Những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ THÙY LINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ THÙY LINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Cấn Thị Thanh Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Cấn Thị Thanh Hương
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã luôn nhận được sự động viên, quan tâm giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của quý thầy, cô, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới:
Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã động viện, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ quản lý giáo dục cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang cũng như Ban Giám hiệu, các bạn đồng nghiệp thuộc 03 trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, các cơ quan đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh, học sinh trên địa bàn thành phố Tuyên Quang đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Cấn Thị Thanh Hương, người hướng dẫn khoa học, đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khích lệ, hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn
Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng hết sức trong quá trình nghiên cứu, song, do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức còn hạn hẹp nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những lời chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp, trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Kỹ năng sống 11
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống 16
1.2.3 Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục 18
1.3 Đặc điểm học sinh THPT và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông 24
1.3.1 Đặc điểm học sinh THPT 24
1.3.2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông 28
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông 36
1.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 36
1.4.2 Tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 37
1.4.3 Chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 38
1.4.4 Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sốngcho học sinh 39
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông 40
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 40
1.5.2 Các yếu tố khách quan 41
Tiểu kết chương 1 45
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG 46
2.1 Khái quát về Thành phố Tuyên Quang 46
2.1.1 Tình hình chung về tự nhiên và kinh tế - xã hội 46
2.1.2 Tình hình giáo dục 47
2.2 Giới thiệu về khảo sát 48
2.2.1 Mục đích khảo sát 48
2.2.2 Số lượng và đối tượng khảo sát 48
2.2.3 Nội dung khảo sát 48
2.2.4 Phương pháp khảo sát, điều tra 48
2.3 Thực trạng kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang 48
2.3.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 48
2.3.2 Thực trạng kỹ năng sống của học sinh 50
2.4 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang 51
2.4.1 Thực trạng nhận thức của các chủ thể giáo dục về tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống 51
2.4.2 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang 55
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 57
2.5.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống của các trường trung học phổ thông 57
2.5.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống của các trường trung học phổ thông 58
2.5.3 Thực trạng công tác chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông 62
2.5.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống 63
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh của các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay 65
Trang 82.6.1 Những điểm mạnh 65
2.6.2 Những điểm hạn chế 66
2.6.3 Nguyên nhận của những hạn chế 67
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG 76
3.1 Những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 76
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 76
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 76
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 77
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77
3.2 Hệ thống biện pháp tổ chức quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang 78
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các đối tượng liên quan trong quản lý, giáo dục kỹ năng sống 78
3.2.2 Kế hoạch hóa hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng sống phù hợp với các trường trung học phổ thông 82
3.2.3 Tổ chức các nguồn lực thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống 84
3.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường THPT 86
3.2.5 Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành Phố Tuyên Quang 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 91
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 91
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 91
3.4.3 Quy trình khảo nghiệm 91
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng và đối tượng khảo sát 48 Bảng 2.2 Đánh giá của các chủ thể giáo dục về các KNS cần thiết đối với
học sinh các trường THPT 53 Bảng 2.3 Đánh giá của CBQL, GV về đơn vị quản lý việc giáo dục KNS
cho học sinh các trường THPT có hiệu quả 54 Bảng 2.4 Đánh giá chất lượng giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 56 Bảng 2.5 Các kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT trên
địa bàn thành phố Tuyên Quang 58 Bảng 2.6 Ý kiến đánh giá về mức độ thực hiện các nội dung giáo dục KNS cho
học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 60 Bảng 2.7 Thực trạng chỉ đạo quản lý giáo dục KNS cho học sinh các trường
THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 62 Bảng 2.8 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thiếu KNS của học sinh
các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 67 Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất 91 Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 92
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của giáo dục kỹ năng sống 49 Biểu đồ 2.2: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS cho
học sinh các trường THPT 52 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của các chủ thể giáo dục về lực lượng thực hiện việc
giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT 55 Biểu đồ 2.4: Điều kiện đảm bảo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh các
trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 61 Biểu đồ 2.5: Mức độ thực hiện công tác giáo dục KNS cho học sinh các
trường THPT trên địa bàn TP Tuyên Quang 64
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người vừa là một thực thể sinh lý vừa là một thực thể mang bản chất tâm lý – xã hội, bao gồm những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý có ý nghĩa xã hội được hình thành do kết quả tác động qua lại với nhau, với các sự vật, hiện tượng xung quanh trong từng hoạt động Con người càng hoạt động thì càng có cơ hội khám phá, hiểu biết và phát triển Vì thế, con người cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và kiểm soát được môi trường xung quanh một cách thành công Nói cách khác, để sống tốt và hoạt động hiệu quả, con người cần phải xây dựng những giá trị sống và rèn luyện những kỹ năng sống Kỹ năng sống có thể được hình thành một cách tự nhiên, qua trải nghiệm và thông qua giáo dục, học tập, rèn luyện
Chính vì vậy, giáo dục kỹ năng sống là một trong những bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách con người Nhân cách được thể hiện trong cách ứng xử, nói năng, là sự kết tinh của văn hóa thông qua hệ giá trị, chuẩn mực, thế giới quan và nhân sinh quan, trong tình cảm, niềm tin… và được biểu hiện trong hành vi, cách ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Phát triển nhân cách con người chính là tạo ra nguồn động lực để phát triển kinh tế,
xã hội của các quốc gia
Sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và giao lưu quốc
tế đã và đang có những tác động đa chiều, phức tạp ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhất là thế hệ trẻ Thế hệ trẻ ngày nay sống trong môi trường đan xen những cái tốt và cái xấu, thường xuyên phải đương đầu với những rủi ro, đe dọa sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập Muốn thành công và sống có chất lượng, con người cần phải có kỹ năng sống Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào giáo dục cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu càu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ
Trang 12theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào nội dung môn học, thông qua hoạt dộng giáo dục nào, bằng phương pháp nào, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao là những câu hỏi đặt ra đòi hỏi phải giải đáp Trong những giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi bậc trung học phổ thông (THPT) (từ 15 tuổi đến 18 tuổi) là lứa tuổi đang ở thời kì phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động tâm lý… nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này của một con người Do vậy học sinh khối trường THPT cần được quan tâm giáo dục, rèn luyện nhiều hơn các kỹ năng cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống
Hiện nay các trường THPT trên cả nước nói chung và 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang nói riêng, hoạt động giáo dục kỹ năng sống đã được chú trọng, các cán bộ quản lý có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cùng với việc quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, đã góp phần tạo nên sự ổn định và phát triển của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong nhà trường Tuy nhiên công tác kê hoạch hóa hoạt động giáo dục kỹ năng sống của tổ chức Cán bộ quản lý trong khối trường học chưa tốt, chưa khoa học, nên thực hiện thiếu đồng bộ Việc chỉ đạo quản lý còn bất cập, nội dung giáo dục kỹ năng sống còn chưa thống nhất, hình thức tổ chức còn chưa phong phú, việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp còn mang tính hình thức, việc kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống chưa được tiến hành thường xuyên, việc khen thưởng, xử phạt chưa được xây dựng thành quy định nên chưa đủ mạnh để động viên, khuyến khích hoặc răn đe mọi người Đặc biệt công tác phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chưa có kế hoạch, thiếu bài bản, hiệu quả chưa cao Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu của tác giả thì hiện nay chưa
có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối trường THPT trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Trang 13Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông trên điạ bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” đã được tác giả lựa chọn làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh các trường trên địa bàn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trường THPT
3.2 Tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường THPT, nhằm nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh các trường THPT trên dịa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
5 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về phạm vi khảo sát: Đề tài khảo sát hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động GD KNS cho học sinh tại 03 trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, gồm các Trường THPT Chuyên, THPT Tân Trào, THPT Nội Trú
Trang 14- Giới hạn về thời gian khảo sát: Các số liệu phục vụ cho việc phân tích và nghiên cứu được tiến hành khảo sát trong các năm học 2012 - 2013; 2013 - 2014;
2014 - 2015
- Giới hạn đối tượng khảo sát: Đối tượng được lựa chọn khảo sát gồm học sinh các khối lớp 10, 11, 12; các chi hội trưởng phụ huynh học sinh các lớp; các đồng chí trong BGH; Chủ tịch công đoàn; BCH Đoàn trường; Tổ trưởng tổ chuyên môn
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang diễn ra như thế nào?
- Cần những biện pháp quản lý nào để cải thiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang?
7 Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong học sinh trong các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang đã và đang được thực hiện, mang lại một số hiệu quả nhất định nhưng còn thiếu sự đồng bộ, chưa có được nhiều sự quan tâm và định hướng chỉ đạo của đội ngũ những nhà quản lý Nếu nâng cao được nhận thức về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho các đối tượng liên quan trong và ngoài trường cũng như đổi mới phương pháp dạy học và áp dụng một số biện pháp quản lý phù hợp từ lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
sở thực tiễn để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
Trang 15Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và là tài liệu tham khảo cho các trường THPT khác trong cả nước trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí; luận văn, luận án chuyên ngành, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Sử dụng bảng hỏi để điều tra ở 03 trường THPT tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang với các mẫu điều tra dành cho các đối tượng sau: cán bộ quản lý trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, cán bộ Đoàn), giáo viên chủ nhiệm, giáo viên, đại diện phụ huynh học sinh, đại diện học sinh các khối lớp, các chi đoàn để nắm được thực trạng công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
- Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn, trò chuyện với các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Bí thư Đoàn, Phó bí thư Đoàn, cán bộ đoàn thể, GV, với đại diện PHHS, đại diện học sinh các khối lớp, các chi đoàn các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
- Phương pháp quan sát khoa học:
Quan sát các hoạt động của nhà trường, của đoàn thể, của thầy và trò thông qua dự giờ một số bộ môn Văn học, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân, Thể dục, Mỹ thuật, các buổi sinh hoạt của Hội đồng giáo dục, chương trình hoạt động tập trung của trường, các buổi hoạt động dưới cờ, sinh hoạt ngoại khóa, các tiết sinh hoạt của GVCN, các tiết hoạt động ngoài giờ và cuối buổi học, các buổi tham quan dã ngoại… Tất cả các hoạt động quan sát đều được ghi chép lại thành tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài của tác giả
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Quan sát nghiên cứu các sổ sách ghi chép, kế hoạch hoạt động của GV, cán
Trang 16bộ lớp, học sinh Đây là phương pháp thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục,…) tạo ra như bài làm, bài chấm
vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập, các hoạt động thực tiễn… để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tạo ra các sản phẩm đó
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó
Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ…
- Phương pháp khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
đã được đề xuất trong luận văn:
Xin ý kiến một số CBQL giáo dục, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Bí thư Đoàn, Phó Bí thư Đoàn các trường THPT, các cán bộ đoàn thể, GV, GVBM, đại diện PHHS, đại diện học sinh các khối lớp, các chi Đoàn về sự cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
9.3 Phương pháp bổ trợ
Sử dụng phần mềm tin học, toán thống kê để lập bảng biểu, thống kê, phân tích, xử lý các số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính xác, khoa học, nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viét tắt và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội
Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Theo đó vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học
Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization) hoặc của UNESCO, những quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS
Trang 18được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lý, xã hội
Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốc gia Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy cũng có sự khác nhau Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như: đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ sở, trong khi giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS
Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau:
- Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục KNS, Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về giáo dục KNS cho thanh thiếu niên đã xác định mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống
- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục KNS, đây là nội dung được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm Các nghiên cứu này cho thấy chương trình, tài liệu giáo dục KNS được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức Cụ thể:
+ Lồng ghép vào chương trình dạy chữ (chương trình các môn học) ở các mức độ khác nhau Ví dụ: Có nước lồng ghép KNS vào các chương trình dạy chữ
cơ bản nhằm xóa mù chữ Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kỹ năng làm nông nghiệp, kỹ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS
+ Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học Ví dụ như: tạo thu nhập; môi trường, kỹ năng nghề, kỹ năng kinh doanh
Trang 191.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng Giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Trong giai đoạn đầu tiên khái niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề giáo dục KNS cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những
kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kỹ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT) Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân (2002); “Kỹ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời (1998) Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình, với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu
KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam đã được nghiên cứu theo các hướng và nội dung chính sau:
- Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về KNS và giáo dục KNS Theo hướng nghiên một số cơ sở tâm lý của việc giáo dục KNS cho học sinh và những nghiên cứu của một số tác giả khác Một số nghiên cứu khác không trực tiếp đề cập đến vấn đề
Trang 20KNS, giáo dục KNS như đối tượng nghiên cứu của mình, song, những kết quả nghiên cứu của các công trình này có giá trị quan trọng trong việc thiết lập quan điểm phương pháp luận cũng như những định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu KNS, giáo dục KNS cho thế hệ trẻ Đó là nghiên cứu của các tác giả cứu này còn có một số công trình nghiên cứu khác như: cho tuổi vị thành niên; Đặng Quốc Bảo; Dương Tự Đam; Phạm Minh Hạc; Phạm Đình Nghiệp
- Nghiên cứu so sánh giáo dục KNS ở Việt Nam với một số quốc gia khác Kết quả của hướng nghiên cứu này cho thấy, nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ nhiệm vụ triển khai chiến lược và đổi mới giáo dục phổ thông, từ xu thế giáo dục thế giới và từ sự phát triển nội tại của khoa học giáo dục nói chung và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định Một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục KNS cho học sinh như đề tài “Thực trạng phạm tội của học sinh, sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận
và thực hiện giáo dục KNS cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện Ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Theo đó, các nội dung giá dục KNS cụ thể đã được triển khai
ở các cấp bậc học Trong giáo dục THPT, giáo dục KNS cho học sinh đã được triển khai qua chương trình ngọai khóa theo dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ Quá trình giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT thông qua công tác giáo dục của tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh được thực hiện dựa trên những kết quả nghiên cứu về vấn đề này, đồng thời cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu đưa giáo dục KNS vào chương trình giáo dục phổ thông ngày càng phát triển Hướng nghiên cứu về giáo dục KNS cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục của nhà trường có ưu thế hơn cả trong những nghiên cứu về vấn đề này
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của Huỳnh Lâm Anh Chương với đề tài
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tại
Trang 21Thành phố Hồ Chí Minh” đã tiến hành nghiên cứu những cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, đồng thười, phân tích, đánh giá thực trạng và hệ thống quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh Ở đây, luận án chú trọng nghiên cứu việc quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sồng cho đối tượng là học sinh tiểu học tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn sách “Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” của tác giả Trương Thị Hoa Bích Dung do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2013 Cuốn sách đã tìm hiểu kỹ năng sống, phương pháp giảng dạy kỹ năng sống và các mục tiêu của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông, phương pháp xây dựng bài giảng kỹ năng sống cho giáo viên sử dụng trong các nhà trường trung học phổ thông nói chung trong cả nước
Từ năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình giáo dục KNS vào chỉ thị của việc thực hiện nhiệm vụ năm học Tuy nhiên, giáo dục KNS cho học sinh khối trường THPT mặc dù đã được định hướng bởi nội dung giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và những triển khai thực tiễn hoạt động này trong nhà trường còn rất nhiều hạn chế
Trong quá trình tìm hiểu của tác giả, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý công tác giáo dục KNS cho học sinh trong khối THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang một cách khoa học và có hệ thống Chính vì vậy, có thể thấy rằng đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về việc đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh khối THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang Đề tài vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Kỹ năng sống
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng sống
Đối với khái niệm KNS, chúng ta có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, có thể tiếp cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo UNESCO: Học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning to be), học để chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning to do)
Trang 22Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kỹ năng học tập, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng làm việc Tuy nhiên, kỹ năng sống có thể hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh
- Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên Hợp Quốc UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để họ thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày, những kỹ năng đó gắn với 4 trụ cột của giáo dục:
+ Học để biết: Gồm các kỹ năng tư duy như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả của việc làm…
+ Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…
+ Học để làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…
+ Học để chung sống: gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng,
tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), KNS là những kỹ năng thiết thực
mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh, đó là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể có để tương tác cới những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay thách thức cuộc sống hằng ngày
Tương đồng với quan niệm của WHO, còn có quan niệm KNS là những kỹ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
- Theo UNICEFF, KNS là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ
có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả KNS được thể hiện ở những hành động
Trang 23cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh
Có thể thấy rằng KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người Về bản chất, đó là kỹ năng tự quản lý bản thân
và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lựctrong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả… Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của cuộc sống KNS hướng vào việc giúp con người thay dổi nhận thức, thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng
Theo nghĩa hẹp, KNS chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội của con người; còn theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội mà còn bao gồm cả những kỹ năng tâm lý vận động Tuy có sự khác nhau nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là đều coi KNS thuộc phạm trù năng lực (kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi (kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp)
Qua quá trình tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, 10
kỹ năng sau đây được nhiều nhà nghiên cứu coi là những kỹ năng căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay; kỹ năng học và tự học;
kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân; kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm; kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng giao tiếp và ứng xử; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng làm việc đồng đội; kỹ năng đàm phán
Trong lĩnh vực giáo dục, tài liệu tập huấn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Bộ Giáo Dục và Đào tạo cho rằng: KNS là khả năng thực hiện những hành
vi thích ứng tích cực, những cách hành xử hiệu quả, giúp cá nhân hòa nhập vào môi trường xung quanh (gia đình, lớp học, thế giới bạn bè…), giúp cá nhân hình thành các mối quan hệ xã hội, phát triển những nét nhân cách tích cực thuận lợi trong sụ thành công học đường và thành công trong cuộc sống KNS được hình thành thông qua một quá trình sống, rèn luyện học tập trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội
Trang 24Vì vậy, KNS của mỗi người vừa có tính cá nhân, vừa có tính xã hội và chịu ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng, dân tộc KNS mang tính cá nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân Mặt khác, KNS có tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của
sự phát triển xa hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợp với những KNS tương ứng
Với phân tích nêu trên, tác giả sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu luận
văn với nội hàm: “KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp
với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong đời sống hàng ngày.”
1.2.1.2 Mối quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống
Giá trị sống và kỹ năng sống có mối quan hệ tác đông qua lại biện chứng với nhau, giá trị sống là nền tảng để hình thành kỹ năng sống, còn kỹ năng sống lại là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống
GTS) là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người Những giá trị sống cơ bản thường được nhắc đến là hòa bình, công bằng xã hội, sự tôn trọng, đoàn kết, sự trung thực, tình bạn, tính vị tha… Chung quy là tất cả những gì
mà con người cho là tốt đẹp nhất Tuy nhiên, GTS lại mang đậm tính cá nhân, không phải GTS của mọi người đều giống nhau Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết" Có người cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời Có người coi trọng lòng trung thực, sự bình yên…
Nhưng sự thật là, có những giá trị khách quan là không tốt đẹp mà từng cá nhân, gia đình vẫn cho đó là quan trọng nhất, hay nhất đối với mình Đó là tiền tài, vật chất, hưởng thụ những cái gì mà họ cho rằng có lợi cho bản thân nhất Đó là những nhận thức về GTS một cách hoàn toàn sai lầm Họ đang nhầm lẫn những giá trị ảo với những giá trị đích thực
Vậy, giá trị sống thực chất là gì? Giá trị sống, đó là một hình thái ý thức xã
hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người Giá trị về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận Giá trị là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho
Trang 25cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội Có những giá trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người
và toàn xã hội như lòng trung thực, hòa bình, tôn trọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha, nhưng không phải ai cũng nhận ra đúng giá trị của cuộc sống
Vì vậy, học tập để nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều cần thiết với tất cả mọi người, nhất là các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường
Giá trị sống là nền tảng để hình thành kỹ năng sống
Bên cạnh việc học cách để làm nhằm chuẩn bị mưu sinh cho cuộc sống, con người cũng cần biết nên sống ra sao Nghĩa là làm thế nào để ứng phó trước tình huống, quản lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ, làm thế nào để thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh Đặc biệt, trong một xã hội cạnh tranh như hiện nay, nếu không được trang bị sẵn vốn sống, chúng ta khó có thể ứng phó sao cho tích cực nhất khi phải đối mặt trước những tình huống thử thách, hoặc sẽ dễ dàng bị sa ngã, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống Mặt khác, nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, chúng ta sẽ không biết cách sử dụng nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi cho bản thân và cho xã hội Không có nền tảng giá trị, chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay, có khi còn tỏ ra tham lam, cao ngạo về kỹ năng mình có.Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất,
và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành
vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất Những giá trị sống tích cực là chiếc neo giúp chúng ta
ổn định, vững chãi giữa những biến động của cuộc đời
Các kỹ năng sống trọng yếu là các kỹ năng cá nhân hay xã hội giúp học sinh truyền đạt những điều họ biết (tức là kiến thức), những gì các em suy nghĩ hay cảm nhận (tức là thái độ) và những gì họ tin (đó là những giá trị) trở thành khả năng thực tiễn về những gì cần làm và làm như thế nào
Thanh thiếu niên phải đối mặt với rất nhiều thử thách Bằng việc nâng cao
Trang 26nhận thức và đưa các thành tố trọng yếu của kỹ năng sống vào cuộc sống của thanh thiếu niên, điều này sẽ giúp các em nâng cao năng lực để có được những lựa chọn lành mạnh hơn, có được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực và kích thích những thay đổi tích cực trong cuộc sống của các em Chính vì vậy, trước khi hình thành những kỹ năng sống nào đó, người học cần cảm nhận rõ ràng về các giá trị sống và sự lựa chọn của các cá nhân ấy đối với các giá trị
Kỹ năng sống là công cụ hình thành và thể hiện giá trị sống
Thực chất kỹ năng sống là các giá trị thể hiện bằng hành động và ngược lại với kỹ năng thể hiện giá trị bằng hành động sẽ cho kết quả tích cực và nó lại củng
cố các giá trị
Để cảm nhận được sâu sắc các giá trị, ở người học cần phải phát triển những
kỹ năng nhất định Thí dụ, để cảm nhận giá trị “bình yên”, người học phải biết cách thư giãn, thả lỏng cơ thể, cách “theo dõi” sự biến chuyển của cơ thể dưới tác động của các kích thích từ môi trường Chính vì thế, song song với giáo dục giá trị, cần trang bị cho người học cách tiếp nhận và chuyển tải các giá trị ấy – đó chính là kỹ năng sống Tuy nhiên, nếu quá tập trung vào các kỹ năng sống dưới góc độ “kỹ thuật hành vi” và không chứa đựng giá trị nhân văn tốt đẹp thì giáo dục kỹ năng sống kiểu này có thể dẫn đến phi đạo đức, không phù hợp với mục đich giáo dục tốt đẹp của chúng ta
Từ việc phân tích mối quan hệ giữa GTS và KNS như trên cho thấy trong giáo dục kỹ năng sống không thể không quan tâm đến giáo dục giá trị sống
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Trong nhiều năm trở lại đây, trong giáo dục đạo đức cho tuổi trẻ trên thế giới người ta thường dùng hai khái niệm mới là giáo dục kỹ năng sống (life skills) và giá trị sống (living values) Nó khác nhiều với cách giáo dục xưa bằng lời nói suông,
mà bằng hành động cụ thể để người được giáo dục có khả năng hành động tích cực thật sự
Ở mỗi nước khác nhau, giáo dục cũng được hiểu rất khác nhau Ở một số nước, dạy KNS chính là cách giáo dục cách vệ sinh, dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật Ở các nước khác, giáo dục KNS được tập trung vào giáo dục hành vi, an toàn trên đường phố, bảo vệ mội trường hoặc giáo dục hòa bình…
Trang 27Trong thực tiễn giáo dục KNS được xem xét dưới 2 khía cạch khác nhau:
- Như là một lĩnh vực học tập: như giáo dục sức khỏe, HIV/AIDS Ở lĩnh vực này đã tồn tại cách tiếp cận KNS từ khá lâu;
- Như là một cách tiếp cận giúp giáo viên tiến hành giáo dục có chất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập
UNICEF, UNESCO cũng quan niệm rằng, giáo dục KNS không phải là lĩnh vực hay môn học, nhưng nó được áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời Ở một số quốc gia, giáo dục KNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề Chẳng hạn như, một số nước lồng ghép giáo dục KNS vào các môn học như: Trung Quốc, KNS được lồng ghép vào các môn học trong nhà trường về giáo dục đạo đức, giáo dục lao động và xã hội Còn ở Su-đăng, KNS được lồng ghép vào chương trình giáo dục công dân Còn Myanmar có các chủ đề giáo dục KNS trong chương trình giảng dạy; sức khỏe, vệ sinh cá nhân, sự phát triển thể chất, sức khỏe, tinh thần, phòng tránh các bệnh như tiêu chảy, rối loạn do thiếu iốt, lao phổi, sốt rét, ma túy, HIV/AIDS,
kỹ năng ra quyết định, kỹ năng truyền thông và tự diễn đạt, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng xử lý cảm xúc, khuyến khích lòng tự trọng
Giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mục đích giúp con người có những khả năng tâm lý xã hội để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày một cách có hiệu quả Giáo dục KNS không thể thiếu trong giáo dục học sinh trong trường học
Như vậy, giáo dục KNS là giúp người học phát triển kỹ năng cá nhân, kỹ năng nhóm, kỹ năng tập thể, xác định rõ giá trị của bản thân và tập thể, sống tự tin
và có trách nhiệm với chính mình và xã hội
Trong tổ chức trường học, giáo dục KNS cho học sinh luôn được xác định rõ trong chương trình hành động thực hiện nghị quyết, đề án, chương trình công tác năm học, trong đó luôn xác định rõ:
- Mục tiêu giáo dục KNS: Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị thái
độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hằng ngày Tạo
cơ hội thuận lợi để học sinh thực hện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
Trang 28- Nhiệm vụ giáo dục KNS: hình thành, củng cố thái độ, hành vi, cách ứng xử lành mạnh, mang tính chất xây dựng; thay đổi suy nghĩ, niềm tin, thói quen, hành vi tiêu cực, có nguy cơ rủi ro thành những hành vi tích cực, an toàn
- Nội dung giáo dục KNS: Tập trung vào những vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn hiện nay, như: giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng tránh ma túy, giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục an toàn giao thông, bình đẳng giới, sức khỏe sinh sản vị thành niên, luật hôn nhân gia đình, luật thanh niên… Tổ chức cho học sinh được trực tiếp trải nghiệm bằng các hoạt động, các tình huống trong thực tiễn
- Phương pháp giáo dục KNS: phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp đóng vai, phương pháp giải quyết vấn đề; phương pháp tình huống, phương pháp trò chơi, phương pháp giao nhiệm vụ; phương pháp tổ chức hoạt động giao lưu; phương pháp diễn đàn… Có thể tích hợp giáo dục KNS thông qua khai thác tiềm năng giáo dục trong nội dung môn học, thông qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp của các tổ chức cán bộ quản lý, thông qua các tình huống giáo dục và các tình huống trong thực tiễn cuộc sống; thông qua hoạt động của câu lạc bộ đội, nhóm trong nhà trường; các lớp tập huấn nhằm giới thiệu, nâng cao nhận thức hiểu biết và ý thức rèn luyện KNS; thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề - tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia tâm lý giáo dục; thông qua các buổi sinh hoạt Đoàn; tổ chức các hội thi đóng vai tình huống cụ thể
gắn với kỹ năng cần hình thành…
1.2.3 Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục
Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau Có ý kiến cho rằng: Quản lý là một hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức Hoạt động quản lý là nhân tố cần thiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của mọi quy mô và loại hình tổ chức người; từ một gia đình cho đến cấp quốc gia, quốc tế;
từ các tổ chức kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học… đến bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào của con người, nếu không được quản lý sẽ dẫn đến tình trạng tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả Trong nhiều trường hợp, hoạt động quản lý được đồng nhât với hoạt động tổ chức [33, tr.28]
Trang 29Ý kiến khác lại cho rằng: quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng một tổ chức Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng điều chứa đựng những nội dung cơ bản của quán lý Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất
là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo
ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động
có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết tài liệu
và trí tuệ của mình để sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho tập thể tạo ra các tác động
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động
- Chủ thể phải thực hành việc tác động Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải
có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động đạt được mục đích của
mình: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.” [33]
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV và học sinh và các lực lượng giáo dục khác,