ĐVĐ: Học thuyết Mác – Lênin về chính đảng cách mạng của GCCN là một hệ thống quan điểm, tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin về tổ chức và hoạt động của chính Đảng cách mạng, chính đảng kiểu mới của GCCN. Học thuyết đó chỉ ra tính tất yếu khách quan của sự ra đời và phát triển của ĐCS, nêu lên những nguyên lý, nguyên tắc XDĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là những cơ sở khoa học bảo đảm cho việc xây dựng các ĐCS thực sự là đội tiên phong, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của GCCN và QC NDLĐ.
Trang 1Vấn đề 1: Học thuyết MLN về chính đảng cách mạng của GCCN
ĐVĐ: Học thuyết Mác – Lênin về chính đảng cách mạng của GCCN là một hệ thống quan điểm, tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng
ghen và V.I.Lênin về tổ chức và hoạt động của chính Đảng cách mạng, chính đảng kiểu mới của GCCN Học thuyết đó chỉ ra tính tất yếu khách quan của sự ra đời và phát triển của ĐCS, nêu lên những nguyên lý, nguyên tắc XDĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đó là những cơ
sở khoa học bảo đảm cho việc xây dựng các ĐCS thực sự là đội tiên phong, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của GCCN và QC NDLĐ.
I
T Ư T Ư ỞNG MÁC- ĂNG GHEN VỀ CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG CỦA GCCN
1
Tính tất yếu khách quan phải thành lập ĐCS
- Tư tưởng của Mác – Ăng Ghen, chỉ rõ: ĐCS ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp giữa GCTS với GCTS, là điều kiện tiên quyết để GCCN thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Vì:
+ Xuất phát từ vấn đề GC và đấu tranh GC dẫn tới một chính đảng ra đời do PTĐT củaGCCN phát triển đòi hỏi phải có Đảng lãnh đạo
+ Chính đảng của GCCN ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp giữaVS&TS
- Bằng phương pháp duy vật biện chứng C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chứng minh một cách khoa học về sự diệt vong không thể tránh khỏi của CNTB, về tính tất yếu của sự cự quá
độ từ CNTB sang một HTKT XH cao hơn đó là CNCS
Hai ông chỉ ra rằng bước quá độ đó không phải diễn ra một cách tự phát mà phải bằng conđường cách mạng lật đổ sự thống trị của GCTS và xoá bỏ các quan hệ sản xuất TBCN C.Mác vàPh.Ăng ghen đã phát hiện ra lực lượng xã hội có khả năng thực hiện bước quá độ đó là GCCN.Theo C.Mác và Ph.Ăng ghen GCCN là giai cấp tiêu biểu cho LLSX tiến bộ nhất, là giai cấp đượcrèn luyện trong nền sản xuất đại công nghiệp, cho nên GCCN là giai cấp tiên tiến nhất, có tinhthần triệt để cách mạng nhất, có khả năng hành động cách mạng kiên quyết nhất, có tính tổ chức
và kỷ luật cao nhất, là giai cấp duy nhất đóng vai trò lãnh đạo cách mạng
- Tuy nhiên, theo tư tưởng C.Mác và Ph.Ăng ghen GCCN muốn thực hiện được vai trò lịch sử thế giới, thì điều kiện tiên quyết là phải tổ chức ra chính đảng độc lập của mình
Bởi vì chỉ khi nào GCCN tổ chức ra được chính đảng độc lập của mình, thì khi đó cuộcđấu tranh của GCCN mới chuyển từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị, từ đấu tranh
tự phát sang đấu tranh tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo
- Chính vai trò lịch sử toàn thế giới và địa vị lãnh đạo của GCCN quyết định tính tất yếu khách quan và sự cần thiết phải thành lập chính đảng cách mạng của GCVS, đó là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cuộc đấu tranh của GCVS đi tới thắng lợi hoàn toàn.
- Thực tiễn sự ra đời của các ĐCS và công nhân trên thế giới và sự ra đời của ĐCSVN đã chứng minh tư tưởng của C.Mác và Ph Ăng ghen về tính tất yếu khách quan phải thành lập ĐCS
2
Quy luật ra đời của Đảng công sản
Mác – Ăng ghen chỉ ra quy luật ra đời của ĐCS: “ ĐCS là sản phẩm của sự kết hợp
Trang 2* PTCN là c ơ sở vật chất, c ơ sở xã hội của ĐCS:
- PTCN là cơ sở xã hội, là tiền đề vật chất cho sự ra đời của ĐCS.
- PTCN ra đời trước CNXH khoa học, nhưng khi chưa có CNXHKH soi sáng dẫn đường thì PTĐT của GCCN vốn chỉ là tự phát
* CNXH khoa học là c ơ sở tinh thần, t ư t ư ởng của ĐCS:
- CNXH khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập là vũ khí tư tưởng, là lý luận củaGCCN, là biểu hiện tập trung lập trường, quan điểm triệt để cách mạng của GCCN NhưngCNXH khoa học khi chưa kết hợp với PTCN, thì về mặt tổ chức, sự phát triển cao nhất của
nó cũng chỉ dẫn đến sự ra đời của các hội truyền bá CNM
- Chỉ từ khi CNXHKH thâm nhập và soi sáng vào PTCN, GCCN mới thấy rõ sứ mệnhlịch sử của mình, mới ý thức được sự cần thiết phải tổ chức ra chính đảng độc lập để lãnhđạo cuộc đấu tranh giai cấp đi tới thắng lợi hoàn toàn Từ khi có CNXH khoa học soi sáng,
có chính đảng cách mạng lãnh đạo, PTĐT của GCCN mới chuyển từ “tự phát” lên đấu tranh
“tự giác”; GCCN mới bước lên vũ đài chính trị, đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giảiphóng nhân loại khỏi ách áp bức và bóc lột
* Sự kết hợp giữa hai yếu tố này bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của ĐCS
- Sự kết hợp giữa CNXH khoa học với PTCN là qui luật phổ biến của sự ra đời của các ĐCS
- Quá trình kết hợp đó phải được tiến hành một cách khoa học và đấu tranh kiên quyết với các trào lưu tư tưởng tư sản, cơ hội chủ nghĩa thì Đảng mới ra đời được Điều đó nói lên bản chất cách mạng và khoa học, thuộc tính căn bản nhất của ĐCS Đây là một tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăng ghen về đảng cách mạng của GCCN.
- Đảng phải xây dựng trên những nguyên tắc dân chủ triệt để; các cơ quan lãnh đạo củaĐảng được bầu ra đều có thể bị thay thế hoặc bãi miễn; mọi ĐV đều bình đẳng, dân chủtrong sinh hoạt đảng, người vi phạm ĐLĐ sẽ bị khai trừ hoặc đình chỉ sinh hoạt đảng; kiênquyết chống những phần tử vô tổ chức, những phần tử cơ hội và xét lại
- Điều kiện tiêu chuẩn người vào Đảng: là những người thừa nhận thế giới quan cộngsản chủ nghĩa, hành động phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng, có nghị lực cáchmạng và tích cực tuyên truyền tư tưởng của CNXH khoa học, tự giác phục tùng các NQ vàgiữ gìn bí mật của Đảng, đóng hội phí đầy đủ thì mới được kết nạp vào Đảng
- Đảng phải thường xuyên được củng cố vững chắc, sự thống nhất tư tưởng và tổ chức của Đảng là không gì có thể phá vỡ nổi, Đảng phải luôn luôn là một tổ chức giai cấp có tính chiến đấu và năng động…
- Đảng phải có cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và thời gian hoạt động của Đảng,với những nhiệm vụ mà Đảng phải giải quyết
- Chủ nghĩa quốc tế vô sản là một trong những nguyên tắc xây dựng Đảng
Trang 3II
1
Hoàn cảnh lịch sử
* Điều kiện lịch sử đã có sự phát triển
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX CNTB phát triển tương đối ổn định và hoà bình,PTCN phát triển về bề rộng và có xu hướng thiên về đấu tranh nghị trường GCTS đã lợidụng hoàn cảnh cùng tồn tại “hoà bình” với GCCN, tìm mọi cách lũng đoạn PTCN và làmcho chủ nghĩa cơ hội ra đời, phát triển nhanh chóng trong PTCN
- CNTB phát triển chuyển sang một giai đoạn tột cùng của nó, chủ nghĩa đế quốc,biểu hiện sự phát triển không đều của CNTB với những mâu thuẫn nội tại không thể điềuhoà được Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nổ ra, kết quả là đẩy cuộc đấu tranhcách mạng của GCVS thêm nhanh và thuận lợi: phong trào cách mạng vô sản thế giới pháttriển rầm rộ, thời cơ GCVS giành chính quyền từ tay GCTS đã chín muồi
- Việc GCVS trực tiếp tổ chức vũ trang và cuộc cách mạng vô sản giành chính quyền bằngbạo lực đã trở thành vấn đề hành động thực tế trước mắt V.I.Lênin khẳng định: Chủ nghĩa đế quốc
là đêm trước của cách mạng vô sản Vì vậy, vấn đề nhà nước được đặt ra một cách cấp bách
* Thực tiễn PTCN, phong trào cộng sản quốc tế đòi hỏi
Quốc tế II được thành lập (7.1889), trong giai đoạn đầu khi Ph.Ăng ghen còn sống vàlãnh đạo (1889 - 1895) đã kiên quyết đấu tranh chống xu hướng cải lương, thoả hiệp, cơhội… nội bộ Quốc tế II ổn định Sau khi Ph.Ăng ghen mất (1895), bọn cơ hội xét lại trongQuốc tế II ngóc đầu dậy chống CNM lũng đoạn PTCN, mưu toan biến các Đảng Dân chủ -
xã hội Tây Âu thành các đảng cơ hội, cải lương, làm cho phong trào cộng sản và công nhânquốc tế bị phân hoá thành 3 trào lưu chính trị, tư tưởng khác nhau: Trào lưu cơ hội cánh hữu
do BécStanh đứng đầu công khai đòi xét lại CNM, thực chất là phủ nhận CNM; trào lưuphái giữa do Cauxky cầm đầu là chủ nghĩa cơ hội dấu mặt, họ khoác áo CNM nhưng chốngCNM; phái tả do V.I.Lênin đứng đầu kiên trì, bảo vệ và phát triển CNM Lênin cho rằng cảhai trào lưu cơ hội cánh hữu và phái giữa đều là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của GCTS
* Yêu cầu trực tiếp của cách mạng vô sản Nga
- Tình hình chính trị-xã hội nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX
+ Thời điểm này CNTB ở Châu Âu cũng đã tràn vào và phát triển nhanh chóng ở nướcNga, làm cho GCCN Nga ra đời và phát triển mạnh mẽ Nước Nga chứa đựng đầy mâuthuẫn: mâu thuẫn giữa nhân dân Nga với chế độ quân chủ chuyên chế, mâu thuẫn giữaGCCN với GCTS, giữa dân tộc Nga với sự can thiệp của tư bản nước ngoài
+ Cuộc đấu tranh của GCCN Nga phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định vai trò,
sứ mệnh của mình Tuy nhiên sự nghiệp cách mạng của GCCN Nga đang bị cản trở bởinhững quan điểm lạc hậu, phản động của phái dân tuý tự do
- Sự hình thành, tồn tại của phái dân tuý ở nước Nga
Trang 4Những năm 1890 đến 1894 , do những biến đổi về kinh tế trong đời sống nông dânNga, do tác động của cách mạng công nghiệp, sự phát triển của GCCN và của CNTB trongnông nghiệp, phái dân tuý phân liệt làm xuất hiện những người dân tuý tự do Những ngườidân tuý tự do là tôi tớ của CNTB, họ sống công khai hợp pháp với chế độ Nga hoàng, côngkhai chống CNM, ủng hộ cải cách của Nga hoàng, mục đích muốn biến nước Nga thànhnước “quân chủ tư sản” Phái dân tuý tự do nhân danh cái gọi là “những người bạn dân”,cho rằng: Chỉ có họ là bạn dân, những người Mác xít là những người chống lại nhân dân,CNM không thích hợp với nước Nga, vì CNM sinh ra ở Châu Âu có nền công nghiệp pháttriển, còn ở nước Nga thời điểm đó là một nước nông nghiệp Theo họ, CNXH chỉ thànhcông ở những nơi tư bản phát triển Họ nhận thức rằng CNTB ở Nga là hiện tượng ngẫunhiên, không phát triển được và GCVS Nga cũng không thể phát triển Vì thế, muốn đi lênCNXH phải hướng vào nông dân, lực lượng cách mạng chủ yếu là nông dân do trí thức lãnhđạo Phái dân tuý chìm ngập trong nông thôn, lôi kéo QC trong nông dân, mơ tưởng tớiCNXH từ vai trò của giai cấp nông dân.
- Cho sự ra đời một đảng tập trung, thống nhất toàn Nga
+ Năm 1895, V.I.Lênin thống nhất các tổ chức Mác xít ở Pêtécbua lập ra “Hội liên hiệp giảiphóng GCCN” Song tổ chức này bị Chính phủ Nga Hoàng đàn áp, V.I.Lênin và những người lãnhđạo của Hội bị bắt đưa đi đày ở Xibêri Ban lãnh đạo mới của Hội được thành lập do Máctưnốpđứng đầu đã theo đuổi một đường lối chính trị sai lầm, cải lương cơ hội - đó là phái “kinh tế”
+ Mùa xuân năm 1898, một số nhóm Mác xít đã nhóm họp ở Minxcơ tiến hành Đại hội lầnthứ nhất, tuyên bố thành lập Đảng công nhân dân chủ- xã hội Nga, bầu được Ban chấp hành, nhưngĐại hội chưa thông qua được cương lĩnh và điều lệ, Đại hội vừa kết thúc thì toàn bộ BCHTW bịbắt Do đó, trên thực tế, Đảng vẫn chưa hình thành Đại hội I của Đảng không thành công đã làmcho các tổ chức Mác xít và PTCN Nga rơi vào tình trạng dao động về tư tưởng, phân tán về tổchức Vấn đề cấp bách là phải thành lập một Đảng tập trung, thống nhất trong toàn quốc để chấmdứt tình trạng phân tán về tư tưởng, tan rã về tổ chức
- Đấu tranh phản bác phái dân tuý
+ Phái dân tuý cho rằng việc đưa CNM vào Nga làm phá sản nước Nga, họ cho rằng,
sự nghiệp cách mạng ở nước Nga phải do giai cấp nông dân Nga lãnh đạo, phái dân tuý phủnhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của GCCN Nga
+ Họ lý giải CNM là một học thuyết trừu tượng, là sản phẩm của tư duy, tư biện chưađược chứng minh trên thực tế Nếu nói những quan điểm của CNM là một phát hiện có ýnghĩa thời đại thì điều đó không có căn cứ Họ đưa ra lập luận : Nếu như CNM là một sángtạo, vậy tại sao sau 40 năm vẫn không giải thích được những hiện tượng cụ thể như : Lịch sử
cổ Hy Lạp, La Mã, Giécmăng Họ không phủ nhận Ăng ghen có giải thích, nhưng lại sửdụng tài liệu của một nhà dân chủ học Mỹ, hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa duy vật lịch sử củaMác Phái dân tuý còn cho rằng, CNM chỉ đưa ra được mô hình và dùng nó úp vào hiệnthực theo kiểu “tam đoạn thức” của Hê Ghen
Trang 5+ Trước tình hình đó, V.I.Lê nin nhận định, để phê phán những người dân tuý là việclàm rất khó, bởi lẽ : Một mặt, do Plêkhanốp mắc sai lầm về lý luận Ông đề cao vai trò tầnglớp tư sản tự do, không hề đề cập đến vai trò lực lượng cách mạng của nông dân Mặt khác,phái dân tuý lúc đó có những lãnh tụ rất nổi tiếng như: MikhailốpXki, Crivencô, I.U,Giacốp,
do đó, muốn phê phán họ phải có quan điểm lý luận sắc bén
+ Giai đoạn đầu để phê phán phái dân tuý tự do, V.I.Lênin viết dưới dạng bài báo ngắn,những bức thư và sau đó phát triển thành tác phẩm “Những người bạn dân” nhằm phê phánmột cách toàn diện các quan điểm triết học, kinh tế và chính trị, cương lĩnh và sách lược củaphái dân tuý, giáng một đòn quyết định vào phái dân tuý, mở đường cho CNM vào Nga,thúc đẩy sự phát triển của GCCN và phong trào cách mạng vô sản ở nước Nga
- Đấu tranh chống phái Mensêvích:
+ Tháng 7 năm 1903 Đại hội II Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga đã được triệu tập
và có nhiệm vụ : thông qua cương lĩnh, điều lệ, bầu BCHTW, kiện toàn cơ quan ngôn luậncủa Đảng (Ban biên tập tờ báo Tia lửa)
+ Đại hội II diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa phái Bônsêvích đứng đầu làV.I.Lênin và phái Mensêvích đứng đầu là Mác-tốp và ác-xen-xrốt Cuối cùng Cương lĩnh,điều lệ được thông qua, BCHTW và Ban biên tập của tờ báo Tia lửa đã được bầu Đó là mộtbước tiến lớn của PTCN Nga và những người dân chủ - xã hội Tuy nhiên sau Đại hội pháiMensêvích đã phản kích lại: xuyên tạc kết quả Đại hội, chiếm Ban biên tập báo Tia lửa, vukhống bịa đặt, nói xấu V.I.Lênin và những người Bônsêvích Đảng lại lâm vào khủng hoảng,chia rẽ về mặt tổ chức Đó là những bước lùi lớn của phong trào Thực tiễn đặt ra choV.I.Lênin và những người Bônsêvích nhiệm vụ phải đánh bại bọn cơ hội, bảo vệ Đảng, bảo
vệ những quan điểm mác xít về mặt tổ chức trong Đảng V.I.Lênin đã dấu tranh kiên quyết,thể hiện rõ trong tác phẩm: “Một bước tiến hai bước lùi”
2
Những nguyên tắc c ơ bản của Lênin về Đảng kiểu mới của GCCN
a
CNM là nền tảng t ư t ư ởng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng
V.I.Lênin khẳng định “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào
làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”
b
Đảng là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là tổ chức chặt chẽ nhất giác ngộ nhất của GCCN
- Lênin chỉ rõ:
+ Đảng là một bộ phận của GCCN, là đội tiên phong chính trị của GCCN
+ Vai trò tiên phong của Đảng thể hiện trên ba mặt: Tiên phong về chính trị; Tiênphong về tư tưởng; Tiên phong về tổ chức
- Chống khuynh hướng hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng, xoá nhoà ranh giới giữa Đảng vớiGCCN “không được lẫn lộn Đảng tức là đội tiên phong của GCCN với toàn bộ giai cấp”
Trang 6c Khi có chính quyền Đảng là hạt nhân lãnh đạo HTCT của CNXH và là một bộ
- Đảng lãnh đạo về chính trị trên mọi mặt hoạt động của NN và các tổ chức QC
- Chống chuyên quyền, độc đoán, bao biện làm thay, buông lỏng, xem nhẹ vai trò lãnhđạo của Đảng
d
TTDC là nguyên tắc tổ chức c ơ bản trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng
Lênin chỉ rõ:
- Thực hiện dân chủ nhằm phát huy cao nhất trí tuệ, khả năng sáng tạo của những chiến
sĩ tiên phong, là điều kiện để Đảng có trí tuệ cao nhất đảm bảo làm tròn vai trò lãnh đạo
- TTDC đảm bảo sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng
- Chống tập trung quan liêu, dân chủ hình thức, tự do vô kỷ luật
đ Đảng là một khối thống nhất về chính trị, t ư t ư ởng và tổ chức, TPB & PB là quy luật phát triển của Đảng
- Phái Mensêvích cùng các phần tử cơ hội khác đã kịch liệt chống lại chế độ tập trung,nhằm kéo lùi Đảng trở lại thời kỳ phân tán, tiểu tổ Chúng cho rằng nếu theo nguyên tắc doV.I.Lênin đề ra là biến Đảng thành cỗ máy, mỗi ĐV chỉ như những ốc vít, những bánh xe,thiếu tính chủ động, sáng tạo!?
- V.I.Lênin đã phê phán quan điểm đó và khẳng định: “… Hiện nay chúng ta đã trở thành mộtĐảng có tổ chức, điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã tạo ra một quyền lực, biến uy tín về tư tưởng thành
uy tín về quyền lực, khiến cấp dưới phải phục tùng cấp trên của Đảng…”
- Đảng phải thường xuyên TPB và PB, có như vậy Đảng mới phát triển, tiến bộ, mớiđược QC tin tưởng và tôn trọng V.I.Lênin đòi hỏi phải tự vạch ra sai lầm khuyết điểm, phântích rõ nguyên nhân và tìm ra hướng khắc phục Người dạy: “Nếu một chính Đảng nàokhông dám nói thật bệnh tật của mình ra, không dám chuẩn đoán bệnh một cách thẳng tay,
và tìm phương cứu chữa bệnh đó, thì Đảng đó sẽ không xứng đáng được người ta tôntrọng”
- Theo V.I.Lênin tự phê bình là rất cần thiết nhưng phải khoa học, nghiêm túc và khéoléo, kiên trì thuyết phục bằng chân lý không được dùng những thủ đoạn cực đoan Phê bìnhphải được tiến hành một cách có tổ chức, có nguyên tắc đảm bảo được tính trung thực, thẳngthắn về sự tiến bộ của toàn Đảng và mỗi ĐV Đảng phải kiên quyết trong TPB & PB đểkhẳng định phát huy ưu điểm, phát hiện, khắc phục khuyết điểm, tăng cường đoàn kết thốngnhất, nâng cao NLLĐ và SCĐ của Đảng
Trang 7- Đảng phải đề phòng và khắc phục các khuynh hướng quan liêu xa rời QC, vượt quá
xa trình độ của QC, hoặc hạ thấp mình ngang hàng với QC, đồng thời cũng đề phòngkhuynh hướng theo đuôi QC
f
Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ư u tú của GCCN và NDLĐ vào Đảng, phải th
ư ờng xuyên đ ư a những ng ư ời không đủ tiêu chuẩn và những phần tử c ơ hội ra khỏi Đảng
- Công thức của V.I.Lênin đưa ra là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnhcủa Đảng và ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mìnhtham gia một trong những tổ chức của Đảng thì được coi là ĐV của Đảng”
- Công thức của Mác tốp đưa ra là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh củaĐảng, ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất và tự mình giúp đỡ Đảng một cáchđều đặn dưới sự chỉ đạo của một trong những tổ chức của Đảng đều được coi là ĐV củaĐảng công nhân dân chủ - xã hội Nga”
Hai công thức này có nội dung cơ bản giống nhau song điểm căn bản khác nhau:
- Công thức của V.I.Lênin đòi hỏi và bắt buộc người ĐV phải tự mình sinh hoạt vàchịu sự quản lý của một tổ chức Đảng Công thức đó đề cao danh hiệu ĐV, đòi hỏi tráchnhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao của người ĐV, là tiêu chí để phân biệt người có tổ chứcvới người không có tổ chức, ĐV với QC ngoài Đảng V.I.Lênin nhấn mạnh : “… Tôi đòihỏi, Đảng đội tiên phong của giai cấp phải hết sức có tổ chức, rằng Đảng chỉ nên thu nhậnnhững phần tử ít nhất cũng phải chấp nhận một tính tổ chức tối thiểu”
- Công thức của Mác tốp : Không đòi hỏi ĐV phải tự mình sinh hoạt và chịu sự quản lýcủa một tổ chức đảng Công thức đó mở rộng đội ngũ ĐV vô hạn độ “Mỗi người tham giabãi công là một đảng viên” V.I.Lênin phê phán công thức của Mác tốp đã khuyến khích :
“Càng mở rộng cho nhiều người được mang danh hiệu là ĐV thì càng tốt”, “Phải coi Đảng vàgiai cấp là một” Thực chất là làm giảm trách nhiệm, địa vị, vai trò và danh hiệu người ĐV, xóa nhòaranh giới giữa người ĐV với QC Đó là một công thức vô dụng, chứa đựng nội dung tư tưởng cơ hộichủ nghĩa về tổ chức vì nó dẫn Đảng tới chỗ không có tổ chức rõ ràng, chặt chẽ, không có kỷ cương,
kỷ luật, ĐV chỉ có danh nghĩa mà không có tổ chức, không có sức mạnh
g
Chủ nghĩa quốc tế vô sản của ĐCS
Trang 8- Chủ nghĩa quốc tế của GCCN là bản chất của các ĐCS Bản chất đó bắt nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN.
- Về ý nghĩa của việc thực hiện nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế vô sản, Lênin khẳng định:
“Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của GCVS, rồi saunữa, của toàn thể QC cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thìkhông thể chiến thắng hoàn toàn CNTB được
* Ý nghĩa đối với XD chỉnh đốn Đảng ta hiện nay
Học thuyết Mác-Lênin về chính Đảng cách mạng của GCCN là một học thuyết cáchmạng và khoa học, bao gồm những nguyên lý, nguyên tắc rất cơ bản, bảo đảm XDĐthànhmột đảng Mác-xít Những nguyên lý, nguyên tắc đó ngày nay vẫn còn nguyên giá trị
Trung thành với CNM-Lênin và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta,ĐCSVN do Chủ tịch HCM sáng lập và rèn luyện, đã trải qua nhiều thử thách, trở thành mộtĐảng Mác-Lênin kiên cường, vững vàng trước những biến cố vô cùng khó khăn của lịch sử
ở trong nước và trên thế giới
Hiện nay bọn cơ hội xét lại và GCTS đang tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận các giá trị bềnvững của CNM-Lênin, trong đó có học thuyết về chính đảng cách mạng của GCCN, thì việcnghiên cứu nắm vững thực chất những nguyên lý của học thuyết càng có ý nghĩa to lớn, giúp chođội ngũ cán bộ, ĐV nói chung và đội ngũ cán BCT ở cấp phân đội những cơ sở lý luận để quántriệt và vận dụng sáng tạo đường lối chính sách, góp phần XDĐngày càng vững mạnh
Vấn đề 2:
Tư tưởng của Lê nin về đảng kiểu mới trong tác phẩm “Làm gì”
I BỐI CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
1
Tình hình quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX CNTB phát triển tương đối ổn định và hoà bình,PTCN phát triển về bề rộng và có xu hướng thiên về đấu tranh nghị trường GCTS đã lợidụng hoàn cảnh cùng tồn tại “hoà bình” với GCCN, tìm mọi cách lũng đoạn PTCN và làmcho chủ nghĩa cơ hội ra đời, phát triển nhanh chóng trong PTCN
Trang 9- Quốc tế II được thành lập (7.1889), trong giai đoạn đầu khi Ph.Ăng ghen còn sống vàlãnh đạo (1889 - 1895) đã kiên quyết đấu tranh chống xu hướng cải lương, thoả hiệp, cơhội… nội bộ Quốc tế II ổn định
- Sau khi Ph.Ăng ghen mất (1895), bọn cơ hội xét lại trong Quốc tế II ngóc đầu dậychống CNM lũng đoạn PTCN, mưu toan biến các Đảng Dân chủ - xã hội Tây Âu thành cácđảng cơ hội, cải lương, làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị phân hoá thành
3 trào lưu chính trị, tư tưởng khác nhau :
+ Trào lưu cơ hội cánh hữu do BécStanh đứng đầu công khai đòi xét lại CNM, thựcchất là phủ nhận CNM;
+ Trào lưu phái giữa do Cauxky cầm đầu là chủ nghĩa cơ hội dấu mặt, họ khoác áoCNM nhưng chống CNM;
+ Phái tả do V.I.Lênin đứng đầu kiên trì, bảo vệ và phát triển CNM Lênin cho rằng cảhai trào lưu cơ hội cánh hữu và phái giữa đều là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của GCTS
2
Tình hình n ư ớc Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Vào thời kỳ này, CNTB Nga đang phát triển mạnh Cùng với sự phát triển CNTB ởNga, GCCN Nga cũng phát triển nhanh chóng Trong 25 năm (1865 - 1890) chỉ tính trongcác Xí nghiệp đại công nghiệp, số lượng công nhân phát triển từ 7 vạn lên gần một triệurưỡi Sang đầu thế kỷ XX, số lượng công nhân tăng gần 3 triệu người
- GCCN và nông dân Nga bị cả tư bản và phong kiến bóc lột thậm tệ, công nhân vànông dân không được hưởng một chút quyền tự do chính trị nào
- Từ những năm 70, 80 của thế kỷ XIX, công nhân Nga bắt đầu thức tỉnh, PTĐT củaGCCN và NDLĐ Nga diễn ra rất mạnh mẽ, song đều bị thất bại, vì các cuộc đấu tranh đóđều mang tính tự phát
- Do yêu cầu khách quan của PTCN Nga, các tổ chức chính trị đầu tiên của GCCN Ngađược thành lập :
+ Năm 1875 “Hội liên hiệp công nhân miền Nam Nga” thành lập ở Ôđétxa;
+ Năm 1878 “Hội liên hiệp công nhân miền Bắc Nga” thành lập ở Pêtécbua, nhưng hai
tổ chức đầu tiên này của GCCN Nga đều bị Nga Hoàng thẳng tay đàn áp và làm tan rã
Tuy bị Nga Hoàng đàn áp dã man, nhưng PTCN vẫn không ngừng phát triển, chỉ trong 5 năm (1881 – 1886) có tới 48 cuộc bãi công, số công nhân tham gia lên 8 vạn người.
- Năm 1883 nhóm “Giải phóng lao động” được thành lập ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) do PlêKhanốp lãnh đạo Nhóm này đã tích cực dịch và truyền bá lý luận Mác vào nước Nga nhưng bị phái “dân tuý” cản trở Phái “dân tuý” cho rằng, đưa CNM vào Nga là phá
sản nước Nga Theo họ, sự nghiệp cách mạng ở nước Nga do giai cấp nông dân lãnh đạo Thực chất phái “dân tuý” mưu toan làm
lạc hướng cuộc đấu tranh của QC lao động chống lại giai cấp áp bức bóc lột, làm cho GCCN Nga không nhận thức được vai trò sứ mệnh lịch sử của mình, đồng thời kìm hãm việc thành lập một chính đảng độc lập của GCCN.
- Nhóm “Giải phóng lao động” đã tích cực đấu tranh chống phái “dân tuý” song lại phạm những sai lầm không đả động gì đến vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng, cho rằng, GCTS tự do Nga có thể ủng hộ cách mạng Mặt khác, tuy đã tích cực truyền
bá CNM vào nước Nga nhưng họ đang sống lưu vong ở nước ngoài, trên thực tế chưa liên hệ được với PTCN, chưa kết hợp CNXH khoa học với PTCN
3
Tình hình các tổ chức cách mạng của GCCN Nga
Trang 10- Năm 1895, V.I.Lênin thống nhất các tổ chức Mác xít ở Pêtécbua lập ra “Hội liên hiệp giảiphóng GCCN” Song tổ chức này bị Chính phủ Nga Hoàng đàn áp, V.I.Lênin và những người lãnhđạo của Hội bị bắt đưa đi đày ở Xibêri Ban lãnh đạo mới của Hội được thành lập do Máctưnốp đứngđầu đã theo đuổi một đường lối chính trị sai lầm, cải lương cơ hội - đó là phái “kinh tế”.
- Mùa xuân năm 1898, một số nhóm Mác xít đã nhóm họp ở Minxcơ tiến hành Đại hộilần thứ nhất, tuyên bố thành lập Đảng công nhân dân chủ- xã hội Nga, bầu được Ban chấphành, nhưng Đại hội chưa thông qua được cương lĩnh và điều lệ, Đại hội vừa kết thúc thìtoàn bộ BCHTW bị bắt Do đó, trên thực tế, Đảng vẫn chưa hình thành Đại hội I của Đảngkhông thành công đã làm cho các tổ chức Mác xít và PTCN Nga rơi vào tình trạng dao động
về tư tưởng, phân tán về tổ chức Vấn đề cấp bách là phải thành lập một Đảng tập trung,thống nhất trong toàn quốc để chấm dứt tình trạng phân tán về tư tưởng, tan rã về tổ chức
- Xuất phát từ yêu cầu đó, V.I.Lênin đã viết tác phẩm “Làm gì”? (tác phẩm được viết
từ tháng 5 năm 1901 và xuất bản tháng 2 năm 1902)
II T Ư T Ư ỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG C Ơ BẢN CỦA TÁC PHẨM
ươ ng 1 : Chủ nghĩa giáo điều và tự do phê bình
* V.I.Lênin vạch trần bản chất, nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của lý luận cách mạng
- Chủ nghĩa cơ hội xuất hiện sớm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, khiCNM chưa ảnh hưởng sâu rộng trong PTCN thì những người cơ hội chủ nghĩa đứng ngoàihàng ngũ của những người Mác xít để chống lại CNM
- Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, CNM đã trở thành một trào lưu tư tưởng tiên tiến củaloài người và ngày càng mở rộng ảnh hưởng trong PTCN
* Trước thắng lợi của CNM, kẻ thù buộc phải đội lốt Mác xít để chống lại CNM, phủ nhận, xuyên tạc CNM, giữ lại hình thức, tước bỏ nội dung, linh hồn của CNM, nhằm phục
vụ cho lợi ích của GCTS.
- Núp dưới chiêu bài “tự do phê bình”, chúng xuyên tạc những quan điểm cơ bản của
CNM, cho rằng : CNM là “giáo điều”, “cũ kỹ” cần phải xét lại Trong các đảng dân chủ - xãhội Tây Âu, trào lưu cơ hội chủ nghĩa ngày càng phát triển núp dưới chiêu bài “tự do phêbình” chúng đòi “xét lại” CNM
- Sau khi Ăng ghen qua đời, bọn cơ hội chủ nghĩa đứng đầu là BécStanh đã chủ trươngbiến Đảng dân chủ cách mạng thành Đảng cải lương, cơ hội
- Khuynh hướng mới “tự do phê bình” là khuynh hướng phê bình theo lối tư sản tất cảnhững tư tưởng cơ bản của CNM
* Chủ nghĩa cơ hội xét về bản chất là kẻ khoác áo CNM nhưng phản bội CNM và làm tay sai cho CNTB.
Trang 11- Nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội
+ Nguồn gốc kinh tế, là sự mua chuộc của GCTS đối với tầng lớp trên của GCCN bằngsiêu lợi nhuận
+ Nguồn gốc lịch sử, là thời kỳ CNTB phát triển tương đối ổn định, hoà bình, các hình thứcđấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, nhiều học thuyết, nhiều chủ nghĩa được ra đời
+ Nguồn gốc xã hội, là sự tham gia của đông đảo các phần tử tiểu tư sản trí thức chưađược giác ngộ CNM vào Đảng dân chủ - xã hội, CNM đã trở thành một cái “mốt” rất hấpdẫn đối với tầng lớp thanh niên tiểu tư sản trí thức Họ muốn chứng tỏ mình rất “sính” CNM.Nhưng kỳ thực họ không hiểu gì về CNM
- Đặc điểm của chủ nghĩa cơ hội ở Nga :
+ Về nguyên tắc là sợ công bố, công khai, phê bình;
+ Về tư tưởng là tầm thường hoá CNM;
+ Về chính trị: hạ thấp, thu hẹp mục tiêu đấu tranh của PTCN ở “chủ nghĩa công liên”,
từ bỏ cách mạng vô sản, chuyên chính vô sản;
+ Về sách lược: thiếu kiên định, cải lương về hình thức đấu tranh giai cấp, chỉ đấutranh kinh tế, ham mê qui mô tiểu tổ, phường hội, bỏ qui mô tập trung thống nhất;
+ Về tổ chức: là phủ nhận tính tiên phong gương mẫu của Đảng và hạ thấp hình thức tổchức của đảng ngang hàng với các tổ chức khác của GCCN
Chủ nghĩa cơ hội có khả năng tồn tại dai dẳng, dưới nhiều hình thức, màu sắc khác nhau, cótác hại lớn đối với sự nghiệp cách mạng của GCCN Nga và đảng kiểu mới ở nước Nga
* Vai trò của lý luận cách mạng đối với PTCN và Đảng dân chủ xã hội Nga
- Trong khi phê phán, vạch trần bản chất của chủ nghĩa cơ hội, đấu tranh bảo vệ CNM,Lênin khẳng định vai trò của lý luận cách mạng (lý luận Mác)
- Trên cơ sở trình bày những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng ghen về vai trò của lýluận V.I.Lênin chỉ rõ : Tư tưởng của Mác là như thế, ấy vậy mà trong chúng ta đã có nhữngngười đã nhân danh Mác mà tìm cách làm giảm ý nghĩa quan trọng của lý luận
+ V.I.Lênin khẳng định “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong
trào cách mạng” ,“chỉ đảng nào có được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả
năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”
+ Đối với Đảng dân chủ - xã hội Nga thì vai trò của lý luận cách mạng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
+ V.I.Lênin đòi hỏi Đảng phải được vũ trang bằng lý luận Mác, tuyên truyền, phổ biến
hệ tư tưởng vô sản cho GCCN và QC NDLĐ đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản
+ Đảng phải tích cực đấu tranh tư tưởng lý luận, coi đó là một bộ phận của đấu tranhgiai cấp Đảng phải ra sức học tập lý luận, phải là nhà tuyên truyền, giáo dục, nhà lý luận và
tổ chức thực tiễn
+ V.I.Lênin còn chỉ rõ : “Đối với cán bộ, ĐV phải học tập ngày càng nhiều hơn, tất cả
các vấn đề lý luận; phải tự giải thoát, ngày càng nhiều hơn, khỏi ảnh hưởng của những câu
Trang 12cổ truyền của thế giới quan cũ, không bao giờ được quên rằng CNXH, từ khi đã trở thành một khoa học, đòi phải được coi là mặt khoa học, nghĩa là phải được nghiên cứu”
Ch
ươ ng 2 : Tính tự phát của QC và tính tự giác của Đảng dân chủ - xã hội
- Trong chương này V.I.Lênin phê phán chủ nghĩa cơ hội, làm rõ tính tự phát của QC và tính tự giác của Đảng dân chủ - xã hội, chỉ rõ mối quan hệ giữa CNXH khoa học với PTCN và vai trò của Đảng là phải giáo dục, giác ngộ đưa yếu tố tự giác vào PTCN.
- Sùng bái chủ nghĩa “công liên”, thực chất là phái “kinh tế” sùng bái tính tự phát của PTCN
+ V.I.Lênin phê phán phái “kinh tế” khi họ cho rằng, hệ tư tưởng XHCN có thể phát sinh từ phong trào tự phát của GCCN + Người khẳng định, quan điểm của phái “kinh tế”: “PTCN thuần tuý tự nó có khả năng tạo ra và sẽ tạo ra cho nó một hệ t ư tưởng độc lập, chỉ cần là công nhân giành được vận mệnh của mình trong tay những người lãnh đạo” đây là một sai lầm nghiêm trọng”
+ Thực chất phái “kinh tế” phủ nhận tính tự giác của PTCN, phủ nhận vai trò của lý luận cách mạng-lý luận Mác xít, với tư cách là yếu tố tạo nên tính tự giác, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cách mạng, với tư cách là người đưa yếu tố tự giác vào PTCN,
âm mưu làm lạc hướng con đường đấu tranh chính trị của GCCN.
+ V.I.Lênin vạch rõ : Bản thân PTCN chỉ là một phong trào tự phát, không thể vươn lên tự giác nếu thiếu một lý luận cách
mạng soi sáng, một đảng cách mạng lãnh đạo và giáo dục CNXH khoa học không phải là sản phẩm từ trong phong trào tự phát của công nhân CNXH khoa học là kết quả của sự phát triển những tư tưởng tiên tiến của nhân loại và tri thức của những nhà khoa học thuộc tầng lớp hữu sản.
- V.I.Lênin khẳng định : PTCN có được trang bị CNXH khoa học thì mới phát triển lêntrình độ tự giác Đảng cách mạng của GCCN là hiện thân của sự kết hợp đó và là lực lượngtruyền bá hệ tư tưởng XHCN vào PTCN Tính tự phát đối lập với tư tưởng XHCN,
- Đảng Mác xít là đại biểu cho tính tự giác của công nhân, là người đem yếu tố tự giácvào PTCN, V.I.Lênin đòi hỏi : “Những người dân chủ - xã hội phải biểu hiện một tính tựgiác cao Cao trào tự phát của QC càng tăng lên và phong trào càng mở rộng thì sự cần thiết
có một ý thức cao trong công tác lý luận, chính trị và tổ chức của Đảng dân chủ - xã hội càngphải tăng lên vô cùng nhanh chóng hơn”
Ch
ươ ng 3 : Chính trị công liên chủ nghĩa và chính trị dân chủ-xã hội
- Chương này, V.I.Lênin tập trung làm rõ bản chất cơ hội, cải lương của phái “kinh tế” vềquan điểm, nhiệm vụ chính trị; vạch rõ cương lĩnh, sách lược của Đảng dân chủ - xã hội Nga
- Sự sùng bái tính tự phát của PTCN đã đẩy phái “kinh tế” tới chỗ không những hạ thấpvai trò của lý luận cách mạng mà còn hạ thấp mục tiêu nhiệm vụ chính trị, quan điểm, lậptrường của GCCN xuống trình độ công liên chủ nghĩa
- Phái “kinh tế” hạn chế PTCN trong khuôn khổ cuộc đấu tranh kinh tế đòi bọn chủ vàChính phủ cải thiện điều kiện lao động trong khuôn khổ, trật tự xã hội tư bản Họ nêu ra
khẩu hiệu: “Đem lại cho chính cuộc đấu tranh kinh tế một tính chất chính trị” Thực chất là
che dấu khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa của họ, nhằm hạ thấp chính trị XHCN xuống trình
độ chính trị công liên chủ nghĩa Quan điểm, nhiệm vụ chính trị của phái “kinh tế” khôngphải là lật đổ chế độ TBCN mà là thừa nhận chế độ đó và chỉ đấu tranh đòi cải cách dân chủtheo lối công đoàn, đòi cải thiện điều kiện bán sức lao động của họ cho bọn tư sản mà thôi
- V.I.Lênin vạch rõ sự khác nhau căn bản về mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng
Dân chủ- xã hội với phái “kinh tế” là ở chỗ : không phải đấu tranh đòi những cải cách dân
sinh, dân chủ trong khuôn khổ của CNTB mà phải lật đổ CNTB, thiết lập chuyên chính
vô sản tiến tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản.
Trang 13- Qui mô tính chất của đấu tranh giai cấp là đấu tranh chính trị, không chỉ đơn thuần là đấu tranhkinh tế Yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh chính trị là xoá bỏ tận gốc ách áp bức, bóc lột của GCTS, xoá bỏchế độ tư hữu, thiết lập quyền thống trị của GCCN, xây dựng chế độ công hữu.
- V.I.Lênin chỉ rõ: Muốn nâng cao được tính tích cực cách mạng của công nhân, Đảng Dânchủ - xã hội không chỉ dừng lại, không thể tự bó mình vào một việc “cổ động chính trị về mặt kinhtế” như phái “kinh tế” nêu lên mà còn phải tổ chức đấu tranh chính trị trên mọi lĩnh vực
- Nhiệm vụ của những người dân chủ - xã hội là phải đi sâu mở rộng và tăng cườngnhững hoạt động chính trị V.I.Lênin chỉ rõ: Người dân chủ - xã hội không nên lấy ngườithư ký hội công liên làm lý tưởng, tức là người chỉ biết tiến hành và giúp đỡ tiến hành cuộcđấu tranh kinh tế chống bọn chủ và Chính phủ, mà người dân chủ - xã hội, người chiến sĩtiên phong của GCCN phải là người đại biểu cho nhân dân chống lại mọi biểu hiện độcđoán, áp bức, để giải phóng thực sự cho GCCN Đảng dân chủ - xã hội phải giáo dục chínhtrị cho GCCN, tổ chức và lãnh đạo GCCN đấu tranh chính trị, nhằm lật đổ chế độ chuyênchế, thủ tiêu CNTB
Ch
ươ ng 4: Lối làm việc thủ công nghiệp của phái “kinh tế” và tổ chức của những ng
ư ời cách mạng
- Ở chương này, V.I.Lênin tập trung vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái
“kinh tế” trên lĩnh vực tổ chức và chỉ rõ GCCN Nga cần phải có một Đảng tập trung thốngnhất
- Chủ nghĩa cơ hội của phái “kinh tế” biểu hiện trong nhiệm vụ chính trị ở chỗ hạ thấpnhiệm vụ chính trị dân chủ - xã hội xuống thành nhiệm vụ chính trị công liên chủ nghĩa, từchỗ sùng bái tính tự phát, sùng bái đấu tranh kinh tế, phủ nhận đấu tranh chính trị… thì cũngbào chữa cho tính chất thủ công phân tán, tản mạn, cục bộ địa phương của các nhóm Mácxít Chúng muốn thu hẹp qui mô và trình độ tổ chức của Đảng, như là một câu lạc bộ, như tổchức của công đoàn, phản đối thành lập một đảng tập trung thống nhất, phủ nhận tính tiênphong, vị trí vai trò, lãnh tụ chính trị của Đảng
- V.I.Lênin chỉ rõ: Phái “kinh tế” bênh vực cho lối làm việc thủ công nghiệp - là cản trởviệc thành lập một tổ chức của những người cách mạng Nguồn gốc của khuynh hướng cơhội chủ nghĩa về mặt tổ chức của phái “kinh tế” cũng bắt nguồn từ chỗ sùng bái tính tự phátcủa PTCN, sùng bái đấu tranh kinh tế, phủ nhận đấu tranh chính trị Do đó, muốn thanh toánđược chủ nghĩa kinh tế nói chung (tức là thanh toán được quan niệm hẹp hòi về lý luận củaCNM, về vai trò của Đảng dân chủ - xã hội với những nhiệm vụ chính trị của Đảng) thì phảidẹp cả sự hẹp hòi, cách nhìn thiển cận về nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức của Đảng
- Nguồn gốc chung của sự bất đồng ý kiến giữa phái “kinh tế” và những người dân chủ - xãhội cách mạng là ở chỗ: “những người kinh tế chủ nghĩa luôn đi chệch ra ngoài dân chủ - xã hội vàhướng về chủ nghĩa công liên trong các nhiệm vụ tổ chức cũng như các nhiệm vụ chính trị” (1)
- Phê phán quan điểm và lối làm việc đó, V.I.Lênin cho rằng: “… Tổ chức của những
Trang 14làm nghề nghiệp “còn tổ chức của công nhân, trước hết phải có tính chất nghề nghiệp; phảicàng rộng càng tốt; càng ít tính chất bí mật càng tốt”
- Từ phân tích một cách lôgíc và biện chứng giữa độ vững chắc về mặt tổ chức của
Đảng với PTCN V.I.Lênin chỉ rõ: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách
mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”
- Nhiệm vụ của tổ chức đảng là không được hạ thấp mình xuống ngang hàng với QC
mà phải nâng QC lên ngang trình độ của những người cách mạng
- V.I.Lênin khẳng định : “Cuộc đấu tranh tự phát của GCVS sẽ không trở thành cuộc “đấutranh giai cấp” thực sự của GCVS, chừng nào nó chưa được tổ chức mạnh mẽ gồm những ngườicách mạng lãnh đạo” Tổ chức mạnh mẽ đó là tổ chức Đảng - một tổ chức thống nhất và tập trungcủa GCVS - bao gồm trước hết và chủ yếu là những người lấy hoạt động cách mạng làm nghềnghiệp Chỉ với tổ chức như vậy mới khắc phục được tình trạng phân tán, tản mạn trong Đảng
Ch
ươ ng 5 : Kế hoạch xây dựng một tờ báo chính trị của toàn n ư ớc Nga
- Trong chương này, V.I.Lênin vạch ra kế hoạch xây dựng một Đảng tập trung thốngnhất của toàn nước Nga
- Trước tình trạng phân tán, tản mạn của các nhóm mác xít lúc đó, để xây dựng một Đảngcách mạng, tập trung, thống nhất của GCCN, thì vấn đề bắt đầu từ đâu là rất quan trọng
- V.I.Lênin khẳng định: “Toàn bộ đời sống chính trị là một dây xích vô tận gồm mộtloạt mắt xích vô tận Toàn bộ nghệ thuật của nhà chính trị chính là ở chỗ tìm ra các mắt xích
và bám thật chắc lấy nó, cái mắt xích mà người ta khó mà làm cho rời khỏi tay mình được,cái mắt xích quan trọng nhất trong một thời gian nhất định và bảo đảm chắc chắn nhất chongười nắm mắt xích ấy làm chủ được toàn bộ dây xích” (1)
- V.I.Lênin chỉ ra: Khâu quyết định, mắt xích quan trọng nhất để thành lập Đảng là phải ra được một tờ báo chính trị bất hợp pháp của toàn nước Nga
- Tờ báo sẽ có vai trò thống nhất các quan điểm chính trị, thống nhất phương thức hoạt độngqui tụ, đoàn kết lực lượng đấu tranh chính trị, biến PTĐT cục bộ, nhỏ lẻ của các nhóm mác xít ởcác địa phương thành phong trào thống nhất cả ý chí và hành động trên toàn nước Nga; đồng thờiphổ biến kinh nghiệm; là diễn đàn đấu tranh phê phán những quan điểm sai lầm, cơ hội, xét lại;tập trung những phần tử ưu tú trong đấu tranh chính trị làm hạt nhân xây dựng phong trào cáchmạng và tuyên truyền cổ vũ QC đấu tranh chính trị và là diễn đàn của đấu tranh chính trị
- V.I.Lênin cho rằng, một tờ báo như thế không những là một phương tiện để đoàn kếtĐảng về mặt tư tưởng mà còn là một phương tiện để thống nhất về mặt tổ chức các địaphương của Đảng
- Theo V.I.Lênin: “Tờ báo không phải chỉ là người tuyên truyền tập thể và người cổđộng tập thể, mà lại còn là người tổ chức tập thể nữa”
- Người nhấn mạnh Tờ báo chính trị sẽ là cái khung, cái giàn dáo từng bước tạo ra sựthống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức giữa các nhóm Mác xít, xây dựng nên một Đảngtập trung, thống nhất của toàn nước Nga
Trang 15III Ý NGHĨA VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẢNG TA HIỆN NAY
- Tác phẩm “Làm gì” ? đóng vai trò quan trọng trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa
cơ hội, bảo vệ, phát triển CNM, xác lập cơ sở chính trị, tư tưởng, tổ chức của Đảng kiểu mớicủa GCCN, tập hợp các tổ chức mác xít ở địa phương để thành lập một Đảng tập trung thốngnhất, một Đảng mác xít chân chính, thực sự là lãnh tụ chính trị, đủ sức lãnh đạo cuộc cáchmạng vô sản của GCCN
- Tác phẩm ra đời khi CNTB bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vôsản, khi những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa ra đời và phát triển nhanh chóng trong Quốc
tế II và các đảng dân chủ xã hội Tây Âu Với tác phẩm “Làm gì” ? bằng lý luận và phươngpháp bút chiến sắc sảo V.I.Lênin đã bảo vệ thành công học thuyết cách mạng của CNM vàbước đầu đánh bại chủ nghĩa cơ hội
- V.I.Lênin đã phát triển những tư tưởng của Mác và Ăng ghen, hoàn chỉnh học thuyết
về Đảng kiểu mới của GCCN, một học thuyết thống nhất, chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.Học thuyết về Đảng kiểu mới - chính Đảng cách mạng của GCCN là một cống hiến lớn laocủa Lênin vào kho tàng lý luận của CNM Học thuyết đó là nền tảng lý luận, là kim chỉ namcho hành động của Đảng kiểu mới của GCCN Nga và các ĐCS các nước trên thế giới, đồngthời là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt đảng kiểu mới với đảng kiểu cũ, ĐCS chân chính vớicác đảng cơ hội cải lương
- Trung thành với các nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về đảng kiểu mới của GCCN,Đảng ta do chủ tịch HCM sáng lập, giáo dục, rèn luyện đã trở thành một đảng Mác-Lênin chânchính, cách mạng, một bộ phận kiên cường của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế
- Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng thời kỳ tiếp tục đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta càng phải kiên trì, vận dụng đúng đắn CNM-Lênin, tưtưởng HCM, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao NLLĐ, SCĐ của Đảng,chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, phát triển và bảo vệ CNM-LN và tư tưởngHCM về mọi mặt Chúng ta phải XDĐvững mạnh cả chính trị, tư tưởng và tổ chức thực sựngang tầm nhiệm vụ chính trị của thời kỳ mới
- Tác phẩm Làm gì? của Lênin mặc dù ra đời cách đây hơn một thế kỷ nhưng những
tư tưởng cơ bản về Đảng và XDĐtrong tác phẩm vẫn còn ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc
- Đối với đội ngũ cán bộ chính trị - người chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị, việc
nghiên cứu nắm vững tư tưởng của Lênin trong tác phẩm Làm gì? sẽ là cơ sở khoa học đểquán triệt sâu sắc hơn nữa những quan điểm của Đảng ta về Đảng và XDĐ cầm quyền, từ
đó vận dụng vào thực tiễn; đồng thời, có cơ sở khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa cơhội, xét lại trên lĩnh vực tư tưởng lý luận hiện nay
Trang 16Vấn đề 3: Tác phẩm “Một bước tiến hai bước lùi” của Lênin
ĐVĐ: Tác phẩm xác định rõ vai trò quan trọng của công tác XDĐ về tổ chức và chỉ ra
mối quan hệ biện chứng giữa XDĐ về tổ chức với XDĐ về chính trị và tư tưởng
Trong công tác xây dựng Đảngvề mặt tổ chức phải xây dựng một điều lệ thống nhất, một kỷluật thống nhất, một cơ quan lãnh đạo tập trung thống nhất có uy tín và quyền lực, Đảng phải xâydựng và hoạt động theo nguyên tắc TTDC, thường xuyên TPB & PB ĐV của Đảng phải có ýthức tổ chức kỷ luật, người ĐV dù ở cương vị nào cũng phải tham gia một trong những tổ chứccủa Đảng, chịu sự quản lý, giáo dục, phân công, KT, GS của tổ chức đảng
Những luận điểm V.I.Lênin đề cập trong tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựngchính Đảng của GCCN
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
(Như tác phẩm “Làm gì”)
II TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
1
Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm
Nguồn gốc, diễn biến, ý nghĩa của cuộc đấu tranh trong và sau đại hội II của ĐảngCông nhân dân chủ-xã hội Nga vạch trần các quan điểm và thủ đoạn cơ hội về mặt tổ chứccủa phái Mensêvích, khẳng định những nguyên tắc mácxít về mặt tổ chức của Đảng kiểumới của GCCN
2
Nội dung cơ bản của tác phẩm
a
Diễn biến Đại hội II của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga
* Sự phân chia các phái trong Đại hội II của Đảng công nhân dân chủ- xã hội Nga
Thành phần triệu tập tham gia Đại hội II Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga gồm 51đại biểu của 26 tổ chức đảng, có mặt tham dự đại hội 43 đại biểu, có một số đại biểu dự
Trang 17khuyết Do một số tổ chức có đại biểu vắng mặt được quyền biểu quyết thay (biểu quyết haitay) nên mọi vấn đề trong Đại hội đều được quyết định thông qua 51 phiếu bầu.
Thành phần tham gia Đại hội rất phức tạp, với nhiều khuynh hướng chính trị khácnhau Ngay từ đầu Đại hội đã hình thành 3 nhóm :
Một là, nhóm “Tia lửa” gồm 33 đại biểu do V.I.Lênin đứng đầu, đến giai đoạn 2 của
Đại hội, nhóm này lại phân hoá thành hai phái : Phái đa số (Bônsêvích) gồm 24 đại biểu,đứng đầu là V.I.Lênin và phái thiểu số (Mensêvích) gồm 9 đại biểu, do Mác-tốp đứng đầu
Hai là, nhóm lừng chừng ngả nghiêng gồm đại biểu của nhóm “công nhân miền Nam”
nhóm này ngoài miệng thì thừa nhận những quan điểm của nhóm “Tia lửa” nhưng lại có kếhoạch riêng, họ không vững vàng về nguyên tắc Ngoài ra còn có một số nhóm nhỏ khác phụthuộc vào nhóm công nhân miền Nam Đại biểu nhóm này là Êgô Rốp, MaKhốp, L.vốp
Ba là, nhóm “chống Tia lửa” gồm đại biểu của phái Bun, họ phản đối chế độ tập trung,
chủ trương thành lập Đảng theo dân tộc theo vùng lãnh thổ Đại biểu là Libe, Bơruke,Gônđơblát Trong nhóm chống “Tia lửa” còn có đại biểu của nhóm “Sự nghiệp công nhân”,
họ chống lại nguyên tắc của nhóm “Tia lửa” cả về cương lĩnh, sách lược và tổ chức, đại biểucủa nhóm này là Máctưnốp, Akimốp…
Sự tồn tại của các nhóm với các khuynh hướng chính trị khác nhau là nguồn gốc của cuộc đấutranh giữa hai khuynh hướng : khuynh hướng cách mạng và khuynh hướng cơ hội trong suốt quátrình đại hội và sau đại hội trên tất cả các vấn đề về cương lĩnh, sách lược và điều lệ
* Cuộc đấu tranh diễn ra trong Đại hội II:
Giai đoạn 1: Chủ yếu diễn ra giữa nhóm Tia lửa và nhóm chống Tia lửa trên các vấn đề
cơ bản: Thành phần tham gia đại hội, vị trí của phái Bun, cương lĩnh ruộng đất, quyền bìnhđẳng về ngôn ngữ và chế độ tập trung trong Đảng
Quá trình đấu tranh trên các vấn đề cơ bản đã thể hiện rõ khuynh hướng chính trị củacác nhóm đại biểu và sự dao động ngả nghiêng của một số đại biểu trong nhóm “Tia lửa”.Tuy có những ý kiến khác nhau, song các đại biểu trong nhóm “Tia lửa” đều nhất trí vớinhau trên các vấn đề cơ bản về cương lĩnh và sách lược Vì vậy những NQ của Đại hội đượcthông qua theo quan điểm của nhóm “Tia lửa”
Giai đoạn 2: Cuộc đấu tranh diễn ra giữa một bên là phái đa số với một bên là phái
thiểu số trong nhóm “Tia lửa” liên kết với các phần tử cơ hội chủ nghĩa trên các vấn đề : tiết
1 bản dự thảo ĐLĐ và các vấn đề cơ bản về nguyên tắc, chế độ tổ chức và sinh hoạt đảng.Khi thảo luận các vấn đề này sự bất đồng ý kiến trong nhóm “Tia lửa” đã bộc lộ hoàn toàn,phái thiểu số tách khỏi phái đa số và liên minh chặt chẽ với những phần tử cơ hội chủ nghĩa.Trong Đại hội đã xảy ra tranh luận gay gắt giữa quan điểm của V.I.Lênin và quan điểm củaMáctốp về tiết 1 của ĐLĐ
Do phái thiểu số trong nhóm “Tia lửa” liên kết với các phái cơ hội nên những quanđiểm của phái đa số về tiết 1 của ĐLĐ và các vấn đề cơ bản về nguyên tắc tổ chức và sinh
Trang 18Giai đoạn 3: Bầu BCHTW và Ban biên tập của báo “Tia lửa” Những quan điểm của
nhóm “Chống Tia lửa” không được Đại hội thừa nhận, do đó đến giai đoạn này các đại biểucủa nhóm “Chống Tia lửa” bỏ Đại hội ra về Vì vậy Đại hội đã bầu các cơ quan lãnh đạo củaĐảng theo đề xuất của phái đa số Thất bại trong bầu cử các cơ quan lãnh đạo của Đảng cànglàm cho phái thiểu số bất đồng gay gắt với phái đa số
Mặc dù cuộc đấu tranh trong Đại hội diễn ra hết sức gay gắt giữa phái đa số và phái thiểu
số nhưng cuối cùng cương lĩnh, điều lệ được thông qua, BCHTW và Ban biên tập của báo “Tialửa” được bầu Đó là một bước tiến lớn của PTCN Nga và của đảng dân chủ-xã hội Nga
* Cuộc đấu tranh sau Đại hội II
Sau Đại hội, phái thiểu số cố tình không hợp tác, chúng ra sức xuyên tạc kết quả Đạihội và chống V.I.Lênin, chống phái đa số Phái thiểu số đã lôi kéo, mua chuộc Plêkhanốp vàBan biên tập của báo “Tia lửa”, biến báo “Tia lửa” thành cơ quan ngôn luận của phái thiểu
số Phái thiểu số lợi dụng cơ quan ngôn luận của Đảng để tuyên truyền những quan điểm cơhội, phủ nhận NQ của Đại hội II, không phục tùng sự lãnh đạo của BCHTW và tìm cáchtách ra khỏi Đảng : “Bọn Mensêvích đã biến báo “Tia lửa” thành công cụ đấu tranh chốngĐảng, thành diễn đàn để tuyên truyền chủ nghĩa cơ hội”Đảng công nhân dân chủ-xã hội Ngalại lâm vào khủng hoảng, chia rẽ nghiêm trọng Đó là những bước lùi lớn của phong trào.Trong tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” V.I.Lênin vạch ra nguồn gốc, ý nghĩa củacuộc đấu tranh trong Đảng vạch trần bản chất của quan điểm cơ hội về tổ chức của pháiMensêvích
b
Cuộc đấu tranh về mặt tổ chức trong Đảng :
* Cuộc đấu tranh xung quanh tiết 1 trong bản dự thảo ĐLĐ
Cuộc đấu tranh gay gắt nhất trong Đại hội II Đảng công nhân dân chủ- xã hội Nga làcuộc đấu tranh xoay quanh tiết 1 trong bản dự thảo ĐLĐ nói về điều kiện để trở thành ĐVgiữa công thức củaV.I.Lênin với công thức của Mác tốp
- Công thức của V.I.Lênin đưa ra là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh
của Đảng và ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mình tham gia một trong những tổ chức của Đảng thì được coi là ĐV của Đảng”
- Công thức của Mác tốp đưa ra là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh
của Đảng, ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất và tự mình giúp đỡ Đảng một cách đều đặn dưới sự chỉ đạo của một trong những tổ chức của Đảng đều được coi là ĐV của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga”
- Hai công thức đó giống nhau:
+ Thừa nhận cương lĩnh, ĐLĐ
+ Thường xuyên ủng hộ đảng về mặt vật chất
- Hai công thức đó khác nhau:
+ Công thức của V.I.Lênin đòi hỏi và bắt buộc người ĐV phải tự mình sinh hoạt vàchịu sự quản lý của một tổ chức Đảng Công thức đó đề cao danh hiệu ĐV, đòi hỏi trách
Trang 19nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao của người ĐV, là tiêu chí để phân biệt người có tổ chứcvới người không có tổ chức, ĐV với QC ngoài Đảng
+ Công thức của Mác tốp : Không đòi hỏi ĐV phải tự mình sinh hoạt và chịu sự quản
lý của một tổ chức đảng Công thức đó mở rộng đội ngũ ĐV vô hạn độ “Mỗi người tham
gia bãi công là một đảng viên” V.I.Lênin phê phán công thức của Mác tốp đã khuyến khích
: “Càng mở rộng cho nhiều người được mang danh hiệu là ĐV thì càng tốt”, “Phải coi
Đảng và giai cấp là một” Thực chất là làm giảm trách nhiệm, địa vị, vai trò và danh hiệu
người ĐV, xóa nhòa ranh giới giữa người ĐV với QC Đó là một công thức vô dụng, chứađựng nội dung tư tưởng cơ hội chủ nghĩa về tổ chức vì nó dẫn Đảng tới chỗ không có tổchức rõ ràng, chặt chẽ, không có kỷ cương, kỷ luật, ĐV chỉ có danh nghĩa mà không có tổchức, không có sức mạnh
- Kết luận chung về hai công thức:
+ Sự khác nhau giữa hai công thức về thực chất không phải là sự khác nhau về mộtđiều khoản riêng biệt của ĐLĐ mà là phản ánh hai quan niệm khác nhau về vai trò, tính chất
và nguyên tắc tổ chức của Đảng; phản ánh hai quan điểm: Quan điểm cách mạng và quanđiểm cơ hội chủ nghĩa về mặt tổ chức
+ Cuộc đấu tranh về tiết 1 dự thảo ĐLĐ công nhân dân chủ - xã hội Nga chính là cuộcđấu tranh giữa CNM và chủ nghĩa cơ hội về vấn đề tổ chức của Đảng, là cuộc đấu tranh giữatính có tổ chức và kỷ luật của GCVS với tính vô chính phủ của những phần tử cơ hội
+ Cuộc đấu tranh xoay quanh tiết 1 của bản dự thảo điều lệ đã làm lộ rõ sắc thái cơ hộichủ nghĩa của phái Mensêvích trong vấn đề tổ chức Những quan điểm đó càng bộ lộ đầy đủtrên báo “Tia lửa” mới, phái Mensêvích cho rằng “Nội dung quan trọng hơn hình thức; rằngcương lĩnh và sách lược quan trọng hơn tổ chức, rằng “Một tổ chức có sức sống nhiều hay ít
là tuỳ theo quy mô và ý nghĩa của nội dung mà tổ chức đó sẽ mang lại cho phong trào” , rằngchế độ tập trung không phải là một “Cái gì độc lập tự tại” rằng đó không phải là một thứ
“Bùa vạn ứng”
Tóm lại, phái Mensêvích, phủ nhận tính tổ chức, sự thống nhất và kỷ luật của Đảng,phủ nhận nguyên tắc TTDC của Đảng, chủ trương thành lập một Đảng lỏng lẻo, không cóhình thù, tổ chức rõ ràng, không có nguyên tắc tổ chức, thiếu kiên định vững chắc và thiếu
ổn định như những câu lạc bộ
V.I.Lênin kết luận: Trên thực tế công thức của Mác tốp nhằm phục vụ cho lợi ích củanhững người trí thức tư sản sợ kỷ luật và tổ chức của những người vô sản
* Cuộc đấu tranh về chế độ tập trung và chấp hành NQ
- V.I.Lênin phê phán chủ nghĩa cơ hội khi họ cho rằng: Đảng không nên là một khối tổ chức chặt chẽtrong Đảng có thể tồn tại những cá nhân, những tổ chức không thuộc một tổ chức nào của Đảng TheoV.I.Lênin: đó là thứ tổ chức hoàn toàn xa lạ đối với Đảng, thứ tổ chức lỏng lẻo, rời rạc, tiểu tổ, bè phái
Trang 20- V.I.Lênin phê phán Máctốp phủ nhận chế độ tập trung, cho rằng đó là thiết lập chế độnông nô trong Đảng, là chủ nghĩa quan liêu Theo V.I.Lênin, đó là tư tưởng kéo lùi Đảng trởlại tình trạng tiểu tổ, phân tán, tạo điều kiện cho những phần tử cơ hội chui vào Đảng.
c
Những nguyên tắc tổ chức của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới của GCCN
* Đảng là đội tiên phong của GCCN:
- Đảng là một bộ phận ưu tú, giác ngộ cách mạng nhất, là lãnh tụ chính trị, bộ thammưu chiến đấu của GCCN
- Toàn bộ GCCN phải hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, “không được lẫn lộn
Đảng tức là đội tiên phong của GCCN với toàn bộ giai cấp” và các tổ chức khác của GCCN.
- Để giữ vững tính tiên phong của Đảng, V.I.Lênin chỉ rõ: Đảng phải tiên phong cả về
lý luận và thực tiễn, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức
- Để đảng thực sự tiên phong thì tự cho mình là tiên phong là chưa đủ mà phải làm chođảng thực sự tiên phong
- Đảng phải tập hợp, lãnh đạo QC nâng cao trình độ giác ngộ cho QC lên ngang tầmtrình độ của những người cách mạng, không theo đuôi QC, không được hạ thấp trình độ tổchức của Đảng ngang với trình độ của QC
* Đảng là bộ phận có tổ chức của GCCN
- Đảng là đội tiên phong của giai cấp thì phải có tổ chức chặt chẽ, vững chắc, có kỷ luậtnghiêm minh và thống nhất, đó là sức mạnh của Đảng
- Đảng là một chỉnh thể có cố kết vững chắc, có kỷ luật nghiêm minh chặt chẽ, qui định
rõ những mối quan hệ giữa cá nhân, với tổ chức, giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa bộphận với toàn bộ v.v…
- Đảng phải có đường lối, cương lĩnh, điều lệ thống nhất, có cơ quan lãnh đạo thốngnhất, phải được tổ chức, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc TTDC; cán bộ, ĐV phải có
ý thức tổ chức kỷ luật cao, tự giác
* Đảng là hình thức tổ chức cao nhất, chặt chẽ nhất của GCCN.
- Đảng chẳng những là đội tiên phong có tổ chức mà còn là tổ chức cao nhất của GCCN
- Sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác của GCCN là ở chỗ: Đảng là lãnh tụchính trị của giai cấp, là lực lượng lãnh đạo mọi tổ chức và toàn thể giai cấp Đảng gồmnhững đại biểu ưu tú tiên tiến, giác ngộ tích cực nhất của giai cấp và được tổ chức chặt chẽ.Trình độ tổ chức của Đảng là cao nhất, chặt chẽ nhất Không được nhầm lẫn giữa trình độ tổchức cao của Đảng với địa vị của Đảng trong xã hội
- Đảng có trách nhiệm và khả năng lãnh đạo tất cả các tổ chức khác của GCCN, tậphợp, hướng dẫn các tổ chức khác của giai cấp hướng vào thực hiện mục tiêu chung là lật đổCNTB, xây dựng thành công CNXH và chủ nghĩa cộng sản
+ Để bảo đảm cho Đảng thực sự là tổ chức cao nhất của GCCN, Đảng chỉ kết nạpnhững phần tử ưu tú, tiên tiến, giác ngộ lý luận có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có khả năng
Trang 21tuyên truyền, vận động giáo dục và thu phục được QC Đảng là một tổ chức chặt chẽ nhất, làmột khối thống nhất ý chí và hành động, có kỷ luật tự giác, nghiêm minh
* TTDC là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng
- Để xứng đáng với vị trí, vai trò đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất củaGCCN, xứng đáng với vai trò lãnh tụ chính trị của giai cấp thì Đảng phải được tổ chức, sinhhoạt và hoạt động theo nguyên tắc TTDC
- Đảng phải có cương lĩnh điều lệ thống nhất, do Đại hội vạch ra Toàn Đảng phải nghiêmchỉnh chấp hành cương lĩnh, Điều lệ, NQ của Đảng Đảng phải có một cơ quan lãnh đạo thống nhất,toàn Đảng phục tùng sự lãnh đạo của BCHTW, ĐV phải tự giác phục tùng tổ chức, kỷ luật củaĐảng, cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức
- V.I.Lênin nhấn mạnh tập trung không có nghĩa là xem nhẹ dân chủ, tập trung phải đi đôi vớidân chủ, tập trung và dân chủ là hai mặt không tách rời trong chế độ tổ chức của Đảng vô sản
* Đảng liên hệ mật thiết với QC, là hiện thân của mối liên hệ giữa đội tiên phong với GCCN và NDLĐ
- Đảng liên hệ chặt chẽ với QC là tất yếu khách quan,
V.I.Lênin cho rằng: “Muốn trở thành một Đảng dân chủ - xã hội thì cần phải được sự
* TPB & PB là quy luật phát triển của Đảng
- Theo V.I.Lênin: Đảng phải thường xuyên TPB & PB, có như vậy Đảng mới pháttriển, tiến bộ, mới được QC tin tưởng và tôn trọng Đây là một trong những căn cứ quantrọng để xem xét một Đảng có thật sự Mác xít chân chính hay không
- Theo V.I.Lênin tự phê bình là rất cần thiết nhưng phải khoa học, nghiêm túc và khéoléo, kiên trì thuyết phục bằng chân lý không được dùng những thủ đoạn cực đoan Phê bìnhphải được tiến hành một cách có tổ chức, có nguyên tắc đảm bảo được tính trung thực, thẳngthắn về sự tiến bộ của toàn Đảng và mỗi ĐV
- Đảng phải kiên quyết trong TPB & PB để khẳng định phát huy ưu điểm, phát hiện,khắc phục khuyết điểm, tăng cường đoàn kết thống nhất, nâng cao NLLĐ và SCĐ của Đảng
III Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẢNG
- Tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” ra đời đã góp phần vạch trần đặc điểm, bảnchất của chủ nghĩa cơ hội về mặt tổ chức, bảo vệ tính Đảng của GCCN, đã phát triển và cụthể hoá học thuyết của Mác - Ăng ghen về ĐCS, vạch ra một cách đầy đủ và hoàn chỉnh
Trang 22- Tác phẩm xác định rõ vai trò quan trọng của công tác XDĐvề tổ chức và chỉ ra mốiquan hệ biện chứng giữa XDĐvề tổ chức với XDĐvề chính trị và tư tưởng.
- Trong công tác xây dựng Đảngvề mặt tổ chức phải xây dựng một điều lệ thống nhất, một kỷ luật thống nhất,một cơ quan lãnh đạo tập trung thống nhất có uy tín và quyền lực, Đảng phải xây dựng và hoạt động theo nguyên tắcTTDC, thường xuyên TPB & PB ĐV của Đảng phải có ý thức tổ chức kỷ luật, người ĐV dù ở cương vị nào cũngphải tham gia một trong những tổ chức của Đảng, chịu sự quản lý, giáo dục, phân công, KT, GS của tổ chức đảng
- Những luận điểm V.I.Lênin đề cập trong tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị trong xâydựng chính Đảng của GCCN
- Đối với ĐCSVN, tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” đã và vẫn là những chỉ dẫn
có tính nguyên tắc trong quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay
- Nghiên cứu nắm vững những quan điểm tư tưởng trong tác phẩm, nắm vững học thuyết Lênin về xây dựng Đảng, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý là vấn đề cơ bản lâu dài vàcũng là vấn đề cấp thiết trong công tác XDĐ và là trách nhiệm của mọi cán bộ, ĐV
Mác-Vấn đề 4: Tư tưởng HCM về xây dựng ĐCSVN
ĐVĐ: Chủ tịch HCM là người sáng lập và rèn luyện ĐCSVN thành một Đảng cách
mạng, chân chính, bộ tham mưu chiến đấu sáng suốt và kiên cường của dân tộc Việt Nam,
để lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nướcđưa cả nước đi lên CNXH Những luận điểm trong tư tưởng XDĐcủa người ngày nay vẫncòn nguyên giá trị, đó là tài sản vô giá của Đảng, nhân dân ta, là cơ sở để mỗi cán bộ, ĐVcủa Đảng phấn đấu hoàn thiện bản thân mình hơn
“Tôi chỉ có một sự ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta là hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, … học hành”
- HCM khẳng định để đạt được mục đích đó phải dựa vào sức mạnh của nhân dân
“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng lực
lượng đoàn kết toàn dân”; “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc riêng của một hai người”; “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”
- QC nhân dân phải được giác ngộ, được tổ chức, được lãnh đạo mới trở thành lực
lượng to lớn, như nhiều chiếc đũa bó thành một bó, chứ không phải “mỗi chiếc một nơi”.
- HCM đặt vấn đề: “Cách mạng trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh
để trong thì vận động QC, ngoài thì liên hệ với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”.
Trang 23-> Như vậy:
+ Có Đảng thì mới có đường lối cách mạng đúng đắn, bảo đảm tính CM triệt để
+ Có Đảng mới tổ chức tập hợp đoàn kết và phát huy vai trò to lớn của nhân dân
+ Có Đảng mới kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
2
ĐCSVN là sản phẩm của sự kết hợp giữa CNM –Lênin với PTCN và phong trào yêu nước.
- Đây là quy luật ra đời của ĐCSVN, một trong những cống hiến xuất sắc của chủ tịch HCM
- Quy luật phổ biến mà CNM-Lênin khẳng định: ĐCS là sản phẩm kết hợp giữa
Do đó, ở Việt Nam muốn có sự ra đời của ĐCS thì phải truyền bá CNM-Lênin vào cả PTCN
và phong trào yêu nước
- Như vậy, HCM đã có sự phát triển sáng tạo cả lý luận và thực tiễn:
+ Về lý luận: Làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác-Lênin về Đảng
+ Thực tiễn: Dẫn đến sự ra đời của ĐCSVN mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam
- Ý nghĩa luận điểm trong xây dựng đảng:
+ Cơ sở xã hội giai cấp của Đảng không chỉ có GCCN mà còn có các tầng lớp, G/Ckhác trong xã hội cùng đấu tranh vì ĐLDT&CNXH
+ Đặt nền móng cho sự thống nhất giữa G/C &DT, cơ sở nhìn nhận đáng giá xây dựngbản chất GCCN cho Đảng
+ Phải phát triển Đảng từ GCCN nhất là công nhân đại công nghiệp, đồng thời pháttriển cả các tầng lớp khác của xã hội
+ Đảng phải tích cực giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện bản chất GCCN tính tiền phongcho cán bộ ĐV, tăng cường bản chất GCCN cho đảng
+ Là cơ sở tập trung lực lượng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
3
- CNM-Lênin khẳng định: ĐCS là đảng kiểu mới mang bản chất GCCN, trung thànhvới quan điểm đó HCM khẳng định: đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục
Trang 24- HCM khẳng định: Đảng lao động Việt Nam phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiênquyết trung thành của GCCN, NDLĐ và của dân tộc Việt Nam.
- ĐCSVN vừa mang trong mình bản chất GCCN, vừa có tính nhân dân, tính dân tộcsâu sắc Biểu hiện:
+ Mục tiêu lý tưởng của Đảng là CNXH và chủ nghĩa cộng sản; Mục tiêu lý tưởng của
Đảng là mục tiêu, lý tưởng của GCCN đó là xóa bỏ tư hữu, thiết lập chuyên chính vô sảnxây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản
+ Nền tảng tư tưởng của Đảng; Chđ nghÜa M¸c-Lªnin vµ t tëng Hå ChÝ Minh là kim
chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng
+ Lập trường của Đảng: là lập trường GCCN, Đảng luôn đứng vững trên lập trường
GCCN để xem xét và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong xã hội
+ Nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng là nguyên tắc TTDC; tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách; TPB & PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Nguyên tắc TTDC lànguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc lãnhđạo cao nhất của Đảng, TPB & PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng; nguyên tắc nàyphù hợp với đặc điểm tổ chức và hoạt động của GCCN
+ Phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ ĐV của Đảng; vừa là người lãnh đạo vừa là
người đầy tớ trung thành của nhân dân
+ Quan hệ giữa Đảng với nhân dân: Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy
quyền làm chủ của ND trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Sức mạnh của đảng là sựgắn bó mật thiết với nhân dân, mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, mệnh lệnh, xa rời nhân
dân sẽ đi đến tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước
+ Sự kết hợp và giải quyết các vấn đề dân tộc với vấn đề quốc tế.
4
- Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, bởi vì đảng là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiếnđấu của GCCN, NDLĐ và toàn dân tộc, cho nên đảng phải tiêu biểu về trí tuệ, đảng phải cóhọc thuyết cách mạng và khoa học dẫn đường
Theo HCM: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính
nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là CNM-Lênin.”
“Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt… Đảng mà không có chủ nghĩa cũng
như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.”
“CNM-Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những
là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”
- Người chỉ rõ để CNM-Lênin là nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động củaĐảng đòi hỏi:
+ Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo Lênin vào điều kiện cụ thể, không dập khuôn máy móc
Trang 25CNM-+ Đảng phải biết chắt lọc, tiếp thu văn hoá dân tộc và nhân loại, học tập kế thừa nhữngkinh nghiệm của những ĐCS trên thế giới.
+ Đảng phải chú ý tổng kết thực tiễn cách mạng trong nước, bổ sung phát triển làmphong phú kho tàng lý luận Mác-Lênin
+ Kiên quyết đấu tranh với những luận điểm cơ hội nhằm bảo vệ sự trong sáng của CNM-Lênin
xã hội mới công bằng, bình đẳng vì con người
- Trong di chúc người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và
của dân ta, các đồng chí từ trung ương tới các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
- Cơ sở của sự đoàn kết thống nhất: Trên quan điểm CNM-Lênin và điều lệ, chính sáchcủa Đảng và trên cơ sở kỷ luật Đảng
*
Đảng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc TTDC :
- TTDC Bác cho rằng dân chủ là cái quý nhất là cái gốc, là mục tiêu, là động lực
- Nội dung của nguyên tắc theo HCM đó là: Thiểu số phục tùng đa số; bộ phận phụctùng đoàn thể, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng TW Bác lưu ý: chống dânchủ hình thức, dân chủ quá trớn, vô chính phủ, tập trung quan liêu
- Theo HCM tập trung không mâu thuẫn với dân chủ mà chúng thống nhất, tác độngqua lại lẫn nhau
- HCM lưu ý: Từ TTDC phải quán triệt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.+ Theo Bác: tập thể lãnh đạo vì nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thấy rõ mặtnày, người thì thấy rõ mặt khác đóng góp kinh nghiệm vào xem xét thì vấn đề được giảiquyết chu đáo khỏi sai lầm
+ Cá nhân phụ trách: Việc gì đã được bàn bạc cụ thể kế hoạch rõ ràng rồi thì phải giaocho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành như thế mới
có chuyên trách, công việc mới chạy
+ Cần chống tư tưởng ỷ lại tập thể có thành tích thì vơ vào, có khuyết điểm thì đổ lỗicho tổ chức Đồng thời cũng chống độc đoán chuyên quyền
*
Đảng lấy TPB & PB làm quy luật phát triển
- TPB & PB là phương tiện để xây dựng củng cố sự đoàn kết và là quy luật phát triển của Đảng
"Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các ĐV, các cán bộ cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí của mình Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên
Trang 26- HCM quan niệm :
+ Phê bình là nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của đồng chí mình; tự phê bình là nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của mình TPB và phê bình phải đi đôi với nhau
+ Mục đích làm cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa những khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, cốt
để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn, cốt đoàn kết, thống nhất nội bộ.
- Người chỉ rõ những yêu cầu có tính nguyên tắc của TPB & PB
+ Ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt
+ Chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm
+ Giữ đúng mục đích, không lợi dụng để đả kích, gây chia rẽ bè phái
+ Tự phê bình mình trước, phê bình người sau
+ TPB & PB phải có lý, có tình, trên tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau
+ Sáng suốt, khôn khéo, thường xuyên TPB & PB
+ Tiến hành trong nội bộ đảng và phải vận động QC phê bình cán bộ, ĐV, tổ chức đảng.+ Phải có thái độ tiếp thu ý kiến phê bình đúng mực và có phương hướng sửa chữa sailầm khuyết điểm
- Phương pháp thái độ phê bình và TPB: khẩn trương, trung thực kiên quyết có vănhoá Phải từ cái tâm của mỗi người; phê phải có lý, có tình, phê bình việc chứ không phêbình người; Kết hợp phê bình và tự phê bình trong Đảng với hoan nghênh đồng chí phê bình.Không chịu nghe phê bình, không chịu phê bình sẽ bị QC bỏ rơi
Theo HCM: “Mỗi con người đều có cái thiện, cái ác ở trong lòng Ta phải biết làm
cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”
- Khắc phục tình trạng trên không dám phê bình dưới, dưới không dám phê bình trên,cùng cấp không dám phê bình nhau
6
ĐCSVN gắn bó chặt chẽ với nhân dân, Đảng vừa là người lãnh đạo, người đầy
tớ thật trung thành của nhân dân
- Đảng gắn bó chặt chẽ với nhân dân: đây là mối quan hệ máu thịt, giải quyết mối quan
hệ như thế nào phụ thuộc vào Đảng: nhận thức về nhân dân, vai trò của nhân dân
- Giải quyết mối quan hệ: Đảng vừa là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
- CNM-Lênin khẳng định mối quan giữa Đảng với QC: yêu cầu Đảng luôn phấn đấuxứng đáng với tư cách là người lãnh đạo
- HCM với nhãn quan chính trị sắc bén đã sớm nhìn thấy những nguy cơ của một Đảngbắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ thói quan sản xuất nhỏ, từ đặc điểm tâm lý tiểu nâng và
tàn dư của chế độ phong kiến Vì vậy người đã bổ sung mệnh đề mới: Đảng vừa là người
lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
- Luận điểm này thể hiện vai trò của người lãnh đạo và bổn phận của người đầy tớthống nhất với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau
- Người đặt ra các yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ, ĐV phải thực hiện để xứng đáng vừa làngười lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
Trang 27+ Với tư cách là người lãnh đạo:
-> Đảng phải thuyết phục, thu phục và chinh phục được QC:
-> Đường lối, chính sách của Đảng phải thực sự đúng đắn, cách mạng và khoa học,phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của nhân dân, thực sự là ngọc đèn dẫn lối, soi đường chonhân dân hành động
-> Đội ngũ cán bộ, ĐV phải thực sự gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm.Phải có cái tâm, trí, đức
-> Đảng chỉ thực sự là người lãnh đạo khi Đảng luôn tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm,danh dự của dân tộc, đạo đức văn minh của xã hội
-> Đảng là người lãnh đạo xứng đáng của ND chứ không phải theo đuôi QC
+ Quan điểm Đảng là người đầy tớ trung thành của nhân dân nghĩa là:
-> Mục đích hoạt động của Đảng là phục vụ nhân dân, đem lại quyền lợi cho nhân dânchứ không nhằm mục đích nào khác
-> Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào Đảng cũng không được quên rằng mọi hoạt động củaĐảng đều nhằm phục vụ nhân dân, để không bao giờ trở thành kiêu ngạo, xa rời nhân dân
- HCM đặt ra yêu cầu để Đảng làm tròn vai trò người lãnh đạo, người đầy tớ trungthành của nhân dân:
+ Đảng phải thường xuyên chăm lo XDĐVM về CT, tư tưởng và tổ chức
+ Mọi đường lối, chính sách của Đảng phải phải phán ánh đúng tâm tư, nguyện vọng
và lợi ích chính đáng của nhân dân
+ Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc và thời đại
+ Đảng phải có phương pháp công tác vận động QC, phải chăm lo xây dựng nhà nướccủa dân, do dân, vì dân
+ Cán bộ, ĐV của Đảng phải thực sự là công bộc của nhân dân
+ Đảng phải quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, ĐV vừa hồng, vừa chuyên,chống tham ô, lãng phí,… chống chủ nghĩa cá nhân Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm,việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh
“ Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các ĐV đều tốt”
- HCM đặc biệt coi trọng giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ ĐV
Đạo đức cách mạng theo HCM là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng, “cũng
như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cay phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.”
Trang 28- Theo HCM đạo đức có mối quan hệ với tài năng, là nền tảng để hình thành và phát triển tàinăng phát triển nhanh chóng, đạo đức giữ vai trò định hướng cho tài năng phát triển đúng hướng.Nếu giữ được đạo đức thì tài năng được trọng dụng, nếu suy thoái về đạo đức thì bao nhiêu kiếnthức kinh nghiệm tích luỹ được cũng trở thành thủ thuật gây hại cho nhà nước, cho cách mạng.
- HCM chỉ ra những chuẩn mực đạo đức mới để bồi dưỡng cho ĐV
+ Trung với nước, hiếu với dân Đây là phẩm chất bao trùm, quan trọng nhất của ngườicách mạng Người cán bộ, ĐV phải trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Đảng,với Tổ quốc, với nhân dân, là người đầy tớ của nhân dân chứ không phải là quan nhân dân
+ Dũng cảm, không sợ khó khăn, gian khổ, hy sinh Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụtrong mọi hoàn cảnh
+ Chiến thắng lợi ích cá nhân, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể,lợi ích Tổ quốc, chí công vô tư
+ Khiêm tốn, không tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, tự phụ, cần kiệm liêm chính.+ Có tinh thần đoàn kết hữu nghị, tương thân, tương ái với QC NDLĐ, với các dân tộc
bị áp bức, với bạn bè bốn biển, năm châu vì hoà bình, độc lập và tiến bộ xã hội
- HCM chỉ ra phương pháp rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho ĐV
+ Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
HCM chỉ rõ: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ
hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”
+ Nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức cho người khác học tập, noi theo
Sự thống nhất giữa lời nói với việc làm là nguyên tắc rất quan trọng chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động của người cán bộ, ĐV,
giúp họ có tín nhiệm cao trước QC HCM khẳng định: "Nếu ĐV tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời
"trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" Như vậy, thì không thể lãnh đạo QC, không thể làm cách mạng.
+ Xây đi đôi với chống
Xây đi đôi với chống là một nguyên tắc cơ bản trong giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng Nguyên tắc này chỉ đạo hành vi của cán bộ, ĐV giúp họ từng bước hoàn thiện phẩm chất đạo đức của mình Bởi vì, theo HCM, mỗi con người đều có cái thiện và cái
ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái
độ của người CM.
Đây là một quá trình gay go, phức tạp không phải ngày một, ngày hai có thể làm được Bởi lẽ: "Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang
trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”.
Và HCM chỉ rõ: "Muốn gột rửa sạch những vết tích xấu xa của xã hội cũ, muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu
dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu Mà thoái bộ và lạc hậu thì sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải"
Theo HCM, chúng ta xây dựng xã hội mới, đạo đức mới từ xã hội cũ với những con người của lịch sử để lại, còn mang nặng những thói hư, tật xấu của chế độ cũ Vì thế sự nghiệp xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới XHCN phải là một cuộc đấu tranh bền bỉ để chống lại cái cũ
đã lỗi thời, lạc hậu không thích hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.
8
Th ư ờng xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh
* HCM đề cập đến vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ
“Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
* HCM chỉ ra tiêu chuẩn c ơ bản của ng ư ời cán bộ cách mạng, đó là phải có đủ đức,
đủ tài trong đó đức là gốc
Trang 29“Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức
cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
- Cán bộ phải có đức nhưng cũng phải có tài Người cán bộ có tài mà thiếu đức sẽ gâynguy hại cho cách mạng, có đức mà không có tài chẳng khác nào ông bụt ngồi trong chùa.Cái tài của cán bộ là năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn
- Người cán bộ phải có phong cách QC Muốn vậy phải chống bệnh quan liêu, chủquan hình thức, làm việc theo lối bàn giấy, ngồi một nơi chỉ tay năm ngón…
* HCM chỉ ra ph ươ ng h ư ớng, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ:
- Làm tốt công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ
+ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là “công việc gốc” của Đảng "Đảng phải nuôi dạy cán bộ
như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”
+ Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có tính thiếtthực, phù hợp với chức trách nhiệm vụ của cán bộ Đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp, chính trị,văn hoá, lý luận, cả đức và tài, trong đó lấy đức làm gốc Người chỉ rõ nội dung, phươngpháp đào tạo, bồi dưỡng cụ thể, sát hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, từng ngành
+ Phương châm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiếtthực, vững chắc, làm việc gì học việc ấy
+ Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là lý luận gắn liền với thực tiễn, kinh nghiệm
và thực tiễn phải luôn đi đôi với nhau
- Khéo dùng cán bộ, có khoa học trong sắp xếp cán bộ
+ Mục đích của dùng cán bộ: cốt để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và Chính phủ
+ Dùng cán bộ đúng là: Độ lượng, chí công vô tư, không thành kiến Phải có tinh thầnrộng rãi, gần gũi với cả người mình không ưa Phải chịu khó giáo dục, bồi dưỡng cán bộ.Phải sáng suốt trong công tác cán bộ, phải có thái độ vui vẻ, thân mật
+ Căn cứ vào công việc, tài năng, sở trường của cán bộ để bố trí, sắp xếp, đề bạt HCM chỉ rõ : “Phải dùng người đúng chỗ,
đúng việc”
+ Bổ nhiệm, cất nhắc đúng lúc, đúng tầm
+ Kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa cán bộ cũ và CB mới, cán bộ già với cán bộ trẻ
+ Trọng dụng người tài và những người có ích cho công việc chung của Đảng (kể cảngười ở trong Đảng và người ở ngoài Đảng)
- Có gan cất nhắc, mạnh dạn đề bạt cán bộ
Trang 30“Trước khi cất nhắc CB, phải nhận xét rõ ràng Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ mà còn xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không Chẳng những xem xét họ đối với
ta thế nào mà phải xem xét họ đối với người khác thế nào Ta nhận họ tốt còn phải xem xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không Phải biết ưu điểm của họ, mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem xét công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay.”
- Thương yêu chăm sóc cán bộ
+ Theo HCM, đào tạo, bồi dưỡng để có được cán bộ tốt là một quá trình lâu dài Đội ngũ cán bộphải được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng Tuy nhiên, quá trình hoạt động thực tiễn, cán
bộ, ĐV khó tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, nếu không được phát hiện, sửa chữa kịp thời sẽ dẫn đến
thoái hoá, biến chất Vì vậy Người yêu cầu : “Đảng phải thương yêu cán bộ”
+ Thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc Thương yêu là giúp họ họctập, công tác, tu dưỡng, rèn luyện tốt Giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong sinhhoạt hàng ngày Luôn chú ý đến công tác của CB, giúp họ sửa chữa khuyết điểm, phát huy
ưu điểm Quan tâm đến cuộc sống riêng và hậu phương gia đình CB
+ HCM chỉ rõ, ai cũng có sai lầm, khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm Chúng takhông sợ sai lầm, chỉ sợ mọi người không cố gắng sửa chữa và người lãnh đạo không biếttìm cách giúp cán bộ sửa chữa, khuyết điểm
9
Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu n ư ớc chân chính với chủ nghĩa QTVS
Theo quan điểm của HCM
- “Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận của cách mệnh thế giới Ai làm cách
mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam”
- “Giúp bạn là tự giúp mình”nhưng dựa vào sức mình là chính
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, CMVN muốn giànhthắng lợi phải nhận được sự đồng tình của cách mạng thế giới
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nền tảng củachính sách đối ngoại
10
Đảng phải th ư ờng xuyên đ ư ợc chỉnh đốn
- Đây là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng HCM về xây dựng Đảng, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng lý luận CN Mác- Lênin trong điều kiện Đảng cầm quyền.
- HCM chỉ rõ, chỉnh đốn Đảng không phải là một giải pháp tình thế, một chủ trương thụ động, mà là công việc
thường xuyên của công tác xây dựng Đảng “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm
cho mỗi ĐV, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
a.Vì sao ?
+ ĐCSVN là đội tiên phong của g/cấp CN, đồng thời là đội tiên phong của NDLĐ và cảd/ tộc Việt Nam Đảng chỉ có thể làm tròn vị trí, vai trò lãnh đạo của mình khi Đảng thườngxuyên được chỉnh đốn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức
Trang 31+Do sự vận động phát triển của tình hình nhiệm vụ cách mạng, quy luật vận động củabản thân Đảng cũng đòi hỏi Đảng phải được thường xuyên chỉnh đốn
+ Mục đích của chỉnh đốn Đảng, theo Chủ tịch HCM là làm cho Đảng, đội ngũ cán bộ,
ĐV của Đảng ngày càng tiến bộ trưởng thành, có NLLĐ và SCĐ cao, xứng đáng là ngườilãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân
b Mục đích của củng cố, chỉnh đốn:
- Làm cho Đảng, đội ngũ cán bộ, ĐV của Đảng không ngừng lớn mạnh, có NLLĐ và SCĐ
- Bảo đảm cho Đảng làm tròn vai trò người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân
Bác lưu ý: Chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành thường xuyên, khi tiến hành phảiđược chuẩn bị chu đáo, xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung và phương châm đúng đắn
c.Những vấn đề có tính nguyên tắc, ph ươ ng châm chỉnh đốn Đảng
- Chỉnh dốn Đảng được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, bất luận trong hoàncảnh nào, đặc biệt ở những bước chuyển giai đoạn
- Phải được chuẩn bị chu đáo, xác định rõ mục đích, yêu cầu, phương châm chỉ đạo đúng đắn
- Tiến hành trên trước dưới sau, cấp uỷ trước, ĐV sau, coi trọng tất cả các cấp trong đóđặc biệt chú trọng ở khâu chi bộ, vì chi bộ là tế bào, nền tảng của Đảng
- Kết hợp chặt chẽ giữa chỉnh đốn tư tưởng với chỉnh đốn tổ chức
- Phải dựa vào QC, động viên QC tham gia vào xây dựng Đảng
* Vận dụng trong XDĐ hiện nay
Trung thành với CNM- Lê nin và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta, ĐCSVN doChủ tịch HCM sáng lập và rèn luyện, đã trải qua nhiều thử thách, trở thành một đảng Mác – Lê nin kiêncường, vững vàng trước những biến cố vô cùng khó khăn của lịch sử ở trong nước, và trên thế giới Hiệnnay bọn cơ hội xét lại và GCTS đang tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận các giá trị bền vững của CNM-
Lê nin, trong đó có học thuyết về chính đảng cách mạng của GCCN, thì việc nghiên cứu nắm vững thựcchất những nguyên lý của học thuyết càng có ý nghĩa to lớn, giúp cho đội ngũ cán bộ ĐV những cơ sở lýluận để quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách, góp phần XDĐ ngày càng vững mạnh,hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Cùng với CNM-Lênin, tư tưởng HCM về XDĐ là một di sản phong phú, quý giá, làkim chỉ nam cho quá trình XDĐ, đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta Nghiên cứu quán triệt tưtưởng HCM về XDĐ là vấn đề có tính nguyên tắc, là trách nhiệm của mọi cấp uỷ, tổ chứcđảng và cán bộ, ĐV Đồng thời, nó còn là cơ sở để XDĐ, đổi mới và chỉnh đốn Đảng đạtchất lượng và hiệu quả cao, bảo đảm cho Đảng thực sự VM về CT, tư tưởng và tổ chức
Vấn đề 5: TTHCM về XDĐ trong tác phẩm “Đường cách mệnh”
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
1
Tình hình thế giới đầu thế kỷ XX
Trang 32- CNTB phát triển thành chủ nghĩa đế quốc và tiến hành chiến tranh xâm lược để tranhgiành thuộc địa Đại chiến thế giới lần thứ nhất càng làm cho mâu thuẫn giữa GCCN và cácdân tộc bị áp bức với CNTB thêm gay gắt.
- Được CNM -Lênin - một học thuyết cách mạng và khoa học soi đường, PTĐT của GCVS cácnước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các ĐCS : Đảng xã hội- dân chủ Nga thànhlập năm 1903; ĐCS Pháp thành lập năm 1920; ĐCS Trung Quốc thành lập năm 1921
- Năm 1917, Đảng Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc cách mạng tháng Mười Nga thànhcông Đây là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn của CNM-LN, đồng thời cũng báo hiệuthời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của GCVS thế giới và sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc Sựkiện này tác động sâu sắc đến CMVN
- Năm 1919, Quốc tế III - Bộ tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được thành lập + Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa Bản "sơ thảo lần thứ nhất luậncương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin đã có tác động trực tiếp tới phongtrào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
+ Đối với Nguyễn ái Quốc, "Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa" của Lênin đã làm chuyển biến nhận thức, tư tưởng của Người từ lập trườngyêu nước sang lập trường cộng sản
- Tình hình quốc tế và xu thế thời đại đã mở ra điều kiện thuận lợi cho việc thành lậpĐCS ở các nước và dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạochung của cách mạng vô sản
2
Tình hình Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Đặc điểm nổi bật của tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến: + Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với toàn thể nhân dân (chủ yếu là nông dân)
+ Yêu cầu của lịch sử lúc này là phải giải quyết những mâu thuẫn cơ bản đó để đưa dân tộc ta thoát khỏi ách áp bức bóc lột của thực dân phong kiến giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân.
- Bước vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đãxuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang màu sắc chính trị khác nhau, như: Tâm tâm xã (1923 - 1925),Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), thanh niên cao vọng Đảng (1926 -1929), Tân Việt cáchmạng Đảng (1926 - 1930), Việt Nam quốc dân Đảng (1927 - 1930)
- Song các tổ chức yêu nước này thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức chặtchẽ, cho nên, họ không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử
- CMVN đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước
- Thực tiễn lịch sử đang đòi hỏi phải có một chính đảng kiểu mới, được xây dựng trên
cơ sở hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có tổ chức chặtchẽ thì mới lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi
- Vượt lên trên những người yêu nước Việt Nam đương thời, Nguyễn ái Quốc đã tiếpthu CNM-LN, vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta, tìm ra con đường cứunước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam
Trang 33- Một trong những vấn đề cơ bản, cấp thiết là phải truyền bá CNM-Lênin, giác ngộ QC, xây dựngphong trào cách mạng, phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm nòng cốt để thành lập Đảng
Vì vậy, Nguyễn ái Quốc viết tác phẩm "Đường cách mệnh" (1927) chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổchức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của GCCN và dân tộc Việt Nam và làm cơ sở cho việc hình thànhcương lĩnh đầu tiên của Đảng, cơ sở cho con đường cách mạng của Đảng sau này
II T Ư T Ư ỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG C Ơ BẢN CỦA TÁC PHẨM
- Tự mình : Phải cần kiệm, hoà mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát,
hay hỏi; nhẫn nại; hay nghiên cứu; xem xét; vị công vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói điđôi với làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng ham muốn về vật chất; bí mật
- Đối với người: Với từng người thì khoan thứ; với đoàn thể thì nghiêm; có lòng bày vẽ
cho người; trực mà không táo bạo, hay xem xét người
- Với việc làm : Phải xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán; dũng cảm; phục tùng
đoàn thể, biết để việc công, việc nước lên trên việc tư, việc nhà, biết phục tùng đoàn thể,không tự đặt mình cao hơn tổ chức, không đứng ngoài KL
* Như vậy:
- Tư cách một người cách mệnh được đề cập trong tác phẩm là những vấn đề cơ bản
về phẩm chất chính trị, đạo đức, phương pháp tác phong công tác của người cộng sản
- Yêu cầu về tư cách của người cách mạng phù hợp với truyền thống đạo đức của dântộc, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng thể hiện sự tiếp thụ, phát triển sáng tạo nguyên
lý CNM-LN về phẩm chất, nhân cách của người cộng sản
- "Tư cách người cách mệnh" tiếp thêm sức mạnh và định hướng đúng đắn cho tất cảnhững ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương, đất nước ra khỏi ách áp bức,bóc lột của thực dân phong kiến, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân
b
Những vấn đề c ơ bản về cách mệnh
* Về con đ ư ờng cách mệnh
Tác phẩm "Đường cách mệnh" đã đưa ra khái niệm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu về cách
mệnh, đó là: "Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt" Nguyễn ái
Trang 34- Tư bản cách mệnh như: cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm
1776; Nhật cách mệnh năm 1864
- Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911
- Giai cấp cách mệnh như: công nông Nga đuổi TB và giành lấy chính quyền 1917.
Tác giả đã giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy Từ phân tích rõ mâuthuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, xác định tính chất cách mệnh Dân tộc cách mệnh là dântộc bị xâm lược đồng tâm hiệp lực đánh đuổi bọn áp bức, bóc lột, để giành độc lập tự do.Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức (công nông) đoàn kết nhau đánh đuổi tư bản
-> Tác phẩm đã khẳng định sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấpcách mệnh ở Việt Nam Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lêngiải phóng giai cấp Việt Nam phải tiến hành cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh
- Các tầng lớp NDLĐ khác như: "Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản
áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của côngnông thôi" (tr.266) còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả phân loại: điền chủ nhỏ là bầubạn cách mệnh của công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày
- Từ thực tiễn đất nước, thái độ của các giai cấp trong xã hội đối với cách mạng, tác giả đã đánhgiá đúng lực lượng cách mạng thể hiện tư duy sắc sảo trong xem xét, đánh giá vị trí, vai trò của cáctầng lớp, giai cấp, tập hợp lực lượng cách mạng, phát huy vai trò lãnh đạo của GCCN, xây dựng liênminh công nông làm nòng cốt để tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ
* Về nắm thời c ơ cách mệnh
- Theo Nguyễn ái Quốc, để cách mệnh thành công, việc nắm vững thời cơ cách mệnh
có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nắm đúng thời cơ chẳng những là khoa học mà còn là nghệthuật giành chính quyền, tránh sai lầm, tránh gây tổn thất cho cách mạng
- Muốn nắm được thời cơ cách mệnh, phải hiểu rõ tình thế cách mệnh, chọn tình thế
cách mệnh khi đã chín muồi Người cho rằng: "Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới,
không biết so sánh, không có mưu chước, chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm".
* Về Đảng cách mệnh
- Nguyễn ái Quốc tự đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? và người trả lời:
"Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
- Đảng muốn vững phải lấy CNM -Lê nin làm nền tảng TT, KCNCHĐ
Trang 35- Trong điều kiện thực tiễn đương thời, cách mạng nước ta đứng trước cuộc khủnghoảng về đường lối cách mạng, về ý thức hệ Để giúp cho QC nhân dân thoát khỏi ảnhhưởng của cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ và các trào lưu tư tưởng lúc bấy giờ, đồng chí
Nguyễn ái Quốc khẳng định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.
- Nguyễn ái Quốc đã chủ trương XDĐ của GCCN theo nguyên lý CNM-LN và đã tíchcực chuẩn bị những điều kiện và tiền đề cần thiết cho việc thành lập ĐCSVN
- Nguyễn ái Quốc rất coi trọng đào tạo đội ngũ CBĐV cho Đảng Người chỉ ra rằng: ĐV phải làngười có nhiệt tình cách mạng cao, có tri thức cách mạng sâu sắc, hiểu rõ "Muốn sống thì phải cáchmệnh", có lý tưởng cao đẹp, bền bỉ đấu tranh, "giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại"
* Về ph ươ ng pháp cách mệnh
- Nguyễn ái Quốc khẳng định: Cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi nhất thiết phảidùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị Sứcmạnh của cách mạng không phải dựa vào việc ám sát cá nhân, mà bằng sức mạnh của khốiĐĐKDT, phải tổ chức giáo dục và lãnh đạo QC làm cách mạng
- Nguyễn ái Quốc cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong
thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”; "Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi".
- Người nhấn mạnh vai trò của công tác "tổ chức dân chúng" và phê phán nghiêm túc
tư tưởng manh động, "xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức" Tư tưởng "Chỉ lo đi
ám sát' cá nhân là những tư tưởng ăn sâu trong đầu óc nhiều người lúc đó, gây trở ngạinghiêm trọng cho công tác vận động QC nhân dân đi theo cách mạng
* Về đoàn kết quốc tế
Về đoàn kết quốc tế, tác giả đã nêu lên ba vấn đề lớn :
Một là: Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía PTCN và phong trào giải phóng
dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả bọn đế quốc và bọn phong kiến
Hai là, cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân Việt Nam là một bộ phận cách mạng
vô sản, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc luôngắn bó hữu cơ với lợi ích và nghĩa vụ quốc tế
Ba là, mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc.
Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc
Những luận điểm trên đã đặt nền tảng đúng đắn cho sự hình thành, phát triển đường lối quốc tếcủa Đảng và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam
Trang 36- Việc lập ra phụ nữ quốc tế là rất cần thiết cho sự nghiệp cách mệnh Nguyễn ái Quốc đã nhắc lại lời dạy của Lênin là: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”
- Người chỉ rõ: “Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức dùm vào.
Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”
- Nhận thức sâu sắc vai trò của phụ nữ đối với sự nghiệp cách mạng, Nguyễn ái Quốc yêu cầu ĐCS phải tổ chức ra hội phụ nữ để thông qua đó vận động phụ nữ đứng lên làm cách mạng
- Người khẳng định: "Việt Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới Việt Nam muốn cách
mệnh thì phải theo phụ nữ quốc tế chỉ bảo”
- Theo Nguyễn ái Quốc để phụ nữ hăng hái tham gia cách mạng, đòi hỏi Hội phụ nữ phải chú trọng giáo dục, giác ngộ nữ giới, hướng dẫn chị em hành động cách mạng.
* Đối với tổ chức công nhân quốc tế (quốc tế công hội)
- Trên cơ sở phân tích sâu sắc lịch sử công nhân quốc tế, phê phán chủ nghĩa công đoàn muốn hạn chế cuộc đấu tranh của GCCN trong khuôn khổ đòi hưởng những quyền lợi kinh tế trước mắt, phủ nhận đấu tranh chính trị, giành chính quyền, thiết lập chính quyền vô sản
- Nguyễn ái Quốc khẳng định sự cần thiết phải lập tổ chức công hội dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản khoa học của Các Mác và Ph.ăng ghen
- Cách thức tổ chức công hội đã được Người đề cập trong tác phẩm Tổ chức công hội sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đoàn kết, tập hợp GCCN làm cách mạng
* Với cộng sản thanh niên quốc tế (Đoàn thanh niên cộng sản)
Trong tác phẩm "Đường cách mệnh", Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: cách thức tổ chức rađoàn thanh niên cộng sản, mục đích tổ chức là:
1- Thế giới cách mệnh;
2 - Bồi dưỡng nhân tài để đem vào ĐCS;
3 - Chuyên môn về việc kinh tế và chính trị, có quan hệ cho thanh niên;
4 - Tuyên truyền tổ chức và HL thợ thuyền, dân cày, học trò và lính thanh niên;
5 - Phản đối mê tín và khuyên dân chúng học hành”
* Với tổ chức nông hội (tổ chức dân cày)
Nguyễn Ái Quốc đã phân tích sâu sắc vì sao phải tổ chức dân cày Người chỉ rõ sự cùng cực củadân cày Việt Nam dưới ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân - phong kiến là: ruộng bị Tây chiếm hết,không đủ mà cày; gạo bị nó chở hết, không đủ mà ăn; làm nhiều được ít, thuế nặng; chết đói, hoặc bán vợ
đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ vì vậy, "Nếu dân cày Việt Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thìphải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng"
Cách tổ chức dân cày như sau:
1- Bất kỳ đàn ông, đàn bà, từ những người điền chủ cho đến những dân cày thuê cày rẽ,
từ 18 tuổi trở lên thì được vào hội
2- Ai vào phải tình nguyện giữ quy tắc hội, và phải có hội viên cũ giới thiệu
3- Làng nào đã có 3 người tình nguyện vào hội thì tổ chức được một hội làng, 3 làng cóhội thì tổ chức hội tổng, 3 tổng có hội thì tổ chức hội huyện, 3 huyện có hội thì tổ chức hộitỉnh, 3 tỉnh có hội thì tổ chức hội dân cày cả nước
Nội dung cơ bản của tác phẩm "Đường cách mệnh" thể hiện một cách khái quát tư tưởng của HCM trong việc truyền bá CNM-LN và đường lối cứu nước của Người Đó là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chuẩn bị thành lập ĐCSVN và chuẩn bị các tổ chức, các lực lượng để làm cách mạng.
Trang 37III Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM
- Tác phẩm đã vạch ra đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, chuẩn bị vềchính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng; là cơ sở cho việc xây dựng cương lĩnhchính trị đúng đắn của Đảng; chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cách mạng ViệtNam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn lịch sử
- Tác phẩm gồm những nội dung rất quan trọng để giáo dục, giác ngộ nâng cao nhậnthức cho cán bộ, ĐV và QC nhân dân, xây dựng sự đoàn kết nhất trí trên nền tảng tư tưởngcủa GCCN, thúc đẩy PTCN, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ
- Tác phẩm thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của HCM, là mẫu mực về sự vận dụng Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; là kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam
CNM Trong quá trình xây dựng Đảng, những tư tưởng chủ yếu và nội dung cơ bản của tác phẩm đãđược Đảng ta nghiên cứu, tiếp thu vận dụng qua các giai đoạn, các thời kỳ Thực tiễn cách mạng ViệtNam đã khẳng định tính đúng đắn của những tư tưởng HCM đề cập trong tác phẩm này
- Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, trước sự biến động sâu sắc của tình hình,nhất là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu làm cho trận địa của CNXH bị thu hẹp,nhiều vấn đề lý luận và thực hiện cách mạng XHCN đang đứng trước những thử thách lớn, đòi hỏiĐảng ta phải kiên trì, trung thành và vận dụng sáng tạo CNM-Lênin và tư tưởng HCM
Vấn đề 6: TTHCM về XDĐ trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”
ĐVĐ: Tháng 10 - 1947, trên đường cùng Trung ương Đảng trở lại chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược, Chủ tich HCM viết tác phẩm "Sửa đối lối làm việc" Đây là tác phẩm quan trọng về XDĐ cầm quyền, có giá trị lịch sử và ý nghĩa lý luận, thực tiễn to lớn đối với Đảng, nhà nước và đội ngũ cán bộ, ĐV.
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
1
Tình hình thế giới
- Cuối những năm 40 của thế kỷ XX, chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, Liên Xô vàchủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới phát triển mạnh, nhiều nước đế quốc suy yếu, Mỹ vượttrội lên và cầm đầu các nước đế quốc
- Phong trào dân chủ, hoà bình lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở Đông Âu và Tây Âunhư: Nam Tư, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hunggari… Hầu hết các phong trào hoà bình, dân chủ vàđộc lập dân tộc ở các nước trên thế giới đều do ĐCS lãnh đạo
2
Tình hình Đông D ươ ng
ỞÛ Đông dương các nước đế quốc chủ yếu : Anh, Pháp, Mỹ chống phá phong tràocộng sản và uy hiếp phong trào giải phóng của các dân tộc Toàn thể các dân tộc Đôngdương đang trở thành một mặt trận kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnhđạo của ĐCS
3
Tình hình trong n ư ớc
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc
Trang 38xâm lược, vừa phải lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế và xây dựng chính quyền non trẻ, vừa chống cả giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, trong điều kiện hết sức khó khăn phức tạp Chính quyền cách mạng của ta còn hết sức non trẻ, thiếu tri thức, kinh nghiệm, nhất là trong quản lý, điều hành và xây dựng đất nước.
- Để lãnh đạo toàn quân, toàn dân chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng Đảng cần phải được xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao NLLĐ và SCĐ ngang tầm đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 bước vào giai đoạn gay
go, quyết liệt
- Đến đầu năm 1947, Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc được gần hai năm.Thời gian nắm chính quyền tuy chưa dài, bên cạnh những thành tựu đạt được đã xuất hiệntrong bộ máy của Đảng và Nhà nước, trong cán bộ, ĐV mầm mống của những căn bệnh :quan liêu, bàn giấy, óc bè phái, quân phiệt, hẹp hòi, ích kỷ Những khuyết điểm này nếukhông được kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ dẫn đến sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán
bộ, ĐV, làm giảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
- Để kịp thời khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng tâm hiệp lực, đoàn kếtnội bộ, mở rộng hàng ngũ, nâng cao trình độ tư tưởng lý luận, tình cảm cách mạng, tácphong làm việc và phong cách lãnh đạo của Đảng, của cán bộ ĐV, làm cho Đảng trong sạch,vững mạnh, thật sự là một Đảng cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.HCM viết “Sửa đổi lối làm việc”
II T Ư T Ư ỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG C Ơ BẢN CỦA TÁC PHẨM
1
T ư t ư ởng chủ yếu của tác phẩm
- Phê phán chủ nghĩa cá nhân, vạch ra nguyên nhân và phương hướng khắc phục.Khẳng định Đảng là LL tiên phong, ưu tú nhất của GCCN và toàn XH
- Chỉ ra những vấn đề rất cơ bản về ĐCSVN cầm quyền, sửa đổi lối làm việc là nâng cao trình độ
lý luận, nâng cao tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong công tác củangười cán bộ cách mạng, nâng cao NLLĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
- Đảng phải vừa là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành , tận tuỵ của ND.
- Đảng phải được trang bị lý luận tiên phong LL phải luôn gắn liền với thực tiễn
- Đường lối, NQ, chỉ thị của Đảng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học
- Đảng phải luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với QC
- Đảng phải thường xuyên TPB & PB
- Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, ĐV
- Đảng phải có kỷ luật tự giác, nghiêm minh.
b
Về lãnh đạo và kiểm soát của Đảng
* Về quy trình lãnh đạo của Đảng HCM khẳng định:
Trang 39“Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng Phải tổ chức thi hành cho đúng”
* Về phương thức lãnh đạo
- Chủ tịch HCM khẳng định: Bất kỳ công việc gì cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau
đây: “Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng Hai là liên hợp người lãnh đạo
với QC”
- Người kết luận: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ
trong QC ra, trở lại nơi QC’’
* Về kiểm soát của Đảng
- HCM đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của kiểm soát: Kiểm soát là một khâu rấtquan trọng của quá trình lãnh đạo Có kiểm soát thì mới biết NQ của Đảng được thực hiệnđến đâu? đúng hay không đúng? mới biết cán bộ tốt hay xấu, mới khắc phục được khuyếtđiểm, phát huy được ưu điểm Người chỉ rõ: “Muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện,chỉ có một cách, là khéo kiểm soát” “Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi hết”
- Muốn kiểm soát có kết quả tốt, theo HCM phải có hai điều kiện: “Một là việc kiểm soát phải có
hệ thống, phải thường làm Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”
- HCM chỉ rõ có hai cách kiểm soát: cách thứ nhất, làm từ trên xuống: Người lãnh đạokiểm soát những công việc của cán bộ mình; cách thứ hai, làm từ dưới lên: QC và cán bộkiểm soát những sai lầm của người lãnh đạo và chỉ rõ những cách thức để sửa chữa sai lầm
đó Người coi đây là cách tốt nhất để kiểm soát cán bộ, ĐV của Đảng
- Những người trí thức, công dân, nông dân, phụ nữ, quân nhân hăng hái yêu nước, từ
18 tuổi trở lên đều được vào Đảng
- Những người muốn vào Đảng phải có 2 ĐV cũ giới thiệu Những người bỏ Đảngphái khác mà vào Đảng, phải có ba người giới thiệu, và phải được cấp trên của Đảng chuẩn
y Những người rời khỏi Đảng đã lâu, mà có người làm chứng rằng, trong thời gian đókhông hề làm việc gì có hại cho Đảng thì được trở lại làm ĐV
- Những người mới vào Đảng phải qua một thời kỳ dự bị : nông dân và công nhân haitháng Quân nhân ba tháng Trí thức bốn tháng
- Trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ và trao việc cho họ làm Đồng thời, Đảng phải xemxét tính nết, công tác và lịch sử của họ Những người giới thiệu phải giúp họ học tập và công tác
- Những người dự bị phải công tác cho Đảng và nộp đảng phí Họ có quyền tham gia huấn luyện,
đề ra ý kiến, bàn bạc các vấn đề, nhưng không được quyền biểu quyết Họ cũng chưa có quyền giữ cáctrách nhiệm chỉ đạo như làm tổ trưởng, thư ký (trong những hoàn cảnh đặc biệt, như nơi đó mới bắtđầu có Đảng, hoặc đại đa số đều là ĐV mới thì không phải theo lệ này)
Trang 40- Suốt đời đấu tranh cho dân tộc, cho Tổ quốc
- Đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết
- Hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng
- Kiên quyết thi hành những NQ của Đảng
- Cố gắng làm kiểu mẫu cho QC trong mọi việc
- Cố gắng học tập chính trị, quân sự , văn hoá Phải gần gũi QC, học hỏi QC, cũng nhưphải lãnh đạo QC
nhân dân Người chỉ rõ : “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, Không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
* Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
- HCM coi: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các
thứ bệnh rất nguy hiểm” Đó là những bệnh: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh,
thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh bệnhcận thị, bệnh cá nhân, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua
- HCM chỉ ra cách chữa trị hiệu quả nhất đối với các căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân
gây ra: “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”
* Rèn luyện tính Đảng
- Trong "sửa đổi lối làm việc" HCM viết "Mỗi cán bộ, mỗi ĐV, cần phải có tính đảng
mới làm được việc Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên"
- Người chỉ rõ, tính đảng của người cán bộ, ĐV là luôn đặt lợi ích của Đảng, của dântộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân Làm bất cứ công việc gì cũng phải điều tra rõ ràng,cẩn thận và phải làm đến nơi, đến chốn Lý luận và thực hành phải luôn đi đôi với nhau
e
Về TPB & PB trong Đảng
TPB & PB là quy luật phát triển của ĐCS Người khẳng định: "Trong công tác, trong tranh
đấu, trong huấn luyện, các ĐV, các cán bộ cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí của mình Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi"
g
Vấn đề cán bộ
HCM đặc biệt chú ý vấn đề cán bộ của Đảng và Nhà nước Người nhấn mạnh: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”, cán bộ là nòng cốt của mọi tổ chức, là lực lượng chính
trong xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối