1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tóm tắt Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

39 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 868,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như luận văn cao học luật với đề tài “Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương bảo vệ tại

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN

SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Header Page 1 of 126

Footer Page 1 of 126

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ HUYỀN

Hà Nội – 2016

Header Page 2 of 126

Footer Page 2 of 126

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đàm Thị Hoa

Header Page 3 of 126

Footer Page 3 of 126

Trang 4

UBND: Ủy ban nhân dân

Header Page 4 of 126

Footer Page 4 of 126

Trang 5

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 7

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi

1.2 Lược sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể 241.3.1 Quy định của pháp luật – yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định quyền tự

1.3.2 Nhận thức của chủ thể - yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện quyền

1.3.3 Trách nhiệm của Toà án, cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết các vụ án – yếu

tố ảnh hưởng tích cực đến thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể 281.3.4 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác – yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể 29

CHƯƠNG 2: QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO 32

2.1 Các quy định của pháp luật nội dung về quyền tự do khởi kiện 32Header Page 5 of 126

Footer Page 5 of 126

Trang 6

vi

2 Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức

2.2 Quy định của pháp luật tố tụng về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 432.3 Bảo đảm quyền tự do khởi kiện của chủ thể thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác 62

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 753.1.1 Về kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định về quyền tự do khởi

3.1.2 Về những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong việc thực hiện các quy định

về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam 763.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án

Header Page 6 of 126

Footer Page 6 of 126

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền dân sự cơ bản, một quyền năng mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự Hiến pháp năm 2013 được kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 28/11/2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014 Một trong các bước tiến quan trọng của Hiến pháp năm 2013 là đề cao nhân quyền như tổng hoà quyền con người và quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm

2013, cùng với chuyên ngành pháp luật khác, pháp luật dân sự, cụ thể Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015 với tư cách là luật chung, là cơ sở để luật chuyên ngành xây dựng và thực hiện, hai bộ luật này có hiệu lực thi hành toàn bộ bắt đầu từ ngày 01/01/2017 đã đặc biệt đề cao quyền con người, quyền dân sự trong đó quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể pháp luật được thể hiện khá rõ nét

Có thể nói, sau hơn 10 năm Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và Bộ luật Dân sự 2005

và một số luật chuyên ngành khác có hiệu lực thi hành, các quy định về quyền tự do khởi kiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định, quyền khởi kiện của chủ thể chưa được đảm bảo triệt để do quy định của pháp luật tố tụng còn chung chung hoặc do thiếu vắng các quy định của luật nội dung nên các cơ quan tài phán chưa làm hết trách nhiệm của mình dẫn đến quyền dân sự của chủ thể chưa đảm bảo triệt để Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và cơ bản sẽ khắc phục được phần lớn những khiếm khuyết của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự

2004, đề cao quyền tự do khởi kiện của các chủ thể, trách nhiệm của cơ quan tài phán trong xử lý vụ việc, tranh chấp dân sự Tuy nhiên những quy định về quyền tự do khởi kiện của chủ thể pháp luật dân sự trong pháp luật dân sự hiện nay, cụ thể là trong Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực một phần vào ngày 01/7/2016 và hiệu lực toàn bộ vào ngày 01/01/2017 và một số luật chuyên ngành khác như Luật Doanh nghiệp, Luật hôn nhân

và gia đình, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em chưa thực sự đảm bảo trọn vẹn cho việc thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể trong giao lưu dân sự? Nội dung Bộ luật Header Page 7 of 126

Footer Page 7 of 126

Trang 8

2

Dân sự, với các văn bản luật chuyên ngành và Bộ luật Tố tụng dân sự có đảm bảo sự thống nhất hay vẫn còn những quy định về quyền tự do khởi kiện còn chồng chéo? Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định Quyền tự do khởi kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự, đảm bảo quyền tự do khởi kiện của chủ thể mỗi khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Với những lý

do đó, việc nghiên cứu đề tài " Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam" có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một đề tài thu hút khá nhiều sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vì nó có tính ứng dụng trong thực tiễn đời sống

xã hội Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như luận văn cao học luật với đề tài

“Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005); luận văn “Thụ lý vụ

án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Liễu Thị Hạnh (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009); luận văn “ Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Nguyễn Thị Hương ( bảo vệ tại Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2011) hay luận văn “ Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hiền ( bảo vệ tại khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012) Tuy nhiên các công trình này cũng chỉ đề cập đến một nội dung cụ thể nào đó của quyền khởi kiện hoặc nghiên cứu một cách gián tiếp về quyền khởi kiện của đương

sự và chỉ nghiên cứu tập trung vào các quy định của luật tố tụng dân sự ( luật hình thức) mà không đi sâu nghiên cứu quyền tự do khởi kiện dưới góc độ luật nội dung và

tố tụng, các đề tài trên đều nghiên cứu trên cơ sở quy định BLTTDS năm 2004, BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nào đó của quyền khởi kiện hoặc bình luận về các vụ việc cụ thể liên quan đến quyền khởi kiện Chẳng hạn như bài viết “Vấn đề khởi kiện

và thụ lý vụ án dân sự” của ThS Lê Thị Bích Lan đăng tải trên Tạp chí Luật học của Header Page 8 of 126

Footer Page 8 of 126

Trang 9

3

Trường Đại học Luật Hà Nội (Số Đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005); bài viết

“Xây dựng quy định pháp lý đảm bảo quyền khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tại toà án” của tác giả Lê Thế Phúc (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2007); “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao số 9/2008); “Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của ThS Nguyễn Triều Dương (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 11/2009); “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong một vụ

án cụ thể” của tác giả Ngô Đình Quyến (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 3/2008);

"Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2008), “Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương

sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Bùi Thị Huyền ( Tạp chí Kiểm sát số 10/2016)

Các công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề quyền khởi kiện ở một góc độ khác nhau và chủ yếu tập trung nghiên cứu trên cơ sở Luật tố tụng dân sự ( luật hình thức) mà chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện, chuyên sâu cả về Luật nội dung đến Luật hình thức về chế định quyền khởi kiện, đặc biệt hiện nay khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, nội dung đặc biệt đề cao quyền con người, đòi hỏi các ngành luật phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thống nhất với các quy định trong Hiến pháp Pháp luật dân sự không phải là một ngoại lệ, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng dân sự,

Bộ luật dân sự 2015 đã được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và sẽ có hiệu lực thi hành toàn bộ kể từ ngày 01/01/2017 và nhiều luật chuyên ngành khác cũng đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành như Luật hôn nhân và gia đình Trước tình

hình đó, tôi đã chọn đề tài "Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu,

toàn diện và có hệ thống về quyền khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể trong pháp luật dân sự

Header Page 9 of 126

Footer Page 9 of 126

Trang 10

4

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

* Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý, chưa thống nhất trong các quy định hiện hành của pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ phạm vi quyền tự do khởi kiện của chủ thể khởi kiện, trách nhiệm cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do khởi kiện của chủ thể Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ

án dân sự nhằm đảm bảo quy định thống nhất quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của

cá nhân, cơ quan, tổ chức khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại theo quy định của pháp luật Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ

án dân sự, phạm vi quyền khởi kiện và thực thi quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Toà

án Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý, chưa thông nhất trong các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự;

- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền

tự do khởi kiện Vụ án dân sự

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự của chủ thể và trách nhiệm của Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể trong thực thi giải quyết nội dung khởi kiện Vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức dưới góc nhìn lý luận, luật thực định và thực tiễn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài

sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:

Header Page 10 of 126

Footer Page 10 of 126

Trang 11

2004 và BLDS 2005 sắp hết hết hiệu lực thi hành trong khi BLTTDS và BLDS 2015

đã được Quốc hội thông qua và đã có hiệu lực hoặc có hiệu lực một phần Do vậy luận văn sẽ đi sâu phân tích , đánh giá khoa học, có sự so sánh giữa các quy định của luật cũ

và mới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành luật BLDS 2005 và BLTTDS năm 2004

để tìm ra những điểm bất cập trong quy định của BLDS và BLTTDS năm 2015 Vấn

đề thực thi quyền khởi kiện đang áp dụng thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án theo BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005 và những ngành luật chuyên ngành khác, đề xuất giải pháp kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài trên, tác giả tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của

đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê v.v

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về quyền tự do khởi kiện trong đó tập trung nghiên cứu nội dung quyền tự do khởi kiện, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện và chủ thể trực tiếp giải quyết nội dung khởi kiện theo pháp luật dân sự Việt Nam Với việc nghiên cứu quyền khởi kiện một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện lần đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về các quy định của pháp luật quyền khởi kiện ở cả luật hình thức và luật nội dung nhằm chỉ Header Page 11 of 126

Footer Page 11 of 126

Trang 12

6

ra thực trạng thực thi quyền khởi kiện cũng như những bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện trong pháp luật dân sự, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền tự

do khởi kiện trên thực tế Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, nếu luận văn được bảo vệ thành công thì sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan tư pháp trong thực thi Bộ luật Tố tụng dân sự , Bộ luật dân sự năm 2015 và một số luật chuyên ngành

6 Địa điểm nghiên cứu:

Luận văn được giới hạn phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cầu bởi 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự Chương 2: Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành Chương 3: Thực tiễn thực thi quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Header Page 12 of 126

Footer Page 12 of 126

Trang 13

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

“ Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự „ [3, tr 230] Thống nhất với quan điểm trên, theo TS Hoàng Ngọc Thỉnh

thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác ”[4, tr238]. Khởi kiện trước hết

là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nứớc hoặc người khác Quyền dân sự này được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện nó được thể hiện bằng việc toà án xem xét, thụ lý

và giải quyết

Khi Nhà nước ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nước và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo

vệ quyền, lợi hợp pháp của mình

Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công dân La Mã Theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Người bị vi phạm có thực Header Page 13 of 126

Footer Page 13 of 126

Trang 14

Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình Theo từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố quyền” được dịch là quyền tham gia tố tụng theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định xem xét yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra”[4, tr23]

Ở Việt Nam, về phương diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng

“tố quyền tức là có quyền đi kiện”[6, tr23] TS Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”[7, tr109-110] Khái niệm này dường như không đề cập tới các việc không có tranh chấp nhưng nghiên cứu về khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [7,tr6-7], Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án thì có thể khẳng định trong khái niệm trên quyền khởi kiện được thực hiện đối với cả các việc dân sự không có tranh chấp

Header Page 14 of 126

Footer Page 14 of 126

Trang 15

9

Trong lịch sử pháp lý nước ta, có thời kỳ khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng và đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa BLTTDS 2004, BLTTDS năm 2015 đã tách thủ tục giải quyết vụ án dân sự trước đây thành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây, quyền khởi kiện vụ án dân sự không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động như trước đây nữa mà quyền khởi kiện vụ án dân sự được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự TheoTS Phan Chí Hiếu thì: “quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của

cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” [7, tr305].Như vậy, quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Các phân tích ở trên cho thấy rằng xét về bản chất thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm

Theo những kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của quyền khởi kiện vụ án dân

sự là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm Ở đây cần phân biệt khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự

Trước khi BLTTDS 2004 được ban hành đã tồn tại ba khái niệm vụ án dân sự, vụ

án kinh tế và vụ án lao động Khái niệm vụ án dân sự không bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động, kinh doanh, thương mại, Vụ án dân sự chỉ bao gồm Header Page 15 of 126

Footer Page 15 of 126

Trang 16

10

những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những việc tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết mà được tòa án thụ lý giải quyết

BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 đều không đưa ra khái niệm về vụ án dân sự mà chỉ liệt kê những loại việc nào được xác định là vụ án dân sự, loại việc nào

được xác định là yêu cầu dân sự, cụ thể tại điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án;”

Như vậy, có thể hiểu, Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan,

tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung khởi kiện vụ án dân

sự mà không nghiên cứu về yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

Chủ thể của quyền khởi kiện là ai? Hay ai là người có thể thực hiện quyền khởi kiện? Có 2 quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền khởi kiện

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ

quyền lợi của nguyên đơn Điều 68 khoản 2 BLTTDS năm 2015 quy định:

“ Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ

án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa

án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng

là nguyên đơn.”

Header Page 16 of 126

Footer Page 16 of 126

Trang 17

11

Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án Xét về thực chất thì đây là quyền của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự Đó là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Chính việc khởi kiện của của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự thì không

có quá trình tố tụng tiếp theo Như vậy, việc xác định quyền khởi kiện của nguyên đơn

có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án

Quan điểm thứ hai cho rằng quyền khởi kiện là ngoài quyền yêu cầu Toà án bảo

vệ quyền lợi của nguyên đơn còn quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập Toà án bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do

họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vụ án Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác việc khởi kiện của nguyên đơn Bên cạnh đó, quyền phản tố của bị đơn cũng cần được pháp luật ghi nhận Điều này xuất phát từ sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập và yêu cầu này có thể được Toà án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập khi thoả mãn những điều kiện nhất định Thực chất của phản tố là một việc kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập nhưng được xét cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau Như vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện thì có thể xem quyền phản tố cũng là quyền khởi kiện nhưng là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn đối với nguyên đơn và người có yêu cầu độc lập do các yêu cầu này có mối liên hệ nhất định

Header Page 17 of 126

Footer Page 17 of 126

Trang 18

12

Cũng theo góc nhìn về sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có quyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyên đơn

và bị đơn Yêu cầu tố tụng này có thể chống nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cả nguyên đơn và bị đơn Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng của người thứ

ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn Khi nghiên cứu về vấn đề này TS Nguyễn Công Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn và

bị đơn Thông thường người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập

có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn” [2, tr108]

Xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉ chống lại nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự

Nhất trí với quan điểm thứ hai về chủ thể quyền khởi kiện, luận văn nghiên cứu chủ thể quyền khởi kiện bao hàm quyền khởi kiện của nguyên đơn, quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêu cầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyên đơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập

Như vậy theo pháp luật Việt Nam, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước

Header Page 18 of 126

Footer Page 18 of 126

Trang 19

13

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

Wikipedia tiếng Việt “ Quyền tự do „hoặc “ tự do „ là một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn, hành động theo đúng ý chí và nguyện vọng của chính mình [10] Có thể hiểu, tự do gồm có hai thành tố quan trọng nhất là tự do nhận thức và tự do hành động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, Ở phương Tây, người ta cho rằng, tự do là một quyền tự nhiên, là không gian vốn có của mỗi con người, và do đó, Nhà nước dân chủ

là kết quả của sự nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ để nhà nước có vốn liếng điều hành xã hội Từ đó, có thể khẳng định, sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ như một hình thức góp vốn chính là bản chất khế ước xã hội Điều hành đất nước bằng pháp luật, hay các khế ước xã hội chính là điểm

ưu việt của phương thức quản lý theo mô hình dân chủ

Russeau viết “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên và hạn chế cái quyền được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có” [1, tr46] Hết thảy con người khi sinh ra đều bình đẳng, và được tự nhiên ban cho những quyền không thể phủ nhận, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Để đảm bảo những quyền này, các nhà nước được hình thành trên cơ sở sự đồng thuận của các thành viên trong một xã hội Nếu hiểu theo nghĩa này thì tự do là một khái niệm rất nhân văn, nó gắn liền với cái Tự nhiên (nói chung) và con người (nói riêng) [1, tr46] Điều này được thể hiện trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (đoạn 1 lời nói đầu) đã ghi rõ rằng: thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại

Ở góc độ quốc gia, bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 ghi rằng:“ mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có hể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc „ những quyền này còn được thể hiện trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Việt Nam Có thể hiểu quyền tự do của con người là quyền tự nhiên, vốn có nhưng trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nhà nước

Header Page 19 of 126

Footer Page 19 of 126

Ngày đăng: 09/05/2017, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Lê Thị Bích Lan (2005), “Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự”, Luật học, (Số đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
Tác giả: Lê Thị Bích Lan
Năm: 2005
10. Trang web Wikipedia Tiếng Việt , địa chỉ http://vi.wikipedia.org/Wikipedia_tiếng_Việt Link
14. Kiện phái sinh địa chỉ https://vietnamlawgate.wordpress.com/2015/11/03/kien-phai-sinh-phan-i/ Link
1. Nguyễn Trần Bạt (2005), Biện chứng của Tự do , Tạp chí Khoa học & Tổ quốc số 5/2005 Khác
2. Nguyễn Công Bình(2008), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND Khác
3. Đại học Luật Hà Nội(2005), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Khác
4. Đại học Luật Hà Nội (1998), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, , Nxb CAND Khác
5. Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình luật TTDS Việt Nam, NXB công an nhân dân Khác
6. Trần Thúc Linh (1964), Danh từ pháp luật lƣợc giải, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Khác
9. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác
11. Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2015/DSST ngày 12/03/2015 của TAND thành phố Bắc Ninh Khác
12. Thông báo số 35/TB-TAND ngày 22 /10/2016 của TAND thành phố Bắc Ninh về việc Khác
13.TS. Quách Thúy Quỳnh (2012) Về chế định kiện phái sinh (Tạp chí Luật học số 3/2012) Khác
15. Quốc hội (2013)Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 Khác
16. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Hà Nội Khác
17. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hà Nội Khác
18.Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự năm 2005, Hà Nội Khác
19.Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015, Hà Nội Khác
20. Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động, Hà Nội Khác
21. Từ điển Tiếng Việt (2003), Nxb. Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w