, qua đó các nhà đầu tư có thể thu được khoản lợi từ sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư vào thị trường chứng khoán

- Các nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp

Trang 17

11

chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có chuyên môn và có kinh nghiệm

1.1.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán gồm có:

- Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành

lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các quy định khác của pháp luật để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo giấy phép

do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán gồm có: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán

- Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với

mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu

tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ Có 4 loại quỹ đầu tư chứng khoán là: Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng; Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá ba mươi thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân; Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư; Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư.[7]

- Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức

năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối nghĩa là người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho vay, các liên

Trang 18

12

hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính [23] Các tổ chức tài chính trung gian gồm có: Ngân hàng thương mại, quỹ trợ cấp, công ty tài chính, công ty bảo hiểm Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty chứng khoán cũng là một trong những tổ chức tài chính trung gian

1.1.3.4 Các tổ chức liên quan đến chứng khoán

Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK

Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững Tuy nhiên, mô hình về cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán ở các nước đều có những điểm khác nhau Nhìn nhận khái quát có thể thấy có hai mô hình về cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán: Một số nước giao trách nhiệm chủ yếu quản lý về mặt Nhà nước đối với thị trường chứng khoán cho một Bộ của Chính phủ như ở Nhật Bản, Hàn Quốc trách nhiệm này được giao cho Bộ Tài chính; một

số nước thành lập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ như ở Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và giao dịch

Sở giao dịch chứng khoán

Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là trung tâm giao dịch có tổ chức để giao dịch các chứng khoán được niêm yết SGDCK thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên thị trường chứng khoán Ngoài ra, SGDCK cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán ở Sở, phù hợp với các quy định luật

pháp về chứng khoán và giao dịch chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công

ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu tư trên thị trường

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thường là một tổ chức tự quản, thực hiện một số chức năng sau:

Trang 19

13

- Đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán

- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán

- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định pháp luật về chứng khoán hiện hành

- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên

- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán

- Hợp tác với chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có tác động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán

Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán Các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán đáp ứng đủ điều kiện của Uỷ ban chứng khoán sẽ thực hiện dịch vụ lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

Các tổ chức hỗ trợ

Là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng cường của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động như: cho vay tiền để mua cổ phiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng Các tổ chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có một số nước không cho phép thành lập các tổ chức này

Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực tài chính của tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam kết của tổ chức phát hành cụ thể Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳ theo quy định của từng công ty xếp hạng

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán

Mỗi thị trường đều có những nguyên tắc hoạt động riêng Đối với thị trường chứng khoán cơ chế vận hành của nó được dựa trên bốn nguyên tắc hoạt động căn bản sau: Nguyên tắc cạnh tranh tự do, nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian

và nguyên tắc đấu giá Việt Nam đưa vào vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng

Trang 20

14

khoán (TTGDCK) chính là tiền thân của Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), và

vì vậy việc tuân thủ các nguyên tắc này sẽ đảm bảo cho thị trường chứng khoán phát triển được lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư

Nguyên tắc cạnh tranh tự do

Thị trường chứng khoán phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do Các nhà phát hành, các nhà đầu tư được tự do tham gia và rút khỏi thị trường Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn chứng khoán mà họ muốn đầu tư vào Trên thị trường thứ cấp nhà đầu tư cũng tự do cạnh tranh để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất

Nguyên tắc công khai

Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của Giám đốc, người quản lý, cổ đông lớn, Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán

Bởi vì thông tin là một yếu tố hết sức quan trọng đối với nhà đầu tư chứng khoán Để thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả và công bằng thì các tin tức

có tác động đến sự thay đổi giá cả của chứng khoán cần phải công khai cung cấp cho nhà đầu tư nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu tư như nhau đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán lũng đoạn thị trường

Nguyên tắc thông qua trung gian

Đây là nguyên tắc căn bản cho việc tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán Những người muốn mua hay bán chứng khoán không tiến hành giao dịch trực tiếp với nhau trên thị trường chứng khoán mà phải thông qua các nhà môi giới Nguyên tắc này đảm bảo cho các chứng khoán được giao dịch là các chứng khoán

Trang 21

15

thật, đảm bảo thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, liên tục, ngày càng phát triển và bảo vệ lợi ích các nhà đầu tư Bởi lẽ, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể hiểu biết và phán đoán được giá trị thực của từng loại chứng khoán cũng như những biến động giá trong tương lai của chúng Những người môi giới chuyên nghiệp với vốn kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm của mình, dựa trên các căn cứ xác đáng khi đưa ra những phân tích chứng khoán, sẽ giúp cho nhà đầu tư tránh bị nhầm lẫn hoặc

Các nhà kinh doanh chứng khoán cũng là những người trung gian mua bán chứng khoán trên thị trường, nhưng không phải cho khách hàng mà cho chính bản thân họ, bằng nguồn vốn đầu tư để hưởng chênh lệch giá trong quá trình mua bán Bên cạnh đó, các nhà kinh doanh chứng khoán còn đóng vai trò là người tạo lập thị trường, làm cho thị trường chứng khoán được diễn ra một cách liên tục

Nguyên tắc đấu giá

Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xác

Trang 22

1.1.5 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán có thể phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét

3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình thức tổ chức thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn Các phân tích sau đây sẽ thể hiện từng cách thức phân loại đó

Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường

Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân chia thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường dẫn suất (thị trường các công cụ phái sinh)

 Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là các trái phiếu Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành công cụ này là phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc và lãi

 Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ có xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty khi tài sản này được đem bán Cổ phiếu có thời gian đáo hạn là không xác định

 Thị trường công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh được mua và bán Tiêu biểu cho công cụ này là hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư

Trang 23

17

Theo hình thức luân chuyển vốn

Theo hình thức này, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:

 Thị trường sơ cấp (hay thị trường cấp I) là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành

 Thị trường thứ cấp (hay thị trường cấp II) là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội

Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên các giác độ sau:

- Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản (tính lỏng) của các chứng khoán đã phát hành Việc này làm tăng tính ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản lý của doanh nghiệp

Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyển đổi thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn Đồng thời, tạo điều kiện cho việc phân phối một cách có hiệu quả Sự di chuyển vốn đầu tư trong nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế “bàn tay vô hình”, cơ chế xác định giá chứng khoán

và thông qua hoạt động thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp

- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty

- Thông qua việc định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Thông

Ngày đăng: 10/05/2017, 10:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w