Quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị thiếu kiểm soát dẫn tới dân số sống ở các vùng trũng thấp ngày càng gia tăng; Trên thực tế, thiếu hỗ trợ tài chính cho thiết kế và bảo trì hệ thốn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Phan Thị Hằng
LỒNG GHÉP ỨNG PHÓ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LẬP QUY HOẠCH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Đức Hải trường Đại học Khoa học Tự Nhiên-ĐHQGHN, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trongkhoa Môi trường –Trường ĐHQGHN đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
ĐHKHTN-Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cô gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thần chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Học viên
Phan Thị Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về Biến đổi khí hậu và vấn đề đô thị hóa 3
1.1.1 Tổng quan về BĐKH 3
1.1.2 Đô thị hóa 7
1.1.3 Mối quan hệ giữa BĐKH và Đô thị hóa 9
1.2 Kinh nghiệm quốc tế trong việc lồng ghép BĐKH vào quá trình quy hoạch 13 1.3 Kinh nghiệm Việt Nam trong việc lồng ghép BĐKH vào quá trình quy hoạch 19
1.4 Tổng quan về quy hoạch và quy hoạch thành phố Thanh Hóa 24
1.4.1 Tổng quan về quy hoạch 24
1.4.2 Hiện trạng tài nguyên và môi trường thành phố Thanh Hóa 27
1.4.3 Khái quát về quy hoạch thành phố Thanh Hóa đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2035 30
CHƯƠNG 2 37
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 37
2.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Phương pháp điều tra và khảo sát 37
2.3.2 Phương pháp phân tích 38
2.3.3 Phương pháp viễn thám và GIS 39
2.3.4 Phương pháp phân tích SWOT 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Các vấn đề BĐKH trong quy hoạch phát triển thành phố Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 40
3.2 Các nội dung và giải pháp lồng ghép ứng phó BĐKH trong quy hoạch phát triển thành phố Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 59
3.2.1 Nội dung và giải pháp quy hoạch không gian đô thi 59
3.2.2 Nội dung và giải pháp quy hoạch hạ tầng kỹ thuật: cây xanh, cấp và thoát nước 62
Trang 43.3 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch thành phố Thanh Hóa đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2035 dưới ảnh hưởng của BĐKH 76
KẾT LUẬN 80
KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các ví dụ điển hình về các tác động hiện tại và dự báo 11
các tác động của BĐKH tới công nghiệp, khu định cư, xã hội và mối tương tác 11
với các quá trình khác 11
Bảng 2: Tóm tắt quá trình lập QHĐT 26
Bảng 3: Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới đối tượng nghiên cứu khi xem xét BĐKH 38
Bảng 4: Thống kê về độ mặn lớn nhất trên các sông giai đoạn 2007 -2011 44
Bảng 5: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm(°C) và lượng mưa năm (%) ở khu vực Bắc Trung Bộ theo kịch bản B2 44
Bảng 6: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 – 1999 theo kịch bản B2 45
Bảng 7: Dự báo diễn biến nhiệt độ trung bình năm (°C) ở Thanh Hóa 45
giai đoạn 2020-2100 45
45
Bảng 8 : Dự báo diễn biến lượng mưa năm (mm) ở Thanh Hóa giai đoạn 2020-2100 46
Bảng 9: Nhận dạng các xu hướng BĐKH đặc trưng tại T.p Thanh Hóa 46
giai đoạn 2030-2040 46
Bảng 10: Tác động của BĐKH tới không gian đô thị và các vấn đề cần quan tâm 47
Bảng 11: Tác động BĐKH đến hệ thống thoát nước và xử lý nước thải 52
Bảng 12: Các loại hồ chứa kiểm soát lũ 72
Bảng 13: Phân tích phương án lựa chọn phát triển không gian thành phố Thanh Hóa, sử dụng mô hình SWOT 77
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình1:Diễnbiếnchuẩnsainhiệtđộtrungbìnhtoàncầu 3
Hình2:Diễnbiếnlượng mưanămở cácvùngkhácnhautrênthếgiới 4
Hình3:Xuthếbiếnđộngmựcnướcbiểntạicác trạmtrêntoàncầu 5
Hình 4: Hệ thống điều tiết nước trên sông Theme - Anh 17
Hình 5: Đê biển tại Navotas – Philipines 17
Hình 6: Sơ đồ định hướng hệ thống cấp nước 35
Hình 7: Bản đồ giới hạn nghiên cứu và dự kiến mở rộng địa giới hành chính 37
Hình 8: Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm qua các năm(1980-2010) tại Trạm khí tượng TP.Thanh Hóa 40
Hình 9: Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm (1980-2010) tại trạm khí tượng TP.Thanh Hóa 41
Hình 10: Mạng lưới trạm điều tra hệ thống sông Mã 43
Hình 11 : Diễn biến nhiệt độ ở tỉnh Thanh Hoá theo kịch bản B2 45
Hình 12: Diễn biến lượng mưa ở Thanh Hoá theo kịch bản B2 46
Hình 13: Bản đồ hiện trạng cao độ địa hình thành phố Thanh Hóa 49
Hình 14 : Biểu đồ lịch sử số ngày nhiễm mặn tại vị trí Công trình thu –trạm bơm cấp 1 54
Hình 15 : Biểu đồ quan trắc độ mặn trạm thủy văn Giàng trên sông Mã 55
Hình 16: Biểu đồ khoảng cách xâm nhập mặn 4‰ trên sông Mã 56
Hình 17 : Biểu đồ dự báo về tăng độ mặn tại hệ thống sông Mã theo kịch bản BDKH năm 2012 56
Hình 18 : Bản đồ biên mặn dự kiến đến năm 2030 trên hệ thống sông Mã, sông Chu theo kịch bản biến đổi khí hậu năm 2012 57
Hình 19: Giải pháp ứng phó lũ lụt 61
Hình 20: Giải pháp ứng phó với nhiệt độ tăng 62
Hình 21: Minh họa bố cục cây xanh trên tòa nhà 64
Hình 22: Kiểm soát nước mưa chảy tràn phân tán 68
Hình 23: Giải pháp thoát nước dựa trên tự nhiên nhằm tăng năng lực thẩm thấu, làm sạch và trữ nước 69
Hình 24 : Thiết lập lưu vực lưu chứa nước nội bộ và sử dụng bề mặt tăng cường năng lực thẩm thấu 70
Hình 25: Hồ kiểm soát lũ đa chức năng 71
Trang 8MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những Quốc gia bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi BĐKH và nước biển dâng Với đặc điểm bờ biển dài hơn 3.200km từ Bắc tới Nam, Việt Nam có trên 300 đô thị ven biển và hơn 50% dân số sống tại khu vực thấp ven biển (cao đô địa hình từ 0-10m so với mực nước biển) Mặc dù Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp như xây dựng đê biển, cải thiện hệ thống quản lý sông, phát triển các hệ thống dự báo và cảnh báo sớm để kiểm soát lũ, nhưng hiện tại Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng lớn bởi thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan Quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị thiếu kiểm soát dẫn tới dân số sống ở các vùng trũng thấp ngày càng gia tăng; Trên thực tế, thiếu hỗ trợ tài chính cho thiết kế và bảo trì hệ thống đê bao, sắp xếp giải quyết không thỏa đáng cho nhóm người nghèo tại đô thị và quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý là một số trong nhiều lý do làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của các khu vực ven biển và các đô thị
Các quy hoạch đô thị Việt Nam chưa lấy yếu tố BĐKH của trái đất làm một điều kiện để tính toán trong đồ án; Luật và các văn bản dưới luật về QHĐT chưa quy định bắt buộc cũng như hướng dẫn thực hiện công tác ứng phó với BĐKH Phần lớn các quy hoạch của đô thị chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế mà ít quan tâm đến lợi ích của người dân, cộng đồng Điều này thấy rõ khi hiện nay diện tích cây xanh và các hồ chứa nước bị sụt giảm nghiêm trọng Trong khi, đô thị chưa dành một diện tích nào
để xây thêm các công viên, khu vui chơi giải trí cho người dân thì các văn phòng, nhà cao tầng mọc lên san sát Vì vậy lồng ghép ứng phó BĐKH trong lập quy hoạch đô thị là yếu tố cần thiết để phát triển bền vững các đô thị trong tương lai
Thành phố Thanh Hoá là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh Thanh Hoá, đồng thời là cầu nối giữa Bắc Bộ và Trung Bộ Thành phố Thanh Hóa đã có quyết định Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2035 (Số: 84/QĐ-TTg, ngày 16/01/2009) Tuy nhiên, trong đồ án điều chỉnh quy hoạch chưa
đề cập đến lồng ghép ứng phó BĐKH, trong mấy năm qua thành phố chịu tác động nhiều bởi BĐKH (Mưa bão, lũ lụt, hạn hán và xâm nhập mặn xu hướng gia tăng) đã
Trang 9gây ra nhiều thiệt hại lớn cho thành phố Vì vậy, Lồng ghép ứng phó tác động biến
đổi khí hậu trong lập quy hoạch thành phố Thanh Hóa là hết sức quan trọng để
thành phố phát triển bền vững hơn trong tương lai Q uy hoạch T.P Thanh Hóa đến năm 2035 đã được điều chỉnh và phê duyệt từ năm 2009, đề tài mong muốn có thể điều chỉnh quy hoạch T.P Thanh Hóa thêm một lần nữa để có thể lồng ghép ứng phó BĐKH trong đồ án quy hoạch
Mục tiêu:
- Nghiên cứu được tác động của BĐKH đến đô thị T.P Thanh Hóa;
- Đánh giá được tác động của BĐKH đến quy hoạch đô thị T.P Thanh Hóa;
- Đề xuất được các giải pháp ứng phó BĐKH trong quy hoạch T.P Thanh Hóa nhằm phát triển bền vững trong tương lai
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về Biến đổi khí hậu và vấn đề đô thị hóa
1.1.1 Tổng quan về BĐKH
Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên Thế giới
Sự nóng lên của hệ thống khí hậu toàn cầu rất rõ ràng với biểu hiện là sự tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng, dẫn đến sự tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu
đã tăng khoảng 0,74°C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi
so với 50 năm trước đó Diễn biến chuẩn sai của nhiệt độ trung bình toàn cầu được thểhiện trong hình sau:
Trang 11Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á (Hình 3) Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm đi (IPCC, 2007)
Sự nóng lên của hệ thống khí hậu được minh chứng bởi số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu,
sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu (IPCC,2007)
Theo các nhà khoa học về biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng, đại dương đã nóng lên đáng kể từ cuối thập kỷ 1950 Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003
đã dâng với tốc độ 1,8 † 0,5 mm/năm, trong đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 † 0,12 mm/năm và tan băng khoảng 0,70 † 0,50 (IPCC, 2007) Nghiên cứu cập nhật năm 2009 cho rằng tốc độ dâng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 mm/năm hình sau:
Hình2:Diễnbiếnlượng mưanămở cácvùngkhácnhautrênthếgiới
Nguồn:IPCC/2007
Trang 12Hình3:Xuthếbiếnđộngmựcnướcbiểntạicác trạmtrêntoàncầu
Nguồn:IPCC/2007
Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa rất khác nhau trên các vùng trong 50 năm qua Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5°C trên phạm
vi cả nước và lượng mưa năm có xu hướng giảm ở nửa phần phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ
Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong
50 năm qua Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 – 1,5°C/50 năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6-0,9°C/50 năm) Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2°C trong 50 năm qua
Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3-0,5°C/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 – 0,6°C/50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, mức tăng nhiệt
độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3°C/50 năm
Trang 13Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể ởcác vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến trên 10% trên
đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Xu thế diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương
tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua
Số liệu mực nước quan trắc cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không giống nhau tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam Trên dải ven biển Việt Nam, mặc dù ở hầu hết các trạm mực nước trung bình năm có xu hướng tăng, tuy nhiên, ở một số trạm lại có xu hướng mực nước giảm Mức biến đổi trung bình của mực nước biển dọc bờ biển Việt Nam khoảng 2.8 mm/năm
Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy, xu thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của biển Đông
có xu thếtăng nhanh hơn phía Tây Chỉ tính cho dải ven bờ Việt Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9mm/năm
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Viêt Nam
Kịch bản BĐKH tại Việt Nam được xây dựng dựa trên cơ sở các kịch bản phát thải khí nhà kính của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), bao gồm kịch bản phát thải cao (A2), kịch bản phát thải thấp (B1) và kịch bản phát thải trung bình (B2) Sự biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa được tính toán cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam là Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Thời kỳ cơ sở để so sánh là 1980 - 1999
Theo các kịch bản, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng từ 1,2°C đến lớn hơn 3,7°C trên phần lớn diện tích nước ta Lượng mưa có thể tăng từ 1-10%
Trang 141.1.2 Đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa bao gồm sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có hoặc/và
sự chuyển dịch dân cư giữa nông thôn và thành thị Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đô thị Quá trình đô thị hóa còn làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất đô thị và ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và quốc gia Một mặt đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng,
là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng hiện đại
có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài Mặt khác đô thị hóa làm ảnh hưởng đến sản xuất ở nông thôn do lao động chuyển đến thành phố Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho CSHT, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội…
Ở Việt Nam hiện nay, đô thị hóa và phát triển đô thị đã và đang tạo nên những động lực phát triển chính trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu phát triển đất nước cơ bản thành nước công nghiệp vào năm
2020 Đô thị hóa đã và đang thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại - dịch vụ GDP khu vực đô thị đóng góp ngày càng cao trong tổng GDP quốc gia Việc đầu tư CSHT từ cấp quốc gia đến vùng và
đô thị, nhất là tại các vùng kinh tế trọng điểm, các khu vực cửa khẩu, hải cảng lớn là nhiệm vụ đã được ưu tiên Ðầu tư khu vực đô thị, nhất là các dự án xây dựng khu công nghiệp, đô thị mới, CSHT đô thị thường có những tác động tích cực đến quá trình đô thị hóa Quá trình đô thị hóa nước ta đã tạo nên hệ thống đô thị không ngừng phát triển, mở rộng cả về diện tích đất, số lượng công trình và chất lượng xây dựng Nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp, được đầu tư xây dựng mới kết cấu hạ tầng kỹ thuật về cấp điện, cấp nước, thoát nước, làm đường sá, cầu cống, xây mới nhiều công trình công ích, nhà ở, chỉnh trang phố xá, tạo dáng vẻ mới về vệ sinh môi trường, cảnh quan xanh, sạch, đẹp Nhiều đô thị mới, quy mô lớn ra đời, với
Trang 15những công trình kiến trúc hiện đại Các hoạt động quản lý phát triển đô thị ngày càng được tăng cường Nhiều văn bản đã được ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể các hoạt động quản lý và phát triển đô thị (khung 1)
Khung 1: Các văn bản liên quan đến quản lý và phát triển đô thị
Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về
việc phân loại đô thị
Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về
quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị
Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05/01/2006 của Chính phủ về việc ban
hành Quy chế Khu đô thị mới
Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Bộ Xây dựng
quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
Thông tư số 19/2010/TT-BXD ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Xây
dựng hướng dẫn lập Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị
Thông tư số 15/2008/TT-BXD ngày 17 tháng 6 năm 2008 của Bộ Xây dựng
Hướng dẫn đánh giá, công nhận Khu đô thị mới kiểu mẫu
Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Trang 16TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ Khoảng cách mức sống giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn vốn đã chênh lệch lại càng chênh lệch hơn; tệ nạn
xã hội khu vực đô thị vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn
Ngoài ra, công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đô thị trong quá trình ÐTH thường chạy theo bề nổi: xây dựng nhiều KCN, nhiều ÐTM , mà ít chú
ý đến công tác quy hoạch cải tạo và xây dựng lại các khu chung cư cũ, phố cũ, khu vực ngoại thành vừa là một không gian vật thể chức năng đô thị, vừa mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Cùng đó, xây dựng CSHT đô thị, nhất là hạ tầng xã hội (nhà trẻ, nhà mẫu giáo, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế không đáp ứng yêu cầu phục vụ của cộng đồng dân cư sống trong các khu ÐTM Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp ít mặn mà trong việc đầu tư vào khu vực này vì ít mang lại lợi nhuận cho họ; công tác lồng ghép các nội dung quy hoạch và bảo vệ môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch chung đô thị còn rất yếu kém vì chưa có các văn bản pháp quy để thực hiện yêu cầu này; công tác quản lý đô thị còn một khoảng cách khá xa so với yêu cầu phát triển của quá trình ÐTH và phát triển đô thị Mặt khác, tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý đô thị hầu như chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc đào tạo cán bộ quản lý đô thị Việc phối hợp điều hành và quản lý hệ thống đô thị trong vùng ÐTH, vùng phát triển kinh tế - xã hội còn yếu kém, nhất là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào công cuộc phát triển đô thị như sông, bờ biển, hồ, rừng, núi Do đó, gây ra không những lãng phí tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng các hệ sinh thái mà còn ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của công cuộc phát triển kinh tế đô thị và vùng Ðó là những hiện tượng đã
và đang tạo nên sự phát triển chưa bền vững nói chung và khu vực đô thị nói riêng[3]
1.1.3 Mối quan hệ giữa BĐKH và Đô thị hóa
BĐKH toàn cầu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đô thị hóa và phát triển đô thị ở Việt Nam BĐKH và dâng cao mực nước biển sẽ ảnh hưởng lớn đến các thành phần tạo dựng nên cấu trúc không gian đô thị, đặc biệt là các đô thị ven biển như ảnh hưởng đến đặc điểm cấu trúc khung thiên nhiên đô thị (như thay đổi đặc điểm địa
Trang 17hình, địa mạo đô thị, làm suy giảm tài nguyên đất, nước ngọt, thay đổi hệ sinh thái
đô thị…), ảnh hưởng đến cấu trúc không gian đô thị (khu công nghiệp, khu nhà ở,
hệ thống các trung tâm…), ảnh hưởng đến mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật và
hạ tầng xã hội đô thị (ngập úng, lũ lụt, gây quá tải đối với hệ thống thoát và xử lý nước thải, thay đổi không gian mặt nước, công viên cây xanh, quảng trường, phá hỏng hệ thống CSHT kỹ thuật, ảnh hưởng tới không gian ngầm đô thị…) BĐKH và nước biển dâng còn gây áp lực lên vấn đề di cư, đặc biệt là dòng người từ nông thôn lên thành thị, làm trầm trọng thêm những vấn đề mà các đô thị đang phải đối mặt từ việc cung cấp nhà ở, CSHT, giao thông đô thị, đến giảm thiểu đói nghèo, dịch bệnh, hạn chế ô nhiễm môi trường và bảo đảm an ninh lương thực
Các đô thị ở Việt Nam tập trung chủ yếu dọc theo vùng duyên hải và đồng bằng và giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống mạng lưới đô thị quốc gia Trong khi các ven biển và đồng bằng có thể chịu các tác động do BĐKH như nước biển dâng, bão và áp thấp, lũ lụt, xâm nhập mặn… thì các đô thị vùng núi và trung du thường chịu ảnh hưởng của lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán cũng như các hiện tượng thời tiết cực đoan…Hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội ở đô thị đều có thể chịu tác động của BĐKH Do đô thị thường là trung tâm kinh tế văn hóa chính trị nên khả năng dễ bị tổn thương và thiệt hại về kinh tế, xã hội, môi trường, CSHT sẽ lớn hơn Các cộng đồng có khả năng dễ bị tổn thương cũng đa dạng hơn do các vấn đề
xã hội ở đô thị phức tạp hơn Tuy vậy, khả năng ứng phó ở các khu vực đô thị luôn cao hơn các khu vực nông thôn do có mặt bằng chung về nhận thức cao hơn, trình
độ và năng lực quản lý, hệ thống hạ tầng tốt hơn Bảng sau đưa ra các ví dụ điển hình về các tác động hiện tại và dự báo các tác động của BĐKH tới công nghiệp, khu định cư, xã hội và mối tương tác với các quá trình khác
Trang 18Bảng 1: Các ví dụ điển hình về các tác động hiện tại và dự báo các tác động của BĐKH tới công nghiệp, khu định cư, xã hội và mối tương tác
Các quá trình khác/ áp lực
Dự báo các tác động trong tương lai/ Mức độ tổn thương
Khu vực, đối tượng bị ảnh hưởng
a) Những biến đổi lớn
Bão nhiệt đới,
bão Thương vong và thiệt hại do bão lũ
gây ra; thiệt hại về kinh tế; hệ thống giao thông, du lịch, CSHT kỹ thuật (như năng lượng, giao thông), bảo hiểm
Sử dụng đất/
mật độ dân số
ngập lũ, và vùng phòng lũ;
năng lực thể chế
Mức độ tổn thương tăng tại các vùng ven biển có bão; có thể ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe người dân, du lịch, kinh tế và hệ thống giao thông, nhà cửa
và các CSHT kỹ thuật khác
Khu định cư và hoạt động của vùng ven biển; khu vực và nhóm người hạn chế về
nguồn lực; các công trình hạ tầng kiên cố, ngành bảo hiểm
Tương tự như bão vùng ven biển cộng với
nước
Tương tự như các cơn bão của vùng ven biển cộng với CSHT thoát nước
Tương tự như các cơn bão ở vùng ven biển
Nóng/lạnh Tác động tới sức
khỏe con người; ổn định xã hội; nhu cầu về năng lượng, nước và các dịch vụ khác (như, nguồn
dự trữ nước và lương thực), CSHT
kỹ thuật (như: năng lượng, giao thông)
Thiết kế xây dựng và kiểm soát nhiệt độ bên trong; Bối cảnh xã hội;
năng lực thể chế
Tổn thương tại một
số khu vực và dân
cư tăng lên, ảnh hưởng tới sức khỏe, thay đổi nhu cầu năng lượng
Khu vực ôn đới; người già, trẻ
em, và/hoặc rất nghèo
Hạn hán Nguồn nước sẵn có,
sinh kế, phát điện,
di cư, hệ thống giao thông đường thủy
Hệ thống cung cấp nước; cạnh tranh về sử dụng nước; nhu cầu về năng lượng; những khó khăn về nhu cầu nước
Gây ảnh hưởng tới nguồn nước trong khu vực bị tác động;
làm xáo động chỗ ở
và hoạt động kinh tế; đầu tư hơn cho cấp nước
Những vùng khô hạn và bán khô hạn; những khu vực và nhóm
những khu vực
có tình trạng khan hiếm nước bởi chính các hoạt động của con người
Trang 19b) Thay đổi các giá trị trung bình
Nhiệt độ Chi phí và nhu cầu
năng lượng; Chất lượng không khí đô thị; tan băng vĩnh cửu trong lòng đất;
Thay đổi nhu cầu năng lượng; chất lượng không khí ngày càng giảm;
các tác động tới đời sống và sinh hoạt của người dân phụ thuộc vào hiện tượng băng tan; đe dọa tới khu định cư/CSHT từ hiện tượng băng tan trong lòng đất ở một
số khu vực
Rất đa dạng, nhưng mức thiệt hại lớn hơn ở những khu vực
và nhóm bị hạn chế về khả năng
và nguồn lực trong công tác thích ứng
Lượng mưa Sinh kế từ sản xuất
nông nghiệp, xâm nhập mặn, du lịch, CSHT cấp, thoát nước, cung cấp năng lượng
Cạnh tranh về
vùng/khu vực (ngành); phân
bổ nguồn nước
Phụ thuộc vào từng vùng, mức độ thiệt hại do ảnh hưởng của lượng mưa tăng (lũ lụt, nhưng có thể
là tác động tích cực), và tại một số khu vực mưa có thể dẫn tới giảm thiệt hại (xem phần hạn hán ở trên)
Khu vực/nhóm dân cư nghèo
Những vùng đất thấp ven biển, đặc biệt là những khu vực có hạn chế về năng lực
và nguồn lực
dâng
Sử dụng đất vùng ven biển: Rủi ro về
lũ lụt, ngập úng, CSHT cấp, thoát nước
Xu hướng phát triển, khu định
cư và sử dụng đất của vùng ven biển
Trong dài hạn, mức
độ tổn thương tới vùng thấp ven biển ngày càng tăng
Tương tự như trên
c) Thay đổi
khí hậu đột
ngột
Phân tích các tác động tiềm tàng
Dân số, kinh tế,
và thay đổi công nghệ, phát triển thể chế
Có thể gây tác động đáng kể tới toàn bộ các khu vực,cũng như dân số trên thế giới, ít nhất là trong
1 khoảng thời gian nhất định,
Hầu hết các khu vực và các nhóm
Trang 201.2 Kinh nghiệm quốc tế trong việc lồng ghép BĐKH vào quá trình quy hoạch
BĐKH là một nội dung mới trong quy hoạchvà các cơ chế để lồng ghép BĐKH trong QHĐT dường như vẫn còn khá mới mẻ với các nhà chuyên môn, hoặc chưa từng được mô tả trong các thông tin phổ biến cho cộng đồng và các lĩnh vực chuyên môn
Cho dù xem xét thích ứng và lập quy hoạch từ quan điểm phát triển bền vững hay quản lý rủi ro, thì đều có bốn nội dung chính như sau:
1 Xây dựng danh mục hành động Có thể cần nhiều hành động để giải quyết một vấn đề có liên quan tới BĐKH trọng tâm Ví dụ, để đối phó với vấn đề ngập lụt tại các khu vực đất đô thị có giá trị cao, các tòa nhà và CSHT, cần phải giải quyết bằng các khoản đầu tư vào quản lý hệ thống thoát nước lưu vực sông, tăng diện tích đất đô thị có khả năng thấm nước cao, và làm chậm hoặc hấp thụ dòng chảy, và các
hệ thống cảnh báo sớm cho mực nước lũ ở sông Tất cả các biện pháp này bao hàm các giải pháp và các quy định quy hoạch khác nhau Tuy nhiên, không thể khái quát hóa các giải pháp về quy hoạch: các giải pháp không giống nhau tại các thành phố khác nhau Và thậm chí nếu cùng một giải pháp được áp dụng ở nhiều thành phố, nó
sẽ được thực hiện khác nhau
2 Sự cần thiết có sự hợp tác giữa quy hoạch không gian và các quy hoạch ngành khác Vai trò của QHĐT trong việc kết nối giữa sử dụng đất và CSHT đô thị, cũng như các dịch vụ khác như giao thông, cung cấp năng lượng, nhà ở và y tế cộng đồng là quan trọng đối với thích ứng với BĐKH bởi vì quy hoạch không gian của môi trường xây dựng là không đủ để giải quyết các rủi ro khí hậu trong tương lai, và bởi vì các quyết định trong quy hoạch không gian ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau của các dịch vụ đô thị và chất lượng cuộc sống đô thị
3 Các giải pháp QHĐT nhằm cung cấp các mục tiêu chung về phát triển đô thị cho sự lựa chọn của các dịch vụ và nơi ở, cơ hội kinh tế, giải trí, đi lại và giao thông vận tải - tất cả đều cải thiện chất lượng cuộc sống và làm cho thành phố trở thành một địa điểm hấp dẫn để sống và đầu tư Vì vậy, mục đích của quy hoạch không phải là để thích ứng với BĐKH Cần thiết phải thích ứng với BĐKH để đạt
Trang 21được các mục đích tiêu về quy hoạch Vì vậy, quy hoạch thích ứng cũng cần đạt được các mục tiêu khác và nhiều cơ chế và phương pháp tiếp cận được sử dụng trong quy hoạch thích ứng với BĐKH cũng đảm bảo các cơ hội về giải trí, đi lại, sản xuất và cải thiện chất lượng cuộc sống theo những cách khác
4 Kiểm tra, giám sát một cách có hệ thống nhằm đánh giá quá trình thực hiện và rút ra những bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong tương lai Có ít kinh nghiệm về QHĐT thích ứng với BĐKH, rủi ro khí hậu trong tương lai chưa được hiểu rõ và còn nhiều điều không chắc chắn Ngay cả nghiên cứu chi tiết cũng không dễ đưa ra các giải pháp trong dài hạn Các biện pháp thích ứng cần phải được sửa đổi dựa trên kinh nghiệm, và dựa trên sự thay đổi về điều kiện khí hậu, CSHT
đô thị và công nghệ Các giải pháp thích ứng trong QHĐT đòi hỏi phải có tính linh
hoạt, mềm dẻo, đổi mới và sáng tạo
Phương pháp kỹ thuật và phương pháp “mềm” (phi kỹ thuật)
• Phương pháp kỹ thuật:
Định hướng phát triển không gian đô thị trên cơ sở thân thiện với môi trường
là rất cần thiết nhằm hạn chế đến mức tối đa việc san lấp sông, kênh rạch hoặc bê tông hoá các vùng đất trũng vốn là vùng thoát nước tự nhiên Bằng cách thường xuyên kiểm tra và nạo vét các kênh, mương, tăng diện tích hồ chứa nước ở các đô thị Ở Singapore có được thành công lớn đó là đa dạng hóa nguồn cung cấp nước,
do đó nó có thể cung cấp đủ nước để đáp ứng nhu cầu trong tương lai của Singapore, bằng cách xây dựng một hệ thống 14 hồ chứa và một hệ thống thoát nước rộng lớn gồm kênh nước mưa kết nối với hồ chứa
Các mục tiêu và chương trình nghiên cứu và công tác quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật: Bảo đảm ổn định, an toàn dân cư cho các đô thị, các vùng, miền, giữ
an toàn hệ thống đê điều, các công trình dân sinh, hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai Ở Australia và New Zealand đã tiến hành công tác đánh giá tác động của BĐKH tới hệ thống hạ kỹ thuật, bao gồm CSHT giao thông,
hệ thống thoát nước, đê điều, được đánh giá trên các phương diện giá trị vật chất, các dịch vụ hạ tầng, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp
Trang 22Thích ứng với nhiệt độ tăng: Ảnh hưởng của BĐKH làm cho nhiệt độ mùa
hè tăng trong những ngày nắng nóng, sóng nhiệt làm cho nhựa đường của hệ thống đường sá bị lún, tan chảy, bức xạ nhiệt lớn gây ảnh hưởng đến CSHT Vì thế phải bảo trì thường xuyên hơn; phát triển vật liệu chịu và cách nhiệt mới; phát triển các đường phố chịu nhiệt và cảnh quan của con đường (quy hoạch trồng cây xanh ở trong đô thị, ven đường giao thông; thiết kế trục cảnh quan nâng cao khả năng thông gió trong đô thị); thực hiện đúng thiết kế xây dựng Ở Tokyo đã có phương pháp rất hữu hiệu là trồng cây xanh tạo vườn trên mái nhà nhằm giảm tác động của hiệu ứng nhiệt
Thích ứng với lụt, bão: Nghiên cứu và quy hoạch tổng thể thủy lợi đồng
bằng có nguy cơ ngập lụt trong điều kiện nước biển dâng; quy hoạch chống lũ cho các hệ thống sông, kênh rạch ở các đô thị Công tác thủy lợi có thêm nhiệm vụ chống úng ngập cho các vùng đồng bằng trũng, thấp bảo vệ đất canh tác, bảo vệ nhà cửa dân cư trong khu vực này, đồng thời chống úng, ngập cho các đô thị, khu công nghiệp ở những vùng đất thấp ven biển, Navotas, Philippines là thành phố tương đối thấp, có đến 165 ngày trong một năm thành phố nằm dưới mực nước biển do thủy triều Do đó vấn đề được quan tâm hàng đầu tại đây là xây dựng đê biển và các trạm bơm dọc theo các khu vực ngập lụt dễ bị tổn thương nhất Hệ thống tường biển được hình thành để giảm thiểu các tác động của sóng biển, gió bão và lũ lụt
Phát triển CSHT khác như du lịch, dịch vụ, giao thông khai thác tiềm năng sông nước, từ đó đề xuất quy mô đầu tư xây dựng công trình chỉnh trị sông theo quy hoạch, có như vậy thì hạn chế lượng giao thông ngày càng đông ở đường bộ, và từ
đó người dân cũng nhận thức được rằng cần phải bảo vệ cảnh quan ở các dòng sông chính bảo vệ phương tiện giao thông mà họ đi lại hàng ngày Và cần phải ngăn chặn tình trạng xây dựng, lấn chiếm bờ sông, lòng sông, xả rác thải ra lòng sông như ở sông Nile, Cairo, Ai Cập
Lượng mưa tăng, lũ lụt gây ngập lụt các đô thị, CSHT, đường sá có nguy cơ sụt lún Do đó phải cải thiện hệ thống thoát nước đô thị, tăng lượng chứa nước mưa trong những đợt ngập lụt, thường xuyên bảo trì, bảo dưỡng các hệ thống đường, cầu