Tìm hiểu các đề tài nghiên cứu khoa học trong nước cho thấy, có sự ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ em Vị thành niên có rối loạn hành vi, có sự tư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM
VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Ngọc Khanh
TS Trần Thành Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Ngọc Khanh và TS Trần Thành Nam đã tận tình hướng dẫn tôi suốt quá trình thực hiện luận văn
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, cha mẹ và các em học sinh Trường THPT Phùng Khắc Khoan, Trường THPT Nhân Chính, Trường THPT Hòa Bình và Trường THPT Bưng Riềng đã tạo điều kiện thuận lợi và tham gia nhiệt tình vào đề tài nghiên cứu của tôi
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học, anh chị em đồng nghiệp và gia đình đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 3
9 Kế hoạch thực hiện 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Lịch sử nghiêu cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiến cứu về phong cách làm cha mẹ 5
1.1.2 Nghiên cứu về tự đánh giá 9
1.1.3 Các hướng nghiên cứu tương quan giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ và tự đánh giá 20
1.2 Một số vấn đề về lý luận 22
1.2.1 Khái niệm tương quan 22
1.2.2 Phong cách làm cha mẹ 23
1.2.3 Tự đánh giá 25
1.2.4 Học sinh trung học phổ thông 31
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 35
2.1.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 35
Trang 42.2 Tổ chức nghiên cứu 41
2.2.1 Giai đoạn 1 41
2.2.2 Giai đoạn khảo sát thực trạng, xử lý số liệu 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu lý luận 41
2.3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu thực tiễn 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Thực trạng tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở 50
3.1.1 Các khía cạnh của tự đánh giá 50
3.1.2 Thực trạng tự đánh giá của học sinh theo các mặt 52
3.1.3 So sánh điểm trung bình tự đánh giá các mặt của học sinh theo trường, khối, giới, học lực 63
3.2 Thực trạng về các phong cách, hành vi làm cha mẹ 66
3.2.1 Các loại phong cách, hành vi mà cha mẹ sử dụng 66
3.2.2 So sánh sự tự đánh giá của cha mẹ với đánh giá của học sinh về phong cách của cha mẹ 71
3.3 Tương quan giữa phong cách, hành vi của cha mẹ đến các yếu tố tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông 72
3.3.1 Tương quan giữa phong cách làm cha với tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông 72
3.3.2 Tương quan giữa phong cách, hành vi của mẹ với tự đánh giá của học sinh trung học phổ thông 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 KếT LUậN 78
1.1 Về mặt lý luận 78
1.2 Về mặt thực tiễn 79
2 KHUYếN NGHị 79
2.1 Đối với cha mẹ các em học sinh 80
2.2 Đối với nhà trường và thầy cô giáo 80
2.3 Đối với các nhà chuyên môn quan tâm đến chủ đề này 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
7 CRPBI: Child’s Report of Parental Behavior
8 PAQ: Parental Authority Quesionnaire
9 MHC-SF: Mental health continuum – short from
10 GAD-7: thang đánh giá lo âu
11 PHQ-9: thang đánh giá trầm cảm
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Bảng 2 1 Số lượng khách thể nghiên cứu theo từng trường 35
Bảng 2.2 Số lượng và khách thể nghiên cứu phân theo khối 36
Bảng 3.1 Tự đánh giá chung về các mặt của học sinh THPT 50
Bảng 3.2 Tự đánh giá của học sinh THPT về mặt học tập 53
Bảng 3.3 Tự đánh giá của học sinh THPT về mặt xã hội 55
Bảng 3.4 Tự đánh giá của học sinh THPT về mặt đạo đức 57
Bảng 3.5 Tự đánh giá của học sinh THPT về mặt thể chất 58
Bảng 3.6 Số lượng và tỉ lệ học sinh có lo âu, trầm cảm 60
Bảng 3 7 Mức độ lo âu 61
Bảng 3.8 Mức độ trầm cảm 62
Bảng 3.9 So sánh ĐTB TĐG về các mặt giữa các trường 63
Bảng 3.10 So sánh ĐTB TĐG về các mặt theo khối lớp 64
Bảng 3.11 So sánh ĐTB TĐG về mặt xã hội giữa hai nhóm giới tính 64
Bảng 3.12 So sánh điểm trung bình tự đánh giá về các mặt cảm giữa các nhóm học lực 65
Bảng 3.13 Điểm trung bình thang đo phong cách của cha 66
Bảng 3.14 Phong cách của cha theo đánh giá của học sinh 67
Bảng 3.15 Điểm trung bình thang đo phong cách của mẹ 68
Bảng 3.16 Phong cách của mẹ theo đánh giá của học sinh 68
Bảng 3.17 Hành vi của mẹ theo đánh giá của học sinh 69
Bảng 3.18 Hành vi của mẹ theo đánh giá của học sinh 70
Bảng 3.19 So sánh điểm trung bình tự đánh giá của cha với đánh giá của học sinh về phong cách của cha 71
Bảng 3.20 So sánh điểm trung bình tự đánh giá của mẹ với đánh giá của học sinh về phong cách của mẹ 72
Bảng 3.21 Tương quan giữa phong cách làm cha với tự đánh giá của HS THPT 73
Bảng 3.22 Tương quan giữa phong cách của mẹ với tự đánh giá của học sinh THPT 74
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Biểu đồ 2.1.Tỉ lệ giới tính thamgia vào ngiên cứu 37
Biểu đồ 2.2 Điều kiện kinh tế của gia đình phân theo trường 38
Biểu đồ 2.3 Nghề nghiệp của cha học sinh phân theo trường 39
Biểu đồ 2.4 Nghề nghiệp của mẹ học sinh phân theo trường 40
Biểu đồ 2.5 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ phân theo trường 40
Biểu đồ 3.1 Tự đánh giá tổng thể về bản thân 52
Biểu đồ 3.2 Mức độ tự đánh giá về mặt học tập 54
Biểu đồ 3.3 Mức độ tự đánh giá về mặt xã hội 56
Biểu đồ 3.4 Mức độ tự đánh giá về mặt đạo đức 57
Biểu đồ 3.5 Mức độ tự đánh giá về mặt thể chất 59
Biểu đồ 3.6 Tự đánh giá về cảm xúc 59
Biểu đồ 3.8 Mức độ tự đánh giá cảm nhận hạnh phúc chủ quan 60
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tự đánh giá là một hoạt động nhận thức, trong đó con người tự đánh giá tổng thể các giá trị, khả năng của bản thân mình Đây là một hoạt động quan trọng mà các nghiên cứu trước đây đã cho thấy nó có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của chủ thể và có mối quan hệ với kết quả học tập của học sinh, sinh viên Trên cơ sở nhận thức và đánh giá được mình, các em mới có khả năng điều khiển, điều chỉnh hoạt động của bản thân cho phù hợp với yêu cầu khách quan, mới giữ được quan hệ, giữ được vị trí xứng đáng trong xã hội, trong lớp học, trong nhóm bạn
Nếu mỗi cá nhân đánh giá tích cực về bản thân thì cá nhân ấy sẽ phấn đấu để đến gần với “cái tôi lý tưởng” của chính mình Ngược lại, đánh giá quá cao bản thân, dẫn đến tự cao, coi thường người khác hoặc đánh giá quá thấp, coi mình là bất tài, vô dụng sẽ để lại hậu quả đáng tiếc trong cuộc đời mỗi người, đến sự phát triển lành mạnh và sự trưởng thành của cá nhân ấy
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tự đánh giá của học sinh Bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội như những trải nghiệm về thành công và thất bại trong cuộc sống, qua sự so sánh, đối chiếu với ý kiến đánh giá của những người xung quanh về bản thân từ gia đình, nhóm bạn, thầy cô giáo… Tìm hiểu các đề tài nghiên cứu khoa học trong nước cho thấy, có sự ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ
em Vị thành niên có rối loạn hành vi, có sự tương quan giữa phong cách làm cha mẹ với lòng tự trọng của học sinh trung học cơ sở và tương quan giữa phong cách làm cha mẹ đế kết quả học tập của học sinh, sinh viên
Ngoài ra, chưa có đề tài nào nghiên cứu nào về “Tương quan giữa phong cách làm cha mẹ với sự tự đánh giá bản thân của học sinh trung học phổ thông” (HS THPT) Vì vậy đó là lý do để tôi thực hiện đề tài này với hi vọng
Trang 9tìm ra được những ảnh hưởng khác của các phong cách làm cha mẹ đến sự phát triển của HS THPT để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho các em học sinh là việc làm có ý nghĩa cả về thực tế lẫn lý luận
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về phong cách làm cha mẹ và sự tự đánh giá của HS THPT
- Khảo sát phong cách, hành vi làm cha mẹ và sự tự đánh giá bản thân của HS THPT
- Tìm hiểu tương quan giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ với sự tự đánh giá của con ở lứa tuổi HS THPT
- Đề ra một số giải pháp
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Khảo sát trên 574 khách thể, gồm 290 học sinh THPT đang học trong các trường trung học phổ thông tại Hà Nội và 284 phụ huynh của các em
- Đối tượng nghiên cứu: Tương quan giữa phong cách, hành vi làm cha
mẹ với sự tự đánh giá của con ở lứa tuổi HS THPT
5 Giả thuyết nghiên cứu
Có mối tương quan giữa các phong cách, hành vi làm cha mẹ với sự tự đánh giá bản thân của HS THPT Cụ thể:
- Cha mẹ áp dụng phong cách dân chủ và có hành vi ấm áp, nhất quán có mối tương quan thuận với sự tự đánh bản thân của HS THPT
- Cha mẹ áp dụng phong cách độc đoán, dễ dãi và có hành vi theo hướng kiểm soát - áp đặt có tương quan nghịch với sự tự đánh bản thân của HS THPT
Trang 106 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Năm học 2015-2016
- Phạm vi không gian: Do thời gian có hạn vì vậy giới hạn của đề tài được xác định trên HS THPT
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tương quan giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ với sự tự đánh giá bản thân của HS THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, tổng hợp trên tư liệu có sẵn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Bảng hỏi về các phong cách làm cha mẹ gồm: Sử dụng thang đo hành vi của cha mẹ dành cho con CRPBI (Child’s Report of Parental Behavior) do Earl S Schaefer thuộc Viện sức khỏe tâm thần quốc gia Mỹ nghiên cứu và phát triển Thang đo gồm 30 câu hỏi, tương ứng với 3 kiểu hành vi: Nồng ấm, áp đặt – kiểm soát, nhất quán
Thang PAQ (Parental Authority Quesionnaire): Bộ câu hỏi về phong cách làm cha mẹ, gồm 30 câu hỏi đánh giá các mức độ sau: Phong cách dân chủ, phong cách độc đoán, phong cách dễ dãi - nuông chiều
Thang đo tự đánh giá “Perceived compentence scale for children” của Susan Harter xây dựng năm 1979
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
8 Cấu trúc của luận văn
- Mở đầu
- Chương I: Cơ sở lý luận
- Chương II: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương II: Nội dung nghiên cứu
- Kết luận và khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 119 Kế hoạch thực hiện
Tháng 1, 2 Xây dựng cơ sở lý luận
Tháng 3 Chuẩn bị công cụ, thư mời khách thể tham gia nghiên
cứu, phát phiếu điều tra số liệu Tháng 4,5 Thống kê và xử lý số liệu Tháng 6,7 Phân tích số liệu
Tháng 8, 9 Hoàn thiện nội dung nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiêu cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ
Tổng quan các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về phong cách làm cha mẹ cho thấy các nghiên cứu của các tác giả thầu hết tập trung tìm hiểu về thực trạng, các yếu tố tác động đến phong cách làm cha mẹ và những ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến vấn đề hành vi, cảm xúc và kết quả học tập của các đối tượng khác nhau Sau đây là nội dung chi tiết về các nghiên cứu này:
Nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu về thực trạng:
- Tác giả Vũ Thị Khánh Linh, trong nghiên cứu “Thực trạng về phong cách giáo dục của cha mẹ học sinh trường THCS Trần Đăng Ninh – TP Nam Định”, đã tiến hành trên 103 học sinh lớp 8, 9 và 103 cặp phụ huynh và giáo viên chủ nghiệm của 2 lớp được nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, phong cách giáo dục dân chủ chiếm ưu thế nhất trong tổng số 103 gia đình được nghiên cứu, còn gần một nửa số phụ huynh còn lại có phong cách giáo dục độc đoán và tự do Có sự chênh lệch giữa tự đánh giá của các bậc phụ huynh về phong cách giáo dục của mình và nhận định của học sinh về phong cách giáo dục của cha mẹ các em [30, tr 17-23]
- Tác giả Phùng Thị Hiên, trong luận văn thạc sỹ “Mối tương quan giữa cách ứng xử của cha mẹ với hành vi của trẻ tiểu học” ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, trường ĐH Giáo Dục cho thấy mỗi cha mẹ tham gia vào nghiên cứu đều có các cách ứng xử với con cái xen lẫn nhiều phong cách khác nhau nhưng nhìn chung đa số cha mẹ đều ứng xử với con thiên về một trong ba phong cách dễ dãi, độc đoán và dân chủ Nhưng vẫn có những cha mẹ ứng xử với con không nghiêng hẳn về bất kỳ phong cách nào, họ là
Trang 13những người ứng xử theo phong cách tổng hợp Trong đó, tỉ lệ cha mẹ có cách ứng xử nghiêng về phong cách dễ dãi, nuông chiều là cao nhất và đều thống nhất ở cả cha, mẹ và con; phong cách dân chủ (đánh giá từ cha mẹ) hoặc phong cách độc đoán (đánh giá của trẻ) là thấp nhất [21, tr 76-108]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến vấn đề hành
vi và cảm xúc:
- Năm 2012, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Bích Phượng ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, trường ĐH Giáo Dục về “Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ em vị thành niên có rối loạn hành vi” Nghiên cứu được thực hiện trên 342 khách thể, gồm học sinh, cha mẹ và giáo viên của các em Trường Giáo dưỡng và Trường THCS Hiệp Phước Kết quả cho thấy, hai phong cách độc đoán và dễ dãi, nuông chiều đều có tương quan với rối loạn hành vi hướng ngoại ở trẻ vị thành niên Việt Nam Có những biến số tác động đến mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đó là số lượng thành viên trong gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, nghề nghiệp của mẹ [5, tr 41]
- Năm 2013, luận văn thạc sỹ của tác giả Phùng Thị Hiên về “Mối tương quan giữa cách ứng xử của cha mẹ với hành vi của trẻ tiểu học” Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số 310 khách thể nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan thuận giữa phong cách dân chủ và cách ứng xử thống nhất của cha mẹ với những hành vi tích cực của trẻ Ở một số lĩnh vực, phong cách dễ dãi, độc đoán của cha có tỉ lệ thuận với những hành vi tích cực của trẻ, nhưng ở một số lĩnh vực hành vi nhất định, mẹ ứng xử theo phong cách độc đoán, dễ dãi lại tỉ lệ thuận với hành vi tiêu cực ở trẻ Phong cách tổng hợp là phong cách bất lợi nhất cho sự phát triển của những hành vi tích cực và hạn chế những hành vi tiêu cực của trẻ và nó thống nhất ở hầu hết dữ liệu do trẻ và cha mẹ cung cấp [21, tr 76-108]
Trang 14 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phong cách làm cha mẹ:
- Nghiên cứu tác giả Vũ Thị Khánh Linh cũng chỉ ra yếu tố độ tuổi, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp của các bậc phụ huynh có ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành ở họ những phong cách giáo dục khác nhau [30, tr 17-23]
- Nghiên cứu tác giả Phùng Thị Hiên lại [21, tr 76-108] chỉ ra các yếu tố liên quan đến điều kiện sống hay trình độ học vấn của cha mẹ và nghề nghiệp, tình trạng nghề nghiệp của mỗi người hầu như có liên hệ rất ít đến phong cách làm cha mẹ [21, tr 76-108]
Nghiên cứu trên thế giới:
Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến sự phát triển của trẻ:
Trong các tác trên thế giới nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ và những ảnh hưởng của các phong cách làm cha mẹ đến sự phát triển của trẻ Baumrind là người có nhiều đóng góp to lớn và sâu rộng về chủ đề này
- Kết quả nghiên cứu của Baumrind cũng chỉ ra rằng, trẻ vị thành niên của phong cách cha mẹ dân chủ học được cách thương lượng và kết nối trong những thảo luận, trẻ hiểu và tự đánh giá được những ý kiến của bản thân Kết quả là, trẻ thể hiện mình tốt trong xã hội, sẵn sàng hợp tác với mọi người, có trách nhiệm và có tính tự quyết cao
- Cha mẹ độc đoán có khuynh hướng không khuyến khích tính độc lập của trẻ và điều này làm hạn chế tính tự quyết nơi trẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trẻ vị thành niên của phong cách cha mẹ độc đoán học được rằng phải tuân theo những quy định, luật lệ cha mẹ đưa ra, kết quả là trẻ vị thành niên trở nên chống đối hoặc phụ thuộc và cha mẹ Với những trẻ chống đối thường bộc lộ bằng những hành vi gây hấn Ngược lại, với trẻ trở nên phụ thuộc thì rất
dễ phục tùng và có khuynh hướng đeo bám và quá phụ thuộc vào cha mẹ Chúng thường cảm thấy buồn rầu, bất hạnh, bất lực, dễ hốt hoảng, không thân thiện
- Trẻ vị thành niên của những cha mẹ dễ dãi - nuông chiều học được rằng
có rất ít ranh giới giữa những luật lệ cũng như hậu quả có được cũng không
Trang 15quá quan trọng Kết quả là, trẻ vị thành niên có lẽ rất khó tự kiểm soát bản thân, hiếu chiến và có khuynh hướng chỉ coi trọng bản thân, hách dịch, điều này cản trở trong việc phát triển mối quan hệ với các bạn cùng trang lứa
- Cuối cùng, trẻ vị thành niên của cha mẹ thờ ơ – không quan tâm học được rằng cha mẹ chúng có khuynh hướng thích thú với cuộc sống riêng tư của bản thân và ít đầu tư cho việc chăm sóc con cái Kết quả là trẻ vị thành niên dần dần bộc lộ mô hình hành vi tương tự như cha mẹ chúng và trẻ tăng hành vi bỏ mặc chuyện gia đình; có vấn đề trong việc tự điều chỉnh bản thân, tăng hành vi bốc đồng, có tính hiếu chiến cao và có những biểu hiện bên ngoài như cáu giận, thù địch, ích kỷ, nổi loạn; dễ dàng có những hành vi chống xã hội, phạm pháp như: Nghiện rượu, lạm dụng ma túy, ứng xử tình dục sai lệch, bỏ học và rất nhiều hành vi phạm pháp khác Những trẻ này không có mục đích dài hạn có ý nghĩa [18, tr 161-167, tr 731-734]
Các nghiên cứu ở phương Tây, từ năm 1970 về phong cách làm cha mẹ
đã khẳng định , trong bốn loại phong cách làm cha mẹ thì phong cách dân chủ
là tối ưu nhất trong việc cải thiện hành vi của con cái, trong khi đó ba loại phong cách làm cha mẹ còn lại là phong cách độc đoán, phong cách dễ dãi, phong cách thờ ơ đều có những tác động ít nhiều tiêu cực đến hành vi xã hội, thành tích học tập, các vấn đề hành vi và vấn đề cảm xúc Cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa phong cách làm cha mẹ dân chủ, ấm áp với những hành vi vâng lời Ngược lại phong cách độc đoán, bỏ mặc hoặc quá nuông chiều và có những hành vi lạnh lùng, thiếu nhất quán có liên hệ với rối loạn hành vi ở trẻ, bao gồm hung tính, trộm cắp, bạo lực, lừa dối đến những vấn đề rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm (dẫn theo [22, tr 47-60].)
Nghiên cứu của Coplan, Reichel và Rowan (2009) tiến hành tìm hiểu mối quan hệ phong cách, hành vi của cha mẹ và khả năng tự chủ, kiểm soát cảm xúc ở con cái đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa hành vi làm cha
mẹ và khả năng kiểm soát cảm xúc ở trẻ vị thành niên Cụ thể là trẻ VNT
Trang 16sống trong những gia đình cha mẹ ấm áp, phát huy tính dân chủ và có khả năng kiểm soát cảm xúc tốt hơn những gia đình bố mẹ độc đoán và quá bao bọc con cái [34, tr 241-268]
Nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến kết quả học tập Một số nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ liên hệ đến thành tích học tập của con Nghiên cứu của Pratt, Green, MacVicar và Bountrogianni (1992) chỉ ra rằng những trẻ sống trong gia đình có phong cách dân chủ có kết quả học tập môn toán khá hơn những trẻ sống trong gia đình có phong cách độc đoán Trẻ ở những gia đình nuông chiều cũng có kết quả học tập nói chung kém Nghiên cứu trong nhóm đối tượng sinh viên đại học, thì phong cách cha
mẹ dân chủ trong suốt thời gian các em ở trong giai đoạn vị thành niên có thể dùng để dự đoán sự khỏe mạnh về tinh thần cũng như sự thành công trong học đường Nghiên cứu cũng khẳng định rằng phong cách cha mẹ dân chủ đặc trưng bằng sự nồng ấm, có những nguyên tắc để quản lý hành vi và chú ý phát triển tính tự lập của con cái có liên quan đến động cơ học tập cao và tỉ lệ thuận với điểm số GPA ở đại học [34, tr.17–34.]
1.1.2 Nghiên cứu về tự đánh giá
Nghiên cứutrong nước Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về TĐG khá phong phú Các hướng nghiên cứu bao gồm: đặc điểm, mức độ tự đánh giá; mối quan hệ giữa
tự đánh giá và kết quả học tập của học sinh, sinh viên; nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng đến tự đánh giá
Nghiên cứu về đặc điểm, mức độ TĐG có các công trình nghiên cứu của các tác giả Vũ Thị Nho, Văn Thị Kim Cúc, Đỗ Ngọc Khanh, Trương Quang Lâm, Cao Hải An ở các lứa tuổi khác nhau như sau:
- Nghiên cứu về một số đặc điểm tự đánh giá của học sinh cuối bậc tiểu học, tác giả Vũ Thị Nho đã thực hiện nghiên cứu về khả năng TĐG phù hợp,
ổn định của HS cuối bậc tiểu học, nghiên cứu được thực hiện trên 500 học
Trang 17sinh lớp 4 và lớp 5 theo trình độ học lực (khá, giỏi, trung bình, yếu) tại 6 trường tiểu học của TP Hà Nội và Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy “HS cuối bậc tiểu học đã có khả năng TĐG những phẩm chất nhân cách
cơ bản của người học sinh, người đội viên; song việc TĐG phù hợp và ổn định chiếm tỉ lệ chưa cao và phụ thuộc khá rõ vào nội dung, chuẩn đánh giá cũng như trình độ học lực Học sinh giỏi TĐG phù hợp và ổn định trội hơn hẳn so với HS các loại khác” Bên cạnh đó, tác giả đã đưa một số khuyến nghị sau “đối với học sinh cuối bậc tiểu học, việc nâng cao chất lượng học tập, khả năng nhận thức là một trong những con đường nâng cao khả năng TĐG của các em, giúp các em “hết mình” và chính xác trong sự định hướng, điều chỉnh
và tự giáo dục một cách hiệu quả” Theo tôi, đây là một đề tài hiếm hoi trong
số các đề tài nghiên cứu về tự TĐG tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến
sự TĐG và đề ra các kiến nghị để nâng cao TĐG của học sinh [31, tr 58 ]
- Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu của các tác giả Văn Thị Kim Cúc, Đỗ Ngọc Khanh, Trương Quang Lâm, Cao Hải An, Nguyễn Văn Lượt, Bùi Thu Hà cho thấy TĐG của HS THCS, HS THPT và sinh viên ở mức trung bình
Trong đó nghiên cứu của tác giả Văn Thị Kim Cúc được thực hiện trên
120 trẻ từ 10 đến 15 tuổi, gồm 60 trai, 60 gái, được lựa chọn ngẫu nhiên ở một số trường THCS tại Hà Nội trên 3 lĩnh vực: cái tôi thể chất, cái tôi cảm xúc và cái tôi trường học Sự tự đánh giá bản thân của học sinh bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện rõ khả năng đáp ứng thích hợp của các
em vào các hoạt động chủ đạo, vào các quan hệ trong khuôn viên cuộc sống học đường của giai đoạn lứa tuổi này Hơn nữa sự đánh giá về cảm xúc của bản thân cũng tỏ ra khả quan cho phép các em làm chủ tốt các tình huống này sinh của tuổi đầu thanh niên Tuy nhiên các em đánh giá thấp về hình thức và các năng lực thể chất của các em, cho thấy các em không kịp thích nghi, còn quá bỡ ngỡ về những thay đổi nhanh chóng của cơ thể mình
Trang 18Còn nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Khanh được thực hiện trên 471 khách thể nghiên cứu là các em học sinh THCS tại 5 trường THCS ở 4 quận nội thành Hà Nội Nói chung, sự TĐG về học tập, đạo đức, xã hội của học sinh THCS tại Hà Nội đạt mức trung bình cao Sự TĐG về mặt thể chất ở mức trung bình Trong đó, các em học sinh đánh giá sức khỏe tích cực hơn đánh giá về hình dáng bản thân Sự TĐG về mặt cảm xúc đạt mức trung bình thấp Các em có sự TĐG về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập, trong khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội
- Nghiên cứu của tác giả Trương Quang Lâm, thực hiện nghiên cứu trên
256 cặp khách thể gồm học sinh và phụ huynh cùng 6 giáo viên chủ nhiệm trên 3 khối lớp 10, lớp 11, lớp 12 tại trường THPT Tô Hiệu, Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số học sinh có TĐG phù hợp với đánh giá của cha mẹ
và giáo viên TĐG của học sinh không đồng đều ở các mặt, trong đó học sinh đánh giá cao hơn ở mặt giao tiếp xã hội, định hướng tương lai và về thể chất ngoại hình TĐG về mặt học tập thấp hơn, gần đạt mức trung bình [25, tr 107-108]
- Nghiên cứu của tác giả Cao Hải An kết luận, các khách thể nghiên cứu nhận thấy bản thân có giá trị nhất định, về cơ bản, họ thấy mình có một số phẩm chất tốt, cho rằng bản thân có khả năng làm việc tốt như những người khác Họ cũng có sự hài lòng nhất định về bản thân Tuy nhiên, các khách thể nghiên cứu chưa nhận thức một cách thực sự đầy đủ về những năng lực, phẩm chất nhân cách của bản thân, chưa có được sự tôn trọng cao đối với bản thân mình” [3, tr 91-92]
- Như vậy nghiên cứu TĐG ở các đối tượng khách thể có lứa tuổi khác nhau đều cho thấy TĐG ở mức độ trung bình [7, tr 26-27, tr 30], [27, tr 20], [25, tr 107-108], [3, tr 91-92], [19, tr 58-69] Tuy nhiên, luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Thu Huyền tiến hành nghiên cứu trên 290 học sinh lớp 5 tại 3 trường tiểu học trong địa bàn Hà Nội Kết quả cho thấy, tự đánh giá tổng thể của học sinh lớp 5 qua 2 lần nghiên cứu đều ở mức trung bình khá [10, tr 86-87]
Trang 19 NC mối quan hệ giữa đánh giá bản thân và kết quả học tập:
Các nghiên cứu về mối tương quan giữa TĐG và kết quả học tập là khác nhau.Trong khi luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thu Huyền, nghiên cứu đề tài “Tương quan giữa tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh lớp
5 tại Hà Nội”, cho thấy, không có mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân tổng thể, tự đánh giá bản thân về thể chất, học đường, xã hội ở cả 2 lần nghiên cứu với kết quả học tập [10, tr 86-87]
- Ngược lại, trong nghiên cứu “Mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh THPT” của tác giả Nguyễn Thị Thủy cho thấy có mối liên hệ mật thiết giữa ĐGBT và kết quả học tập của HS THPT, cụ thể là những em xếp loại học lực khá, giỏi đánh giá bản thân cao hơn những
em xếp loại học lực trung bình Kết quả này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Cao Hải An trên sinh viên đại học công nghiệp Quảng
Ninh “Có mối tương quan giữa TĐG bản thân và kết quả học tập của sinh
viên, cụ thể là những sinh viên có học lực khá có sự TĐG bản thân tích cực hơn những sinh viên có học lực trung bình” [17, tr 70-71], [3, tr 91-92]
NC mối quan hệ giữa đánh giá bản thân và sức khỏe tâm thần
- Trong bài viết “Vai trò của tự đánh giá bản thân đối với rối loạn stress sau sang chấn ở phụ nữ sau sinh”, TS Bùi Thị Hồng Thái lấy từ kết quả nghiên cứu trên 1.134 sản phụ mới sinh con trong vòng 12 tháng trở lại tại 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh Bài báo chỉ ra rằng “Tự đánh giá bản thân cao làm giảm rối loạn stress sau sang chấn ở sản phụ Bên cạnh
đó, tự đánh giá bản thân có thể điều tiết mối quan hệ giữa những yếu tố không thuận lợi với rối loạn stress Theo đó, những sản phụ trong hoàn cảnh kinh tế
sa sút, điều kiện hôn nhân không tốt, không có sự trợ giúp sau sinh sẽ càng tăng điểm rối loạn stress khi kết hợp với tự đánh giá bản thân ở mức thấp Trong khi đó, các yếu tố này không trở thành nguy cơ đối với rối loạn stress sau sang chấn khi sản phụ tự đánh giá bản thân ở mức chuẩn và mức cao” [2,
tr 47– 49]
Trang 20- Một bài viết khác “Mối liên hệ giữa tự đánh giá và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên”, được tác giả Nguyễn Văn Lượt, Bùi Thu Hà khảo sát trên 124 sinh viên trên địa bàn Hà Nội cho thấy giữa TĐG và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên có mối tương quan thuận, tương đối chặt chẽ, giữa các mặt TĐG (thể chất, xã hội, học đường, gia đình) và cảm nhận về hạnh phúc của sinh viên (tâm lý, cảm xúc và xã hội) [19, tr 58-69]
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá:
Từ kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nho cho chúng ta thấy kết quả học tập có ảnh hưởng đến khả năng tự đánh giá của học sinh Ngoài ra tác giả cũng nhận định rằng “trình độ nhận thức và trình độ học lực đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự đánh giá” [31, tr 58 ]
- Nghiên cứu của tác giả Trương Quang Lâm cho thấy có sự khác biệt trong TĐG giữa 2 giới, về mặt giao tiếp xã hội, mặt học tập, định hướng tương lai nhìn chung nữ có TĐG cao hơn nam ở 3 mặt này, trong khi đó các
em nam có TĐG cao hơn so với các em nữ về mặt thể chất So sánh mức độ
tự đánh giá của các khối lớp cho thấy, học sinh khối 11 có TĐG thấp hơn học sinh khối 10 và 12 trên các mặt được đánh giá, trong đó học sinh khối 12 có TĐG cao nhất Cuối cùng tác giả khẳng định “con cái có mức độ TĐG cao khi bố mẹ có cách ứng xử quan tâm, tích cực và ngược lại, con cái có TĐG thấp khi cha mẹ ít quan tâm, thờ ơ hoặc có cách ứng xử phê phán tiêu cực” [25, tr 107-108]
- Theo tác giả Đinh Thị Tứ “tự đánh giá của con người được hình thành
và phát triển trong quá trình giao tiếp với mọi người xung quanh, trong quá trình hoạt động và sinh hoạt tập thể và cuối cùng tự đánh giá được hình thành
và phát triển mạnh mẽ trong quá trình cá nhân tích cực hoạt động cải tạo chính bản thân mình Ba con đường trên đây nó có liên hệ mật thiết với nhau, hai con đường đầu được coi là nguồn gốc để nảy sinh và phát triển khả năng
tự đánh giá Con đường thứ ba là con đường quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới sự hình thành và phát triển tự đánh giá” [4, tr 28]
Trang 21Tóm lại, các nghiên cứu trong nước cho thấy các tác giả đã triển khai nhiều công trình khoa học để tìm hiểu về thực trạng tự đánh giá của các đối tượng khác nhau; nghiên cứu mối quan hệ giữa tự đánh giá với kết quả học tập và vấn đề sức khỏe tâm thần, các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá bản thân
NC trên thế giới TĐG là một đề tài được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới Riêng
ở Pháp, thống kê cho thấy chỉ trong vòng hơn 10 năm cuối thế kỷ XX đã có hơn 20.000 công trình nghiên cứu về TĐG [28, tr 24 – 31] Còn theo thống
kê của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ trong vòng 30 năm kể từ 1967 đến 1996 đã
có 13587 các bài viết về TĐG được xuất bản [6, tr 48- 49, tr 33, tr 176] Có nhiều cách tiếp cận và các quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về tự đánh giá nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới tập trung vào các vấn đề lớn như: Nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, nội dung, quá trình hình thành và phát triển của TĐG, vai trò cũng như ảnh hưởng của
nó đến sự phát triển nhân cách con người” [19, tr 58-69]
- Các tác giả nghiên cứu về nguồn gốc TĐG “Trường phái phân tâm mới mà cụ thể là Sullivan, Horney và Fromm thì đánh giá cao tầm quan trọng của TĐG nhưng chỉ coi nó như một chủ đề riêng lẻ chứ không coi nó là trung tâm trong lý thuyết của họ Adler nhìn nhận một cách rõ ràng, tầm quan trọng của TĐG nhưng ông quan tâm đến vấn đề này để áp dụng vào trị liệu hơn là để giải thích về lý thuyết Roger cũng quan tâm đến TĐG nhưng chủ yếu là bàn về bản chất chung của các trải nghiệm của khách thể và sự chấp nhận về kinh nghiệm của cá nhân Có thể nói W.James, GH, Meaf và C.Cooley là những nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu về sự TĐG và để lại ảnh hưởng cho các thế hệ tâm lý học sau này Họ quan tâm đến nguồn gốc của TĐG cao và thấp Các nhà tâm lý học Xô Viết như Rubinstein, Ruvinski, Colovia, Adreeva và Petrevski chịu ảnh hưởng bởi tâm lí học hoạt động cũng chỉ nghiên cứu TĐG như một phần trong khi nghiên cứu nhân