1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách của hàn quốc đối với trung quốc từ năm 2000 đến năm 2016 (tóm tắt trích đoạn)

44 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 899,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì xuất phát từ những mục tiêu quốc gia nói trên, Hàn Quốc đã điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước lớn từ "dựa" vào Mỹ "chống" Trung Quốc để từng bước xây dựng quan hệ đối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ CÔNG CHUNG

CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ CÔNG CHUNG

CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận án hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Học viên

Lê Công Chung

Trang 4

Chân thành cảm ơn Ban Đào tạo Sau đại học – Đại học Khoa học xã hội

& Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội; Cám ơn các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy mang lại cho tôi nhiều kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua; Cám ơn Khoa Quan hệ quốc tế trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Thông tấn xã Việt Nam đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm kiếm và sưu tầm tư liệu Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên

cứu của mình

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2016

Lê Công Chung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của đề tài 10

6.1 Về mặt khoa học 10

6.2 Về mặt thực tiễn 11

7 Kết cấu luận văn: 11

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC KỂ TỪ NĂM 2000 12

1.1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 2000 12

1.1.1 Giai đoạn trước khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1992 12

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000 14

1.2 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC BƯỚC VÀO THẾ KỶ XXI 17

1.2.1 Bối cảnh quốc tế 17

1.2.2 Bối cảnh khu vực 19

1.2.3 Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc 22

1.2.4 Điều chỉnh chính sách của Trung Quốc chi phối tới quan hệ hai nước 27

1.3 BỐI CẢNH BÊN TRONG 29

1.3.1 Tình hình Hàn Quốc kể từ năm 2000 29

1.3.2 Định hướng điều chỉnh chính sách trong quan hệ với Trung Quốc 31

Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2016 35

Trang 6

2.1 CHÍNH SÁCH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ 35

2.1.1 Xây dựng mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc 35 2.2.2 Thực hiện chính sách "cân bằng" với Trung Quốc nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào Mỹ 45 2.1.3 Tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc trong tiến trình phi hạt nhân hóa

và cải thiện quan hệ giữa hai miền Triều Tiên 49

2.2 CHÍNH SÁCH TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ 53 2.3 CHÍNH SÁCH TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH 66

Chương 3 MỘT VÀI ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 73

3.1 Một vài đánh giá, nhận xét về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối với Trung Quốc (2000 - 2016) 73

3.1.1 Một vài đánh giá, nhận xét 73 3.1.2 Những thành công và hạn chế trong chính sách của Hàn Quốc đối Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016 76

KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ADIZ Air Defense Identification Zone:

Khu vực nhận diện phòng không

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation:

Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á

Hội nghị thượng định Á - Âu

Hiệp định Thương mại tự do

Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á

Tổng sản phẩm quốc nội

Qũy Tiền tệ Quốc tế

IS Organization calling itself the Islamic State

Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng

Hiệp định đối tác toàn diện khu vực

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Ngân hàng Thế giới

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hàn Quốc và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng ở Đông Á rất gần gũi về địa lý và có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hóa cũng như phong tục tập quán Tuy nhiên, quan hệ hai nước cho đến trước khi Chiến tranh lạnh kết thúc đã trải qua nhiều thăng trầm và bị gián đoạn trong suốt một thời gian dài Nguyên nhân chính ngoài rào cản về ý thức hệ còn do những tính toán, cân nhắc về lợi ích trong quan hệ quốc tế của mỗi nước Sau khi ký kết Thông cáo chung bình thường hóa quan hệ vào năm 1992, quan hệ Hàn - Trung ngày càng phát triển mạnh mẽ Có thể thấy, chỉ chưa

đầy 20 năm hai nước đã nâng cấp từ quan hệ "đối tác hợp tác" (1998) lên

"đối tác hợp tác toàn diện" (2003) và tiếp đó là "quan hệ đối tác chiến lược" (2008) và "đối tác chiến lược đi vào thực chất" (2013) Không chỉ phát triển

mạnh quan hệ song phương cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự ràng buộc đan xen về lợi ích quốc gia giữa Hàn Quốc và Trung Quốc cũng ngày càng lớn Mặc dù vậy, cả Trung Quốc và Hàn Quốc đều là những cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, nên giữa hai nước không tránh khỏi những mâu thuẫn va chạm, tranh giành về lợi ích quốc gia Hiện nay, giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đang tồn tại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với bãi đá Ieodo/Tô Nham, dù rằng không quá căng thẳng như tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Xen-ca-cư giữa Trung Quốc với Nhật Bản ở biển Hoa Đông hay tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ở Biển Đông, nhưng việc gần

đây Trung Quốc chuyển từ "giấu mình chờ thời" sang giai đoạn "hành động

quyết đoán" trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ khiến Hàn Quốc lo ngại

Trong khi đó, sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và việc giải quyết vấn đề phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên lại phụ thuộc rất lớn vai trò của Trung Quốc Vì vậy, mục tiêu trong chính sách của Hàn Quốc là xây dựng mối quan hệ chính trị tốt đẹp với Trung Quốc làm nền tảng để tăng cường

Trang 9

quan hệ kinh tế - thương mại, thúc đẩy và mở rộng hợp tác quốc phòng an ninh góp phần nâng cao vị thế, vai trò của Hàn Quốc tại khu vực và thế giới, đặc biệt là sự ủng hộ của Trung Quốc đối với vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên và tiến tới hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Chính vì xuất phát từ những mục tiêu quốc gia nói trên, Hàn Quốc đã điều

chỉnh chính sách đối ngoại với các nước lớn từ "dựa" vào Mỹ "chống"

Trung Quốc để từng bước xây dựng quan hệ đối tác hợp tác và từng bước

nâng cấp thành "quan hệ đối tác chiến lược", trở thành người điều phối, cân

bằng trong quan hệ tam giác Trung – Hàn – Mỹ tại khu vực

Tuy giữa Hàn Quốc và Việt Nam có sự khác biệt về ý thức hệ nhưng giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt đều chịu ảnh hưởng trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc và chiến lược "tái cân bằng" của Mỹ Chính vì vậy, chính sách đối ngoại cân bằng của Hàn Quốc là kinh nghiệm quí đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, để nâng cao vị trí quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế

Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn chủ đề nghiên cứu về "Chính sách của Hàn

Quốc đối với Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2016" làm đề tài luận văn

của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Mặc dù giữa hai nước có sự khác biệt về thể chế chính trị, nhưng do tốc

độ phát triển nhanh chóng của cặp quan hệ Hàn – Trung vượt lên trên các cặp quan hệ khác, nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cặp quan hệ này, đặc biệt là những nghiên cứu về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hàn Quốc để trở thành một lực lượng đóng vai trò cân bằng ở khu vực Đông Bắc Á, hay thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ với Mỹ để xích lại gần hơn với Trung Quốc giúp cho mối quan hệ của hai nước không ngừng được mở rộng,

Trang 10

thúc đẩy đi vào chiều sâu Liên quan đến đề tài của luận án, trong phạm vi các công trình và tài liệu có thể tiếp cận được, xin tổng hợp lại như sau:

Nhóm thứ nhất, những công trình nghiên cứu về chính sách của Hàn

Quốc đối với Trung Quốc trên lĩnh vực chính trị - đối ngoại tiêu biểu là:

"South Korea Seeks to Balance Relations with China and the United States"

(Han Suk-hee, Hàn Quốc tìm cách cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và

and the People’s Republic of China: Comtemporary realities and trends"

(Sira, Quan hệ giữa Cộng hòa Hàn Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

Thực tại và tương lai) (2015); "China-Korea Relations: Prospects for a

Strategic Partnership?" (Scott A Snyder, Quan hệ Trung Quốc – Hàn Quốc:

Triển vọng cho một đối tác chiến lược) (9/2015); "The Korean Peninsula—

Balancing Relations with the United States and China" (Bán đảo Triều Tiên

cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc), (Tạp chí East Asian Strategic Review, 03/006) Nhóm những công trình nghiên cứu này trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực và những nước lớn làm thay đổi đường lối đối ngoại của Hàn Quốc từ chính sách thân Mỹ, đồng minh của Mỹ tại khu vực Đông Bắc Á đã dần từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình trở nên độc lập, tự chủ, ngày càng thân thiện, cân bằng hơn với Trung Quốc nhằm xây dựng một môi trường hòa bình ổn định và phát triển trong khu vực

có lợi cho việc giải quyết vấn đề trên bán đảo Triều Tiên và sự nghiệp thống nhất tổ quốc của Hàn Quốc Bên cạnh đó, những nghiên cứu còn đề cập tới những thách thức của Hàn Quốc trong việc lựa chọn giải quyết mối quan hệ đồng minh Hàn – Mỹ và quan hệ đối tác chiến lược Hàn - Trung

Nhóm thứ hai, một số nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế - thương mại giữa

hai nước gồm có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: "South Korea's

Economic Dependence on China" (Steven Denney, Sự phụ thuộc kinh tế của

Hàn Quốc vào Trung Quốc, website:thediplomat.com, 9/2015); "Trade,

Trang 11

Investment and Economic Intergration of south Korea and china" (Joon- Kyung

Kim, Jangseon Kim and Chung H Lee, Thương mại, đầu tư và hội nhập kinh tế

của Hàn Quốc và Trung Quốc) (7/2006); "South Korea export growth slows to

trickle as China demand wanes" (tăng trưởng xuất khẩu Hàn Quốc chậm do nhu

cầu suy giảm từ thị trường Trung Quốc suy yếu) (01/2016); "Economic

Integration in Northeast Asia: Challenges and Strategies for South Korea"

(Kar-yiu Wong, Hội nhập kinh tế ở Đông Bắc Á: Thách thức và chiến lược cho Hàn Quốc, Viện nghiên cứu Mỹ - Hàn) (8/2006) Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu chính sách kinh tế của Hàn Quốc với Trung Quốc trên hai phương diện, hợp tác song phương và đa phương giữa hai nước từ khi bình thường hóa quan hệ; lợi ích trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc khiến nền kinh tế Hàn Quốc ngày càng phụ thuộc, gắn chặt vào nền kinh tế Trung Quốc; sự tương hỗ lẫn nhau của hai nền kinh tế cũng là một trong những động lực thúc đẩy hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại giữa hai nước khiến nền kinh tế hai nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau ; Về hợp tác đa phương, nổi bật có một số nghiên cứu:

"东北亚的再平衡" (Tôn Hưng Kiệt, Tái cân bằng ở Đông Bắc Á) (11/2015); "中日韩恢复三国峰会" (khôi phục cuộc gặp thượng định 3 nước Trung – Nhật

– Hàn) (11/2015) đề cập tới thực trạng "kinh tế nóng, chính trị lạnh" giữa 3

nước Trung – Nhật – Hàn tại khu vực Đông Bắc Á; những bất đồng nhận thức lịch sử và tranh chấp lãnh thổ đã ảnh hưởng đến lòng tin chính trị giữa các nước, mâu thuẫn với hợp tác kinh tế sôi động giữa hợp tác kinh tế của 3 nước đang diễn ra trong những năm qua

Nhóm thứ 3, những nghiên liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh: Đông Bắc Á là khu vực tương đối phức tạp và nhạy cảm, vì nơi đây vẫn tồn tại những di sản của thời kỳ Chiến tranh lạnh và những căng thẳng trên bán

đảo Triều Tiên liên quan đến chương trình hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ

Trang 12

Nhân dân Triều Tiên, trong đó nổi bật là các công trình như: "东北亚安全形势与中韩关系" (Xu hướng an ninh Đông Bắc Á và quan hệ Trung – Hàn,

(Lý Nhạn Ngọc, Bàn về đàm phán 6 bên và quan hệ Hàn – Trung) (6/2010); "

韩国李明博政府与中韩关系" (Văn Chính Nhân và Lý Xuân Phúc, Chính

?" (Trung – Hàn làm thế nào để tránh những ảnh hưởng tiêu cực của THAAD) Những nội dung nghiên cứu này phản ánh quan điểm của Chính phủ Hàn Quốc đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc; những quan ngại về tốc độ hiện đại hóa quốc phòng quá nhanh của Trung Quốc và tham vọng chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc; thực tại tình hình an ninh khu vực Đông Bắc Á; nhân tố để Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác quốc phòng an ninh với Trung Quốc

đó là vấn đề phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên và hướng tới xây dựng một khu vực hòa bình ổn định và phát triển ở khu vực Đông Bắc Á Tuy nhiên, vấn đề chương trình hạt nhân và những hành động gần đây của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Châng Un đã tác động tiêu cực đến quan hệ Hàn – Trung sau khi Trung Quốc đồng minh truyền thống và quốc gia có ảnh hưởng nhất đối với Triều Tiên không thể thuyết phục để Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân và tên lửa của mình đã quyết định đàm phán với Mỹ xây dựng

hệ thống tên lửa đánh chặn tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) trên lãnh thổ Hàn Quốc

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hàn Quốc được đánh giá là mẫu hình thành công trong những nỗ lực kết giao với các nước lớn trên thế giới nhờ chính sách đối ngoại tích cực, linh hoạt

và thực dụng Chính sách ngoại giao này đã không ngừng nâng tầm vị thế và vai

Trang 13

trò quốc tế của Hàn Quốc đối với khu vực và thế giới Trong đó, chính sách đối ngoại của Hàn Quốc với Trung Quốc là một thành công lớn trong việc làm thay

đổi quan hệ song phương giữa hai quốc gia, chuyển từ "đối đầu, thù địch" sang quan hệ "đối tác, hợp tác chiến lược" thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Do Hàn

Quốc và Trung Quốc là hai quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam,

do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối với Trung Quốc, bao gồm cả các tài liệu của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt cũng được đi sâu khai thác trên nhiều bình diện, nhưng tựu chung có thể được chia thành các nhóm cơ bản sau đây:

Nhóm thứ nhất, nghiên cứu chung và riêng về chính sách của Hàn Quốc đối với các nước Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh lạnh Tiêu biểu nhất trong mảng nghiên cứu chung về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong mối liên hệ với các

quốc gia đồng minh và các chủ thể chính trị ở Đông Bắc Á là cuốn: "Hàn Quốc

với khu vực Đông Á sau Chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc" do

Nguyễn Hoàng Giáp chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành vào năm 2009; Võ

Hải Thanh: "Quan hệ hợp tác kinh tế của Hàn Quốc với các nước trong khu vực

Đông Bắc Á" (Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 2005); Những công trình

này, các tác giả đã khái quát sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của với các nước trong khu vực, bao gồm cả Trung Quốc Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc với các nước nhằm hướng tới mục tiêu tạo lập môi trường khu vực thuận lợi cho phát triển kinh tế ở trong nước; đồng thời, tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề an ninh – chính trị trên bán đảo Triều Tiên; một nghiên cứu khác do Ngô Xuân Bình

chủ biên, Nxb Từ điển Bách khoa ấn hành (2012) có tên: "Quan hệ Việt Nam –

Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới" cũng dành một dung lượng đáng kể (35

trang) để phân tích và nêu bật những chuyển biến trong chính sách của Hàn Quốc đối với các nước Đông Bắc Á, lấy bối cảnh quốc tế làm trung tâm Theo đó, từ

chỗ duy trì "quan hệ băng giá" với các nước XHCN (Trung Quốc, CHDCND

Triều Tiên) trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã chủ động đa dạng hóa

Trang 14

quan hệ khi tình hình quốc tế trở nên hòa dịu Các tác giả cũng khẳng định, với chính sách đối ngoại linh hoạt, Hàn Quốc đang giữ thế chủ động trong việc đưa Đông Bắc Á tiến vào kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng thông qua 3 bước: (1) Theo đuổi giao lưu và hợp tác liên Triều, (2) thiết lập hệ thống hợp tác kinh tế khu

vực và (3) xây dựng cơ sở hạ tầng cho một trung tâm giao vận và kinh tế Ngoài

ra, một số bài viết của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), như: "Chính sách ngoại

giao cân bằng của Hàn Quốc" (Tin tham khảo thế giới, 25/6/2005); "Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc - thực dụng và có trọng điểm" (Tin thế giới, 21/01/2008);

"Quan hệ Trung - Hàn trong bối cảnh 'trở lại châu Á' của Mỹ",

(website:Nghiencuubiendong, 10/9/2015); "Tổng thống đắc cử Hàn Quốc nhấn

mạnh chính sách đối ngoại tăng cường hợp tác" (Tin thế giới 18/01/2008)

Những tài liệu nói trên phân tích và làm rõ hai đặc điểm trọng yếu của ngoại giao

Hàn Quốc, đó là: "ngoại giao vì sự ổn định kinh tế" và "ngoại giao tranh thủ sự

ủng hộ của thế giới" của Hàn Quốc Nỗ lực tăng cường quan hệ với các đối tác để

giảm áp lực về thiếu hụt năng lượng, tài nguyên và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế cũng là nội dung mấu chốt trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc Nhóm thứ hai, mang tính chất khái lược về lịch sử đi đến chính thức thiết lập quan hệ hai nước và sự ràng buộc đan xen về lợi ích giữa hai quốc gia này

trên một số lĩnh vực, tiêu biểu là các bài viết: "Quan hệ Trung Quốc – Hàn Quốc

kể từ khi bình thường hóa quan hệ" của Hoàng Minh Hằng (Tạp chí nghiên cứu

Nhật Bản và Đông Bắc Á, 10/2005); "Quan hệ với Trung Quốc là chìa khóa mở

ra tương lai cho Hàn Quốc" của Võ Hải Thanh (website:cks.inas.gov.vn, ngày

7/9/2012); "Mối quan hệ Seoul – Bắc Kinh: Hôm qua và ngày mai"

(website:cks.inas.gov.vn, ngày 24/10//2012)… Đi sâu luận giải về nguyên nhân của quá trình đi đến bình thường hóa quan hệ Hàn – Trung muộn hơn so với các cặp quan hệ khác trên thế giới, nhưng cùng với những thay đổi của thời gian, sự ràng buộc trong quá trình phát triển giữa hai nước lại có những lợi ích phụ thuộc vào nhau ngày càng lớn, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế - thương mại Chính

Trang 15

những điều đó đã giúp hai nước vượt qua những rào cản bất đồng về ý thức hệ

để nhanh chóng thúc đẩy nâng tầm quan hệ hai nước lên quan hệ đối tác chiến lược và ngày càng đi vào thực chất trong tương lai

Nhóm thứ ba, nghiên cứu chung về những đối sách của Hàn Quốc nhằm đối phó trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc Tiêu biểu trong mảng nghiên cứu

này là: "Đối sách của Hàn Quốc trước Trung Quốc", website:tiasang.com.vn của Nguyễn Việt Hải; "Sự trỗi dậy của Trung Quốc và chiến lược ứng phó của Hàn

Quốc" của Kiều Dung (website:cks.inas.gov.vn, ngày 15/7/2015), nhóm này với

góc độ tiếp cận đi sâu luận giải lợi ích kinh tế đưa lại đối với Hàn Quốc, nhưng đồng thời đưa ra những cảnh báo về sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung

Quốc của hàng hóa xuất khẩu Hàn Quốc sẽ là con dao "hai lưỡi" đối với nền kinh

tế Hàn Quốc trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc…; Đáng chú ý, tài liệu tham khảo số 12-2007 của TTXVN đã dành riêng một chuyên khảo về:

"Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc" nhằm phân tích chính sách đối ngoại và an

ninh của quốc gia này trong tương quan địa – chính trị Đông Bắc Á theo chuỗi quan hệ móc xích: Hàn Quốc và Mỹ - liên minh không bình đẳng; Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên – liên minh hoài nghi; Hàn Quốc và Trung Quốc – liên

minh cân bằng Qua đó, nghiên cứu này đã đưa ra giả định về "chính sách ngoại

giao cân bằng" của Hàn Quốc nhằm "mở nút" cho mối quan hệ "tay ba" trên bán

đảo Triều Tiên Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các học giả chưa đề cập sâu tới chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc trong quan hệ Hàn - Trung, hoặc chỉ những bài viết của học giả Trung Quốc chưa đề cập tới những vấn

đề mang tính nhạy cảm như: Mặt trái sự trỗi dậy của Trung Quốc là tham vọng chủ quyền lãnh thổ; Ý đồ cạnh tranh giữa vai trò chủ đạo của Trung Quốc tại khu vực Đông Bắc Á Do vậy, đây cũng chính là mục tiêu mà luận văn này muốn tiếp tục kế thừa và phát triển

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 16

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài phân tích làm rõ một cách hệ thống và toàn diện chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2016 trên một số lĩnh vực quan trọng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, người nghiên cứu sẽ thực hiện những nhiệm

vụ cơ bản sau:

- Trình bày cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016; trong đó, phân tích khái quát về chính sách của Hàn Quốc theo từng giai đoạn (1948 – 1992)

kể từ khi Hàn Quốc lập quốc cho đến khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao; giai đoạn sau khi bình thường hóa quan hệ đến năm

2000 Đồng thời, nêu bật những chuyển biến mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước từ sau Chiến tranh lạnh

- Nhận diện và phân tích những nội dung chủ yếu trong chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2016; qua đó, nêu lên những điều chỉnh chiến lược trong chính sách của nước này trên các lĩnh vực hợp tác song phương

- Rút ra nhận xét, đánh giá về chính sách của Hàn Quốc trên cả hai mặt thành công và hạn chế Trên cơ sở đó, đúc kết những bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh chính sách đối ngoại cho Hàn Quốc và Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 17

- Về mặt không gian, đề tài tập trung nghiên cứu chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc trên 3 lĩnh vực quan hệ cơ bản là chính trị - đối ngoại, kinh tế và an ninh - quốc phòng

- Về mặt thời gian, đề tài dành trọng tâm nghiên cứu chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

- Về phương pháp luận: Về mặt phương pháp luận, các vấn đề đặt ra trong

luận án được nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề quan hệ quốc tế để xem xét, đánh giá chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc

- Về phương pháp nghiên cứu, đây là đề tài nghiên cứu lịch sử nên phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa chúng được

sử dụng như dòng mạch chủ yếu Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng linh hoạt một số phương pháp khoa học liên ngành của các ngành Quan hệ quốc tế, Quan hệ kinh tế quốc tế, Địa - Chính trị như các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, dự báo khoa học khi đi sâu nghiên cứu từng nội dung cụ thể nhằm nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách xác thực

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt khoa học

- Luận án là công trình khoa học ở Việt Nam có tính cập nhật một cách chi tiết về chính sách của Hàn Quốc với Trung Quốc từ năm 2000 đến 2016, góp phần khỏa lấp khoảng trống trong các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc thời hiện đại

- Từ việc phân tích cơ sở, mục tiêu, biện pháp triển khai thực thi, luận án đã rút ra một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong giai đoạn này (đặc biệt là những thành công đạt được và hạn chế cơ bản của các chính sách)

Trang 18

- Nhận biết sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong việc xích lại gần hơn với Trung Quốc để cân bằng với Mỹ từ những năm đầu của thế kỷ XXI Trên cơ sở đó, xác định một số vấn đề đặt ra cho Hàn Quốc và liên hệ đối với Việt Nam trong lĩnh vực quan hệ quốc tế

6.2 Về mặt thực tiễn

- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy cho sinh viên và học viên cao học các chuyên ngành: Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Quốc tế học, Đông phương học và những ai quan tâm đến vấn đề này

- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án (ở một mức độ nhất định) có thể cung cấp thêm những thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại Từ đó, tiếp tục củng cố và tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với cả Hàn Quốc và Trung

Quốc là những đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1: Những yếu tố tác động tới chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc kể từ năm 2000 Chương này phân tích những điều kiện khách

quan và chủ quan tác động tới việc hoạch định chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc kể từ sau năm 2000

Chương 2: Một số nội dung chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016 Chương này đi sâu phân tích

những nội dung chính sách chủ yếu của Hàn Quốc đối với Trung Quốc trên các mặt chính trị - đối ngoại, kinh tế và quốc phòng - an ninh giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016

Trang 19

Chương 3: Một vài đánh giá, nhận xét và gợi ý chính sách cho Việt Nam Chương này đưa ra những đánh giá và nhận xét về chính sách của Hàn

Quốc đối với Trung Quốc trong 15 năm qua và nêu một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC

ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC KỂ TỪ NĂM 2000 1.1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 2000

1.1.1 Giai đoạn trước khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1992

Hàn Quốc và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng với nhau nằm ở khu vực Đông Bắc Á, rất gần gũi về mặt địa lý, giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán Cũng giống như Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử, bán đảo Triều Tiên phải chịu sự đô hộ xâm lược và áp đặt ách thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc, do vậy bán đảo Triều Tiên nói chung và Hàn Quốc ngày nay nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Hoa, trong đó có các tư tưởng triết học Trung Quốc

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), Trung Quốc đã đưa Chí nguyện quân sang chi viện cho Triều Tiên chống lại lực lượng liên quân

do Mỹ hỗ trợ, đẩy liên quân sâu hơn về phía Nam vĩ tuyến 38, dẫn đến chia cắt lâu dài bán đảo Triều Tiên cho đến ngày nay Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc cùng với Liên Xô đã hỗ trợ về kinh tế, chính trị, quân sự cho Triều Tiên để đối phó với Hàn Quốc dưới sự bảo trợ của Mỹ Xuất phát

từ bối cảnh quốc tế và đối đầu căng thẳng ý thức hệ, nên trong giai đoạn đầu

Trang 20

của cuộc Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai nước là mối quan hệ đối đầu, thù địch Hàn Quốc coi Trung Quốc là mối đe dọa an ninh của mình vì Trung Quốc ủng hộ Triều Tiên, viện trợ cho chế độ chính trị của Triều Tiên, lấy Triều Tiên làm lực lượng đối trọng lại với Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản

Giai đoạn từ giữa những năm 1970 đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Hàn Quốc điều chỉnh chính sách đối ngoại, chuyển từ quan hệ đối đầu và thù địch với Trung Quốc sang hòa hoãn và hợp tác Vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, mặc dù vẫn coi nhau là kẻ thù, nhưng quan hệ hai nước đã dần đi vào hòa hoãn Hai nước đã bắt đầu đi vào xây dựng các quan hệ khác tách rời với chính trị Ngày 05/3/1983, một chiếc máy bay hàng không dân dụng của Trung Quốc trên hành trình bay từ Tứ Xuyên về Thượng Hải đã bị không tặc khống chế phải hạ cánh xuống sân bay Hàn Quốc, dẫn tới những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa quan chức hai nước để bàn thảo giải quyết Năm 1986, cùng với việc tổ chức Đại hội thể thao châu Á (Asiad) lần thứ 10 và Thế vận hội Olympic mùa hè năm 1988, Hàn Quốc đã thực hiện điều chỉnh mạnh mẽ chính sách ngoại giao của mình trong quan hệ với các nước, không phân biệt thể chế chính trị; năm 1990, Trung Quốc cũng tổ chức Đại hội thể thao châu

Á lần thứ 11, phía Hàn Quốc coi đây là thời cơ quan trọng để thúc đẩy quan

hệ với Trung Quốc Phía Hàn Quốc đã cử đoàn vận động viên thể thao hơn

700 người tham gia thi tài ở các nội dung của đại hội; các doanh nghiệp Hàn Quốc đã chi tới hơn 5 triệu USD cho chi phí quảng cáo trong thời gian diễn ra đại hội; các tập đoàn xe hơi của Hàn Quốc đã tài trợ cho ban tổ chức khoảng

100 chiếc xe hơi để phục vụ cho các hoạt động đi lại, trong trong thời gian diễn ra đại hội có tới 4000 lượt du khách Hàn Quốc tới thăm Trung Quốc Để đáp lại thái độ thiện chí của phía Hàn Quốc, khi tổ chức các nghi thức chào cờ nhận huy chương của các vận động viên Hàn Quốc, phía Trung Quốc sử dụng

từ "Đại Hàn dân quốc bằng tiếng Anh" Sau khi Hàn Quốc thiết lập văn

Trang 21

phòng đại diện thương mại tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc (01/1991) và Hiệp hội Hoa thương của Trung Quốc thiết lập văn phòng đại diện tại thủ đô Xơ-un (4/1991), Hàn Quốc đã đẩy mạnh điều chỉnh chính sách đối ngoại, chủ động thúc đẩy trao đổi giao lưu văn hóa, trao đổi thương mại với Trung Quốc

từ nước thứ 3 sang trao đổi buôn bán trực tiếp Hai nước tiến tới thiết lập quan

hệ ngoại giao chính thức

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000

Sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, Hàn Quốc điều chỉnh chính sách đối ngoại, cải thiện quan hệ với các nước lớn, nhằm tìm kiếm lợi ích chiến lược, trong đó có Trung Quốc Tháng 01/1991, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận sự tồn tại song song của hai nhà nước độc lập trong thời kỳ quá độ đi đến thống nhất, đó là Hàn Quốc và Triều Tiên ngày nay Ngày 24/8/1992, Chính phủ Đại Hàn dân quốc chính

thức thừa nhận "trên thế giới chỉ có một nước Trung Quốc, Cộng hòa Nhân

dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc" đồng thời

chấm dứt quan hệ chính thức về mặt ngoại giao với Đài Loan đã kéo dài sau

43 năm, và cùng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Việc Hàn Quốc tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc, chính là nhân tố quan trọng để Trung Quốc đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc

Từ ngày 27 đến 30/9/1992, chỉ sau hơn một tháng thiết lập quan hệ ngoại giao, Tổng thống Hàn Quốc Rô Tê U đã có chuyến thăm chính thức đầu tiên cấp nhà nước tới Trung Quốc, mở ra một thời kỳ lịch sử phát triển quan hệ rực rỡ giữa hai nước Trong chuyến thăm này, hai bên đã ký các Hiệp định mậu dịch, bảo hộ và đầu tư giữa hai chính phủ, thảo luận thẳng thắn các vấn

Trang 22

đề hai nước cùng quan tâm, cũng như xác định phương hướng phát triển quan

hệ hai nước trên tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai

Có thể nói, việc Hàn Quốc điều chỉnh chính sách theo hướng xích lại gần hơn với Trung Quốc, hay Hàn Quốc chủ động thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc là hoàn toàn phù hợp với xu hướng trong quan hệ quốc tế thời

kỳ sau Chiến tranh lạnh đang diễn ra mạnh mẽ Về phía Hàn Quốc, giới chức lãnh đạo Xơ-un thấy được sức hấp dẫn từ thị trường gần 1,3 tỷ dân, trong bối cảnh Trung Quốc là quốc gia đang phát triển, công cuộc cải cách kinh tế đang được chính phủ đẩy mạnh, cần rất nhiều vốn, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý hiện đại nhưng phải chịu chính sách bao vây cô lập của Mỹ và các nước phương Tây sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 Cũng cần nói thêm rằng, bản thân Trung Quốc giai đoạn này đang rất muốn phát triển quan hệ với các nước phát triển, nhất là Hàn Quốc, một quốc gia

Giai đoạn 1994 - 1998, Tổng thống Kim Dâng Sam lên nắm quyền đã thực hiện những cải cách mạnh mẽ về chính trị, đề cao giá trị tự do dân chủ trong xã hội Hàn Quốc theo mô hình phát triển của các nước như Mỹ và

phương Tây Về kinh tế, những thành tựu đã đạt được từ "Kỳ tích sông Hàn"

trong giai đoạn những năm 70 và 80 đã đưa Hàn Quốc trở thành một nước công nghiệp với nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển mạnh, đặc biệt là sự nổi lên của các tập đoàn công nghiệp lớn như Hyundai, Sam Sung, LG, Daewoo Trong khi đó, vấn đề dân số lão hóa dẫn tới thiếu hụt nguồn lao động và chi phí thuê lao động trong nước của Hàn Quốc ở giai đoạn này bắt đầu ngày càng có xu hướng lên cao khiến giới đầu tư của Hàn Quốc bắt đầu tìm kiếm các thị trường ở các nước trong khu vực để gia công sản xuất nhằm

1 Hoàng Minh Hằng, "Quan hệ Trung Quốc – Hàn Quốc kể từ khi bình thường hóa quan hệ", Tạp chí nghiên

cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á số 5 (59), 10/2005, trang 74

Ngày đăng: 10/05/2017, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w