1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vận dụng Nghiên cứu bài học trong quá trình dạy học Lịch sử lớp 10 tại trường trung học phổ thông Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình

47 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy học môn Lịch sử khóa 10 đã cung cấp cho tôi nhiều hiểu biết cơ sở, hướng dẫn các phương pháp nghiên cứu khoa học thiế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THU HƯƠNG

“VẬN DỤNG “NGHIÊN CỨU BÀI HỌC”

TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỒNG ĐỨC

KIẾN XƯƠNG – THÁI BÌNH”

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THU HƯƠNG

“VẬN DỤNG “NGHIÊN CỨU BÀI HỌC”

TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỒNG ĐỨC

KIẾN XƯƠNG – THÁI BÌNH”

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giảng dạy lớp Lí luận và phương pháp dạy học môn Lịch sử khóa 10 đã cung cấp cho tôi nhiều hiểu biết cơ sở, hướng dẫn các phương pháp nghiên cứu khoa học thiết thực và bổ ích, giúp tôi thực hiện tốt quá trình nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo –

TS Hoàng Thanh Tú đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khích lệ và cho tôi những lời khuyên sâu sắc, không những giúp tôi hoàn thành luận văn

mà còn truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu về nghề nghiệp

và phương pháp làm việc khoa học

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Hà Nội đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Mặc dù rất nỗ lực cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên bài luận văn này khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định.Vì vây, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy, cô giáo để tài liệu này được hoàn thiện hơn nữa

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2016

Người thực hiện

Trần Thị Thu Hương

Trang 4

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

GDĐT Giáo dục – Đào tạo

GV Giáo viên

HS Học sinh KTĐG Kiểm tra đánh giá NCBH Nghiên cứu bài học PPDH Phương pháp dạy học SGK Sách giáo khoa

SHCM Sinh hoạt chuyên môn THPT Trung học phổ thông

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa SHCM truyền thống với SHCM theo

NCBH 29

Bảng 2.1 Thái độ của học sinh đối với môn Lịch sử 50

Bảng 2.2: Mức độ thường xuyên sử dụng PP/KTDH 52

Bảng 2.3: Mức độ sinh hoạt chyên môn của tổ chuyên môn 54

Bảng 2.4: Quan niệm của giáo viên về NCBH 60

Bảng 2.5: Lợi ích của việc vận dụng NCBH vào quá trình dạy học 61

Bảng 2.6: Những khó khăn khi SHCM theo NCBH 64

Bảng 2.7: So sánh mục tiêu mong muốn và hiệu quả: 86

Bảng 2.8: Sự thay đổi trong việc học của học sinh như sau: 88

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Quan sát -phân tích bài học trong “Nghiên cứu bài học” 16

Sơ đồ 1.2: Tầng sâu của việc phân tích bài học 18

Sơ đồ 1.3: Kiến thức bổ sung cho GV thông qua NCBH 23

Biểu đồ 2.1: Các công việc giáo viên thực hiện trước khi bắt đầu 51

bài học/môn học 45

Biểu đồ 2.2: Các công việc giáo viên thực hiện trước khi tiến hành môn học/bài học 46

Biểu đồ 2.3: Quan điểm của giáo nghiệp, nhà quản lý viên khi đồng vào dự giờ 55

Biểu đồ 2.4: Mức độ giáo viên tiến hành dự giờ đồng nghiệp 56

Biểu đồ 2.5: Các công việc giáo viên thực hiện sau khi kết thúc bài học 58

Biểu đồ 2.6: Các công việc giáo viên thực hiện sau khi kết thúc bài học 58

Biểu đồ 2.7: Mức độ cần thiết vận dụng “ Nghiên cứu bài học” trong dạy học 58

Sơ đồ vị trí quan sát của giáo viên khi dự giờ 73

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG .iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Giả thuyết khoa học 8

7 Đóng góp của đề tài 8

8 Ý nghĩa của đề tài 9

9 Cấu trúc luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUÂN CỦA VIỆC VẬN DỤNG “ NGHIÊN CỨU BÀI HỌC” TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10

1.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 10

1.2 Mô hình NCBH 12

1.2.1 Khái niệm NCBH 12

1.2.2 Mục tiêu và phương pháp NCBH 14

1.2.3 Triết lý của “ Nghiên cứu bài học” 19

1.2.4 Các nguyên tắc, thuộc tính và lợi ích cơ bản của “ Nghiên cứu bài học” 21

1.2.5 Mô hình “ Nghiên cứu bài học” 26

1.3 Quy trình vận dụng “ Nghiên cứu bài học” vào quá trình dạy học 27

1.3.1 Quy trình NCBH nói chung 27

1.3.2 Phân biệt “nghiên cứu bài học” với sinh hoạt chuyên môn (truyền thống) 29

Trang 8

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 35

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG “ NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT HỒNG ĐỨC KIẾN XƯƠNG – THÁI BÌNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37

2.1 Thực trạng của việc dạy học lịch sử và quá trình vận dụng NCBH trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Hồng Đức - Kiến Xương – Thái Bình 37

2.1.1 Thực trạng của việc dạy học lịch sử hiện nay 37

2.1.2 Thực trạng của việc vận dụng NCBH trong dạy học hiện nay 43

2.1.3 Thực trạng của việc vận dụng “ Nghiên cứu bài học” tại trường THPT Hồng Đức 47

2.2 Quy trình tiến hành vận dụng “ Nghiên cứu bài học” trong quá trình dạy học lịch sử lớp 10 tại trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình 65

2.2.1 Tập huấn tổ chuyên môn về “ Nghiên cứu bài học” 66

2.2.2 Xác định mục tiêu bài học nghiên cứu 67

2.2.3 Xây dựng giáo án để triển khai 67

2.2.4 Xây dựng các phiếu đánh giá, ghi chép 70

2.2.5 Dự giờ và suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu 72

Sơ đồ vị trí quan sát của giáo viên khi dự giờ 73

2.3 Thực nghiệm sư phạm 76

2.3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 76

2.3.2 Nội dung 76

2.3.3 Kết quả thực nghiệm 78

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 90

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi bàn về vai trò của giáo dục lịch sử nhà văn Nga Trécnexếpxki đã

viết: “Có thể không biết không cảm thấy say mê học tập môn toán, tiếng Hy

Lạp và La Tinh, hóa học Có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích môn lịch sử thì chỉ

có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”

Ngày nay trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như vũ bão, xu thế quốc tế hóa đang là xu thế chủ đạo trên thế giới, việc giáo dục lịch sử càng được quan tâm đẩy mạnh hơn nữa nhằm giữ vững bản sắc dân tộc, không hòa tan vào thế giới Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng,

nó cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về lịch sử phát triển của loài người và lịch sử dân tộc Trên cơ sở đó góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết quốc tế Đồng thời còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống Dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung, lịch sử lớp 10 nói riêng, học sinh phải nắm vững các sự kiện, các mốc thời gian, phải biết so sánh các sự kiện lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam…từ đó có cái nhìn khái quát tiến trình lịch sử

Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, việc phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập

bộ môn đang là mối quan tâm hàng đầu Riêng với bộ môn lịch sử, người giáo viên cũng không ngừng tìm kiếm, vận dụng những phương pháp dạy học để phát huy vai trò chủ thể của học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục

“Nghiên cứu bài học” (NCBH) là thuật ngữ có nguồn gốc trong lịch sử

giáo dục Nhật Bản, như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh Cho đến nay, NCBH được

Trang 10

xem như một mô hình, một cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được

áp dụng nhiều nước trên thế giới

Ở nước ta hiện nay, sinh hoạt chuyên môn tại trường là một hoạt động bồi dưỡng giáo viên tại chỗ, từ thực tế nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên Sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH đang được coi là công

cụ để chuẩn đoán, phát hiện rõ ràng, cụ thể từng vấn đề trong việc học tập của học sinh, từ đó giúp giáo viên thiết kế, tiến hành bài học thu hút học sinh Đó

là một tiếp cận, một mô hình nghiên cứu mới nhằm đảm bảo cơ hội học tập thực sự có chất lượng cho học sinh trong việc học tập môn Lịch sử ở trường THPT nói chung và Lịch sử lớp 10 nói riêng

Nhận định đây là một hình thức đem lại hiệu quả giảng dạy ưu việt hơn

phương pháp truyền thống, chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng “Nghiên cứu bài

học” trong quá trình dạy học Lịch sử lớp 10 tại trường trung học phổ thông

Hồng Đức - Kiến Xương - Thái Bình” làm hướng nghiên cứu luận văn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

NCBH cho đến nay vẫn phổ biến ở nhiều trường ở Nhật và được xem

là hình thức chủ yếu để phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên tại trường NCBH cũng đã được giới thiệu ở nhiều nước như Mĩ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapo Thái Lan, Inđônêsia…và là một chủ

đề giáo dục được quan tâm trên thế giới

Từ thế kỷ thứ XIX, nghiên cứu bài học được phát triển lại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp giảng dạy nâng cao Theo truyền thống,

có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kỹ năng sư phạm bởi xem xét lại phương pháp dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên (Inagaki 1995, Inagaki và Sato

1996, Nakano 2008) Cuối những năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát

Trang 11

triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút những học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật (Ose và Sato 2000, 2003, Sato 1996, 2006, 2007; Sato và Sato 2003) Với hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những ngườii lao động tốt hơn những nhân

tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế; suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành Nhiều vấn nạn xảy ra: diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều (Sato, 2000) Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đánh mất

đi niềm yêu thích trong học tập (2000) Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho các nhóm học Trong nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh Theo Sato (2009), ước tính có 2000 trường tiểu học và gần 1000 trường cấp hai đang làm việc với phương pháp đó Ở Hoa Kỳ, xem xét những điểm

số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu Toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa

Kì Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi được chú ý trong cách học cho những đứa trẻ Thêm vào đó, họ cũng tìm ra được rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng hơn Trong những hoàn cảnh đó, kết hợp với sự kêu gọi phát triển chuyên môn, thứ mà lấy nền tảng từ trường học nhiều hơn trong thực tại hàng ngày, những học giả đã giới thiệu nghiên cứu bài học như một phương pháp phát triển chuyên môn tại Nhật đã phản đối những hoạt động phát triển chuyên môn ngắn hạn thông thường và khẳng định tầm quan trọng của một phương pháp được duy trì và luyện tập

Trang 12

(Lewis and Tsuchida 1998, Stigler and Hiebert 1999) Nghiên cứu bài học được miêu tả như một quá trình bao gồm những bước sau: cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học, thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học, xem xét lại kế hoạch đã đề ra (không bắt buộc), giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc), và chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập (Fernandez and Yoshida, 2004) Sự phát triển chuyên môn của giáo viên

là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ (Fernandez và Yoshida, 2004; Lewis và cộng sự, 2004; Stigler và Hiebert, 1999), Vương quốc Anh (Dudley, 2007; Ruthven, 2005), và Úc (White và Southwell, 2003) NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình bao gồm các bước sau:

(1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học

(2) Quan sát việc thực hiện bài học

(3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn) (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn)

(6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học (Fernandez và Yoshida, 2004) Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em, và văn hóa trường học Ví dụ: giáo viên có thể nâng cao kiến thức và cách dạy học của một vấn đề (Lewis et al, 2004; Stigler và Hiebert,1999; White và Southwell, 2003), trẻ em có thể nâng cao kết quả học tập của mình (Dudley, 2007; White và Southwell, 2003) và

hỗ trợ tổ chức và đoàn thể được phát triển vững mạnh (Fernandez và Yoshida, 2004; White và Southwell, 2003) Nghiên cứu bài học đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei (Wood và Mohd Tuah, 2008), In-đô-nê-xi-a

Trang 13

(Saito et al 2006a, b, 2007), Malaysia (Lim et al, 2005.), Thái Lan (Inprasitha, 2008), và Việt Nam (Saito et al, 2010; Saito và Tsukui, 2008; Wheeler et al

2007, 2011) Sự cần thiết của đổi mới nhà trường dưới góc nhìn của giáo viên Okinawan (Kotoe, Kishimoto, 2014); Thúc đẩy học tập cộng tác ở Việt Nam (Masaaki Sato, 2014)

Từ đầu năm 2000, hình thức NCBH đã được vận dụng ở Việt Nam nhưng còn ít và rải rác Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và JICA cùng nhau quyết định giới thiệu các hoạt động đổi mới trường học từ tháng 6 năm 2006 bao gồm một trường thí điểm trong mỗi huyện: Thành phố Bắc Giang, Việt Yên, Yên Dũng (nay thuộc Bắc Giang), Lục Nam, Hiệp Hòa, Yên Dũng, Lục Nam, Bắc Giang Sở GD & ĐT giới thiệu các trường có thể tiến hành thí điểm, các thành viên trong nhóm tư vấn JICA đã đến thăm các trường này, và cả hai cùng nhau thảo luận để quyết định chọn các trường thí điểm Kết quả lựa chọn

đã được báo cáo với Bộ GD&ĐT Các tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ sẵn sàng của các trường để thực hiện đổi mới và dễ dàng truy cập từ các trường Tất cả các trường thí điểm đều là các trường hàng đầu của huyện và là nơi thường xuyên diễn ra các đợt tập huấn giáo viên của huyện [20, tr 5] Qua thông tin cơ bản về các trường được lựa chọn, cho ta thấy lúc đầu hầu hết giáo viên ở các trường được lựa chọn thí điểm đều từ chối một cách quyết liệt hoặc tham gia thì cũng tham gia một cách miễn cưỡng Đối với các nhà quản

lí ở các trường nêu trên thì có 3/8 trường là không tham gia Tuy nhiên, sau khi kết thúc dự án thì giáo viên ở các trường nói trên kể cả GV ở những trường khi dự án được triển mà họ từ chối không tham gia thì nay họ đã chủ động và tham gia một cách tích cực mặc dù cán bộ quản lí (CBQL) không mấy quan tâm Điều đó nói lên ý nghĩa và tầm quan trọng của NCBH ở tổ chuyên môn là một sự lựa chọn đúng đắn, là sơ sở cho việc đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá Tháng 3 năm 2013, Vụ Giáo dục Trung học – Bộ GD&ĐT

đã mời các chuyên gia của tổ chức JICA Nhật Bản, các giảng viên của một số trường đại học, các chuyên viên của Vụ tham dự Hội nghị về đổi mới SHCM

Trang 14

theo NCBH Các trường tham gia SHCM theo NCBH bao gồm:

- Ở bậc tiểu học: tiểu học Đồi Ngô, Lục Nam, Bắc Giang

- Ở bậc THCS: THCS ở tỉnh Bắc Giang, THCS Trưng Vương-Hà Nội, THCS Quốc Oai-Hà Nội

- Bậc THCS chỉ có 1 trường thí điểm Tháng 8 năm 2012, BGD&ĐT tiến hành tập huấn cho CBQL về “Quản lí hoạt động đổi mới Phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong trường THCS”, trong đó có đề cập đến vấn đề đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn thông qua NCBH

Tháng 8 năm 2013, BGD&ĐT tiến hành tập huấn cho các CBQL và các

tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn của các Sở GD&ĐT về Hướng dẫn SHCM theo NCBH Việc triển khai NCBH đã được Bộ GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo trong nhiệm vụ năm học 2013-2014

Nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như:

- Đặng Thị Hồng Doan (2011), Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo

viên tiểu học qua “Nghiên cứu bài học”, Tạp chí Giáo dục Số 268 tr 32 – 33

- Nguyễn Mậu Đức – Hoàng Thị Chiên ( 2014), Đổi mới sinh hoạt

chuyên môn của giáo viên thông qua mô hình Nghiên cứu bài học ở Việt Nam,

Tạp chí Giáo dục Số 335 tr 36 – 39

- Vũ Thị Sơn (2011), Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng xây

dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua “nghiên cứu bài học”, Tạp chí

Trang 15

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Cách thức tổ chức NCBH trong dạy học lịch sử lớp 10 tại trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung, đề tài tập trung vào việc tổ chức thực nghiệm NCBH trong dạy học lịch sử lịch sử lớp 10 ở trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình

- Về hình thức tổ chức dạy học: tập trung vào bài học nội khóa

- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm: tiến hành ở lớp 10 tại trường THPT Hồng Đức (Thái Bình)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Thực nghiệm triển khai vận dụng NCBH ở nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử lớp 10 ở trường THPT

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tổ chức

NCBH trong dạy học lịch sử ở trường THPT

+ Quy trình tổ chức NCBH trong dạy học lịch sử ở trường THPT + Tiến hành thực nghiệm NCBH trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận: dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa

Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tôi đã dựa vào các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu sau:

Trang 16

- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo, tạp chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử; phân tích nội dung chương trình, SGK lớp 10

- Nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát hoạt động của GV

và HS qua một số giờ học nhằm tìm hiểu thêm về các phương pháp dạy học

mà GV thường sử dụng, hiệu quả của tiết dạy thông qua cách thức tác động của GV đến HS Kết hợp với quan sát, có ghi chép diễn biến trong giờ học để làm căn cứ đưa ra kết luận

+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn giáo viên, học sinh

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm vận dụng phương pháp của các giáo viên

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Được tiến hành nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của quy trình tổ chức NCBH trong dạy học Lịch

sử tại trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình

+ Phương pháp thống kê và xử lí số liệu: Sử dụng phương pháp thống

kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực trạng, kết quả thực nghiệm ở lớp thực nghiệm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu việc dạy học lịch sử ở trường được các giáo viên thực hiện theo quy trình NCBH thì hiệu quả của việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh sẽ được nâng cao, đồng thời hình thành mô hình bồi dưỡng giáo viên mới

7 Đóng góp của đề tài

Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc vận dụng NCBH trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Trang 17

- Tiến hành thực nghiệm vận dụng NCBH trong dạy học Lịch sử lớp

- Tổ chức thực nghiệm NCBH trong việc dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đối với giáo viên: có thể vận dụng NCBH trong việc dạy học nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh

- Đối với bộ môn Lịch sử: là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục; giáo viên ở trường phổ thông

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận của việc vận dụng NCBH trong dạy học lịch

sử ở trường THPT

Chương 2 Vận dụng NCBH trong quá trình dạy học lịch sử lớp 10 tại

trường THPT Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUÂN CỦA VIỆC VẬN DỤNG “ NGHIÊN CỨU BÀI HỌC”

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Ngày nay, nhân loại đang bước vào “nền văn minh của làn sóng thứ ba” với những “cơ may và hi vọng” song cũng “đầy những thử thách và lo âu” Sức mạnh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn lực con người tiên tiến nhất Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đặt ra nhiệm vụ: “đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” Như vậy, có thể nói, đổi mới phương pháp dạy học được xác định là khâu tiên phong trong quá trình đổi mới giáo dục.Trong những năm qua, trong sự phát triển chung của giáo dục phổ thông, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), kiểm tra đánh giá (KTĐG) đã được quan tâm tổ chức và thu được những kết quả bước đầu, thể hiện ở các mặt sau:

- Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/BGD - ĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT

đã nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện đổi mới PPDH, KTĐG Bộ GDĐT đã chỉ đạo các Sở GDĐT và các trường THPT thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên, hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh; ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng thiết bị dạy học để giảng dạy

- Ở các địa phương, cơ sở giáo dục: các cơ sở GDĐT đều chú trọng chỉ đạo các trường THPT tăng cường đổi mới PPDH, KTĐG Ở nhiều trường,

Trang 19

Hiệu trưởng đã tích cực tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ công tác đổi mới PPDH, KTĐG và các hoạt động liên quan như xây dựng đội ngũ giáo viên; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin; động viên khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đổi mới PPDH, KTĐG.Giáo viên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện đổi mới PPDH, KTĐG; được bồi dưỡng, tập huấn về PPDH, kĩ thuật dạy học tích cực; các hội thảo, các khóa bồi dưỡng, tập huấn; đổi mới sinh hoạt tổ/ nhóm chuyên môn, cụm chuyên môn, cụm trường và địa phương

Trong những năm qua, Bộ GDĐT đã triển khai nhiều cuộc tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên các cấp về PPDH tích cực, về quản lý hoạt động đổi mới PPDH, KTĐG ở trường phổ thông.Với những tác động tích cực từ các cấp quản lý giáo dục, nhận thức và chất lượng hoạt động đổi mới PPDH của đội ngũ giáo viên trong trường THPT đã có những chuyển biến tích cực, góp phần làm cho chất lượng giáo dục và dạy học từng bước được cải thiện

Nhiều mô hình dạy học mới đã được triển khai áp dụng như: Mô hình trường học thân thiện do UNICEF phối hợp với Bộ GDĐT triển khai thí điểm

ở 50 trường THCS trong toàn quốc theo hướng đổi mới PPDH, xây dựng mối quan hệ thân thiện trong nhà trường giúp tối ưu hóa việc học tập của học sinh;

Mô hình VNEN triển khai thí điểm tại 1447 trường tiểu học; cuộc thi: Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới PPDH ở trường THPT vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục Cụ thể là:

- PPDH truyền thống thụ động như thuyết trình, truyền thụ tri thức một chiều vẫn là PPDH chủ đạo của giáo viên

- Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH cũng như sử dụng các PPDH tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại chưa được thực hiện rộng rãi trong các

Trang 20

trường THPT; việc áp dụng nhiều nơi, nhiều lúc còn chưa hợp lý; nhiều giáo viên còn lạm dụng gây nên hiệu ứng không mong muốn đối với học sinh, dẫn tới hiệu quả dạy học không cao

- Một bộ phận giáo viên còn lúng túng, chưa tìm ra một quy trình dạy học dựa vào tìm tòi hợp lí để phát huy được tính chủ động của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học

Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là học sinh phổ thông còn thụ động trong việc học tập, khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống Điều đó cũng có nghĩa là giáo

dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là: “Giúp học sinh phát triển toàn

diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực

cá nhân, tính năng động và sáng tạo…” (Luật Giáo dục, Điều 27)

Những vấn đề thực tiễn nói trên đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới PPDH

để đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông

1.2 Mô hình NCBH

1.2.1 Khái niệm NCBH

Thuật ngữ NCBH (tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research)

dùng để chỉ một quá trình nghiên cứu, học hỏi từ thực tế của một nhóm hay nhiều giáo viên của một nhà trường nhằm đáp ứng tốt nhất việc học tập có chất lượng của học sinh NCBH có trọng tâm là nghiên cứu việc học của học sinh thông qua từng chủ đề, bài học, môn học, lớp học cụ thể Thuật ngữ

nghiên cứu việc học (tiếng Anh là Learning study) để chỉ những hoạt động

trọng tâm, cụ thể của của giáo viên trong quá trình nghiên cứu bài học gồm: thiết kế và tiến hành bài học-quan sát- suy ngẫm và chia sẻ về thực tế việc học của học sinh trong bài học đó để tìm hiểu học sinh học như thế nào? giáo viên cần phải làm gì để học sinh học tập thực sự và có hiệu quả?

Theo E Saito (2009), NCBH xuất phát từ Nhật Bản, là một cách tiếp cận việc học tập chuyên môn nhấn mạnh đến việc giáo viên cùng nhau thiết kế kế

Trang 21

hoạch bài học, dự giờ, suy ngẫm, phân tích, chia sẻ thực tế việc học của HS [20]

Theo Fernandez and Yoshida (2004), NCBH được mô tả là một quá trình bao gồm các bước sau:

(1) Cùng nhau lập kế hoạch

(2) Quan sát việc tiến hành bài học

(3) Thảo luận về bài học (4) Sửa lại kế hoạch bài học (không bắt buộc) (5) Tiến hành bài dạy sau khi đã sửa (không bắt buộc) (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về bài dạy sau khi đã sửa [17]

Theo Vũ Thị Sơn & Nguyễn Duân (2009), NCBH là một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể [17]

Hiện nay, NCBH “cộng đồng học tập” đang được coi là có ưu thế, phù hợp và hiệu quả hơn ở các nhà trường phổ thông Bởi vì, việc phát triển chuyên môn của giáo viên có hiệu quả bền vững và lý tưởng nhất là được đặt trong một cộng đồng ủng hộ việc học tập (Webster-Wright, 2009)

Darling-Hammond (1998) cũng chỉ ra rằng cần phải làm cho việc phát triển chuyên môn của giáo viên gắn với việc học tập của học sinh và đổi mới chương trình, nó phải được gắn chặt vào cuộc sống hàng ngày của trường học [19] Như vậy, NCBH cộng đồng học tập hướng đến cả việc học của giáo viên

và học sinh, thông qua nghiên cứu việc học của học sinh, giáo viên cùng học hỏi và phát triển chuyên môn của mình

Như vậy, NCBH là quá trình giáo viên cùng nhau nghiên cứu, học hỏi từ thực tế Hoạt động này có kế hoạch, thực hiện thường xuyên, thông qua những bài học, môn học tại trường, lớp mình nhằm nâng cao năng lực chuyên

Trang 22

môn-nghiệp vụ gắn với đảm bảo cơ hội học tập và nâng cao chất lượng, hiệu

quả việc học của từng HS

1.2.2 Mục tiêu và phương pháp NCBH

1.2.2.1 Mục tiêu của NCBH

Fernandez và Yoshida (2004) chỉ ra rằng: mục tiêu của NCBH là cải tiến, đổi mới thực tiễn dạy học của giáo viên trong từng bài học cụ thể của chương trình [17] NCBH thu hút các GV vào cải tiến chất lượng dạy của họ và làm phong phú kinh nghiệm của họ về việc học của học sinh Vì thế, NCBH gắn với thực tiễn dạy học trên lớp và kết quả mang lại là chất lượng học tập của học sinh tốt hơn

Stigler và Hiebert (1999) nhấn mạnh sự thành công của NCBH được đo

bằng việc học của giáo viên , gắn với việc đổi mới phương pháp dạy ở từng bài

học (dạy học vi mô) [19]

Lewis, Perry và Hurd (2004) cho rằng: “ NCBH không phải chỉ là việc cải tiến một bài học Nó là việc xây dựng những con đường để cải tiến không ngừng việc dạy học” [20] NCBH không đơn thuần chỉ là việc thực hiện một bài học cho thật tốt mà NCBH đòi hỏi một tư tưởng khoa học để làm chỗ dựa cho những cải tiến đó NCBH kết gắn thực tiễn với lí thuyết trong mỗi giáo viên

Theo AFT (American Federation of Teachers - Hội giáo chức Hoa Kỳ),

trọng tâm chính của NCBH là hiểu cách học sinh học và cách học sinh tư duy, suy nghĩ Điều đó cho thấy sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên thông qua “ nghiên cứu bài học” thực chất là cải tiến việc dạy (dựa trên cơ sở hiểu biết về

việc học của học sinh) để làm cho cách học sinh học và cách học sinh tư duy trở nên đúng và hiệu quả hơn [19] NCBH có mục tiêu hướng vào cải tiến thực

tiễn dạy học (về phương pháp và kĩ thuật dạy học bài học), nhờ đó, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và nghiên cứu cải tạo thực tiễn của giáo viên được phát triển NCBH sẽ tác động đến cả 3 thành phần: năng lực nghề nghiệp của giáo viên, thực tiễn dạy học và kết quả, hiệu quả học tập của học sinh Tuy

Trang 23

nhiên, NCBH không phải là các lớp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; không phải

là để đưa ra những giáo án mẫu, tuyệt vời, không phải chỉ là việc thực hiện xong một bài học mà cải tiến, phát triển liên tục năng lực thực hiện bài học của giáo viên [17]

Theo M Sato (2008), trường học chỉ có thể thay đổi được từ chính bên trong nhờ NCBH “cộng đồng học tập” [19] NCBH “cộng đồng học tập” có thể trở thành trụ cột để đổi mới nhà trường vì thông qua cùng nhau dự giờ và suy ngẫm về bài học sẽ đưa đến cải cách trong toàn trường Bởi vì việc phát huy mối quan hệ học tập giữa các giáo viên với nhau hướng tới sự giúp đỡ và

hỗ trợ lẫn nhau và kết quả mang lại sẽ nâng cao tình đồng nghiệp giữa họ Giáo viên có thể phát triển năng lực chuyên môn thông qua việc trải nghiệm quan sát, suy ngẫm về việc học của học sinh cùng với việc lắng nghe những ý kiến chia sẻ của người khác Bằng việc tích luỹ kinh nghiệm nghiên cứu các bài giảng, mỗi giáo viên có thể diễn tả những nội dung cụ thể với những học sinh cụ thể Nhờ vậy, giáo viên có thể phân tích những nội dung đó và trao đổi thảo luận về các giải pháp cho những vấn đề và khó khăn này

Theo Hiệp hội nghiên cứu bài học thế giới WALS (2012): NCBH có mục đích nữa là giúp giáo viên vượt ngoài tư tưởng “chỉ tiến hành”, thay vào

đó là cải biến bằng chẩn đoán và thiết kế lại các bài học Hai hoạt động này được giáo viên cùng nhau trải nghiệm trong nghiên cứu bài học Chẩn đoán là xác định vấn đề thực tế và nguyên nhân; thiết kế là hình thành cái mới, có mục đích từ những vấn đề thực tế mới nhận ra Thiết kế là hạt nhân hoạt động sống của nhà trường và chẩn đoán là năng lượng cho thiết kế Chẩn đoán và thiết kế bài học là một trong các trọng tâm của nghiên cứu bài học Chẩn đoán

là xác định vấn đề thực tế và lý giải nguyên nhân, thiết kế là hình thành bài học mới [26]

1.2.2.2 Phương pháp NCBH

* Phương pháp chung

Ngày đăng: 09/05/2017, 20:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa SHCM truyền thống với SHCM theo NCBH - Vận dụng  Nghiên cứu bài học trong quá trình dạy học Lịch sử lớp 10 tại trường trung học phổ thông Hồng Đức – Kiến Xương – Thái Bình
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa SHCM truyền thống với SHCM theo NCBH (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w