ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN VĂN ĐỨC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRUYỆN NGẮN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN ĐỨC
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRUYỆN NGẮN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thúy Hồng
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của:
Lãnh đạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, các phòng khoa và các thầy, cô trường Đại học Giáo dục
Lãnh đạo trường THPT Lương Tài 2, THPT Hàn Thuyên Các bạn đồng nghiệp và học sinh trường THPT Lương Tài 2, THPT Hàn Thuyên Đặc biệt sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Thúy Hồng
Với tấm lòng trân trọng, tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em học sinh
Dù đã rất cố gắng song chắc chắc luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn thêm hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Văn Đức
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT: công nghệ thông tin GV: giáo viên
HS: học sinh PP: phương pháp PT: phổ thông PPDH: phương pháp dạy học SGK: sách giáo khoa
STT: số thứ tự THPT: trung học phổ thông TPVC: tác phẩm văn chương VH: văn học
VHHĐ: văn học hiện đại
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Giả thuyết khoa học 7
8 Đóng góp của luận văn 8
9 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 9
1.1 Cơ sở lý luâ ̣n 9
1.1.1 Tự học 9
1.1.2 Năng lực tự học 14
1.1.3 Truyện ngắn và năng lực tự học truyện ngắn 21
1.1.4 Đặc điểm tâm lí, nhâ ̣n thức của học sinh THPT và HS lớp 12 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Chương trình Ngữ văn12 và thể loại truyện ngắn 32
1.2.2 Thực trạng rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho HS lớp12 THPT 34 CHƯƠNG 2 43
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRUYỆN NGẮN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 43
Trang 62.1 Những căn cứ đề xuất biện pháp rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho
HS lớp 12 THPT 43
2.1.1 Căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông 43
2.1.2 Căn cứ vào những đặc điểm tâm lí, sinh lí của HS THPT 43
2.1.3 Căn cứ vào định hướng đổi mới PPDH môn Ngữ văn 44
2.1.4 Căn cứ vào thực tế rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho HS lớp 12 THPT hiện nay 46
2.2 Một số năng lực tự học truyện ngắn cần hình thành 46
2.2.2.Năng lực xử lí thông tin trong quá trình tự học truyện ngắn 47
2.2.3 Năng lực hợp tác trao đổi thông tin trong quá trình tự học truyện ngắn 48
2.2.4 Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập: 49
2.3 Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho HS lớp 12 THPT 49
2.3.1 Nhóm biện pháp rèn luyện năng lực thu thập thông tin về truyện ngắn 49
2.3.2 Nhóm biện pháp rèn luyện năng lực xử lí thông tin trong tự học truyện ngắn 57
2.3.3 Nhóm biện pháp rèn luyện năng lực hợp tác trao đổi thông tin 61
2.3.4 Nhóm biện pháp rèn luyện năng lực tự kiểm tra – đánh giá và tự điều chỉnh trong tự học truyện ngắn 65
CHƯƠNG 3 69
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Mục đích thực nghiệm 69
3.2 Đối tượng thực nghiệm 69
3.3 Nội dung thực nghiệm 70
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 71
3.4.1 Cách tiến hành 71
3.4.2 Cách đánh giá 94
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 94
3.5.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 94
Trang 73.5.2 Kết quả thực nghiệm cụ thể 95
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Các truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn lớp12 THPT 33
Bảng 1.2 Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 12 THPT về ý nghĩa tầm quan trọng ý nghĩa của tự học 35
Bảng 1.3 Thực trạng về năng lực tự học của học sinh THPT 36
Bảng 1.4 Thực trạng hoạt động hướng dẫn HS tự học của giáo viên 39
Bảng 1.5 Thực trạng rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh THPT của GV 40
Bảng 3.1 So sánh trình độ HS trước khi dạy thực nghiệm 69
Bảng 3.2: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 95
Sơ đồ 1.1 Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160) 11
Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả học tập trước khi dạy thực nghiệm 70
Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 95
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Vấn đề tự học và học suốt đời hiện nay đã trở thành một xu thế chung trên thế giới Việc học không chỉ bó hẹp trong môi trường giáo dục nhà trường, trong thời gian đi học mà có thể học ở bất kì nơi nào lúc nào và học suốt đời Tri thức là vô hạn mà kiến thức con người là hữu hạn, biết bao nhiêu vẫn là chưa đủ Điều cần học thì nhiều mà thời gian học thì ít Đó là những nghịch lí mà ai cũng biết Trong thời đại ngày nay khi mạng Internet phát triển các phương tiện truyền thông toàn cầu giúp cho mọi người được kết nối gần nhau hơn thì khoảng cách giữa tri thức phong phú của loài người và hiểu biết cá nhân lại càng lớn hơn Vậy làm thế nào để rút ngắn khoảng cách đó? Tăng cường tự học, tự nghiên cứu là cách làm hiệu quả nhất Muốn vậy, người học cần có năng lực tự học, tự nghiên cứu; nhà trường phải thay đổi cách dạy: dạy học sinh cách học trong đó có dạy cách tự học
2 Giáo dục cần bắt nhịp với sự phát triển của thời đại, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Nghị quyết số 29 NQ/ TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 hội nghị trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cũng khẳng định tầm quan
trọng của tự học và phát triển năng lực tự học đó là: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [10, tr2] ; “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học ; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều , ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học , cách nghĩ , khuyến khích tự học , tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.[10, tr5] Như vậy đổi mới giáo dục gắn liền với việc đổi mới
phương pháp dạy học trong đó có dạy cách học lấy HS làm trung tâm của quá
Trang 10trình dạy học chuyển từ lối dạy học thụ động truyền thụ tri thức sang việc hình thành năng lực cho HS một cách chủ động tích cực
3 Cũng giống với các môn học khác môn Ngữ văn đã và đang có sự đổi mới để phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội Ngày nay việc dạy Ngữ văn
không còn chỉ quan tâm đến dạy cho HS kiến thức mà là “dạy cho học sinh biết
cách tự đọc, lấy việc tự đọc nuôi việc tự học, từ đó mà lớn lên, tham gia chủ động vào các hoạt động xã hội” (Trần Đình Sử) Nghĩa là chú trọng hình thành
cho học sinh năng lực tự đọc, từ đó làm cơ sở cho việc hình thành năng lực tự học Quan điểm, chủ trương là vậy nhưng thực tế dạy học Ngữ văn hiện nay cho thấy: việc dạy – học vẫn nặng về trang bị kiến thức Việc hình thành năng lực tự học cho HS chưa được chú trọng nhiều Chính bởi vậy mà HS tỏ ra lúng túng trong việc tự học môn Ngữ văn một môn học đòi hỏi khá cao khả năng tự học của HS
4.Truyện ngắn là thể loại văn học gắn bó với học sinh trung học phổ thông suốt quá trình học tập và quan trọng hơn trong các kì thi kiểm tra, kiến thức truyện ngắn cũng được sử dụng trong các câu hỏi của đề thi nên việc tự học truyện ngắn là rất quan trọng và thiết thực Truyện ngắn được dạy học trong chương trình phổ thông khá nhiều, ở bậc học THPT truyện ngắn chiếm 3/4 số lượng tác phẩm văn xuôi trong chương trình Điều này phản ánh đúng tương quan của thành tựu truyện ngắn so với những thể loại khác trong đời sống văn học Như thế, làm chủ mảng truyện ngắn là làm chủ phần văn xuôi cốt yếu nhất của chương trình Chính bởi những điều đó mà truyện ngắn mở ra nhiều cơ hội cho người học tự học, tự khám phá
Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi thấy rằng: Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu sâu về năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp12 Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của môn học nâng cao chất lượng tự học truyện ngắn cho học sinh Chúng tôi chọn đề tài:
Rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp 12 Trung học phổ thông
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu vấn đề tự học và năng lực tự học trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới ngay từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comenski; G.Brousseau ; J.H Pestalozzi; A.Disterweg trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích HS giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều Phương pháp dạy học mới ra đời:
“phương pháp lạc quan”, " phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”…Các phương pháp dạy học này đã khẳng định vai trò quyết định
của học sinh trong học tập nhưng quá coi trọng “con người cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi được Từ giữa những năm 1970 đã có sách hay bài viết về vấn đề này Các nhà giáo dục học ở
Mỹ và Tây Âu đều thống nhất khẳng định vai trò của HS trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của GV và các PP, phương tiện dạy học Khái niệm HS trong giai đoạn này cũng không còn được
quan niệm cá thể hóa cực đoan như trước đây Theo J.Dewey: “ học sinh là mặt
trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như:
“Phương pháp hợp tác”, “phương pháp tích cực”, “Phương pháp cá thể hóa”,
“Phương pháp nêu vấn đề” trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiên
cứu triển khai rộng hơn cả Nhìn chung tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự
Trang 12học cho học sinh Đồng tình với quan điểm trên, các nhà giáo dục Xô Viết đã khẳng định vai trò tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những thầy giỏi dạy dỗ, thì yếu
tố quyết định đều là nhờ quá trình tự học của bản thân Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền là những tấm gương tiêu biểu Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu - Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu
và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội Vấn đề tự học thực sự được nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người
từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học
làm cốt” Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều
học giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị Các tác giả
đã khẳng định: Năng lực tự học của HS dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học GV là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho HS tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của GV và quá trình hợp tác với HS khác trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học Bước vào thời đại hiện nay, việc tự học nói chung, và vấn đề tự học của học sinh, sinh viên nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì
Trang 13vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy
HS là trung tâm Học giả Nguyễn Nghĩa Dán có bài viết “Vì năng lực tự học
sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/1998); hay Giáo
sư Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu đáo và sâu sắc trong bài “Bàn về
chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001) Nhiều giảng viên ở các
trường đại học cũng có những nghiên cứu để dần đưa việc tự học thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học Qua đây có thể thấy tự học là vấn đề quan trọng và cần thiết hiện nay đối với học sinh, sinh viên và với mỗi cá nhân
2.2 Những nghiên cứu về năng lực tự học trong dạy học các môn học và môn Ngữ văn
Nhận thức được tầm quan trọng của tự học và năng lực tự học cho nên rất nhiều tác giả đã có những công trình khoa học nghiên cứu về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh như: Tác giả Hoàng Thị Kiều Trang có luận văn
thạc sĩ “Nâng cao chất lượng dạy học phần hóa học vô cơ ở trường CĐSP bằng
phương pháp tự học có hướng dẫn theo mô đun” bảo vệ năm 2004tại trường
ĐHSP Hà Nội Luận văn “ Nâng cao năng lực tự học cho học sinh chuyên hóa
học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn” của Nguyễn Thị Toàn bảo vệ năm 2009
tại ĐHSP Hà Nội Luận án của tác giả Lê Trọng Dương “Hình thành và phát
triển năng lực tự học cho sinh viên ngành toán hệ CĐSP” Bên cạnh đó còn khá
nhiều công trình nghiên cứu gắn với các môn như Sinh học, Vật lý, Giáo dục công dân
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên tự học trong môn
Ngữ văn cũng có những nét khác biệt Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong
môn Văn học” do nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến,
Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn đã nói đến một trong những đặc trưng của
phương pháp dạy học tích cực đó là tự học Trong bài: “Dạy văn để HS tự học
văn”, GS Phan Trọng Luận đặt ra yêu cầu và mục tiêu của việc dạy Văn là dạy
HS cách tự học Văn Trong các luận văn, luận án, bài viết của các tác giả gần
Trang 14đây, vấn đề tự học cũng rất được quan tâm Hai tác giả Phạm Thị Xuyến và Vũ
Thị Sáu trong hai cuốn luận văn Dạy học văn học sử theo hướng hình thành và
phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10 và Hình thành thói quen tự học cho học sinh THPT qua bài học Văn học sử (tác gia) đã quan tâm đến việc hình
thành năng lực, thói quen tự học trong phần văn học sử Tác giả Phạm Thị Kim Anh trong cuốn luận văn Rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh Trung
học phổ thông quan tâm đến vấn đề hình thành những kĩ năng cần thiết trong
quá trình tự học các tác phẩm truyện dân gian mà học sinh được học ở lớp 10
Tác giả Trần Thị Hương Mai trong luận văn Dạy học phần đọc thêm các tác
phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn
lại đi sâu nghiên cứu dạy học các bài đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn
Ngoài ra còn có một số bài viết khác như Cách tự học môn Ngữ văn hiệu quả (Nguyễn Văn Phiên), Rèn kĩ năng tự học môn Ngữ văn (Đặng Quang Sơn) trong
đó các tác giả đã đề xuất những cách làm hiệu quả để hướng dẫn học sinh tự học gắn với những phần học khá cụ thể
Như vậy, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy: Lí luận chung về tự học đã được các học giả nghiên cứu khá kĩ tạo ra cơ sở lí luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về tự học Tuy nhiên vẫn còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về năng lực tự học Trong môn Ngữ văn, những nghiên cứu sâu về năng lực tự học truyện ngắn cũng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp sư phạm nhằm hình thành năng lực tự học truyện ngắn cho HS lớp12 THPT qua đó phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình dạy - học truyện ngắn nói riêng và TPVC nói chung; từ đó, nâng
cao chất lượng các giờ dạy học truyện ngắn trong chương trình lớp12 THPT
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học văn bản truyện ngắn trong chương trình lớp12 THPT
Trang 154.2 Đối tượng nghiên cứu
Biê ̣n pháp hình thành năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp12 THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu biện pháp được sử dụng để hình thành năng lực tự học truyện ngắn trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản truyện ngắn lớp12 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Tìm hiểu các tài liệu, sách báo, văn kiện của Đảng và Nhà nước, nội dung kiến thức của quá trình học tập, các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với
GV về việc làm thế nào để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh? Học sinh nhận thức về ý nghĩa tầm quan trọng của tự học như thế nào?
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại kết quả khảo sát
để thấy được thực trạng nhận thức của học sinh, năng lực tự học, thực trạng hoạt động hướng dẫn học sinh tự học, thực trạng rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động tự học của HS trong và ngoài giờ lên lớp
- Phương pháp thực nghiệm: ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy ở lớp thực nghiệm để so sánh với lớp đối chứng từ đó kết luận về hiệu quả của việc rèn luyện năng tự học truyện ngắn
7 Giả thuyết khoa học
Nếu đưa ra được những biện pháp rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp12 thì giáo viên sẽ có những căn cứ và định hướng để tổ chức tốt quá trình dạy học nhằm hướng dẫn học sinh biết cách đọc hiểu văn bản theo đúng đặc trưng của thể loại, góp phần thực hiện tốt mục tiêu dạy học Ngữ văn
Trang 168 Đóng góp của luận văn
8.1.Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua quá trình hướng dẫn đọc hiểu các văn bản truyện ngắn lớp12
8.2.Đưa ra các biện pháp nhằm rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn trong đọc hiểu các văn bản môn Ngữ văn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc sau:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh lớp12 THPT
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Tự học là một khái niệm mà ở Việt Nam đã có một số nhà nghiên cứu
về giáo dục học đi sâu phân tích khái niệm này
Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [ 25, tr 48]
Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [ 22, tr 34]
Trên thế giới khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học Tác giả này đã liệt kê ra tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học
tập Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản
Trang 18chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong
muốn chịu trách nhiệm với việc học" Đây là đặc điểm bên trong Phương pháp
học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người
học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra) Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện
này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học"
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày Nó có thể được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học
1.1.1.2 Các hình thức tự học
- Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự ho ̣c của HS diễn ra trong các cơ sở giáo du ̣c có sự h ướng dẫn, tổ chức của GV theo kế hoa ̣ch giáo dục đã định sẵn
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu ho ̣c tâ ̣p
- Tự học hoàn toàn: là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học , được tiến hành dựa trên nền tảng vốn tri thức sâu rô ̣ng cùng niềm khát khao , say
mê khám phá tri thức mới Ở hình thức tự học này, người ho ̣c tự lực tìm hiểu, cọ xát với thực tiễn để tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
- Tự học có hướng dẫn: là hình thức tự học phổ biến của HS được tiến hành linh hoạt theo từng cấp ho ̣c , từng loa ̣i hình trường ho ̣c , từng đối tượng ; trong đó, HS tự nghiên cứu, tự lĩnh hô ̣i và vâ ̣n du ̣ng kiến thức, kĩ năng thông qua các hoạt động tự học do GV tổ chức, hướng dẫn, điều khiển
- Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc độc
lâ ̣p, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của GV
- Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác trong ho ̣c tâ ̣p để nghiên cứu , lĩnh hội và vận dụng kiến thức ,
kĩ năng; có hoặc không có sự hướng dẫn của GV
Trang 19Như vậy với HS, hoạt động tự học chủ yếu liên quan đến các cơ sở giáo dục Hoạt động này thường kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác và là tự học có hướng dẫn của GV
1.1.1.3 Chu trình tự học
- Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: HS tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích,
phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo
ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: HS tự thể hiện bằng văn bản, bằng lời nói, tự
trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với HS khác và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự
hợp tác trao đổi với các HS khác và GV; sau khi GV kết luận, HS tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học
Sơ đồ 1.1 Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160)
- Dưới tác động của GV, hoạt động tự học của HS được tiến hành theo quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục như sau:
Tự thể hiện (2)
Tự kiểm tra điều chỉnh (3)
Tự nghiên cứu (1)
Trang 20Thời 1: Nghiên cứu cá nhân
Theo hướng dẫn của GV, HS tự đặt mình vào vị trí của người tự nghiên cứu,
tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng cách tự lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề GV đặt ra cho mình Như vậy, sau thời 1 HS đã tự mình tìm ra cách xử lí tình huống, vấn đề GV đặt ra Bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra sản phẩm giáo dục ban đầu
Thời 2: Hợp tác với HS khác, học lẫn nhau
“Sản phẩm giáo dục ban đầu” có giá trị và ý nghĩa lớn với HS vì là kết quả đạt được do nỗ lực của bản thân song dễ mang tính phiến diện, chủ quan Để trở nên khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sự đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng lớp học Nghĩa là HS phải tương tác với
HS khác thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm – lớp, các hoạt động tập thể…
Vậy ở thời 2 thông qua hợp tác với HS khác, sản phẩm ban đầu của HS đã tiến bộ hơn; song trong hoạt động và thảo luận tập thể xảy ra tình huống: cả lớp gặp phải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học Lúc này, HS phải học GV và tự kiểm tra, điều chỉnh sản phẩm
“nghiên cứu” của mình
Thời 3: Hợp tác với GV, học GV tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thực ra, HS đã học GV từ thời 1 qua nhiệm vụ GV đặt ra và thời 2 qua sự tổ chức, đạo diễn cho tập thể lớp thảo luận Ở thời 3, GV là người trọng tài kết luận
về những gì cá nhân và tập thể lớp đã tìm ra thành bài học khoa học
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: thời nào cũng có vai trò và hoạt động của GV và HS Quy trình trên cũng cho thấy rõ một điều: cả 3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ động của chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của
GV để có được một sản phẩm khoa học, tiến bộ theo như mục tiêu đã đề ra
Trang 21- Hoạt động dạy của GV nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với quy trình tự học của HS Tương ứng với quy trình ba thời tự học của HS là quy trình ba thời dạy – tự học của GV
Thời 1: Hướng dẫn – đạo diễn
GV hướng dẫn HS về các tình huống học, các vấn đề cần giải quyết, các nhiệm vụ phải thực hiện
cơ sở HS tự đánh giá, tự điều chỉnh
Như vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trường không thể thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, cố vấn của GV Và luôn có sự kết hợp giữa quy trình dạy – tự học của GV với quy trình tự học của HS qua từng thời để cho HS tự mình chiếm lĩnh tri thức
1.1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của tự học
Tự ho ̣c là mô ̣t trong những yếu tố quyết đi ̣nh chất lượng giáo du ̣c Để ta ̣o
ra chất lượng đó đòi hỏi nhiều yếu tố trong đó có vấn đề tự học của mỗi HS GV
dù cố gắng đến đâu nhưng HS không đô ̣ng não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hô ̣i tri thức , rèn luyện năng lực thì kết quả học tập sẽ không thể đạt được như mong muốn
Tự học là con đường tạo ra tri thức vững chắc, lâu bền cho mỗi người trên hành trình đi tìm kiến thức Kiến thức do tự học đem lại bao giờ cũng vững chắc, lâu bền, thiết thực và đầy sáng tạo
Tự học mở ra kho tàng tri thức vô tận Bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào cũng đề cao năng lực cá nhân, coi trọng vấn đề tự học, tự mình giáo dục, tự mình phát triển Tự học là con đường tự khẳng định, con đường đi đến thành
Trang 22công của mỗi con người
Tự học còn là thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp Con người luôn luôn phải tự học để nâng cao học vấn.Vì tự học chính là một biểu hiện rõ nét của chí lớn lập nghiệp
để hoà nhập với cộng đồng của mỗi con người
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống
Như vậy, có thể khẳng định rằng: nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho HS
1.1.2 Năng lực tự học
1.1.2.1 Khái niệm năng lực
Trong Tâm lý học, năng lực là một trong những vấn đề được quan tâm
nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi "sự phát triển năng
lực của mọi thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn, và cảm thấy hạnh phúc khi lao động" [ 11, tr120 ]Trong nền Tâm lý học Liên xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề năng lực, có thể điểm qua một số các công trình nổi tiếng của các tác giả như: Năng lực toán học của V.A.Crutetxki, V.N Miaxisốp; năng lực văn học của Côvaliốp, V.P Iaguncôva những công trình nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên xô trong những nghiên cứu về năng lực Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học mác xít, năng lực của con
Trang 23người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ Như chúng ta đã biết, nội dung
và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó ( khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong
muốn Do đó chúng ta có thể định nghĩa năng lực như sau: "Năng lực là sự tổng
hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao" Năng lực được
xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị , cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí
(theo John Erpenbeck – 1998) “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu
cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”
[18,tr 65 ]
“Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để
có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi linh hoạt” [ 25, tr82]
Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông và phát triển chương trình
giáo dục phổ thông, tác giả Nguyễn Thúy Hồng cũng thống nhất cho rằng:
“Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố; kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động của cá nhân được thể hiện thông qua giải quyết có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những bối cảnh và tình huống khác nhau”
[18,tr79 ] Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ năng và thái
độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện và quyết định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện, kiến thức
Trang 24sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được trong một tình huống cụ thể
1.1.2.2 Khái niệm năng lực tự học
Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động
học tập” Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự
giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch
đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”
GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”
[ 22, tr 48 ] GS – TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động
độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào
đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [25, tr 37 ] Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về
năng lực tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm về năng lực tự học như sau: Năng lực tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó, có ý trí, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình
Năng lực của học sinh là một cấu trúc có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của HS trong môi trường học
Trang 25tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã đề xuất định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục trung học phổ thông như sau:
a) Về phẩm chất :
1 Yêu gia đình, quê hương, đất nước
2 Nhân ái, khoan dung
3 Trung thực, tự trọng, chí công vô tư
4 Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó
5 Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên
6 Thực hiện nghĩa vụ đạo đức tôn trọng, chấp hành kỷ luật, pháp luật
b) Các năng lực chung bao gồm:
1.1.2.3 Các mặt biểu hiện của năng lực tự học
Năng lực tự học có rất nhiều biểu hiện khác nhau nhưng có thể khái quát lại trong 5 biểu hiện sau đây:
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Trong dạy học truyền thống HS ít khi được phát hiện vấn đề mới, mà thường lặp lại hoặc phát hiện lại vấn đề đã được GV đưa ra Kiểu học như vậy
Trang 26kéo dài làm thui chột khả năng tự tìm kiếm, tự phát hiện của HS, trái với quan
niệm đó việc học cần phải “là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị,
bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài”
là “một hành trình nội tại, được cắm mốc bởi kiến thức, PP tư duy và sự thực hiện tự phê bình, để tự hiểu bản thân mình” [23,tr 61] Năng lực nhận biết, tìm
tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với HS Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,… trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,…
- Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đến với giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề Với năng lực này, HS có thể
áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình
- Năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn đề
Đây là một năng lực quan trọng cần cho HS đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng Vì vậy hướng dẫn cho HS năng lực xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu