Quan hệ giữa phổ phản xạ rời mặt nước với hàm lượng TSS theo hàm mũ tại bước sóng 650 nm trong dải phổ đỏ vùng ven biển châu thổ sông Hồng [17] ..... Xu hướng biến động hàm lượng TSS the
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Phạm Thị Nhung
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỊA KHÔNG GIAN CHO GIÁM SÁT TỔNG CHẤT RẮN LƠ LỬNG TRONG NƯỚC CỬA SÔNG,
LẤY VÍ DỤ CỬA ĐÁY - NINH BÌNH
Chuyên ngành: Địa chất Môi trường
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, học viên xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thu Hà, người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn học viên trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học
Đồng thời, học viên cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã luôn nhiệt tình giảng dạy cho học viên trong suốt chương trình đạo tạo thạc sĩ Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh/chị/em và bạn bè đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu Địa chất môi trường đã tạo điều kiện giúp đỡ cho học viên hoàn thành luận văn
Cuối cùng, học viên xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn quan tâm, chia
sẻ mọi khó khăn và ủng hộ học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà ội, ngà 26 tháng 01 năm 2017
Học viên
Phạm Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU 3
1.1 Vị trí địa lý vùng nghiên cứu 3
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 3
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 3
1.2.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo 3
1.2.1.2 Đặc điểm địa chất 4
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu 6
1.2.1.4 Đặc điểm thủ văn, hải văn 9
1.2.2 Tai biến thiên nhiên 12
1.2.3 Hiện trạng bồi tụ - xói lở 14
1.2.3.1 Giai đoạn trước năm 1989 14
1.2.3.2 Giai đoạn 1989 - 1995 15
1.2.3.3 Giai đoạn 1995 đến nay 15
1.2.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15
1.2.4.1 Dân cư 15
1.2.4.2 Nông nghiệp 16
1.2.4.3 Diêm nghiệp 17
1.2.4.4 Khai thác và nuôi trồng thủy sản 17
1.2.4.5 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 19
1.2.4.6 Du lịch và dịch vụ 20
1.2.5 Cảng trên sông Đáy và kế hoạch nạo vét luồng 21
1.3 Lịch sử nghiên cứu 22
1.3.1 Công nghệ địa không gian trong nghiên cứu môi trường 22
1.3.2 Ứng dụng công nghệ địa không gian trong nghiên cứu TSS 23
1.3.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về khu vực cửa Đáy 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu 31
2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 31
2.3 Phương pháp xác định hàm lượng TSS 33
Trang 52.4 Phương pháp viễn thám - bản đồ 33
2.4.1 Dữ liệu ảnh vệ tinh sử dụng 33
2.4.2 Các phần mềm sử dụng 34
2.4.3 Phương pháp xử lý ảnh 34
2.5 Phương pháp lập bản đồ sử dụng mô hình địa thống kê trong ArcGis 35
2.6 Phương pháp thống kê, đánh giá độ chính xác 37
CHƯƠNG 3 DIỄN BIẾN PHÂN BỐ HÀM LƯỢNG TSS VÙNG CỬA ĐÁY THEO KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN 38
3.1 Phương trình tính toán hàm lượng TSS vùng cửa Đáy 38
3.2 Phân bố hàm lượng TSS theo không gian và thời gian 42
3.2.1 Phân bố hàm lượng TSS các tháng mùa mưa 42
3.2.1.1 Phân bố hàm lượng TSS ngày 22/09/2013 42
3.2.1.2 Phân bố hàm lượng TSS ngày 08/10/2013 43
3.2.1.3 Phân bố hàm lượng TSS ngày 23/07/2014 44
3.2.1.4 Phân bố hàm lượng TSS ngày 11/10/2014 45
3.2.1.5 Phân bố hàm lượng TSS ngày 10/07/2015 47
3.2.2 Phân bố hàm lượng TSS các tháng mùa khô 48
3.2.2.1 Phân bố hàm lượng TSS ngày 27/12/2013 48
3.2.2.2 Phân bố hàm lượng TSS ngày 30/12/2014 49
3.2.2.3 Phân bố hàm lượng TSS ngày 15/01/2015 50
3.2.2.4 Phân bố hàm lượng TSS ngày 15/11/2015 51
3.3 Xu hướng phân bố hàm lượng TSS theo mùa 52
CHƯƠNG 4 THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH HÓA TSS TRONG NƯỚC
VÙNG CỬA SÔNG ĐÁY SỬ DỤNG DỮ LIỆU SENTINEL 2A 57
4.1 So sánh đặc trưng của ảnh Landsat 8 và ảnh Sentinel 2A 57
4.2 Phân bố hàm lượng TSS trong nước vùng cửa Đáy dựa trên dữ liệu ảnh Sentinel 2A 60
KẾT LUẬN 63
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu (Google Earth) 3
Hình 1.2 Địa hình khu vực cửa Đáy [18] 4
Hình 1.3 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (0C) 6
Hình 1.4 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định (0C) 7
Hình 1.5 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (mm) 7
Hình 1.6 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định (mm) 8
Hình 1.7 Trường mực nước và dòng chảy tổng cộng tại một số thời điểm trong
pha triều xuống đại diện cho đặc trưng mùa [18] 10
Hình 1.8 Độ cao và hướng sóng có nghĩa đặc trưng cho các tháng trong năm [18] 11
Hình 1.9 Đường đi của bão Côn Sơn năm 2010 13
Hình 1.10 Đường đi của bão Sơn Tinh năm 2012 13
Hình 1.11 Biến động đường bờ vùng cửa Đáy từ 2001 - 2011 [15] 14
Hình 1.12 Đầm nuôi tôm xã Kim Trung 19
Hình 1.13 Cơ sở thu gom ngao xã Kim Tân 19
Hình 1.14 Sản phẩm TTCN làm từ cói 20
Hình 1.15 Cơ sở sản xuất TTCN xã Kim Chính 20
Hình 1.16 Nhà thờ đá Phát Diệm 21
Hình 1.17 Đền thờ Nguyễn Công Trứ 21
Hình 2.1 Sơ đồ mạng lưới lấy mẫu nước trong hai đợt khảo sát thực địa tại
cửa Đáy 32
Hình 2.2 Ảnh gốc (a) và ảnh sau khi hiệu chỉnh khí quyển (b) 35
Hình 3.1 Mối quan hệ phổ đo ngoài thực địa (bước sóng 655 nm) và phổ chiết tách từ kênh 4 ảnh Landsat 8 theo phương pháp FLAASH 39
Hình 3.2 Mối quan hệ giữa phổ phản xạ bước sóng đỏ đo ngoài thực địa và
hàm lượng TSS tại cửa Ba Lạt 39
Hình 3.3 Mối quan hệ giữa phổ phản xạ bước sóng đỏ và hàm lượng TSS [51] 40
Hình 3.4 Quan hệ giữa phổ phản xạ rời mặt nước với hàm lượng TSS theo hàm mũ tại bước sóng 650 nm trong dải phổ đỏ vùng ven biển châu thổ sông Hồng [17] 40
Hình 3.5 Mối quan hệ giữa hàm lượng TSS và phổ phản xạ tại kênh 4 của ảnh Landsat 8 41
Trang 7Hình 3.6 Mối quan hệ giữa hàm lượng TSS phân tích từ mẫu nước và TSS
tính toán từ phương trình (8) 41
Hình 3.7 Phân bố hàm lượng TSS ngày 22/09/2013 43
Hình 3.8 Phân bố hàm lượng TSS ngày 08/10/2013 44
Hình 3.9 Phân bố hàm lượng TSS ngày 23/07/2014 45
Hình 3.10 Phân bố hàm lượng TSS ngày 11/10/2014 46
Hình 3.11 Phân bố hàm lượng TSS ngày 10/07/2015 47
Hình 3.12 Phân bố hàm lượng TSS ngày 27/12/2013 48
Hình 3.13 Phân bố hàm lượng TSS ngày 30/12/2014 50
Hình 3.14 Phân bố hàm lượng TSS ngày 15/01/2015 51
Hình 3.15 Phân bố hàm lượng TSS ngày 15/11/2015 52
Hình 3.16 Xu hướng biến động hàm lượng TSS theo mùa phía trong sông Đáy 53
Hình 3.17 Xu hướng biến động hàm lượng TSS theo mùa phía Đông Nam
cửa Đáy 53
Hình 3.18 Xu hướng biến động hàm lượng TSS theo mùa phía Đông Bắc
cửa Đáy 54
Hình 3.19 Xu hướng biến động hàm lượng TSS theo mùa khu vực biển xa bờ 54
Hình 3.20 Phân bố hàm lượng TSS mùa mưa khu vực cửa Đáy 55
Hình 3.21 Phân bố hàm lượng TSS giai đoạn chuyển mùa khu vực cửa Đáy 55
Hình 3.22 Phân bố hàm lượng TSS mùa khô khu vực cửa Đáy 56
Hình 4.1 Sự tương đồng các kênh phổ trong dải ánh sáng nhìn thấy Landsat 8 và Sentinel 2A 59
Hình 4.2 Phân bố hàm lượng TSS ngày 21/12/2015 60
Hình 4.3 Phân bố hàm lượng TSS ngày 18/07/2016 61
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tần suất (%) của các hướng gió và lặng gió (%) trạm Văn Lý 8
Bảng 1.2 Xác suất tốc độ gió theo các cấp tốc độ (tính bằng % của tổng số
trường hợp) trạm Văn Lý 9
Bảng 1.3 Độ cao trung bình h (m), chu kỳ trung bình (s) của sóng tại trạm
Văn Lý 11
Bảng 1.4 Thống kê các cơn bão đổ bộ vào vùng Cửa Đáy từ năm 1980 - 2012 12
Bảng 1.5 Thống kê các trận lũ lịch sử từ năm 1971 đến 2011 13
Bảng 1.6 Diện tích, dân số và mật độ dân số của vùng Cửa Đáy năm 2015 16
Bảng 1.7 Diện tích một số cây lương thực có hạt và cây chất bột có củ (ha) 16
Bảng 1.8 Diện tích đất làm muối huyện Nghĩa Hưng (ha) 17
Bảng 1.9 Diện tích, sản lượng thủy sản vùng nghiên cứu năm 2015 18
Bảng 1.10 Số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
năm 2015 19
Bảng 1.11 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2015
(triệu đồng) 21
Bảng 2.1 Các ảnh vệ tinh Landsat 8 sử dụng trong nghiên cứu 33
Bảng 3.1 Kết quả thống kê hàm lượng TSS trong hai đợt khảo sát tại cửa Đáy 38
Bảng 4.1 So sánh các thông số của ảnh Landsat 8 và Sentinel 2A 57
Bảng 4.2 Dữ liệu kênh phổ Landsat 8 và Sentinel 2A 58
Trang 9KÍ HIỆU VIẾT TẮT
TN & MTB Tài nguyên và môi trường biển
Trang 10MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận văn
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) là tập hợp các phần tử vô cơ và hữu cơ không bị hòa tan trong nước, hình thành do quá trình vận chuyển, tái lắng đọng trầm tích và
xác chết của các sinh vật phù du TSS là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất
lượng môi trường nước cửa sông, ven biển Phân bố hàm lượng TSS tại vùng cửa
sông ven biển là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tương tác sông -
biển, đồng thời cũng là nhân tố có vai trò quan trọng trong chu trình sinh địa hóa
bởi chúng chứa đựng thành phần hóa học khác nhau của môi trường nước Hàm
lượng TSS trong nước vùng cửa sông, ven biển thường xuyên biến đổi theo không
gian và thời gian do ảnh hưởng của thủy triều, sóng, gió, dòng chảy và hoạt động
của con người [38]
Cửa Đáy là một cửa sông lớn ở phía bắc Việt Nam, đây là khu vực có chế độ thủy lực tương đối phức tạp, chế độ dòng chảy dọc bờ và dòng chảy từ sông Đáy
chảy ra là yếu tố quyết định đến quá trình bồi lắng Ở khu vực này, trầm tích chủ
yếu là cát hạt nhỏ và mịn với đường kính hạt trung bình là 0,17 mm Lưu lượng
dòng chảy từ sông Đáy đưa ra khoảng 195.000 m3/năm Ngoài ra, lưu lượng dòng
chảy tổng hợp cả năm qua mặt cắt tại bờ khu vực Nghĩa Hưng - Nam Định có
hướng đi từ bắc xuống nam với lưu lượng khoảng 1.807.000 m3/năm Lượng bùn
cát của cửa Đáy được tiếp nhận từ hai nguồn lớn: nguồn thứ nhất là nguồn từ sông
Đáy đưa ra khoảng 34.000 tấn bùn cát/năm và nguồn thứ hai là dòng dọc bờ mang
bùn cát từ phía bắc trở xuống khoảng 220.000 tấn bùn cát/năm [18] Hàm lượng
TSS cao ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sinh thái và năng suất sinh học của
chúng Do đó, thường xuyên quan trắc sự thay đổi hàm lượng TSS là việc làm cần
thiết để hiểu rõ hơn về quá trình tương tác giữa sông - biển và hoạt động của con
người tác động lên khu vực ven biển Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống để
quan trắc hàm lượng TSS trong nước một vùng rộng lớn như cửa Đáy thường gây
tốn kém về mặt thời gian và kinh phí Ngày nay, trên thế giới, ứng dụng các dữ liệu
ảnh vệ tinh để quan trắc chất lượng môi trường nước (cụ thể là TSS) là một trong
những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề nêu trên Xuất phát từ thực tiễn đó,
học viên lựa chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ địa không gian cho giám sát tổng
chất rắn lơ lửng trong nước cửa sông, lấy ví dụ Cửa Đá - Ninh Bình” làm đề tài
nghiên cứu luận văn
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định mối quan hệ giữa hàm lượng TSS trong nước cửa sông Đáy và phổ
phản xạ kênh phổ đỏ (kênh 4) của ảnh Landsat 8;
- Sử dụng dữ liệu ảnh Landsat 8 để mô hình hóa sự phân bố không gian của TSS
trong nước mặt Cửa Đáy các mùa trong năm;
- Xác định quá trình vận chuyển vật chất của sông Đáy ra biển Đông theo mùa
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: biến động hàm lượng TSS trong nước Cửa
Đáy tính toán từ ảnh Landsat 8
Phạm vi nghiên cứu: Vùng nước cửa sông, ven bờ kéo dài từ cửa sông
Ninh Cơ (Nam Định) đến cửa Lạch Sung (Thanh Hóa)
Bố cục luận văn
Luận văn không kể phần mở đầu và kết luận gồm 4 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về vùng nghiên cứu và lịch sử nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Diễn biến phân bố hàm lượng TSS vùng cửa sông theo không gian và thời gian
Chương 4: Thử nghiệm mô hình hóa TSS trong nước sông vùng Cửa Đáy sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh Sentinel 2A
Luận văn được thực hiện tại bộ môn Địa chất Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí địa lý vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu bao gồm các xã, thị trấn thuộc hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) Phía đông vùng nghiên cứu giáp huyện
Hải Hậu (Nam Định); phía tây nam giáp huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); phía bắc và
tây bắc giáp huyện Yên Khánh, Yên Mô (Ninh Bình) và huyện Nam Trực (Nam
Định); phía nam giáp biển Đông (Hình 1.1)
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Địa hình vùng cửa Đáy tương đối bằng phẳng, hướng nghiêng về phía biển,
độ dốc nhỏ (dao động từ 0,04 đến 0,05 m/km) Độ cao trung bình vùng ven biển
dao động từ 0 đến 2 m [20] Địa hình vùng nghiên cứu chịu tác động rất lớn bởi
hoạt động quai đê lấn biển Hệ thống đê và các trục giao thông đã chia cắt vùng
nghiên cứu ra những ô đất thấp khác nhau Ngoài đê là chịu ảnh hưởng của sóng
biển, thủy triều và dòng biển nên chủ yếu là các bãi triều, có địa hình khá thoải,
rộng khoảng 2 - 3 km
Trang 13Vùng nghiên cứu còn có các địa hình âm là các lạch triều tự nhiên Hiện nay, dạng địa hình này chỉ còn tồn tại ở Nghĩa Hưng Các lạch triều có vai trò
lớn trong việc phân bố lại các vật chất bở rời do sông ngòi đưa ra và qua chu
trình tiến vào và rút ra của thủy triều Khu vực Kim Sơn gần như không còn lạch
triều tự nhiên, thay vào đó là hệ thống kênh rạch thủy nông phục vụ nuôi thủy
sản rất phát triển
Đường bờ vùng nghiên cứu có hướng đông bắc - tây nam và bị chia cắt mạnh bởi các cửa lạch và cửa sông Đáy, chiều dài bờ biển khoảng 30km Đoạn bờ
biển Nghĩa Hưng, vùng tiếp giáp với cửa sông Ninh Cơ, có các bãi cát, các cồn
cát Phía trong hệ thống doi cát này hệ sinh thái rừng ngập mặn, khá phát triển, có
nơi rộng đến gần 3km và kéo dài đến 6km
Địa hình đáy biển có xu hướng thoải dần theo hướng đông bắc - tây nam
Vị trí đường đẳng sâu 5 m nằm cách bờ từ 1,5 đến 2 km Trước cửa Đáy, đường
đẳng sâu có mật độ cao nhất ở khoảng độ sâu 2 đến 6 m nước Vật liệu trầm tích
đưa ra từ cửa Đáy tập trung lắng đọng ở ngay sát cửa sông, tạo thành các cồn cát,
bar cát (dài khoảng 2 km, rộng 1 km) làm thay đổi lòng dẫn cửa sông Khu vực bờ
biển Kim Sơn, từ độ sâu 0 đến 2 m nước, địa hình gần như bằng phẳng
1.2.1.2 Đặc điểm địa chất
a Đặc điểm địa tầng
Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb): Trong khu vực Cồn Nổi đến Bến Bụt, hệ tầng
Vĩnh Bảo dự kiến nằm ở độ sâu trên 140 m Trên toàn bộ diện tích đồng bằng ven
Trang 14biển Ninh Bình, hệ tầng Vĩnh Bảo không lộ trên mặt, chỉ gặp chúng ở độ sâu từ 130
đến 54 m trong các lỗ khoan ở phần diện tích phía đông Bề dày trầm tích thay đổi
từ 4,5 đến 40 m Hệ tầng gồm các đá hạt mịn (sét kết, bột kết) xen với các đá hạt thô
(cát kết, cát sạn kết, cuội kết) Tuy nhiên trầm tích hạt mịn vẫn chiếm chủ yếu Bề
mặt hệ tầng thường bị phong hóa có màu sắc loang lổ chứng tỏ sau khi thành tạo,
các trầm tích hệ tầng lộ trên mặt chịu quá trình phong hóa bóc mòn [22]
Hệ tầng Lệ Chi (Q11lc): Hệ tầng Lệ Chi không lộ trên mặt địa hình hiện đại,
chúng phân bố hạn chế ở độ sâu từ vài chục mét đến trên một trăm mét, bề dày trầm
tích thay đổi từ 5 - 7 m đến vài chục mét, có quan hệ bất chỉnh hợp với hệ tầng Vĩnh
Bảo [22]
Hệ tầng Hà Nội (Q12-3hn): Trầm tích hạt mịn (bột sét) chiếm chủ yếu, trầm
tích hạt thô (cát, sạn) chiếm một lượng nhỏ, rất hiếm gặp cuội sỏi Theo mặt cắt từ
dưới lên trên độ hạt trầm tích giảm dần, phản ánh xu thế biển tiến trong thời kỳ tích
tụ trầm tích hệ tầng Hà Nội [22]
Hệ tầng Vĩnh Phúc (Q13vp): có diện phân bố rộng Chúng lộ rải rác ở ven rìa
đồng bằng, còn chủ yếu bị phủ bởi các trầm tích Holocen ở độ sâu nhỏ Trầm tích
hệ tầng Vĩnh Phúc được chia thành 3 phần rõ rệt Dưới cùng là trầm tích hạt thô lẫn
dăm sạn thạch anh hoặc sét, có màu xám xanh tương ứng với tướng sông Phần giữa
trầm tích hạt mịn có màu xám, xám tro lẫn di tích thực vật tương ứng với trầm tích
sông - biển Phần trên thường có màu xám xanh, xám vàng loang lổ tương ứng với
trầm tích biển Các thành tạo phần dưới cùng có chứa nước ngầm Nét đặc trưng của
hệ tầng Vĩnh Phúc là phần trên bị phong hóa mạnh mẽ tạo màu loang lổ, có nơi tạo
lớp laterit cứng chắc dày tới 1m [22]
Hệ tầng Hải Hưng (Q21-2hh 1): bị phủ bởi các trầm tích đa nguồn gốc hệ tầng Thái Bình Ở phần bị phủ, bắt gặp trong hầu hết các lỗ khoan địa chất Nhìn chung
trầm tích hệ tầng chủ yếu có độ hạt mịn, gồm sét bột có lẫn cát hạt mịn Trầm tích
sông biển, trầm tích biển thường nhiều mùn thực vật Chúng có màu xám, xám
vàng, xám ghi, loang lổ khá đặc trưng Trầm tích Hải Hưng có hai phần rõ rệt, phần
dưới là các trầm tích sông - biển, phần trên là trầm tích biển [22]
Hệ tầng Thái Bình, tập trên (Q23tb 3): Tạo nên các bề mặt địa hình ngập nước
và không ngập nước, độ cao thay đổi từ -1,5 m đến +0,5 m Thành phần thạch học
của hệ tầng phụ thuộc vào nguồn gốc trầm tích Trầm tích sông - biển - đầm lầy
chứa nhiều vật chất hữu cơ màu xám đen Trầm tích sông biển chủ yếu là cát hạt
mịn màu xám nâu Trạng thái đặc trưng của đất sét là dẻo và dẻo mềm, cát bở rời
chưa bị nén Nhìn chung các trầm tích của hệ tầng đều nghèo di tích cổ sinh [22]
Trang 15b Đặc điểm đứt gãy kiến tạo
Hệ thống đứt gãy kiến tạo của vùng nghiên cứu dựa vào các dấu hiệu mang tính gián tiếp Trên bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 đã ghi nhận sự có mặt các đứt
gãy phương tây bắc - đông nam cắt quá khối đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao Tại
các mỏ đá khu vực Nga Sơn, các vết lộ tại moong khai thác đá cho thấy các đới cà
nát và biến dạng giòn-dẻo có chiều rộng đến 1,5 km Tại đây, các mặt trượt cắm về
phía tây nam góc dốc 80 - 850, đường phương 310 - 3300
Phần trung tâm đới biến dạng, quan sát các cấu tạo budina và vi uốn nếp hẹp, cục bộ Đứt gãy có dấu hiệu
thuận, cánh tây nam hạ, cánh đông bắc nâng mạnh Đứt gãy Bỉm Sơn - Quảng Tân
được ghi nhận là đứt gãy lớn, song song với đứt gãy sông Mã [22]
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu vùng nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với hai
hệ thống gió mùa đông bắc và đông nam Hàng năm, vùng nghiên cứu thường phải
hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết như bão và áp thấp nhiệt đới, không khí
lạnh, ngập lụt cục bộ do mưa to trong bão và áp thấp nhiệt đới gây tác động trực
tiếp đến cuộc sống người dân và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
a Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt vùng nghiên cứu tương đồng với các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc
Bộ Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22,9 - 25,0oC [3-4]
Nguồn: [4]
Giữa các mùa trong năm có chế độ nhiệt khác nhau rõ rệt Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình tháng từ 26 - 30oC, các tháng 6 và 7 thường có
nhiệt độ cao nhất, xấp xỉ 30oC (Hình 1.3, Hình 1.4)
Trang 16Hình 1.4 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định ( 0 C)
Nguồn: [3]
Tổng số giờ nắng trong mùa hè chiếm gần 70% tổng số giờ nắng trong năm
Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông
bắc nên nền nhiệt độ giảm, nhiệt độ trung bình tháng thường dưới 25oC, tháng lạnh
nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình từ 15 - 18oC (Hình 1.3, Hình 1.4) Số giờ nắng
trong giai đoạn này chỉ bằng 50% so với mùa hè
Đặc biệt, lượng mưa tháng 12 và tháng 1 thấp nhất trong năm, chỉ từ 0,1 - 42,7 mm
nên độ ẩm vào các tháng này đều dưới 75%
Trang 17Hình 1.6 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định (mm)
tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và gió mùa đông nam (từ tháng 5 đến tháng 10) Vào
mùa đông, gió có hướng thịnh hành là đông bắc, tần suất đạt 60 - 70% Mùa hè, các
tháng 5, 6, 7 hướng gió ổn định, thịnh hành là đông và đông nam, tần suất đạt
khoảng 60 - 70% Tháng 8 hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt
tần suất 20 - 25% Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định, tần suất mỗi
hướng thay đổi trung bình từ 10 - 15%
Bảng 1.1 Tần suất (%) của các hướng gió và lặng gió (%) trạm Văn Lý
xuất hiện 70 - 80%, tốc độ gió trên 7m/s khá phổ biến, chiếm khoảng 20% Mùa gió
đông nam, tốc độ gió trung bình 4 - 5m/s, đặc biệt khi xuất hiện các nhiễu động thời
tiết như dông, áp thấp nhiệt đới, bão tốc độ gió có thể đạt tới 25 - 30m/s [23]
Trang 18Bảng 1.2 Xác suất tốc độ gió theo các cấp tốc độ (tính bằng % của tổng số trường hợp) trạm Văn Lý
có lưu lượng phân bố không đều Mùa lũ bắt đầu vào tháng 5 nhưng đôi khi có thể
bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hoặc tháng 10 Trong khoảng 4 tháng (từ
tháng 6 đến tháng 9) lượng nước chiếm khoảng 75 - 85% lượng nước cả năm Trong
giai đoạn này, dòng chảy sông lấn át dòng triều nên chỉ có một hướng chảy từ sông
ra biển Mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Giai đoạn ổn định của mùa kiệt
kéo dài 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3) Vào khoảng thời gian này, lưu lượng dòng
chảy khá nhỏ, chỉ bằng 7 - 8% lưu lượng dòng chảy cả năm Đây là thời kỳ mặn có
điều kiện xâm nhập sâu vào lục địa [23]
b Hải văn
Chế độ dòng chảy
Dòng chảy khu vực cửa Đáy là dòng tổng hợp gồm dòng triều, dòng chảy gió
và dòng chảy sông (sông Đáy) Nhìn chung, dòng chảy ổn định ở vùng ven bờ có
hướng đông bắc - tây nam Vào mùa đông, dòng chảy tổng cộng ở vùng này chủ
yếu là do sự đóng góp của dòng chảy gió và dòng triều Vì vậy về mùa đông, dòng
chảy ở vùng xem xét thường có hướng dọc theo bờ, đó là hướng chủ đạo Từ tháng
12 đến tháng 1 xuất hiện chế độ dòng chảy ngược chiều nhau tại khu vực nghiên
cứu Ở vùng biển thoáng, dòng chảy có hướng nam do ảnh hưởng của gió mùa
Trang 19Đông Bắc, trong khi đó tại ven bờ, tồn tại dòng ven có hướng từ nam lên bắc Tốc
độ dòng chảy tổng cộng thường không lớn, vào khoảng 20 - 40 cm/s Vào mùa hè,
bức tranh dòng chảy khác với mùa đông Ở gần bờ vùng này không quan sát thấy
dòng ven có hướng từ nam lên bắc nữa Tốc độ dòng chảy vùng ngoài khơi và ven
bờ chỉ khoảng 20-30cm/s Tốc độ dòng chảy trong cửa sông cao hơn, đạt tới gần
100cm/s, thậm chí cao hơn trong thời kỳ mùa lũ do ảnh hưởng mạnh bởi dòng chảy
trong sông
0h ngày 15/8/2010 (Mùa hè) 0h ngày 15/1/2010 (Mùa đông)
Hình 1.7 Trường mực nước và dòng chảy tổng cộng tại một số thời điểm trong
pha triều xuống đại diện cho đặc trưng mùa [18]
Sự giao thoa thủy thạch động lực của dòng chảy sông và dòng chảy dọc bờ là yếu tố quyết định quan trọng đến quá trình bồi lắng Lưu lượng dòng chảy từ sông
Đáy đưa ra khoảng 195.000 m3/năm Ngoài ra, lưu lượng dòng chảy tổng hợp cả
năm qua mặt cắt tại bờ khu vực Nghĩa Hưng - Nam Định có hướng đi từ bắc xuống
nam với lưu lượng khoảng 1.807.000 m3/năm Lượng bùn cát ở khu vực cửa sông
Đáy được tiếp nhận từ hai nguồn lớn: nguồn thứ nhất là từ sông Đáy đưa ra khoảng
34.000 tấn bùn cát/năm và nguồn thứ hai là dòng dọc bờ mang bùn cát từ phía bắc
trở xuống khoảng 220.000 tấn bùn cát/năm [18]
Chế độ sóng
Chế độ sóng tại khu vực nghiên cứu chịu sự chi phối mạnh bởi chế độ gió
và hướng sóng chủ đạo mang tính chất mùa Vào mùa đông, sóng biển có hướng
thịnh hành là đông bắc với tần suất 51,7%, độ cao sóng trung bình 0,1 - 0,4m Tuy
nhiên, do ảnh hưởng bởi địa hình có hướng đông bắc - tây nam, vùng ven bờ khu
vực cửa Đáy thịnh hành hướng sóng đông và đông nam Mùa hè, hướng sóng nam
thịnh hành ngoài khơi chiếm 37,60% và vùng ven biển là các hướng sóng đông nam
chiếm 24% và nam chiếm 20%, độ cao sóng trung bình 0,1 - 0,45m
Trang 20Bảng 1.3 Độ cao trung bình h (m), chu kỳ trung bình (s) của sóng tại trạm Văn Lý
Các đặc trưng
Hình 1.8 Độ cao và hướng sóng có nghĩa đặc trưng cho các tháng trong năm [18]
Nhìn chung, trong mùa hè sóng có độ cao lớn hơn trong mùa đông do chịu tác động mạnh của bão và áp thấp nhiệt đới Độ cao sóng ven bờ lớn nhất tới 4-5 m
và ở ngoài khơi là 9-10 m [23]
Trang 21Chế độ thủy triều
Thủy triều vùng nghiên cứu mang tính chất nhật triều đã kém thuần nhất, trong tháng số ngày có hai lần nước lớn hai lần nước ròng tới 5 - 7 ngày Diễn biến
mực nước triều trong một tháng thường có hai chu kỳ nước lớn, mỗi chu kỳ kéo dài
11- 13 ngày và hai chu kỳ nước nhỏ thường diễn ra vào giữa tháng và cuối tháng,
mỗi chu kỳ kéo dài 2 - 3 ngày Độ lớn triều vùng này thuộc loại lớn nhất nước ta,
trung bình khoảng 3m vào kỳ nước cường, triều lên cao nhất tới 3,9m và xuống thấp
nhất tới 0,1m Trong năm, độ lớn triều đạt giá trị cực đại trong các tháng 1, 6, 7 và
12 [29]
1.2.2 Tai biến thiên nhiên
Khu vực cửa Đáy chịu tác động của những loại hình tai biến chủ yếu sau:
bão, lũ lụt và dâng cao mực nước biển
Bão: Trong giai đoạn 1980 đến 2012, khu vực Cửa Đáy chịu ảnh hưởng
của 29 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (Bảng 1.4) trong đó chiếm phần lớn là các
cơn bão mạnh
Bảng 1.4 Thống kê các cơn bão đổ bộ vào vùng Cửa Đáy từ năm 1980 - 2012
Trang 22hướng di chuyển và vị trí đổ bộ của các bơn bão cũng trở nên khó dự đoán hơn,
đường đi của các cơn bão liên tục thay đổi gây khó khăn trong việc phòng tránh và
giảm thiểu thiệt hại (Hình 1.9, Hình 1.10) Bão đổ bộ vào vùng nghiên cứu với
cường độ mạnh đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản Đặc biệt là cơn bão Sơn
Tinh, gió cấp 11, 12, giật trên cấp 13, 14, gây thiệt hại nặng cho nền sản xuất nông
và ngư nghiệp Chỉ tính riêng 3 xã ven biển huyện Kim Sơn có 5 ngôi nhà bị sập,
160 nhà bị tốc mái, 350 lều lán và 150 cột điện bị gãy đổ Hệ thống thông tin liên
lạc, đường điện hư hỏng [31]
Hình 1.9 Đường đi của bão Côn Sơn năm 2010
Nguồn: [31]
Hình 1.10 Đường đi của bão Sơn Tinh năm 2012
Nguồn: [31]
Lũ Lụt: Trong giai đoạn từ năm 1970 đến nay đã xảy ra 11 trận lũ vào các
năm 1971, 1985, 1996, 2002, 2007, 2008 với cấp báo động 3 ở trên hệ thống các
sông Đào, Ninh Cơ, Hoàng Long (Bảng 1.5)