1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đào tạo nguồn nhân lực pháp luật cho quá trình phát triển của việt nam (tóm tắt trích đoạn)

14 311 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 8,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật ở Việt Nam bao gồm 3 bộ phận hợp thành cơ bản là: 1 Đào tạo pháp luật căn bản để cấp bàng ở các trình độ: trung cấp, c

Trang 1

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT

CHO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẺN CỦA VIỆT NAM

Phan C h í H iếu

1 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực pháp luật cho quá trinh phát triển của Việt Nam

1.1 Vai trò của hoạt động đào tạo nguồn nhân lực ph áp luật

Chất lượng, sổ lượng đội ngũ cán bộ pháp luật, tư pháp chịu sự tác động của nhiều yếu tổ: phẩm chất, năng lực của cá nhân; chính sách thu hút, bố trí, sử dụng cán

bộ của cơ quan, đơn vị; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo, cũng như quá trình tự đào tạo của cá nhân Trong số các yếu tố tác động đó thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giữ vai trò hết sức quan trọng Hoạt động đào tạo giúp trang bị m ột cách hệ thống, bài bản kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ pháp luật, giúp họ có nền kiến thức chuẩn để thực hiện nhiệm vụ, tự đào tạo

để bổ sung kiến thức cần thiết nhằm phát triển nghề nghiệp của mình

Hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật ở Việt Nam bao gồm 3 bộ phận hợp thành cơ bản là: (1) Đào tạo pháp luật căn bản để cấp bàng ở các trình độ: trung cấp, cừ nhân, thạc sỹ, tiến sỹ Luật; (2) Đào tạo nghề để cấp chứng chỉ cho các chức danh tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và các chức danh tư pháp khác) và (3) Đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho những người đang hành nghề Các hoạt động đào tạo này rất khác nhau (về đổi tượng người học, cơ sở đào tạo, mục đích đào tạo, nội dung chương trình, phương

ph áp nhưng giữa chúng lại có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau

Ý thức được tầm quan trọng cùa hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi giáo dục

là "quốc sách hàng đầu" Trong lĩnh vực tư pháp, các Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (như Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một sổ nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ; Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

* TS Hiệu trường Trường Đại học Luật Hà Nội

466

Trang 2

ĐÀO TAO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT.

pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020) đều coi công tác đào tạo, bồi dưỡng là một giải pháp quan trọng để hình thành đội ngũ cán

bộ pháp luật đù về số lượng, mạnh về chất lượng Nghị quyết sổ 48-NQ/TW đã đề

ra định hướng: phải "bảo đảm sổ lượng và chất lượng nguồn nhân lực cán bộ công

chức làm công tác pháp luật Nghị quyết số 49-NQ/TW nhấn mạnh: "Đào tạo đù

số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực

tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ qicyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, to chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực" Để nâng cao chất

lượng đào tạo cán bộ về pháp luật, Nghị quyết số 49-NQ/TW chỉ đạo: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân Luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa"

1.2 Đảnh g iả nhu cầu đào tạo nguồn nhăn lực p h á p lu ậ t về số lượng và chất lượng

ỉ 2.1 Nhu cầu về số lượng

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cài cách tư pháp, cải cách pháp luật, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tể đang đặt ra nhu cầu rất lớn về cán bộ pháp luật, dẫn tới nhu cầu gia tăng quy mô đào tạo nguồn nhân lực pháp luật Theo Báo cáo về nhu cầu và kế hoạch tuyển dụng công chức ngành Tòa án nhân dân từ nay đến năm 2020 gửi Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương' thì trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2015, ngành Tòa án cần bổ sung khoảng 2.300 người (chủ yếu là Thư ký tòa án); giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 nhu cầu tuyển dụng bình quân hàng năm là 1.300 người/01 năm Theo Báo cáo về nhu cầu và kế hoạch tuyển dụng cán bộ từ nay đến năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao gửi Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương2 thì từ nay đến năm 2020, mỗi nãm ngành Kiểm sát cần bổ sung 1.750 người Đối với ngành Tư pháp, theo Quyết định số 358/QĐ-BTP cùa Bộ trưởng Bộ

ĩ ư pháp ngày 06/3/2012 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tư pháp giai đoạn 2011 - 2020 thì giai đoạn từ nay đến năm 2015 các đơn vị thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Bộ Tư pháp tăng 1.250

1 Báo cáo số 361/TANDTC-TCCB ngày 06/7/2012.

2. Báo cáo số 48-B C /B C SĐ ngày 06/7/2012 của Ban cán sự Dàng V iện kiểm sát nhân dân Tối cao.

Trang 3

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TẾ LẰN THỨ T ư

người, cơ quan thi hành án dân sự tăng 8.100 người, cơ quan tư pháp địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã), cán bộ pháp chế

Bộ, ngành, địa phương tăng 3.790 người, các tổ chức bổ trợ tư pháp tăng 32.000 người; giai đoạn từ 2016 - 2020: các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước

và các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp tăng 1.200 người, cơ quan Thi hành án dân sự tăng 8.000 người, cơ quan Tư pháp địa phương tăng 7.500 người, các tổ chức pháp chế Bộ, ngành, địa phương tăng 3.640 người, các tổ chức bổ trợ tư pháp tăng 28.000 người

Kế hoạch số 900/UBTVQH11 của Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/3/2007

về thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW đã đặt chỉ tiêu phát triển đội ngũ luật sư đạt từ 18.000 đến 20.000 luật sư vào năm 2020 Ngày 05/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là: Phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2020 có từ 18.000 đến 20.000 luật sư, hành nghề chuyên sâu theo lĩnh vực pháp luật; nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, chất lượng hoạt động hành nghề luật sư, vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng, từng bước phát triển, mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý, tạo nền tảng

để phát triển nghề luật sư V iệt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới

Ngoài ra, nhu cầu đào tạo lại, bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ pháp luật theo quy định của Nghị định sổ 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức cũng rất lớn

1.2.2 Nhu cầu về chất lượng

Cùng với nhu cầu m ở rộng quy mô, nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cán

bộ về pháp luật cũng đang đặt ra hết sức bức thiết Thời gian qua, do phải đáp ứng yêu cầu trước mắt về nguồn nhân lực cho xã hội, cùng với những hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình và phương pháp đào tạo nên chất lượng đào tạo cán bộ về pháp luật ở nước ta còn hạn chế H ầu hết các cơ sở đào tạo chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức pháp luật cơ bản cho người học, chưa có điều kiện đào tạo chuyên sâu, đào tạo hướng nghiệp và rèn luyện kỹ năng thực hành Kểt quả

là phần lớn cán bộ pháp luật chỉ đủ năng lực để thực thi những nhiệm vụ thông thường của công chức, viên chức mà chưa có khả năng xử lý những vấn đề pháp lý phức tạp nảy sinh trong thực tiễn Việc rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên luật cũng chưa được chú trọng đúng mức Nhiều sinh viên khi ra công tác chưa phát huy được năng lực và kiến thức đã được trang bị, chậm thích ứng với thực tiễn Tình trạng cán bộ làm công tác pháp luật không tâm huyết với nghề nghiệp được đào tạo, bỏ nghề hoặc chuyển sang nghề khác đã và đang diễn ra khá phổ biến

468

Trang 4

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT

Để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế thì chất lượng nguồn cán bộ pháp luật cần phải được tăng cường một cách toàn diện Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ pháp luật hiện nay là phải

có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật;

có kiến thức ngoại ngữ và tin học; có khả năng thực hành; có kỹ năng làm việc nhóm, có năng lực và bản lĩnh hội nhập Bên cạnh đó, cần phải xây dựng đội ngũ luật sư, chuvên gia pháp luật đạt trình độ khu vực và thế giới để tham mưu giúp Chính phủ trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, xây dựng và thực thi chính sách pháp luật đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và công dân Việt Nam trong các tranh chấp có yếu tố nước ngoài Đây là yêu cầu bức thiết đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ pháp luật

2 Thực trạng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật ở Việt Nam

2.1 Thực trạng hoạt động đào tạo pháp luậí ở trình độ trung cấp, cừ nhân, thạc sỹ, tiến sỷ Luật

So với các lĩnh vực khác, hoạt dộng đào tạo pháp luật ở Việt Nam bắt đầu khá muộn, nhưng đã có những tiến bộ quan trọng, số lượng các cơ sở đào tạo Luật không ngừng tăng lên, đến nay đã hỉnh thành mạng lưới với gần 30 cơ sở, trong đó

có 3 trường đại học và 22 khoa, viện, học viện có chức năng đào tạo ngành Luật, 5 trường trung cấp Luật Các cơ sở này thực hiện việc đào tạo pháp luật với nhiều trình độ, từ trung cấp đến đại học, trên đại học Hình thức đào tạo cũng ngày càng được mở rộng với các loại hình đào tạo chính quy, vãn bằng 2, vừa làm vừa học, đào tạo từ xa Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Quy mô đào tạo cũng tăng gấp nhiều lần so với trước

Tuy vậy, hoạt động đào tạo pháp luật còn có một số hạn chế, yếu kém sau đây:

- Chất lượng đào tạo còn thấp so với yêu cầu thực tiễn, nhất là ở các hệ đào tạo không chính quy Sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về kiến thức thực tiễn, kỹ năng

và phương pháp làm việc Đào tạo sau đại học chất lượng chưa cao, còn nhiều kiến thức lặp lại chương trình đại học, chưa thực hiện được mục tiêu đào tạo chuyên gia đầu ngành cho đất nước Việc kiểm soát chất lượng đào tạơ cùa các cơ sở đào tạo chưa thực hiện được;

- Quy mô đào tạo còn nhỏ bé, nhất là đào íạo hộ chính quy Tuy số lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường hằng năm khá nhiều, nhưng phần lớn là học viên hệ vừa làm vừa học hoặc hệ đào tạo từ xa;

Trang 5

VÍỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ

- Chương trình đào tạo nhìn chung còn dàn trải, có nhiều nội dung trùng lặp, chưa thật sát với nhu cầu thực tiễn, thiếu kiến thức thực tiễn, chưa dành nhiều uru tiên cho đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành; chưa có những chương trinh đào tạo chuyên sâu để cung cấp nguồn nhân lực pháp luật cho các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án dân sự, các tổ chức hành nghề luật sư;

- Hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo còn nghèo nàn, một số nội dung còn nặng về miêu tả pháp luật thực định, tính lý luận không cao;

- Đội ngũ cán bộ, giảng viên còn thiếu so với nhu cầu m ở rộng quy mô đào tạo trong, tương lai, đặc biệt là đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, chuyên gia pháp luật đầu ngành; nhiều giảng viên không có điều kiện tiếp cận với thực tiễn nên nội dung giảng còn nặng về lý thuyết;

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập còn yếu kém, phần lớn các cơ sở đào tạo còn thiếu hệ thống cơ sở thực hành (phòng hiện trường, phòng diễn án và các phòng thực hành nghề) với các trang thiết bị hiện đại, thiếu các khu vui chơi giải trí, giáo đục thể chất, ký túc xá quá nhỏ, không đáp ứ ng nhu cầu chỗ ở cho sinh viên

2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho các chức danh tư ph áp

Hoạt động đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp mới được chú trọng trong thời gian gần đây N ăm 1982, Trường Cao đẳng kiểm sát thuộc Viện kiểm sát nhân

dân Tối cao được thành lập với nhiệm vụ đào tạo trình độ cao đẳng kiểm sát và bồi

dưỡng nghiệp vụ kiểm sát cho những người đã được bổ nhiệm Kiểm sát viên Năm

1994, Trường Cán bộ toà án thuộc Toà án nhân dân tố i cao được thành lập lại với nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ của ngành Toà án Tuy vậy, trong thời gian này, hoạt động đào tạo nghề trước khi bổ nhiệm chức danh tư pháp chưa được thực hiện Cán bộ được tuyển dụng vào các cơ quan tư pháp, khi đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định thì được bổ nhiệm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên

mà không qua đào tạo nghề một cách bài bản, chính quy

Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, nhận thức rõ những bất cập trong đội ngũ cán bộ tư pháp cũng như tầm quan trọng của hoạt động đào tạo nghề, Bộ Tư pháp đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án thành lập Trường Đào tạo các chức danh tư pháp và ngày 11/02/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 34/1998/ỌĐ-TTg về việc thành lập Trường Đào tạo các chức danh tư pháp thuộc

Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ đào tạo Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác Ngày 12/02/1998, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp đã khai giảng lớp đào tạo nghề Thẩm phán đầu tiên ờ nước ta, đặt nền móng cho hoạt động đào tạo nghề các chức danh tư pháp một cách chính quy, bài bản ở Việt Nam Từ thành công của mô hình

4 7 0

Trang 6

ĐÀO TAO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT

dào tạo nghề cho các chức danh tư pháp, các văn bản pháp luật (như: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, Luật Luật sư, Luật Thi hành án dân sự, Luật Công c h ứ n g ) đều quy dịnh điều kiện bắt buộc để bổ nhiệm các chức danh tư pháp là phải có trình độ cử nhân Luật và được đào tạo về nghiệp vụ theo từng chức danh Để đẩy mạnh hoạt dộng đào tạo các chức danh tư pháp, ngày 25/02/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg thành lập IIọc viện Tư pháp trên cơ sở Trường Đào tạo các chức danh tư pháp Học viện Tư pháp là cơ sở đàọ tạo trực thuộc Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ: đào tạo nghiệp vụ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác; bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Công chứng viên, Luật sư và các cán bộ có chức danh tư pháp khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp

Trong 13 năm qua, Học viện Tư pháp đã đào tạo hom 25.000 lượt học viên, tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Đấu giá viên, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp Bên cạnh hoạt động đào tạo, Học viện còn tiến hành các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ cho nhiều ngàn lượt cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, cấn bộ pháp chế của ủ y ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và doanh nghiệp nhà nước Đánh giá một cách khái quát thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp thời gian qua cơ bản đạt yêu cầu, góp phần tích cực trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược cải cách tư pháp của nước ta Theo đánh giá của các cơ quan sử dụng cán bộ thì các học viên tốt nghiệp được bổ nhiệm chức danh tư pháp đã phát huy tốt kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy từ quá trình đào tạo, tác nghiệp khá chính quy, bài bản, có phương pháp làm việc khoa học, rút ngắn thời gian làm quen với công việc, tự tin hom trong thực hiện nhiệm vụ được giao

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp thời gian qua còn có những hạn chế, bất cập như:

- Chất lượng đào tạo chưa cao, không đồng đều, nhất là so với yêu cầu các cơ quan sử dụng cán bộ đặt ra;

- Tuy là đào tạo nghề nhưng hoạt động đào tạo chủ yếu được tiến hành ở cơ sở đào tạo (đào tạo lý thuyết về kỷ năng), chứ chưa thực hiện được việc đào tạo từ công việc thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, Văn phòng Luật sư, Văn phòng Công chứng Các khóa đào tạo hoặc hoàn toàn không có thời gian thực tập (Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Đấu giá viên) hoặc thực tập không hiệu quả (Thẩm phán, Kiểm sát viên) Việc thực tập nghề cho học viên chưa được quy định

Trang 7

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ TƯ

cụ thể nên khả năng trực tiếp tiến hành các hoạt động nghề nghiệp trong thời gian thực tập là rất hạn chế;

- Chưa tiến hành được việc đào tạo nghiệp vụ chung cho các chức danh Thẩm phán - Kiểm sát viên - Luật sư để thực hiện chủ trương trong các nghị quyết của Đảng về mở rộng tranh tụng tại phiên tòa, m ở rộng nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Kiểm sát viên từ Luật sư, Luật gia, luân chuyển giữa các chức danh tư pháp

Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến m ột số nguyên nhân như:

- Đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp là m ô hình hoàn toàn mới ở Việt Nam nên phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm;

- Đội ngũ giảng viên còn mỏng, phương pháp sư phạm, kỹ năng nghề của một

số giảng viên chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề; chưa có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng bài bản, chính quy;

- Nội dung trong chương trình, giáo trình, tài liệu còn ít tính kỹ năng; việc rèn luyện nghề theo hướng "cầm tay, chi việc" chưa cao;

- Thể chế liên quan đến công tác đào tạo các chức danh tư pháp còn chưa đồng

bộ, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp chưa được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học nên chưa có mã ngành đào tạo, giá trị của văn bằng chứng chỉ chưa được quy định rõ;

- Thời gian đào tạo còn tương đối ngắn1 nên việc trang bị kiến thức nghề

nghiệp chuyên sâu, kiến thức hội nhập kinh tế quốc tể cho học viên còn hạn chế;

- Chất lượng đầu vào để đào tạo các chức danh tư pháp còn thấp, không đồng đều Đối tượng theo học m ột số chức danh (như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên) chỉ giới hạn trong phạm vi những người đang trong biên chế Nhà nước, chưa thực hiện được việc tuyển sinh rộng rãi để lựa chọn người thực sự có năng lực vào đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp;

- Chưa có cơ chế phổi hợp hiệu quả giữa các Bộ, ngành hữu quan trong công tác đào tạo các chức danh tư pháp; thời gian 5 năm gần đây, các ngành còn không thống nhất được việc phân vai trong hoạt động đào tạo nghề cho Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư, tự năm 2008, Viện kiểm sát tối cao tổ chức đào tạo riêng

- Cơ sở vệt chất, trang thiết bị giảng dạy, học tập chưa tương xứng với nhu cầu

mở rộng quy mô đào tạo, cũng như việc áp dụng các phương pháp đặc trưng cùa

1 Thời gian đào tạo Thẩm phán, Kiểm sát viên là 12 tháng; đào tạo Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên là 6 tháng.

472

Trang 8

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT

đào tạo nghề; kinh phí đào tạo (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên) được cấp, các mức thu học phí (đào tạo Luật sư, Công chứng v iê n ) quá thấp so với mặt bàng hiện nay, trong khi mức lạm phát, giá cả đều tăng cao, tạo khó khăn rất lớn cho hoạt động đào tạo nghề

2.3 H oạt động đào tạo lại, bồi dưỡng

Hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng có vai trò quan trọng, giúp đội ngũ cán bộ pháp luật, tư pháp cập nhật những kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ mới Thời gian qua, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách

tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tể, các Bộ, ngành đã dành nhiều quan tâm cho việc đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ với việc tổ chức nhiều khóa học để cập nhật các kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp mới để tăng cường năng lực chuyên môn, kỹ năng hành nghề cho đội ngũ cán bộ cùa mình Ví dụ: mở các lớp đào tạo Thẩm phán Hành chính, Thẩm phán Lao động để bổ sung nguồn thẩm phán cho Tòa Hành chính, Tòa Lao động mới được thành lập; tổ chức các khóa đào tạo lại với thời gian

3 tháng cho L uật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, cán bộ của các Sở Tư pháp, cán bộ pháp chế của ủ y ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và doanh nghiệp nhà nước trong khuôn khổ Dự án VIE 94003 "Đào tạo lại cán bộ pháp luật cho Chính phủ V iệt Nam" do Ngân hàng Phát triển châu Ả (ADB) tài trợ; tổ chức các lớp học ngắn ngày về kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên; tổ chức các khóa học ngắn hạn theo những chủ đề nhất định; tổ chức các đợt tập huấn khi có những văn bản pháp luật mới được ban hành Các khóa học này cũng đã giúp cho đội ngũ cán bộ pháp luật cập nhật được nhiều kiến thức mới, thiết thực phục vụ cho việc thực hiện nhiệm

vụ của họ

Tuy vậy, hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật đang có nhiều hạn chế, bất cập, nổi lên như sau:

- Các Bộ, ngành chưa có chiến lược đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bởi vậy, các hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng chưa được tiến hành một cách chính quy, bài bản, hiệu quả không cao Phần lớn hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng được xây dựng theo kế hoạch công tác năm, thường gắn với một vấn đề mới cần triển khai trong năm;

- Việc tham gia các khóa đào tạo lại không phải là diều kiện bắt buộc để bổ nhiệm chức danh tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên ) trong nhiệm kỳ mới Chính vì lý do này mà nhiều cán bộ tư pháp trong suốt quá trình hành nghề của mình không tham gia bất kỳ khóa đào tạo lại hay bồi dưỡng nào;

Trang 9

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

- Chưa thực hiện được việc đào tạo lại, bồi dưỡng theo định kỳ (bắt buộc) như

đã quy định tại N ghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chứ c1;

- Chưa có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng cố định với nội dung chương trình, tài liệu, phương pháp ổn định, được thực hiện thường xuyên hằng năm

3 Giậi pháp nang cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật phục vụ quá trình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật phục vụ quá trình phát triển của Việt Nam cần áp dụng đồng bộ, hiệu quả hệ thống các giải pháp, trong đó chú trọng tới một số giải pháp sau:

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của m ột số nước có nền tư pháp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và nhiều nước khác trên thế giới, một trong những biện pháp xây dựng đội ngũ các chức danh tư pháp có chất lượng cao, hoạt động chuyên nghiệp là thông qua việc thực hiện thi tuyển tư pháp quốc gia để lựa chọn người có năng lực và tâm huyết với hoạt động tư pháp để đưa đi đào tạo nghề

N hững người trúng tuyển kỳ thi này trở thành công chức dự bị v à được đào tạo nghề ngay Thông qua quá trình đào tạo, họ có điều kiện sàng lọc, định hướng, lựa chọn học viên để tạo nguồn Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư

Ở Việt N am hiện nay, các cơ quan tư pháp tuyển dụng người từ các sinh viên Luật tốt nghiệp, chưa được đào tạo nghề theo chức danh Sau khi được tuyển dụng vào các cơ quan tư pháp, họ phải công tác ít nhất từ 3 đến 5 năm, nhiều trường hợp công tác từ 7 đến 10 năm mới được lựa chọn cử đi học các khóa đào tạo nghề Do không được trang bị kỹ năng nghề nghiệp theo chức danh ngay từ ban đầu nên họ phải mất rất nhiều thời gian làm quen với công việc, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ không cao Bên cạnh đó, do được tuyển dụng vào công chức mới đi học nên Nhà nước phải đầu tư kinh phí, các cơ quan quản lý cán bộ phải dành thời gian cho các đối tượng này đi học Hoạt động đào tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên là hoạt động đào tạo nghề cho công chức nhà nước trước khi bổ nhiệm các chức danh tư pháp Bên cạnh đó, việc lựa chọn đối tượng học các khóa đào tạo Thẩm phán, Kiểm sát viên được thực hiện theo chế độ cử tuyển, tức là

1 Theo khoản 4 Điều 4 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP thì công chức phải tham gia các khóa bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện

là 1 tuần/1 năm; m ột tuần được tính bằng 5 ngày học, m ột ngày học 8 tiết).

4 7 4

Trang 10

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÁN Lực PHÁP LUẬT

các cơ quan quản lý cán bộ lựa chọn, lên danh sách cử người đi học Do học viên được lựa chọn theo cơ chế cử tuyển nên cơ sở đào tạo không kiểm soát được chất lượng đầu vào, là nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng đầu ra không được như mong muốn

Để tạo bước đột phá trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và công tác đào tạo nguồn chức danh tư pháp nói riêng cần nghiên cứu đổi mới mô hình đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, cơ chế tuyển dụng cán

bộ tu pháp, trước hết là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư Trước mắt cần xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đe án thí điểm đào tạo chung nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; triển khai thí điểm khóa đào tạo chung; tổng kết, đánh giá hiệu quả để thực hiện trên diện rộng, nhằm từng bước đổi mới căn bản mô hình đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, tạo tiền đề cho việc từng bước đổi mới cơ chể tuyển dụng cản bộ vào các cơ quan tư pháp Đổi với các cán bộ đã có biên chể của ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án dân sự

ư ong diện quy hoạch để bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên thì Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Thi hành án dân

sự vẫn tiếp tục theo học các khoá đào tạo Sau khi tốt nghiệp, các đối tượng này trở

về cơ quan cử đi học và khi đáp ứng các yêu cẩu khác thì sẽ được bổ nhiệm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên

Trong mô hình mới này, hàng năm sẽ tiến hành kỳ thi tuyển rộng rãi trong phạm vi toàn quốc để lựa chọn trong số các cử nhân Luật (chưa có biên chế nhà nước) những người có phẩm chất nghề nghiệp, trình độ chuyên môn giỏi vào đào tạo nghề chức danh tư pháp Những người đăng ký học nghề Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư sẽ được đào tạo trong một chương trình chung K ết thúc khoá đào tạo, học viên được cấp chứng chỉ tốt nghiệp Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử, nghiệp vụ Kiểm sát, nghiệp vụ Luật sư Trên cơ sờ kết quả học tập, những học viên xuất sắc sẽ được ưu tiên tuyển dụng theo nguyện vọng vào ngành Toà án, ngành Kiểm sát N hững học viên còn lại sẽ hành nghề Luật sư Sau m ột thời gian công tác, khi đã có kinh nghiệm thực tiễn và có nguyện vọng, những Luật sư giỏi có thể được tuyển dụng, bổ nhiệm các chức danh Thẩm phán hoặc Kiểm sát viên

So với mô hình đào tạo và tuyển dụng hiện nay, mô hình mới này có nhiều ưu

điểm vượt trội Thứ nhất, việc đào tạo nghề được thực hiện từ rất sớm, trước khi

tuyển dụng vào các cơ quan tư pháp, do đó những người được tuyển dụng đã được trang bị kỹ năng hành nghề một cách chính quy, bài bản nèn nhanh chỏng thực hiện

tố t các công việc được giao Thứ hai, do việc đào tạo được thực hiện trước khi

luyến dụng biên chế nhà nước nên cơ quan sử dụng cán bộ không phải mất thời gian đào tạo cán bộ, Nhà nước không phải bỏ chi phí đào tạo, góp phần thực hiện chủ

Ngày đăng: 10/05/2017, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w