Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ và tạo điều kiện được đi điều tra, khảo sát, lấy thông tin từ một số cơ sở Khai thác và Chế biến đá xây dựng tại Lương Sơ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Thu
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP KIỂM KÊ KHÍ PHÙ HỢP CHO KHAI THÁC ĐÁ VÔI
Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đồng Kim Loan và TS Phạm Thị Việt Anh – Giảng viên Trường đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ và tạo điều kiện được đi điều tra, khảo sát, lấy thông tin từ một số cơ sở Khai thác và Chế biến
đá xây dựng tại Lương Sơn-Hòa Bình của Dự án Hợp tác song phương Đức “Quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản tỉnh Hòa Bình – một đóng góp cho phát triển bền vững tại Việt Nam” ( MAREX)
Việt-Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể thầy cô giáo Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm giúp
đỡ và động viên, khuyến khích tôi trong thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn được tốt hơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Học viên cao học
Nguyễn Thị Thu
Footer Page 3 of 126
Trang 4gia Úc
Footer Page 4 of 126
Trang 5MỤC LỤC
MỞĐẦU 1
CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.ĐÁVÔI 3
1.1.1 Thành phần và phân loại đá vôi 3
1.1.2 Khai thác, chế biến đá xây dựng và nhu cầu sản xuất ở Việt Nam 6
1.1.3 Ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác đá vôi 9
1.2.KIỂMKÊKHÍTHẢI 11
1.2.1 Ý nghĩa của kiểm kê 11
1.2.2 Các phương pháp kiểm kê khí thải 14
1.3.KHUVỰCNGHIÊNCỨU 19
1.3.1 Giới thiệu huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 19
1.3.2 Khai thác đá vôi ở huyện Lương Sơn 20
CHƯƠNG 2-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1.ĐỐITƯỢNGNGHIÊNCỨU 23
2.2.CÁCPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 23
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 23
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát 23
2.2.3 Phương pháp tính toán 24
2.2.4 Phương pháp kiểm kê phát thải 24
CHƯƠNG 3-KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1.KẾTQUẢĐIỀUTRACÔNGNGHỆKHAITHÁC,CHẾBIẾNĐÁXÂY DỰNGVÀCHẤTTHẢI 27
3.1.1 Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và du lịch Bình Minh 28
3.1.2 Công ty TNHH Xây dựng thương mại và vận tải Hợp Tiến 28
3.1.3 Xưởng sản xuất đá - Bộ Tư lệnh pháo binh 29
3.2.KẾTQUẢƯỚCTÍNHLƯỢNGKHÍVÀBỤITHẢI 30
3.2.1 Từ quá trình khai thác 30
Footer Page 5 of 126
Trang 63.2.2 Phát thải khí và bụi trong hoạt động vận chuyển 46
3.2.3 Phát thải khí và bụi trong hoạt động chế biến đá 52
3.3.KẾTQUẢLỰACHỌNPHƯƠNGPHÁPKIỂMKÊPHÙHỢP 55
KẾTLUẬNVÀKIẾNNGHỊ 59
TÀILIỆUTHAMKHẢO 61
Footer Page 6 of 126
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kỹ thuật ước tính khí thải dựa theo phân loại nguồn 15
Bảng 1.2 Phương án quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng ở huyện Lương Sơn 21 Bảng 2.1 Lựa chọn phương pháp kiểm kê cho mỗi công đoạn 25
Bảng 3.1 Hệ số phát thải bụi từ quá trình bốc xúc và dỡ tải 32
Bảng 3.2 Phát thải bụi từ quá trình bốc xúc và dỡ tải đất phủ và đá 32
Bảng 3.3 Hệ số phát thải của một số phương tiện khai thác đá (kg/1000L nhiên liệu) 34
Bảng 3.4 Lượng nhiên liệu sử dụng cho các phương tiện sản xuất 34
Bảng 3.5 Ước lượng khí phát thải của máy xúc 35
Bảng 3.6 Tỷ lệ khí thải từ các phương tiện giao thông 36
Bảng 3.7 Ước tính lượng khí thải từ máy xúc bằng phương pháp phân tích nhiên liệu 37
Bảng 3.8 Hệ số phát thải từ công đoạn khoan đá 39
Bảng 3.9 Phát thải PM10 ở công đoạn nổ mìn 40
Bảng 3.10 Thành phần thuốc nổ nhũ tương 41
Bảng 3.11 Khí thải từ thuốc nổ nhũ tương ở công ty CP TĐXD&DL Bình Minh 44
Bảng 3.12 Tổng hợp ước lượng một số khí thải ở công đoạn nổ mìn bằng phương pháp cân bằng vật chất 45
Bảng 3.13 Ước tính khí thải từ quá trình nổ mìnbằng hệ số phát thải 45
Bảng 3.14 Tổng hợp ước lượng một số khí thải ở công đoạn nổ mìn bằng phương pháp dùng hệ số phát thải 46
Bảng 3.15 Ước lượng khí thải từ xe tải bằng phương pháp phân tích nhiên liệu 47
Bảng 3.16 Lượng khí thải từ xe tải bằng hệ số phát thải 48
Footer Page 7 of 126
Trang 8Bảng 3.17 Dữ liệu hoạt động xe và quãng đường vận chuyển 50
Bảng 3.18 Kết quả phát thải bụi từ di chuyển xe tải (kg/năm) 51
Bảng 2.19 Hệ số phát thải TSP và PM10 của quá trình nghiền sàng đá vôi 53
Bảng 2.20 Phát thải bụi ở công đoạn chế biến đá ở các cơ sở khai thác 54
Bảng 2.21 Kết quả ước tính bui, khí thải cho khai thác đá vôi (tấn/năm) 56 Bảng 2.22 Kết quả tổng hợp kết quả ước tính trên đơn vị sản phẩm ( kg/m3 sản phẩm) 58
Footer Page 8 of 126
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.Núi đá vôi 3 Hình 3.1 Sơ đồ khối quá trình khai thác, chế biến đá xây dựng và dòng thải 27
Footer Page 9 of 126
Trang 10MỞ ĐẦU
Đá vôi chiếm khoảng 10% diện tích bề mặt Trái Đất Ở Việt Nam diện tích
đá vôi chiếm tới gần 20% diện tích lãnh thổ phần đất liền [15]
Các khu vực có núi đá vôi thường có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Đặc biệt, đá vôi là một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu của công nghiệp vật liệu xây dựng như sản xuất xi măng, làm cốt liệu bê tông, vữa xây dựng, gạch không nung Đồng thời đá vôi cũng là một nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất bột nhẹ và nguyên liệu hóa chất cơ bản là sôđa, hay cung cấp các khoáng chất cho đất như một nguồn phân bón nhả chậm
Ở Việt Nam, trữ lượng đá vôi ước đạt 13 tỷ tấn Riêng tỉnh Hòa Bình, tổng trữ lượng các mỏ và điểm quặng được đánh giá là trên 13 triệu tấn với chất lượng tốt Trữ lượng tiềm năng còn lớn hơn nhiều (gần tỷ tấn), trong đó huyện Lương Sơn
có 83 mỏ khai thác đá vôi (2013) với diện tích 19.056 ha núi đá vôi có thể khai thác [11, 31] Quy trình khai thác đá vôi là dùng mìn phá nổ tầng đá, nghiền sàng để thu
về các sản phẩm có kích cỡ khác nhau Đây là quy trình khai thác phổ biến trên thế giới và phù hợp với điều kiện ở Việt Nam
Bên cạnh những mặt tích cực, các hoạt động từ quá trình khai thác, vận chuyển và chế biến đá xây dựng đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường không khí, đất, nước… và phá hủy cảnh quan hệ sinh thái khu vực
Các mỏ đá vôi với quy mô và công nghệ khai thác khác nhau có những tác động tới môi trường khác nhau, song hiện nay chưa có phương pháp kiểm kê khí thải phù hợp Với nguyên tắc “chỉ những gì có thể đo đạc được mới có thể quản lý
và cải thiện”, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc kiểm kê khí thải là một trong những công cụ cơ bản để quản lý và kiểm soát chất lượng môi trường không khí, tăng cường việc tuân thủ môi trường thông qua việc cung cấp một cơ sở thông tin
để xác định xác định và đánh giá các chất ô nhiễm cần quan tâm; xác định các hành động ưu tiên; xây dựng, thực hiện các chiến lược quản lý; nguồn ô nhiễm; kiểm soát chất lượng môi trường và làm dữ liệu cho việc đánh giá nguy cơ sức khỏe [1]
Footer Page 10 of 126
Trang 11Có các phương pháp khác nhau để kiểm kê khí thải cho các đối tượng gây ô nhiễm nói chung và ở các cơ sở khai thác đá vôi nói riêng Tuy nhiên các phương pháp khác nhau sẽ đưa ra kết quả có độ chính xác khác nhau, điều này còn phụ thuộc vào khả năng áp dụng vào thực tế
Việc đánh giá lựa chọn phương pháp kiểm kê phát thải phù hợp cho khai thác đá vôi ở Việt Nam mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Do vậy tôi tiến
hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu lựa chọn phương pháp kiểm kê khí phù hợp cho
khai thác đá vôi ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” với các nội dung sau:
- Khảo sát công nghệ khai thác đá vôi ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
- Thực hiện kiểm kê khí thải tại cơ sở khai thác đá bằng các phương pháp khác nhau;
- Tính toán các thông số ô nhiễm dựa trên dữ liệu thu thập được;
- Đánh giá lựa chọn phương pháp kiểm kê khí thải phù hợp
Footer Page 11 of 126
Trang 12Đá vôi chủ yếu hình thành trong môi trường biển nông và ấm, do kết tủa dần
từ nước biển chứa nhiều CaCO3 hoặc do tích tụ dần từ vỏ, xương, xác nhiều loài sinh vật biển Ban đầu, đá vôi được tích tụ dần thành những lớp dầy, mỏng, màu sắc khác nhau, hầu như nằm ngang ở dưới đáy biển Dần dần, do những vận động địa chất mà các lớp đá vôi được nâng lên, ép nén, uốn lượn Thêm nữa, đá vôi còn bị dập vỡ, nứt nẻ, tạo điều kiện cho nước mưa thấm xuống sâu, thúc đẩy quá trình karst hóa [9]
đá vôi tuổi cổ Thường aragonit bị canxit thay thế Dolomit trong đá vôi thường là sản phẩm sau trầm tích, có tinh thể hình thoi do thay thế canxit
Footer Page 12 of 126
Trang 13ít khi vượt quá 1% Khi MgO đạt 1-2% ta gọi là đá vôi manhe, chỉ trong trường hợp
đá vôi bị dolomit hoá thì MgO mới cao SiO2 có thể tới 5-6%, là thành phần của thạch anh vụn và calcedon Sự có mặt của Al2O3 cùng SiO2 biểu hiện sự có mặt của vật liệu sét hoặc feldspat tại sinh [9]
(2) Phân loại đá vôi
Đá vôi được phân loại theo cấu tạo gồm các dạng sau:
- Đá vôi trứng cá: Là một loại đá vôi có cấu tạo trứng cá, các hạt trứng cá
được gắn kết bằng xi măng canxit vi hạt hoặc bằng canxit kết tinh Trứng cá có độ hạt tương đối đều và kích thước nhỏ hơn 2mm đôi khi lớn hơn gọi là hạt đậu (pisolit) Đá vôi trứng cá được thành tạo trong môi trường nước quá bão hoà CaCO3, với điều kiện xáo động của nước Khi trứng cá đạt tới độ lớn nhất định thì
nó sẽ lắng xuống, các hạt có kích thước như nhau Đá vôi trứng cá dễ bị biến đổi thứ sinh, đặc biệt là dolomit hoá và sự biến đổi này xảy ra cả trong trứng cá [9]
- Đá vôi vụn sinh vật: Theo kích thước mảnh vụn hóa đá chia ra loại hạt thô
và hạt vừa, còn theo trình độ kết tinh của xi măng chia ra đá vôi vụn sinh vật xi măng vi hạt và đá vôi vụn sinh vật xi măng kết tinh Thành phần vụn của đá chủ yếu
là mảnh vụn của Trùng lỗ, Tay cuộn, Chân rìu, Chân bụng, v.v Mảnh vụn ít nhiều
đã vận chuyển, chịu tác động của sóng và dòng chảy nên hầu như đều bị mài tròn Các mảnh vụn này có vai trò như những mảnh tha sinh lục nguyên, chúng được gắn kết bằng canxit
- Đá vôi hoá học: Theo đặc điểm kiến trúc phân thành hai loại là vi hạt và kết tinh Song trong thực tế cần đề cập một số dạng đặt biệt nữa của đá vôi hóa học Đá vôi hoá học chiếm một khối lượng lớn trong số đá vôi có mặt trên vỏ Trái Đất
- Thạch nhũ: Là loại đá vôi thành tạo thuần tuý hoá học, thường gặp trong các hang động đá vôi Vú đá và cột đá tạo thành do nước chứa CaCO3 bão hoà nhỏ từng giọt, khi nước bốc hơi đi cho kết tủa CaCO3 rồi sinh thành aragonit và có cấu tạo toả tia
Footer Page 13 of 126
Trang 14- Travectin: Là loại đá vôi hoá học, nhẹ xốp, màu vàng nhạt hoặc màu trắng phớt vàng, không đồng nhất Có thể tìm thấy di tích thực vật, có phân lớp Sự thành tạo cũng có liên quan với những dung dịch giàu cacbonat canxi, nước bay hơi và kết tủa thành
- Tuf vôi: Ở những nơi nước nóng, kết tủa CaCO3 thường tạo thành tuf vôi Tuf vôi có kiến trúc dạng sợi, trứng cá do aragonit gắn kết lại và trong thành phần
có thể có tảo vôi Tuf có nhiều dạng, có thể đặc sít, dạng tấm hay dạng cành cây Ở những vùng nhiệt đới hiện đại tuf vôi còn có thể gặp ở những sông suối chảy trong miền đá vôi Trong những địa tầng cổ, đôi khi có thể phát hiện được tuf vôi, đó là loại đá vôi xốp nhiều lỗ hổng
- Đá vôi vi hạt: Đá vôi này chặt sít, hạt rất nhỏ, dưới kính thấy chúng có kiến trúc vi tinh hoặc ẩn tinh Do kích thước hạt quá nhỏ, nhỏ hơn cả bề dày lát mỏng, nên ngay dưới kính cũng thấy hạt sẫm màu và khó xác định rìa hạt Đá thường có màu xám nhạt đến xám đen hoặc tím nhạt đến nâu xám Bề dày của tầng thay đổi nhiều Thường có cấu tạo phân lớp mỏng hoặc dạng dải Trong đá vôi vi hạt còn hay gặp các kết hạch silit, cát thạch anh, bột thạch anh
- Đá vôi kết tinh: Đá vôi vi hạt ở giai đoạn thành đá muộn hoặc hậu sinh thì một phần hoặc toàn bộ tái kết tinh thành đá vôi kết tinh Đá vôi kết tinh gồm toàn canxit hạt lớn có song tinh liên phiến, sạch và trong suốt Đá vôi màu trắng, trắng sữa rất ít khi gặp kết hạch silit
- Đá vôi sinh hoá (Biolithite): Đáng chú ý nhất của đá vôi sinh hoá là đá vôi
ám tiêu Ngoài ra còn một số dạng khác
- Đá phấn: Đá vôi còn bở rời, màu trắng như phấn, có khi có màu vàng nhạt hoặc xám nhạt, hạt mịn, mềm, có thể gặp kết hạch silic và photphorit
- Đá vôi tảo canxi: Phân bố chủ yếu ở biển nông, cũng có thể có trong những
hồ nước ngọt, ấm Khi còn sống tảo vôi cần ánh sáng mặt trời để quang hợp, lấy
CO2 ở trong nước, đồng thời gây ra kết tủa CaCO3, nên nơi nào có đá vôi tảo canxi thường cũng có đá vôi hoá học và macnơ [9]
Footer Page 14 of 126
Trang 151.1.2 Khai thác, chế biến đá xây dựng và nhu cầu sản xuất ở Việt Nam
(1) Khai thác và chế biến đá xây dựng
Bất kỳ một hoạt động khai thác và chế biến đá xây dựng nào cũng bao gồm các công đoạn chính là: Khai thác mỏ => xúc bốc, vận tải => đập, nghiền, sàng => phân loại sản phẩm Để có thể khai thác nguyên liệu và sản xuất bình thường, các
mỏ đều phải thực hiện việc xây dựng cơ bản ban đầu như sau: Bóc đất phủ đồi với các mỏ có lớp đất phủ; Tạo tầng khoan - nổ mìn và khai thác (công đoạn này sẽ tiếp diễn liên tục trong suốt quá trình khai thác); Xây dựng các bãi bốc xúc lên phương tiện vận tải; Xây dựng đường vận tải; Xây dựng trạm đập, sàng đá, bãi chứa và xuất sản phẩm [6] Ở mỗi một công đoạn thường có nhiều cách thức để thực hiện sản xuất khác nhau phụ thuộc vào đặc tính của mỏ, yêu cầu của chính quyền địa phương
và khả năng/năng lực tài chính của cơ sở sản xuất
vi sai định hướng đưa đá xuống chân núi Bãi bốc xúc cho thiết bị vận tải được xây dựng tại chân núi để vận tải về trạm đập sàng Phương pháp khai thác này thường
áp dụng cho các mỏ khai thác nguyên liệu là đá vôi và với công suất khai thác nhỏ
- Khai thác theo phương pháp cắt tầng lớn: Ở công nghệ khai thác này, chiều cao tầng thường từ 6- 10m, chiều rộng mặt tầng 20- 25m Thiết bị khoan thường sử dụng loại có đường kính và năng suất lớn, nổ mìn bằng phương pháp nổ tập trung vi sai Bãi bốc xúc vận tải bố trí trên từng tầng khai thác đưa về trạm đập Phương pháp khai thác này thích hợp với đá có lớp phủ ví dụ: granit, diorit, ryorit, bazan
và các mỏ đá vôi có công suất khai thác lớn
Footer Page 15 of 126
Trang 16- Khai thác theo phương pháp kết hợp của hai phương pháp trên: Về cơ bản phương pháp này khai thác theo lớp xiên, không thực hiện xúc bốc vận tải trên từng tầng mà xác định đai vận tải riêng giữa các đai vận tải là các tầng khoan-nổ mìn; ngoài lượng đá do tác động của xung lượng nổ tầng xuống tầng vận tải có thể kết hợp sử dụng máy ủi hỗ trợ Có thể dùng 2 hoặc 3 đai vận tải tuỳ theo địa hình, địa chất mỏ Phương pháp này thường thích hợp với mỏ có công suất trung bình hoặc các mỏ có chi phí làm đường vận tải lên các tầng khai thác đầu tiên quá cao
Với cả 3 phương pháp khai thác trên, trong quá trình khoan-nổ, nếu đá sau
nổ mìn đưa xuống các bãi bốc xúc mà có các tảng đá lớn quá không phù hợp với miệng vào của hàm nghiền của máy đập, thì các tảng đá này đều được xử lý ngay tại bãi bằng phương pháp khoan-nổ mìn lần 2 hoặc bằng búa khoan con hay dùng búa thủy lực đập [6]
b) Công nghệ bốc xúc, vận tải
Đá sau nổ mìn được đưa xuống bãi xúc sẽ được máy xúc (có kết hợp máy ủi gom) xúc lên ô tô vận tải đưa về trạm đập sàng Vị trí trạm đập sàng bố trí tuỳ thuộc địa hình cho phép nhưng không quá gần hơn 150m (quy phạm an toàn về nổ mìn đối với các thiết bị) đến khai trường Máy xúc có thể dùng loại tự hành bánh lốp hay máy xúc bánh xích, dung tích gầu xúc tuỳ thuộc vào công suất mỏ và kích thước đá tối đa cho phép đưa về trạm đập sàng (kích thước này phụ thuộc vào kích thước của
miệng máy đập hàm thô)
c) Công nghệ đập sàng phân loại sản phẩm
Lựa chọn công nghệ đập sàng sản phẩm phù hợp phụ thuộc vào các yếu tố: vốn đầu tư và công suất yêu cầu Thường sử dụng công nghệ đập 2 cấp hay 3 cấp Thiết bị đập thường sử dụng là đập thô (dùng máy đập hàm) và đập thứ (dùng máy nghiền côn nhỏ)
Với công nghệ đập 3 cấp đập trung, có thể dùng máy đập hàm trung hay máy nghiền côn trung Người ta thường không sử dụng máy đập búa trong chế biến đá
Footer Page 16 of 126
Trang 17xây dựng vì máy đập búa thường làm sản phẩm vỡ vụn nhiều (tăng lượng đá mạt)
và rạn nứt ngay trong các viên đá sản phẩm làm giảm cường độ của sản phẩm
d) Thiết bị chính trong dây chuyền sản xuất -Thiết bị khoan- nổ mìn: Đi kèm với thiết bị khoan là các máy nén khí (đa số
thiết bị khoan sử dụng năng lượng khí nén) Thời gian gần đây một số mỏ đá sử
dụng thiết bị khoan dùng năng lượng thuỷ lực
-Thiết bị bốc xúc- vận tải: Thiết bị xúc thường dùng 2 loại là máy xúc bánh
xích và bánh lốp Dung tích gầu xúc phụ thuộc vào năng suất yêu cầu và kích thước
đá đưa về trạm đập thường phổ biến loại có dung tích gầu từ 1- 2,5m3 Các thiết bị này rất đa dạng như gầu ngược, gầu thuận hay thuỷ lực hoặc dùng cáp kéo
-Thiết bị vận tải: Dùng ô tô vận tải loại tự đổ, tuỳ theo công suất mỏ mà lựa chọn tải trọng ô tô phù hợp Đa số các mỏ hiện nay sử dụng ô tô có tải trọng 7 - 16 tấn Nguồn cung cấp và chủng loại rất đa dạng
- Thiết bị đập sàng: Thiết bị đập sàng là loại thiết bị liên quan nhiều đến nhu cầu các loại đá xây dựng khác nhau trong thực tế Ở Việt Nam hiện nay sử dụng chủ yếu sơ đồ đập sàng 2 cấp và 3 cấp [6]
(2) Tiềm năng và nhu cầu đá xây dựng ở Việt Nam
Hiện nay do xã hội phát triển, tốc độ đô thị hóa hóa tăng, nhu cầu xây dựng không ngừng lớn mạnh Do đó ngành công nghiệp xi măng ngày càng lớn mạnh kéo
theo đó ngành công nghiệp khai thác nguyên liệu như đá vôi, đất sét càng phát triển
Theo điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tới năm
2015 nhu cầu tiêu thụ cần khoảng 63,0 đến 65,0 triệu tấn xi măng/năm và đến năm
2020 là 68 đến 70 triệu tấn/năm trong khi tổng công suất các nhà máy xi măng hiện
có và đang xây dựng khoảng 41,5 triệu tấn/năm [7]
Như vậy, để đáp ứng mức độ phát triển này thì yêu cầu nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng như đá vôi đến năm 2010 cần khoảng 57 triệu tấn/nămvà đến năm 2020 đá vôi cần khoảng 70 triệu tấn/năm [7]
Footer Page 17 of 126