Việc khảo sát thị trường lâm sản tại 2 huyện Cao Phong và Đà Bắc có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách của các cơ quan quản lý địa phương và lập kế hoạch sản xuất của
Trang 1BÁO CÁO KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG GỖ VÀ LÂM SẢN NGOÀI
GỖ TẠI HUYỆN CAO PHONG VÀ ĐÀ BẮC - TỈNH HÒA
BÌNH
HÒA BÌNH 3 - 2012
Trang 2Mục lục:
1 CƠ SỞ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN 3
1.1 Cơ sở của việc khảo sát thị trường lâm sản 4
1.2 Các mục tiêu của khảo sát thị trường lâm nghiệp 4
2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 5
3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN GỖ 5
3.1 Các sản phẩm khảo sát 5
3.1.1 Các thị trường gỗ 5
3.1.2 Sản phẩm gỗ tiềm năng tại các xã điều tra 6
3.2 Khảo sát thị trường sản phẩm lâm sản gỗ 7
3.2.1 Sơ đồ tiêu thụ kênh hàng 7
3.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa các tác nhân trong kênh hàng 8
3.2.2.1 Người trồng rừng 8
a) Các yếu tố đầu vào chính cho hoạt động trồng rừng 8
b) Những cản trở đối với người trồng rừng 10
c) Hạch toán kinh tế đối với người trồng rừng 11
3.2.2.2 Chủ xưởng mộc tại địa phương 13
a) Mối quan hệ giữa Hộ trồng rừng với các Chủ xưởng mộc tại địa phương 13 b) Hạch toán kinh tế đối với các xưởng chế biến gỗ địa phương 14
3.2.2.3 Các Nhà máy, Công ty chế biến 15
a) Mối quan hệ giữa hộ trồng rừng với các Nhà máy, Công ty chế biến 15
b) Đặc điểm của tác nhân Công ty, Nông trường, Nhà máy 15
3.2.2.4 Hộ thu gom gỗ 16
a) Mối quan hệ giữa hộ trồng rừng với hộ thu gom sản phẩm 16
b) Đặc điểm của tác nhân Thu gom sản phẩm gỗ 16
c) Hạch toán hiệu quả kinh tế của tác nhân thu gom 16
3.2.2.5 Mối quan hệ giữa Thu gom với các tác nhân chế biến gỗ 19
3.3 Nguồn cung của sản phẩm 19
3.3.1 Các nguồn cung ứng gỗ Keo 19
3.3.2 Các nguồn cung ứng gỗ khác (xoan, lát, mỡ, bồ đề ) 20
4 KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ 20
4.1 Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ khảo sát 20
Trang 34.1.1 Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ tham gia thị trường 20
4.1.2 Sản phẩm lâm sản ngoài gỗ tại các điểm khảo sát Cao Phong và Đà Bắc 21
4.2 Khảo sát thị trường sản phẩm lâm sản ngoài gỗ 22
4.2.1 Khảo sát thị trường đối với sản phẩm măng 22
4.2.1.1 Kênh tiêu thụ măng 22
4.2.1.2 Mối quan hệ giữa các tác nhân ngành hàng 23
a) Bán sản phẩm của hộ sản xuất 23
b) Bán sản phẩm của hộ thu gom 23
c) Khối lượng thu mua và tiêu thụ sản phẩm 23
d) Đối thủ cạnh tranh 24
e) Nguồn cung sản phẩm măng 24
4.2.2 Khảo sát thị trường đối với sản phẩm thân cây (luồng, bương, tre) 25
4.2.2.1 Đặc điểm của sản phẩm luồng, bương, tre 25
4.2.2.2 Mối quan hệ giữa các tác nhân 26
a) Tăm tre 26
b) Sản phẩm thấn tre, luồng, bương 27
4.2.3 Khảo sát thị trường sản phẩm Dong riềng 28
4.2.4 Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ thu hái tự nhiên quy mô nhỏ 29
4.2.4.1 Lá Bương 29
4.2.4.2 Sáp ong rừng, mật ong nuôi 29
4.2.4.3 Lá dong 29
4.2.4.4 Các lâm sản ngoài gỗ khác 30
5 PHÂN TÍCH SWOT cho các sản phẩm lâm nghiệp 30
5.1 Sản phẩm gỗ Keo 30
5.2 Sản phẩm gỗ Xoan 30
5.3 Sản phẩm Măng 31
5.4 Sản phẩm Tăm 31
5.5 Sản phẩm mật ong 31
5.6 Sản phẩm dong riềng 32
6 KẾT LUẬN 32
PHỤ LỤC 35
Trang 4Danh mục các bảng biểu
Bảng 1 Sản phẩm gỗ gắn với thị trường 6
Bảng 2 Sản phẩm gỗ tiềm năng tại các huyện dự án 6
Bảng 3 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng keo (đồng/ha) 11
Bảng 4 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng xoan (đồng/ha) 11
Bảng 5 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng bồ đề (đồng/ha) 12
Bảng 6 Quan hệ giữa hộ có gỗ bán với các xưởng chế biến gỗ địa phương 13
Bảng 7 Hạch toán đối với các Xưởng mộc chế biến gỗ Keo tại địa phương 14
Bảng 8 Hạch toán đối với các Xưởng mộc chế biến gỗ Xoan tại địa phương 14
Bảng 9 Giá thu mua gỗ nguyên liệu của các tác nhân 17
Bảng 10 Hạch toán đối với tác nhân thu gom Keo tại địa phương 18
Bảng 11 Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ gắn với thị trường 20
Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 1 Kênh tiêu thụ lâm sản gỗ tại Cao Phong, Đà Bắc 7
Sơ đồ 2 Các kênh tiêu thụ gỗ rừng trồng của hộ lâm nghiệp tại Cao Phong, Đà Bắc 8
Sơ đồ 3 Kênh tiêu thụ lâm sản gỗ tại Cao Phong, Đà Bắc 21
Sơ đồ 4 Kênh tiêu thụ sản phẩm măng 22
Sơ đồ 5 Kênh tiêu thụ bương, tre, luồng 25
Trang 51 CƠ SỞ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN
1.1 Cơ sở của việc khảo sát thị trường lâm sản
Là một tỉnh có đến 2/3 diện tích là đồi núi, tỉnh Hòa Bình có 2.275 km2 đất lâm nghiệp, chiếm 50% tổng diện tích đất tự nhiên (4.595 km2) Trong đó, rừng tự nhiên là 1.368 km2, rừng trồng là 907 Km2 và mật độ che phủ đạt 45,5% (Niên gián thống kê 2010) Vì vậy, sản xuất lâm nghiệp được coi là một trong những lợi thế của tỉnh Hòa Bình
Kinh nghiệm trong và ngoài nước đều khuyến cáo phải gắn kết việc phát triển kinh tế xã hội và XĐGN với bảo vệ nguồn tài nguyên rừng Sinh kế của người nghèo (đặc biệt người nghèo tại các huyện như Đà Bắc, Cao Phong ) gắn chặt với các nguồn lợi từ rừng (gỗ, lâm sản ngoài gỗ, bảo vệ rừng, trồng rừng ) Trong những năm qua, diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, khu bảo tồn đã được đưa vào bảo vệ, cấm khai thác Điều này đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân nói chung và người nghèo nói riêng
Đầu năm 2010, tỉnh Hòa Bình đã thực hiện xong nghị định số 02 của Chính Phủ ngày 15/01/1994 về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình quản lý Người dân đã thực hiện trồng rừng theo các chương trình/dự án: PAM, 661 (5 triệu ha rừng), 327, Định canh Định cư, Giảm nghèo, 135… Các biện pháp trồng rừng hoặc lâm sản ngoài gỗ đang đi theo hướng cải thiện đời sống của người dân Nhiều mô hình khuyến lâm như keo, mỡ, xoan, tre, luồng, cây ăn quả … được chuyển giao cho các xã vùng cao tại 2 huyện Đà Bắc và Cao Phong Các chính sách này giúp cho diện tích rừng trồng tăng lên Đến nay, một số diện tích rừng trồng đã và đang đến tuổi khai thác và góp một phần không nhỏ vào thu nhập của các hộ trồng rừng
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hiệu quả của việc trồng rừng (Trồng cây gì có hiệu quả kinh tế cao? Tiêu thụ như thế nào? Nhu cầu của thị trường về chủng loại, chất lượng, số lượng? Giá bán của sản phẩm? Những cản trở/khó khăn đối với người sản xuất lâm nghiệp và sản phẩm nào phù hợp với điều kiện của họ? ) Từ đó để xác định được các kế hoạch phát triển lâm nghiệp trong các năm tới Tất cả các vấn đề này có thể giải quyết được thông qua việc khảo sát thị trường gỗ và lâm sản ngoài gỗ Việc khảo sát thị trường lâm sản tại 2 huyện Cao Phong và Đà Bắc có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách của các cơ quan quản lý địa phương và lập kế hoạch sản xuất của các hộ gia đình Nắm rõ được thị trường sẽ cân đối được giữa cung
và cầu giúp tăng thu nhập cho các hộ sản xuất Khảo sát thị trường lâm sản còn là cơ
sở để đưa ra các quyết định đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp
1.2 Các mục tiêu của khảo sát thị trường lâm nghiệp
Trang 6- Xác định được các sản phẩm lâm nghiệp hiện có hoặc các sản phẩm lâm nghiệp có giá trị thương mại cao trên địa bàn nghiên cứu
- Mô tả thực trạng của hệ thống thị trường các sản phẩm lâm nghiệp trên địa bàn hiện nay
- Đưa ra các đề xuất gắn kết được sản xuất với thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho hộ trồng rừng
- Xây dựng cơ sở cho việc ra quyết định là trồng cây gì để tăng thu nhập cho hộ gia đình
2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh chuỗi giá trị Thu thập các thông tin liên quan đến nguồn cung của sản phẩm (sản lượng hiện có, sản lượng tiềm năng ) Thu thập số liệu từ các cơ quan huyện, xã (phòng thống kê, tài nguyên môi trường, kiểm lâm )
- Phỏng vấn các tác nhân tham gia thị trường: sản xuất, thu mua và bán sản phẩm… (các hộ lâm nghiệp, hộ thu gom sản phẩm, chế biến gỗ…) Phỏng vấn thực hiện theo mẫu câu hỏi được thiết kế
- Sử dụng công vụ SWOT để phân tích điểm mạnh, yếu của từng sản phẩm
- Địa bàn khảo sát được tiến hành tại 3 xã của huyện Cao Phong, 3 xã của huyện Đà Bắc đối với các tác nhân sản xuất, thu mua tại chỗ, xưởng mộc… Các tác nhân khác trong chuỗi được tiến hành tại Tân Lạc, TP Hòa Bình, Kỳ Sơn, Kim Bôi (Hòa Bình) và Chương Mỹ (Hà Nội)
3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN GỖ
Trang 7- Thị trường gỗ sản xuất ván nhân tạo
- Thị trường gỗ nguyên liệu xây dựng dân dụng
- Thị trường chế biến hàng mộc dân dụng và xuất khẩu
Bảng 1 Sản phẩm gỗ gắn với thị trường Loại gỗ Nguồn cung Dạng sản
phẩm Số lượng Thị trường
Phương thức tiêu thụ
- Cột, cọc chống
- Nguyên liệu giấy
- Xây dựng dân dụng
3.1.2 Sản phẩm gỗ tiềm năng tại các xã điều tra
Khảo sát về các sản phẩm gỗ tiềm năng trên địa bàn các xã điều tra thu được kết quả trong bảng 2, như sau:
Bảng 2 Sản phẩm gỗ tiềm năng tại các huyện dự án
Yên Lập
Tân Minh Tu Lý
Cao Sơn
1
Keo (1 – 3 tuổi) 318 300 200 122.8 120 112.6 Keo (4 - 6 tuổi) 707.95 200 150 164.2 168.5 156
Trang 8từ 7-8 tuổi chiếm tỷ trọng nhỏ
- Xoan là cây có giá trị cao nhưng diện tích còn khá khiêm tốn và mới được đưa vào trồng từ 2-3 năm trở lại đây
- Lát là cây lâu năm (14 năm) cũng chưa đủ tuổi khai thác, được trồng tại 1 số
xã của huyện Cao Phong và diện tích cũng rất nhỏ
- Mỡ, trẩu, bồ đề có tỷ trọng diện tích thấp và chủ yếu được trồng tại huyện
Đà Bắc
3.2 Khảo sát thị trường sản phẩm lâm sản gỗ
3.2.1 Sơ đồ tiêu thụ kênh hàng
Khảo sát, điều tra thông tin tại 2 huyện vùng dự án cho thấy các sản phẩm gỗ trên thị trường chủ yếu gồm: gỗ keo lai, gỗ xoan, gỗ bồ đề và một ít các loại khác như: gỗ trẩu, gỗ lát Kênh tiêu thụ được thể hiện qua sơ đồ 1 sau:
Sơ đồ 1 Kênh tiêu thụ lâm sản gỗ tại Cao Phong, Đà Bắc
Rừng Sơ chế
Nhà máy
Chế biến Sử dụng nội tỉnh
Sử dụng ngoài tỉnh dụng ngoại tỉnh
Trang 9Kênh tiêu thụ gỗ của hộ gia đình được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2 Các kênh tiêu thụ gỗ rừng trồng của hộ lâm nghiệp tại Cao Phong,
Đà Bắc
Như vậy, việc tiêu thụ gỗ của hộ gia đình được tiến hành thong qua 3 kênh sau:
- Kênh 1: hộ nông dân trồng rừng bán cho các xưởng mộc tại địa phương (bán lẻ) để sản xuất các đồ nội thất trong gia đình như: giường, tủ, cửa Các sản phẩm thường là gỗ xoan, gỗ mít
- Kênh 2: hộ nông dân trồng rừng bán gỗ cho thu gom (bán buôn) Thu gom sẽ vận chuyển và bán gỗ lại cho các lái buôn, nhà xưởng chế biến gỗ tại Hà Nội Các sản phẩm thường là gỗ keo, xoan, bồ đề
- Kênh 3: hộ dân trồng rừng theo hợp đồng của các nhà máy, công ty và có cam kết bán gỗ cho nhà máy, công ty (bán theo hợp đồng) Sản phẩm thường là keo lai
Ngoài 3 kênh tiêu thụ nói trên, một số hộ trồng rừng đã tự tổ chức thuê xe ô tô
để bán gỗ trực tiếp cho các cơ sở thu mua ở Chương Mỹ (Hà Nội) Kênh tiêu thụ này chưa phổ biến
3.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa các tác nhân trong kênh hàng
3.2.2.1 Người trồng rừng
- Theo “Đánh giá tác động của các chính sách XĐGN tại tỉnh Hòa Bình, Casrad – 2009”, tại 4 huyện Lương Sơn, Đà Bắc, Lạc Sơn và Kim Bôi (Hòa Bình), thì chỉ có 20% số hộ nghèo có đất rừng và khoảng 1% số hộ nghèo tham gia trồng rừng (chủ yếu
là keo) Điều này cho thấy đa số người trồng rừng không thuộc đối tượng nghèo a) Các yếu tố đầu vào chính cho hoạt động trồng rừng
1) Giống: Có 2 nguồn cung giống chính: i) Tự sản xuất hoặc mua (người dân tự ươm hoặc/và trồng và bán cho các hộ khác); ii) Được hỗ trợ từ các chương trình/dự án (327, 661, 135, giảm nghèo, khuyến nông-khuyến lâm, tái định canh định cư )
Hộ trồng rừng
Thu gom Xưởng mộc tại địa phương
Xưởng chế biến ngoại tỉnh
Bán lẻ Bán buôn
Nhà máy, công ty
Bán theo hợp đồng
Trang 10Những năm trước, Lâm trường Kim Bôi cung cấp giống cây lâm nghiệp cho nhiều huyện của Hòa Bình (hiện nay đã giải thể)
Hiện nay, những nguồn cung cây giống lâm nghiệp lớn cho Cao Phong và Đà Bắc như: Lâm trường Tu Lý (huyện Đà Bắc), Lâm trường Lạc Sơn (huyện Lạc Sơn), Lâm trường Lương Sơn (huyện Lương Sơn), Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn (huyện
Kỳ Sơn), Lâm trường Lạc Thuỷ (huyện Lạc Thủy), Lâm trường Tân Lạc (huyện Tân Lạc) Tuy nhiên, người trồng rừng không thích mua giống từ các cơ sở của Nhà nước
vì vấn đề chất lượng (tỷ lệ chết cao)
Bên cạnh đó, có khoảng 30 hộ (trước là công nhân của lâm trường) sản xuất và bán giống (chủ yếu là keo) khá tập trung dọc đường Hồ Chí Minh giữa Kim Bôi và Lương Sơn Một số người trồng rừng của Đà Bắc lại mua giống cây từ tỉnh Phú Thọ 2) Phân bón: Người trồng rừng không sử dụng phân hóa học cho cây lâm nghiệp,
mà chỉ có 1 số ít sử dụng phân chuồng Có 2 nguyên nhân: i) Chi phí mua phân bón cao; ii) Khó tiếp cận do thiếu dịch vụ (các xã vùng cao của Đà Bắc và Cao Phong) Chính vì vậy, phân hóa học do các chương trình/dự án trồng rừng hỗ trợ được người nghèo mang sử dụng cho cây trồng nông nghiệp
3) Kỹ thuật trồng và chăm sóc: Việc chuyển giao kỹ thuật đến các hộ trồng rừng được thực hiện thông qua các chương trình khuyến lâm, đặc biệt là các dự án 661 và hợp phần hỗ trợ sản suất của các dự án XĐGN Tuy nhiên, nhiều người chưa được tham gia hoặc/và chưa nắm bắt được Ví dụ: mật độ khuyến cáo trồng keo khuyến cáo 1.600 cây/ha, nhưng người dân thường trồng từ 1.700 - 2.500 cây/ha
4)Vốn:Vốn đầu tư trồng rừng khá lớn (cây giống, phân bón…), đặc biệt đối với các
hộ nghèo Yêu cầu vốn đối với keo từ 18 – 19 triệu/ha, đối với xoan từ 27 - 28 triệu đồng/ha Thời gian thu sản phẩm khá lâu, 6 - 8 năm đối keo và 8 - 10 năm đối với xoan Điều này lý giải việc người nghèo ít tham gia vào hoạt động trồng rừng
Thiếu vốn khiến cho việc mua giống cây, phân bón bị hạn chế, ảnh hưởng diện tích, năng suất và sản lượng rừng trồng Kênh tín dụng mà người nghèo có thể tiếp cận
là Ngân hàng Chính sách Xã hội có lượng vốn cho vay hạn chế từ 3 - 4 triệu/hộ, quá ít
để đầu tư trồng rừng Thời hạn vay lại ngắn (3 năm) so với chu kỳ khai thác lâu năm (6 – trên 10 năm) Chính vì vậy, đại đa số hộ nghèo thường ưu tiên nguồn tín dụng vay cho các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi mang lại nguồn thu trước mắt
Tại huyện Đà Bắc đã có một số doanh nghiệp tư nhân trồng rừng theo phương thức đầu tư (giống, phân bón), thuê nhân công và bao tiêu sản phẩm Đây là một kênh tín dụng quan trọng cho người nghèo để có thể tăng thu nhập từ trồng rừng Tuy nhiên,
đã xuất hiện việc thế chấp sổ đỏ của người nghèo để vay vốn Vì vậy, cần có sự giám
Trang 11sát chặt chẽ của chính quyền đối với hoạt động trồng rừng của các doanh nghiệp tư nhân
5) Lao động: Trồng rừng chủ yếu sử dụng lao động gia đình, rất ít hộ thuê lao động
từ bên ngoài Việc trồng mới đòi hỏi tốn nhiều công lao động Quá trình trồng, chăm sóc được các hộ tự tiến hành vào các thời điểm nhàn rỗi trong năm, điều này dẫn đến hiện tượng trồng không đúng thời vụ và thời điểm chăm sóc
b) Những cản trở đối với người trồng rừng
+Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chăm sóc: Các hộ nghèo thiếu vốn để mua giống và các loại phân bón làm ảnh hưởng đến việc trồng mới diện tích rừng, năng suất và chất lượng rừng đã được trồng
+ Lao động: Bình quân nhân khẩu 4,5 người/hộ nhưng tỷ lệ phụ thuộc 0,52 (người già > 60 tuổi và trẻ em < 15 tuổi) nên chỉ thích hợp cho việc trồng và chăm sóc rừng lúc nhàn rỗi Những hộ có đông nhân khẩu (nhiều nhất 11 người/hộ) sẽ có lao động để trồng rừng
+ Kỹ thuật: Theo điều tra năm 2009 (Casrad), không có hộ nghèo nào được tham gia vào các lớp tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây gỗ (chỉ tham gia vào mô hình tre, luồng)
+ Hệ thống giao thông: Điều kiện giao thông khó khăn cản trở lớn trong việc tiếp cận với cây giống, phân bón và bị ép giá bán gỗ
Tổ hợp những cản trở trên làm cho hộ nghèo tham gia rất ít vào các hoạt động
từ nghề rừng (trồng, chăm sóc, đi rừng, bảo vệ rừng…), đồ thị sau:
Đồ thị Các hoạt động sinh kế chính của hộ nghèo (% số hộ tham gia)
Nguồn: Casrad, 2009
Trang 12c) Hạch toán kinh tế đối với người trồng rừng
Keo là cây trồng chính, xoan là cây trồng ưa thích của người trồng rừng Vì vậy, các hoạch toán kinh tế sẽ được tính cho 2 loại cây này Mặc dù xoan cho chu kỳ khai thác lâu hơn (từ 8 – 10 năm), nhưng để tiện cho việc so sánh, hạch toán kinh tế cho xoan được tính cùng thời kỳ với keo
Bảng 3 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng keo (đồng/ha)
tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
3 Giống (1.600 cây/ha) Cây 1 600 5 000 8 000 000
6 Công bảo vệ (từ năm thứ 3 - 8) Năm 6 500 000 3 000 000
B Doanh thu (1200 cây/ha) Cây 1 200 100 000 120 000 000
Ghi chú :
i) Keo khai thác ở tuổi thứ 8, gỗ đạt tiêu chuẩn loại I (cây có vanh từ 70 - 80 cm, cao 4-6 m, bán theo cây 100 000 đồng/cây) Trong 2 năm đầu, có thể xen sắn với keo
và thu 5 triệu đồng/ha sau khi trừ tất cả chi phí được lãi thêm 2 triệu/ha/vụ/năm
ii) Mật độ khuyến cáo trồng keo là 1.600 cây/ha Tuy nhiên, nhiều hộ không có
kỹ thuật đã trồng 2.000 cây/ha; Nếu trồng đứng kỹ thuật có thể giảm chi phí mua cây giống khoảng 2 triệu đồng/ha;
iii) Phân bón: thường sử dụng phân chuồng và không dùng phân hóa học;
iv) Công làm cỏ: người trồng tự làm cỏ 10 công/ha/năm trong 2 năm đầu
v) Trước đây, trồng keo theo dự án 661 thì người trồng được cấp miễn phí giống cây và được hỗ trợ công chăm sóc Tuy nhiên, theo quy định thì chỉ được khai thác khi keo đạt từ 10 - 11 năm tuổi Keo già (rỗng ruột) nên giá thấp và không hiệu quả)
Bảng 4 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng xoan (đồng/ha)
Loại chi phí Đơn vị
tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
Trang 134 Phân bón Đồng 1 000 000
B Doanh thu (1.100 cây/ha) Cây 1 100 250 000 275 000 000
Bảng 5 Hoạch toán kinh tế đối với người trồng bồ đề (đồng/ha)
- Hộ trồng rừng thường khai thác trắng (1 lần) sau đó bán theo m3
Chi phí Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
Trang 14So sánh hiệu quả giữa các sản phẩm gỗ trồng: xoan, keo và bồ đề
- Về mặt hiệu quả kinh tế, nếu cùng chu kỳ khai thác như nhau, trồng xoan cho lợi nhuận 2,4 lần so với trồng keo, thấp nhất là bồ đề
- Xoan ít sâu bệnh hơn Keo nhưng kỹ thuật chăm sóc cao hơn trồng keo
- Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho xoan cao gấp 1,52 lần so với trồng keo và cao hơn nhiều lần so với bồ đề Chính vì vậy, chỉ những hộ có điều kiện về vốn và lao động mới tham gia trồng xoan theo kiểu vườn rừng
- Trồng bồ đề không phải mua giống từ chu kỳ 2 và không bón bất cứ loại phân nào
3.2.2.2 Chủ xưởng mộc tại địa phương
a) Mối quan hệ giữa Hộ trồng rừng với các Chủ xưởng mộc tại địa phương
- Quan hệ mua-bán giữa chủ yếu dựa trên sự quen biết nhau tại địa phương
- Khối lượng gỗ thu mua: nhỏ do chủ xưởng thiếu vốn và nhu cầu đồ gỗ nội thất tại địa phương thấp
- Địa điểm mua gỗ: Ngay tại xã có xưởng chế biến hoặc các xã lân cận để giảm chi phí vận chuyển Có thể mua tại nhà người bán hoặc thu mua tại xưởng
- Cách thức thu mua: Cây đứng, gỗ đã đốn hạ hoặc gỗ đã xẻ tùy theo nguồn cung của hộ dân Chủ xưởng có thể đến tận nhà người bán để xem và định giá gỗ
- Chủng loại gỗ thu mua: i) Hình thức chính là các loại cây gỗ lớn có màu (xoan, mít ) để chế tác giường, tủ, cửa ; ii) Gỗ nhỏ (keo loại I) để sản xuất bàn ghế… Bảng 6 Quan hệ giữa hộ có gỗ bán với các xưởng chế biến gỗ địa phương Hình thức
mua sản
phẩm
Mô tả mối quan hệ Định giá sản phẩm Giá mua
Cây đứng
Hộ dân liên hệ với chủ
xưởng đến xem cây Chủ
xưởng ước tính khối
lượng gỗ và trả giá Nếu
được giá, hộ sẽ bán và
chủ xưởng sẽ chặt mang
về xưởng
Giá gỗ do Chủ xưởng ước tính như sau:
Giá bán = Vanh gốc x vanh ngọn x dài cây x 0,8 x 0,5 x đơn giá/m3
(vanh là chu vi của cây)
- Không mua keo đứng
Gỗ đã hạ
hoặc đã xẻ
- Hộ dân có gỗ liên hệ
với Chủ xưởng để xem
và thỏa thuận giá
- Hoặc hộ dân mang gỗ
Định giá theo loại gỗ và mầu sắc:
- Xoan loại I: 7 triệu đồng/m3
Thể tích (m3) x đơn giá
Bình thường, gỗ mầu (xoan, mít) tại
Trang 15có giá 5 triệu đồng/m3 (chưa xẻ)
Nhận xét:
Trong 3 hình thức mua sản phẩm trên (cây đứng, gỗ hạ, gỗ xẻ), mua cây đứng chủ xưởng có lợi hơn, nhưng sẽ gặp nhiều rủi ro (có những cây sau khi mua và chặt xuống thì bị thối ở bên trong)
b) Hạch toán kinh tế đối với các xưởng chế biến gỗ địa phương
Lợi nhuận của các xưởng mộc phụ thuộc vào chủng loại sản phẩm, loại gỗ, quy mô sản xuất, máy móc thiết bị, tay nghề của nhân công…
Bảng 7 Hạch toán đối với các Xưởng mộc chế biến gỗ Keo tại địa phương
Bảng 8 Hạch toán đối với các Xưởng mộc chế biến gỗ Xoan tại địa phương
Trang 165) Công lắp giáp tại nhà khách hàng 1000 đ 100
Nhận xét:
- Nếu so sánh lợi nhuận về loại gỗ được chế biến tại các xưởng mộc thì chế biến
gỗ xoan cho lợi nhuận (1,333 triệu đồng/m3) cao hơn gỗ keo (1,152 triệu đồng/m3)
- Ngoài ra, các xưởng mộc địa phương còn có lợi nhuận từ dịch vụ xẻ gỗ thuê, đóng đồ thuê (Người dân có gỗ mang đến xưởng thuê xẻ lấy gỗ mang về hoặc làm đồ dùng phục vụ gia đình) Lãi xẻ gỗ là 2.000 đồng/m2, lãi đóng đồ 200.000 đồng/giường
- Công xuất xẻ gỗ của các xưởng chế biến hiện nay khá cao, thường đạt 5 m3
gỗ/ngày Tuy nhiên, do sức mua đồ nội thất tại địa phương thấp nên khối lượng gỗ tiêu thụ qua các xưởng chỉ đạt trung bình khoảng 70 - 100 m3/năm Nhu cầu nội thất chủ yếu là của người dân trong xã, một phần nhỏ tiêu thụ ra bên ngoài xã Việc mua sắm
đồ nội thất thường diễn ra vào các dịp ma chay, cưới xin, làm nhà hoặc các doanh trại quân đội đóng quân trên địa bàn huyện, xã
3.2.2.3 Các Nhà máy, Công ty chế biến
a) Mối quan hệ giữa hộ trồng rừng với các Nhà máy, Công ty chế biến
Ngoài việc tự đầu tư trồng rừng, trên địa bàn 2 huyện Cao Phong và Đà Bắc còn những hộ trồng rừng thuê theo các hợp đồng với các Công ty, Nhà máy Đây là hình thức khá phổ biến, đặc biệt đối với các hộ thiếu vốn trồng rừng
Hộ là người bỏ công lao động trồng và chăm sóc rừng và sau đó bán lại sản phẩm cho công ty Sau khi trừ các chi phí đầu tư mà công ty bỏ ra, phần còn lại là lợi nhuận
mà người trồng rừng thu được Sản phẩm gỗ qua kênh này thường là gỗ keo có chu kỳ sản xuất tương đối ngắn 7 - 8 năm
Hình thức bán sản phẩm của hộ dân cho các công ty thường theo diện tích hoặc theo số cây Sau khi tính mật độ trung bình/ha, giá bán được tính bằng như sau: Giá bán = Giá/cây x Mật độ cây/ha x Diện tích trồng Giá bán khoảng 50.000 đồng/cây ở
độ tuổi khai thác (7 - 8 năm)
Nếu so sánh hình thức này với hình thức tự trồng rừng thì lợi nhuận của người trồng rừng thấp hơn Hình thức này phù hợp với những hộ có đất rừng sản xuất nhưng thiếu vốn
b) Đặc điểm của tác nhân Công ty, Nông trường, Nhà máy
Trang 17- Là các doanh nghiệp (Nhà nước hoặc tư nhân), có vốn, nhưng không có đất (trừ nông trường) và lao động sản xuất
- Hình thức thu mua gỗ nguyên liệu thông qua các hợp đồng với người trồng rừng Đầu tư trồng rừng bằng cây giống, phân bón cho người dân và thu mua sản phẩm của hộ nông dân
- Việc khai thác gỗ do công ty thực hiện thông qua hợp đồng với các đội khai thác rừng Sau đó sản phẩm được chuyển đến các nhà máy chế biến (đối với gỗ keo thường được dùng để sản xuất giấy, một phần nhỏ được dùng đóng các thùng chứa hang/bao bì )
3.2.2.4 Hộ thu gom gỗ
a) Mối quan hệ giữa hộ trồng rừng với hộ thu gom sản phẩm
Đối với những người tự đầu tư trồng rừng, họ thường bán sản phẩm cho các Thu gom địa phương Sản phẩm thu mua chủ yếu của nhóm tác nhân này là gỗ keo và xoan Hình thức mua-bán sản phẩm của nhóm thu gom khác nhau
Ví dụ tại huyện Cao Phong: có nhiều thu gom lớn (ông Phúc, ông Định - thị trấn Cao Phong) hoặc thu gom nhỏ (ông Bùi Văn Điền - xóm tiện xã Thung Nai, Cao Phong) 1) Thu gom lớn chỉ mua sản phẩm keo (dạng cây đứng) và bán lại theo m3 cho các nhà máy chế biến giấy (nhà máy giấy Bãi Bằng )
2) Thu gom nhỏ mua các sản phẩm là keo, xoan (dưới dạng gỗ xẻ theo m3) và bán lại cho các xưởng chế biến đồ nội thất tại huyện Ba Vì – Hà Nội
- Hộ trồng rừng thường bán sản phẩm gỗ keo theo cây, không phân loại và tính trung bình khoảng 50.000 đồng/cây Các sản phẩm gỗ xoan và lát được bán theo m3
- Khi có sản phẩm, hộ có rừng sẽ báo cho thu gom đến xem và mua Để mua được sản phẩm, Thu gom phải xin giấy phép khai thác và vận chuyển gỗ của UBND
xã
b) Đặc điểm của tác nhân Thu gom sản phẩm gỗ
- Là những tư thương, mua sản phẩm của người trồng rừng và bán lại cho các
cơ sở chế biến để kiếm lời
- Hình thức mua-bán của Thu gom: i) Gỗ keo mua theo cây và bán theo m3; ii)
Gỗ xoan, lát, bồ đề mua theo m3 và bán lại m3
c) Hạch toán hiệu quả kinh tế của tác nhân thu gom
+ Trường hợp mua theo cây đứng và bán theo m3:
Trang 18Chi phí: Mua cây (50.000 đ/cây) + Chi phí khai thác (500 ngàn đồng/m3 gỗ đường kính lớn – vanh > 60 cm và 300.000 đồng/m3 gỗ nhỏ) + Chi phí vận chuyển từ nơi khai thác đến điểm tập kết hoặc nhà máy chế biến
Lợi nhuận: Là tiền lãi sau khi lấy doanh thu trừ đi toàn bộ chi phí Giá bán sản phẩm cho các nhà máy chế biến theo giá thị trường, phụ thuộc vào chất lượng gỗ (vanh) Gỗ nguyên liệu giấy (vanh < 40 cm) có giá bán khoảng 500.000 đồng/m3 Vanh càng lớn bán giá càng cao Vanh > 70 cm có thể làm cột trống, đồ nội thất + Trường hợp mua theo m3 và bán theo m3:
Chi phí: tiền mua sản phẩm gỗ (theo loại gỗ và vanh sản phẩm) + chi phí vận chuyển (từ nơi mua đến điểm tập kết + vận chuyển đến nơi bán sản phẩm)
- Giá thu mua của các tác nhân thu gom: Thực tế, việc bán sản phẩm keo dưới dạng m3 rất ít sảy ra do người trồng rừng không phân loại (keo chưa đủ độ tuổi khai thác hoặc không có lao động) Nếu sản phẩm được phân loại, bảng 8 dưới đây có tính chất tham khảo do các tác nhân thu gom đưa ra
Bảng 9 Giá thu mua gỗ nguyên liệu của các tác nhân Loại sản
phẩm Chất lượng sản phẩm Giá mua (đồng/m3) Ghi chú
Gỗ keo
Gỗ loại I (vanh > 70 cm) 1.200.000
Nếu địa điểm mua khó vận chuyển, giá thu mua chỉ được tính bằng 2/3 giá tại những nơi
Gỗ loại III (vanh < 50 cm) 800.000
Chú thích: Bảng giá này chỉ có tính chất tham khảo vì đây là giá mang tính chất lý thuyết mà các tác nhân thu gom đưa ra
Lợi nhuận thu được: Là tiền lãi sau khi trừ đi mọi chi phí, dao động từ 150.000 – 200.000 đồng/m3
- Khối lượng thu mua gỗ của các Thu gom: i) Thu gom nhỏ (ông Điền) khoảng
700 m3 gỗ/năm; ii) Thu gom lớn (ông Phúc, Định) khoảng 6.000 m3 gỗ/năm/thu gom
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: gỗ được thu mua sau đó chuyển đến các nhà máy chế biến hoặc bán lại cho các xưởng chế biến gỗ ngoài tỉnh
+ Đối với gỗ keo: Thị trường tiêu thụ sẽ phụ thuộc vào chất lượng gỗ Keo loại I thường được tiêu thụ tại Hải Dương, Nam Định, Hà Nội để làm đồ nội thất Loại II