1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾP cập tác PHẨM TUYÊN NGÔN của ĐẢNG CỘNG sản từ PHƯƠNG DIỆN văn học

11 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 60 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Đại hội lần thứ hai của Liên đoàn những người cộng sản, Mác và Ăngghen được Liên đoàn trao nhiệm vụ soạn thảo một bản cương lĩnh có đầy đủ chi tiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. Hai ông đã hoàn thành công việc này vào tháng 11848 và đến tháng 2, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được công bố tại Luân Đôn. Về phương diện văn học, Tuyên ngôn được coi là một tác phẩm chính luận nổi tiếng của Mác và Ăngghen, một thể loại rất thịnh hành trong văn học Đức. Bằng việc sử dụng các yếu tố của văn học nghệ thuật, bằng một lối hành văn trong sáng, có nhiều hình ảnh, hùng biện và có sức biểu đạt cao, tác phẩm đã khẳng định được điều tiên đoán của Phrăngxơ Mêring là nó sẽ có một vị trí lâu bền trong văn học thế giới.

Trang 1

Tiếp cận "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" từ phương diện văn học

Tại Đại hội lần thứ hai của Liên đoàn những người cộng sản, Mác và Ăngghen được Liên đoàn trao nhiệm vụ soạn thảo một bản cương lĩnh có đầy đủ chi tiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn Hai ông đã hoàn thành công việc này vào tháng 1-1848 và đến tháng 2, "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" được công bố tại Luân Đôn

Về phương diện văn học, "Tuyên ngôn" được coi là một tác phẩm chính luận nổi tiếng của Mác và Ăngghen, một thể loại rất thịnh hành trong văn học Đức Bằng việc sử dụng các yếu tố của văn học nghệ thuật, bằng một lối hành văn trong sáng, có nhiều hình ảnh, hùng biện và có sức biểu đạt cao, tác phẩm đã khẳng định được điều tiên đoán của Phrăngxơ Mêring là nó

sẽ "có một vị trí lâu bền trong văn học thế giới" Trong "Tuyên ngôn" Mác

và Ăngghen đã sử dụng một bút pháp không chỉ mang tính khoa học, mà còn mang tính thẩm mỹ cao, cộng với việc sử dụng các trích dẫn, các dẫn chứng

từ các tác phẩm, tác giả thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật hoặc dùng lại các khái niệm, các thuật ngữ, từ ngữ của các nhà văn, nhà thơ để tăng cường nội dung ngữ nghĩa, tăng thêm sức biểu đạt, sức tác động của sự diễn đạt của các ông Chẳng hạn Mác và Ăngghen đã dùng cụm từ "theo hình dạng" với một chút ý vị riêng trong câu: "Nói tóm lại, nó (giai cấp tư sản) tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó", theo cách sử dụng của Gớt trong đoạn cuối bài thơ Prômêtê nổi tiếng của ông ở đoạn thơ đó, Prômêtê khẳng định vị trí của mình trong thế giới trần thế, khẳng định vai trò sáng tạo của mình ngang với thần Dớt, vị thần cao nhất trong thần thoại Hy Lạp

Người ta cũng có thể tìm hiểu xem "Tuyên ngôn" đã góp phần xây dựng những cơ sở lý luận và phương pháp luận nào cho việc nhận thức,

Trang 2

phân tích và đánh giá các tiến trình văn học trong xã hội tư bản, trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cho việc xây dựng một lý thuyết văn học mácxít, một phương pháp luận nghiên cứu văn học mácxít

Mọi người đều biết rằng Mác cũng như Ăngghen rất yêu thích văn học, nghệ thuật Thời trẻ hai ông đã từng làm thơ Và không phải ngẫu nhiên

mà ông bà thân sinh ra Mác mơ ước con mình sẽ là nhà văn hay giáo sư Mác và Ăngghen yêu thích văn học, nghệ thuật là do thiên hướng, do sự yêu thích của cá nhân, nhưng cũng do đã được đào tạo theo truyền thống của chủ nghĩa nhân văn Đức Văn học, nghệ thuật đã trở thành một phần cuộc sống của các ông Mác và Ăngghen đã đọc và tích luỹ cho mình những kiến thức văn chương qua rất nhiều tác phẩm và tác giả thuộc nhiều thể loại văn học từ Tây sang Đông, từ cổ chí kim Qua hồi ký của những nhà hoạt động văn hoá

và chính trị từng có dịp tiếp xúc và quen thân với Mác, chúng ta được biết Mác rất thích đọc tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết thế kỷ XVIII Những tác giả

mà Mác thích là Phinđinh, Pôn đơ Cốc, Sáclơ, Levơ, Alêchxăng Đuyma và Oantơ Xcốt Mác coi cuốn tiểu thuyết "Những người Puritanh" (Old Mortality) của Oantơ Xcốt là tác phẩm mẫu mực Đối với Mác, Xécvăngtét

và Bandắc là những nhà tiểu thuyết ưu tú nhất Mác cũng rất thích kịch và thơ ca Ông thường đọc đi đọc lại và nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Sếchpia Ông xem étsilơ và Sếchpia là hai thiên tài vĩ đại nhất của nhân loại

về kịch ở văn học Nga, Mác đặc biệt yêu thích Pútxkin, Gôgôn và Sêđơrin Ông thuộc lòng thơ của Hainơ và Gớt, và khi nói chuyện thường dẫn hai nhà thơ này

Thời gian còn ở trường đại học, Mác rất quan tâm đến những vấn đề

mỹ học và văn học Vào thời điểm những năm 40, Mác đã cùng với Baoơ đặt kế hoạch viết một số bài nghiên cứu về mỹ học, một kế hoạch mà Mác rất quan tâm Song kế hoạch này đã không thành và thay vì làm nhà mỹ học,

Trang 3

người ta thấy Mác xuất hiện với tư cách chủ bút "Báo sông Ranh" để đi vào hoạt động trong thực tiễn chính trị Mác đã bỏ rơi kế hoạch nghiên cứu mỹ học để dành ưu tiên cho một hoạt động khoa học khác của ông Từ đây trở

đi, trọng tâm không phải là nghiên cứu lý luận về cái đẹp, mà là nghiên cứu học thuyết duy vật lịch sử về xã hội và ngay liền sau đó là học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học mà với chúng mới có thể tạo ra được những cơ sở

để có một tư duy mới về mỹ học, văn học và nghệ thuật

Tuy nhiên, việc Mác chuyển trọng tâm từ mỹ học và văn học sang chính trị và xã hội, sang việc phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, việc xây dựng một học thuyết bao quát về kinh tế của chủ nghĩa cộng sản khoa học và vạch ra chiến lược và sách lược hành động của giai cấp vô sản lại không có nghĩa là Mác cắt đứt, là Mác từ bỏ văn học, nghệ thuật mà ngược lại, người ta thấy Mác vẫn tiếp tục quan tâm, vẫn thường xuyên đề cập đến văn học, nghệ thuật Tại sao vậy? Câu trả lời cho câu hỏi này có lẽ

có thể tìm thấy trong nhận định của Lípsic, người vào đầu những năm 30 của thế kỷ này thuộc vào những người đầu tiên có ý định dựng lại sự hình thành

và phát triển của tư duy thẩm mỹ của Mác Ông cho rằng: "Quan điểm thẩm

mỹ của Mác là một bộ phận trong thế giới quan cách mạng của ông" và nó

"phải được nghiên cứu trong mối quan hệ mật thiết với tiến trình hình thành

và phát triển chung của chủ nghĩa Mác" ở đây, chúng ta thử tìm trong

"Tuyên ngôn" những cách đặt vấn đề nào có tính chất lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phê bình văn học, nghệ thuật

Vấn đề đầu tiên là việc xây dựng một quan điểm duy vật cho việc phân tích các tiến trình và các vấn đề văn học, nghệ thuật Đối với Mác và Ăngghen, vào thời điểm những năm 40 của thế kỷ trước, để làm được việc

đó, trước hết là phải thoát ra khỏi lĩnh vực phê bình trật tự xã hội chỉ thuần tuý về mặt tư tưởng, thí dụ như đạo đức và thẩm mỹ, cũng như phải tước bỏ

Trang 4

những nền tảng của cái ảo tưởng thịnh hành trong văn học Đức trước đó, vốn cho rằng mỹ học, văn học và nghệ thuật có vai trò quyết định trong việc tạo ra những mối quan hệ xã hội mới Người ta có thể nghĩ rằng những công trình nghiên cứu về mỹ học mà Mác vào các năm 1841-1842 dự kiến tiến hành cùng với Baoơ là cũng nhằm góp phần đảo ngược sự phê bình mang tính chất triết học - mỹ học đối với trật tự xã hội lúc bấy giờ Điều quan trọng ở đây là Mác, với bước chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản và với việc nghiên cứu học thuyết duy vật về xã hội và lịch sử đã có thể đặt lại mối quan hệ giữa hoạt động thẩm mỹ và thực tiễn cách mạng trên một cơ sở hoàn toàn mới Nhận thức mà Mác thu được vào năm 1843 trong khi tiến hành phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là

"các mối quan hệ pháp quyền như các hình thái nhà nước chẳng những không thể nào nắm bắt được từ chính bản thân nó mà cũng không thể nào hiểu được từ sự phát triển được gọi là chung của trí tuệ con người, mà chủ yếu có gốc rễ trong các mối quan hệ vật chất của đời sống" Đó là cái cơ sở chủ yếu cho một quan niệm duy vật về các vấn đề và các mối quan hệ thẩm

mỹ và văn học

Một quan niệm duy vật như vậy về các mối quan hệ và các hình thái

tư tưởng như văn học, nghệ thuật và thẩm mỹ không hoàn toàn được nêu

ra một cách trực tiếp, mà là một cách gián tiếp trong "Tuyên ngôn" ở chương II, khi bàn về những người vô sản và những người cộng sản, Mác và Ăngghen đã dành một đoạn khá dài để nói về mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, để bảo vệ cho quan điểm duy vật và chống lại "những lời buộc tội chủ nghĩa cộng sản xuất phát từ những quan điểm tư tưởng " Khi đặt câu hỏi:

"Liệu có cần phải sáng suốt lắm mới hiểu được rằng những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh

Trang 5

hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người không", Các ông đã trả lời một cách khẳng định rằng: "Lịch sử tư tưởng chứng minh cái

gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị

Khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội thì như thế là người ta chỉ nêu ra sự thật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã hội mới đã hình thành và sự tan rã của những tư tưởng cũ đi đôi với sự tan rã của những điều kiện sinh hoạt cũ"

ở chương I, khi bàn về giai cấp tư sản, do mở rộng thị trường thế giới,

đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới, Mác và Ăngghen nhận định: "Mà sản xuất vật chất đã như thế, thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế"

Quan niệm duy vật như trên về mối quan hệ tinh thần nói chung, hay văn học, nghệ thuật nói riêng, cũng thể hiện ở chương III, khi Mác và Ăngghen bàn về "Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa"

Tóm lại, cả ở "Tuyên ngôn" cơ sở để xem xét các mối quan hệ tinh thần, các hình thái ý thức xã hội cũng là cái nguyên lý cho rằng ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức và tất cả các hình thái của nó-chẳng hạn như nghệ thuật và văn học-xét đến cùng, đều bị quy định bởi quá trình sống hiện thực, bởi sự sản xuất vật chất của xã hội

Có điều là trong "Tuyên ngôn", Mác và Ăngghen chưa có điều kiện để nói rõ

sự tác động trở lại của ý thức đối với tồn tại cũng như sự tác động qua lại của các hình thái ý thức với nhau, điều mà sau này để tránh sự hiểu nhầm và chống lại sự xuyên tạc, Ăngghen đã nói lại kỹ hơn

Trong "Tuyên ngôn", Mác và Ăngghen cũng phân tích tính chất giai cấp của văn học, nghệ thuật, của hệ tư tưởng Đặc biệt ở chương III, Mác và

Trang 6

Ăngghen đã chỉ rõ các quan điểm giai cấp thể hiện trong các loại tư tưởng, các loại văn học khác nhau như thế nào Về "chủ nghĩa xã hội phong kiến", các ông viết: "Do địa vị lịch sử của họ, quí tộc Pháp và Anh đã có sứ mệnh viết những bài văn châm biếm đả kích xã hội tư sản hiện đại Trong cuộc cách mạng Pháp hồi tháng Bảy 1830, trong phong trào cải cách ở Anh, các giai cấp quí tộc ấy, một lần nữa lại ngã gục dưới những đòn đả kích của những kẻ bạo phát đáng ghét Đối với quí tộc thì không thể còn có vấn đề đấu tranh chính trị thật sự được nữa, họ chỉ còn có cách đấu tranh bằng văn học mà thôi "." Họ rất ít che đậy tính chất phản động của những lời chỉ trích của họ, cho nên lời lẽ chủ yếu mà họ dùng để buộc tội giai cấp tư sản thì chính là cho rằng dưới sự thống trị của nó, giai cấp tư sản đảm bảo sự phát triển cho một giai cấp sẽ làm nổ tung toàn bộ trật tự xã hội cũ"

Cũng như vậy, trong phần viết về "chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản", Mác

và Ăngghen nhận xét: "Trong những nước như nước Pháp, ở đó nông dân chiếm quá nửa dân số thì tự nhiên là đã xuất hiện những nhà văn đứng về phía giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, nhưng đã dùng cái thước đo tiểu tư sản và tiểu nông trong việc phê phán chế độ tư sản, và đã xuất phát từ những quan điểm tiểu tư sản mà bênh vực sự nghiệp của giai cấp công nhân" "Nhưng xét về nội dung chân thực của nó, thì hoặc là chủ nghĩa xã hội này muốn khôi phục lại những tư liệu sản xuất và phương tiện trao đổi

cũ, và cùng với những cái đó, cũng khôi phục lại cả những quan hệ sở hữu

cũ và toàn bộ xã hội cũ, hoặc là nó muốn buộc những tư liệu sản xuất và phương tiện trao đổi hiện đại phải tuân theo cái khuôn khổ chật hẹp của những quan hệ sở hữu cũ ( ) Trong cả hai trường hợp, chủ nghĩa xã hội này vừa là phản động vừa là không tưởng" Về "chủ nghĩa xã hội "chân chính"" hai ông cho rằng nó " trực tiếp đại biểu cho một lợi ích phản động, lợi ích của giai cấp tiểu tư sản Đức"

Trang 7

Với tính chất là cương lĩnh của giai cấp vô sản cách mạng, nên tất nhiên khi nghiên cứu, phân tích các loại "văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa", Mác và Ăngghen đã đặc biệt chú ý đến tính chất giai cấp của chúng Các vấn đề về tính dân tộc, quan hệ với truyền thống có đề cập tới, nhưng các ông không bàn luận nhiều

Điều lý thú và đáng quan tâm là trong "Tuyên ngôn", Mác và Ăngghen đã nêu ra và luận giải về xu hướng quốc tế hoá và thị trường hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả văn học, nghệ thuật, những vấn đề mà ngày nay chúng ta đang đối diện Đây là những vấn đề phát sinh

ra trong xã hội tư bản và xã hội có sản xuất hàng hoá Mác và Ăngghen đã trình bày một cách rõ ràng, thuyết phục và chính xác một cách tài tình quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất và tiếp theo đó là quá trình quốc tế hoá văn hoá, khoa học và nghệ thuật: "Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng tất cả các nước mang tính chất thế giới ( ) Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành công nghiệp mà việc du nhập chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp,

ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở

Trang 8

thành tài sản chung của tất cả các dân tộc Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới" ở đây, Mác và Ăngghen có nói đến dân tộc, nhưng không phải nói đến tính dân tộc hay bản sắc dân tộc, mà chỉ nói đến tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc (Trong nguyên văn tiếng Đức là tính chất phiến diện và hạn chế của dân tộc: Dienationale Einseitigkeit und Beschránktheit) trong xu hướng quốc tế hoá cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của xã hội, theo tinh thần "những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc" Điều đó có nghĩa là các dân tộc tiếp xúc với nhau, giao lưu với nhau, trao đổi, tiếp thu lẫn nhau và hội nhập với nhau Đương nhiên, tiếp thu và hội nhập như thế nào vẫn còn là vấn đề đối với mỗi một dân tộc Nhưng, để phát triển không thể nào tách mình ra khỏi tiến trình và xu hướng này mà quay trở về hay vẫn giữ mình trong tính chất phiến diện và hạn hẹp nói trên Tinh thần của sự giao lưu, hội nhập này thể hiện khá rõ trong thuật ngữ "văn học thế giới" (Weltliteratur) mà Mác và Ăngghen sử dụng trong "Tuyên ngôn" xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa xã hội khoa học Tất nhiên, thuật ngữ

"văn học thế giới" không phải do Mác và Ăngghen tạo ra mà là do Gớt, căn

cứ vào chất lượng mới của sự giao tiếp văn học trên thế giới, đưa ra vào những năm 20 của thế kỷ XIX Nhưng các ông sử dụng nó không khác với ý nghĩa mà Gớt sử dụng: với tư cách là một khái niệm giao tiếp Nói thế có nghĩa là thuật ngữ này còn có những nghĩa khác, chí ít là ngày nay Chẳng hạn nó còn được sử dụng như là một khái niệm chọn lọc hay như là một khái niệm tổng hợp, do từng cách xem xét khác nhau

Trang 9

Một điều cũng cần nói rõ là khái niệm văn học trong thuật ngữ, văn học thế giới này được Mác và Ăngghen hiểu không giống với Gớt Gớt dùng khái niệm này chỉ thuần tuý cho lĩnh vực mà thông thường chúng ta vẫn dùng từ văn học để chỉ, tức lĩnh vực văn chương nghệ thuật, bao gồm các sáng tác thuộc các thể loại tự sự, trữ tình, kịch Còn Mác và Ăngghen dùng khái niệm này trong "Tuyên ngôn" rõ ràng với một phạm vi nghĩa rộng hơn Nó không chỉ có nghĩa là văn chương nghệ thuật mà còn bao gồm cả văn khoa học, văn

lý luận, báo chí v.v Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này khi đọc kỹ chương III của "Tuyên ngôn", ở đó, Mác và Ăngghen đề cập tới các loại

"văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa" đương thời Các nội dung được đưa ra phân tích, phê phán ở đây chủ yếu thuộc khu vực lý luận, chính trị, báo chí Nếu cố tìm đến bộ phận văn chương nghệ thuật trong phần này thì duy nhất chỉ có một tác phẩm được gián tiếp nói đến Đó là cuốn tiểu thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng của Cabê Ngoài ra, Mác và Ăngghen còn dùng thuật ngữ nhà văn cũng trong nghĩa rộng, mà trong "Tuyên ngôn"

từ tiếng Đức được dùng để chỉ khái niệm này là từ Literarat chứ không phải

từ Schriftsteller, mặc dù từ sau đôi khi vẫn được Mác dùng trong nghĩa rộng Nhận thức này về nội hàm của khái niệm văn học trong "Tuyên ngôn" là phổ biến đối với các nhà nghiên cứu văn học mácxít của Cộng hoà Dân chủ Đức trước đây Nhưng ở ta, cho đến tận ngày nay, vẫn chưa có sự giải thích nào như vậy ở đây, tuy vậy, vẫn còn một vấn đề chưa rõ là tại sao Mác và Ăngghen, những người đã từng làm thơ, rất thông thạo về các loại văn chương nghệ thuật và hiểu rõ sự phân biệt giữa văn chương nghệ thuật và văn lý luận, khoa học, mà ở tác phẩm này lại dùng khái niệm văn học với nghĩa rộng như vậy Phải chăng đó là do ảnh hưởng của quá trình chính trị hoá văn học khá mạnh trong văn học Đức thời kỳ đó, hay là do các ông muốn hướng tới một quan niệm mở rộng hơn, mang đầy đủ cả tính khoa học

Trang 10

và tính nghệ thuật cho văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa? Và điều này có quan hệ gì với cái nhìn của Mác và Ăngghen đối với mối quan

hệ giữa bản chất xã hội và văn học, nghệ thuật trong chủ nghĩa tư bản? Trong "Các học thuyết về giá trị thặng dư", trong số các luận điểm về mỹ học và lý luận văn học, ta thấy nổi lên một luận điểm quan trọng cho rằng

"nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thù địch với một số ngành nhất định trong nền sản xuất tinh thần, như nghệ thuật và thơ ca chẳng hạn" Luận điểm này được Mác đề ra trong khi tiến hành phê phán quan điểm phi lịch sử của Hăngri Stoócxơ về sự sản xuất vật chất Theo Mác, phải xem xét sự sản xuất của xã hội trên quan điểm lịch sử, và nền sản xuất của xã hội tư sản là nền sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở của qui luật thị trường với mục đích thu lợi nhuận tối đa Chính vì vậy mà nền sản xuất này mâu thuẫn, thù địch với một

số ngành sản xuất tinh thần Bởi vì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa biến tất cả thành hàng hoá, thành quan hệ mua bán lạnh lùng, thành quan hệ chủ tớ, quan hệ làm thuê Trong "Tuyên ngôn" Mác và Ăngghen đã nói đến điều này khi các ông nhận định: "Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với "những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người một quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa ( ) Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã giành được một cách chính đáng Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi

sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành người làm thuê được trả lương của nó"

Thực chất, đó là quá trình gây nên sự tha hoá xã hội, tha hoá con người, tha hoá các hoạt động tinh thần của xã hội tư bản Quá trình đó, trong cái nhìn

Ngày đăng: 10/05/2017, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w