Trong xã hội ngày nay, với tình hình tội phạm ngày càng trở nên phức tạp, diễn biến khó lường, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều các chính sách, các văn bản pháp luật nhằm đấu tranh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
kh¸ng nghÞ theo thñ tôc t¸i thÈm trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
kh¸ng nghÞ theo thñ tôc t¸i thÈm trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Phương Dung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHI ̣ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm và ý nghĩa của tái thẩm 7
1.1.1 Khái niệm tái thẩm 7
1.1.2 Đặc điểm của tái thẩm 9
1.1.3 Ý nghĩa của tái thẩm 13
1.2 Khái niệm và các yêu cầu của kháng nghị tái thẩm 14
1.2.1 Khái niệm kháng nghị tái thẩm 14
1.2.2 Các yêu cầu của kháng nghị tái thẩm 15
1.3 Quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣n g hình sự Viê ̣t Nam về kháng nghị tái thẩm từ năm 1945 đến năm 2003 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Chương 2: QUY ĐI ̣NH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ KHÁNG NGHI ̣ TÁI THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀN H 28
2.1 Quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự năm 2003 về kháng nghị tái thẩm 28
2.1.1 Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 28
2.1.2 Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện 38
2.1.3 Chủ thể kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 40
2.1.4 Thời ha ̣n kháng nghi ̣ theo thủ tục tái thẩm 44
Trang 52.1.5 Thẩm quyền tái thẩm và tiến hành tái thẩm 46
2.2 Thực tiễn thi hành quy đi ̣nh của BLTT HS năm 2003 về kháng nghị tái thẩm 56
2.2.1 Tổng quát kết quả kháng nghi ̣ tái thẩm 56
2.2.2 Những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG KHÁNG NGHỊ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 65
3.1 Những yêu cầu bảo đảm chất lượng kháng nghị tái thẩm trong tố tụng hình sự 65
3.1.1 Nhận thức đúng và thống nhất quy định của BLTTHS năm 2015 về kháng nghị tái thẩm 65
3.1.2 Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa 72
3.1.3 Bảo đảm quyền con người 73
3.2 Các giải pháp đảm bảo chất lượng kháng nghị tái thẩm trong tố tụng hình sự 74
3.2.1 Tổ chức triển khai thi hành tốt các quy định của BLTTHS năm 2015 về kháng nghị tái thẩm 74
3.2.2 Nâng cao chất lượng kháng nghị tái thẩm 76
3.2.3 Bảo đảm xét xử theo thủ tục tái thẩm 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng chống tội phạm luôn là vấn đề quan trọng được đặt ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới Trong
xã hội ngày nay, với tình hình tội phạm ngày càng trở nên phức tạp, diễn biến khó lường, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều các chính sách, các văn bản pháp luật nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả, trong đó có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 với những quy định pháp luật nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi phạm tội cũng như đảm bảo việc xét xử của Tòa án được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự cũng như bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong thực tế không tránh khỏi những trường hợp Tòa
án – cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất có thẩm quyền xét xử, vì nhiều lý do khác nhau khiến cho việc xét xử thiếu đi tính chính xác, khách quan Cấp xét
xử thứ 2: phúc thẩm chính là một thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự để khắc phục những sai lầm của Tòa án trong phiên tòa sơ thẩm, khi bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vậy trường hợp bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn không chính xác, có sự vi phạm pháp luật thì giải quyết như thế nào? Thủ tục xét lại bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực của Tòa án chính là thủ tục đặc biệt trong pháp luật tố tụng hình sự, ra đời nhằm khắc phục những sai sót trước đó, trong đó có thủ tục tái thẩm Tái thẩm là việc Tòa án xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực đó Có nghĩa
là, căn cứ để tái thẩm chỉ có thể là có kháng nghị tái thẩm của chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, những quy định của pháp luật
Trang 7hiện hành về kháng nghị tái thẩm còn nhiều hạn chế, bất cập như: khó xác định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cũng như khó xác định chủ thể kháng nghị tái thẩm dẫn đến việc trên thực tế các vụ án tái thẩm rất ít
Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu chuyên sâu về vấn đề kháng nghị theo thủ tục tái thẩm không chỉ mang ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang ý nghĩa về mặt thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra các phương hướng hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định của pháp luật Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm
đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập năm
1945 cho đến trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta được ban hành năm 1988, thủ tục tái thẩm chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự, chỉ đến khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 ra đời, tái thẩm mới được nhắc đến với tư cách là thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao mà chưa có quy định chi tiết, cụ thể về kháng nghị tái thẩm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời đã quy đi ̣nh chức năng, nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các chế định , thủ tục tố tụng , trong đó có tái thẩm Thủ tục tái thẩm được quy đi ̣ nh ta ̣i chương XXX , từ điều 260 đến điều 270, trong đó quy đi ̣nh về tính chất, căn cứ, thẩm quyền tái thẩm, thời ha ̣n kháng nghi ̣, thẩm quyền kháng nghi ̣ tái thẩm và thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm Sau một thời gian dài áp dụng, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 1988 đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình tội phạm mới và đã được thay thế bằng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong
đó thủ tục tái thẩm được quy định tại chương XXXI, bao gồm mười một điều
từ Điều 290 đến Điều 300
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như luận văn thạc sỹ: “Kháng
Trang 8nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Như Thắng năm 2014; những nghiên cứu của các tác giả được nghiên
cứu thành sách như “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của tác giả Đinh Văn Quế (1997), “Thủ tục xét xử các vụ
án hình sự”, Nxb Tư pháp TP HCM năm 2003; những nghiên cứu của các
tác giả được đăng lên các tạp chí chuyên ngành như: “Về căn cứ để kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003” của tác
giả Vũ Gia Lâm (tạp chí Luật học, số 10, năm 2006), “Những điểm mới trong
Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi về phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm”
của tác giả Nguyễn Đức Mai (tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước
và pháp luật, số 5, năm 2004), “Căn cứ kháng nghị tái thẩm vụ án hình sự”
của tác giả Nguyễn Hải Ninh (tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, năm 2014) Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội (phần viết
về tái thẩm), “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự” do GS.TS Võ
Khánh Vinh chủ biên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự, phân tích các điểm chưa hợp lý, chưa rõ ràng, thống nhất trong các quy định của pháp luật thực định, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cũng như những nguyên nhân của những sai lầm, vi phạm trong việc áp dụng vào thực tiễn; từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kháng nghị tái thẩm trong tố tụng
Trang 9hình sự như: Tính chất của tái thẩm, khái niệm tái thẩm, khái niệm kháng nghị tái thẩm, đặc điểm và ý nghĩa của kháng nghị tái thẩm…
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của các quy định pháp luật về tái thẩm cũng như về kháng nghị tái thẩm từ khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập năm 1945 đến trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 ra đời
- Phân tích đồng thời đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 về kháng nghị tái thẩm: căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, thẩm quyền kháng nghị tái thẩm, thời hạn kháng nghị tái thẩm…
- Phản ánh thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng nghị tái thẩm; tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót, sai lầm trong việc áp dụng quy định của pháp luật vào thực tiễn
- Nêu các yêu cầu nhằm bảo đảm chất lượng kháng nghị tái thẩm đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự cũng như các quy định của BLTTHS năm 2003 về kháng nghị tái thẩm; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về kháng nghị tái thẩm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu khái niệm, tính chất, đặc điểm và
ý nghĩa của kháng nghị tái thẩm trong tố tụng hình sự; nghiên cứu quá trình phát triển của các quy định về kháng nghị tái thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Về mặt pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 về kháng nghị tái thẩm
Trang 10- Về mặt thực tiễn, phạm vi nghiên cứu là thực tiễn áp dụng các quy định về kháng nghị tái thẩm được xem xét trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu vấn đề kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
6 Ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận, nội dung luận văn mang ý nghĩa trong việc góp phần hoàn thiện lý luận kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong khoa học pháp lý Luận văn đã phân tích rõ khái niệm cũng như đặc điểm, tính chất của kháng nghị tái thẩm; quá trình phát triển của các quy định pháp luật về kháng nghị tái thẩm trong lịch sử lập pháp của nước ta thời kỳ từ năm 1945 đến nay; phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về căn cứ kháng nghị
Trang 11tái thẩm, thẩm quyền kháng nghị tái thẩm, thời hạn kháng nghị tái thẩm…; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng, từ đó chỉ ra các vi phạm, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời luận văn cũng đưa ra các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị tái thẩm
- Ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn còn ý nghĩa về mặt thực tiễn Các giải pháp luận văn đưa ra nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị tái thẩm mang tính khả thi, hiệu quả có thể là cơ sở để áp dụng trong thực tiễn liên quan đến hoạt động kháng nghị tái thẩm
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 3 chương Cụ thể:
Chương 1 Những vấn đề chung về kháng nghị tái thẩm trong tố tụng
hình sự Việt Nam
Chương 2 Quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự năm 2003 về kháng
nghị tái thẩm và thực tiễn thi hành
Chương 3 Những yêu cầu và các giải phá p bảo đảm chất lượng kháng
nghị tái thẩm trong tố tụng hình sự
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHI ̣ TÁI THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm và ý nghĩa của tái thẩm
1.1.1 Khái niê ̣m tái thẩm
Trong tố tu ̣ng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, viê ̣n kiểm sát, tòa án thực hiện chức năng , nhiê ̣m vu ̣ của mình thông qua các quy định của pháp luật để đảm bảo vụ án hình sự được g iải quyết một cách chính xác , khách quan , minh ba ̣ch , không bỏ lo ̣t tô ̣i pha ̣m cũng như không làm oan người vô tô ̣i Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, có thể thấy rằng trên thực tế không phải lúc nào các cơ quan tiến hành tố tụng cũng thực hiê ̣n tốt nhiê ̣m vu ̣ của mình , đă ̣c biê ̣t là Tòa án với chức năng là cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xét xử , thực hiện một trong những quyền lực của Nhà nước là quyền Tư pháp Do vâ ̣y, để đảm bảo tính đúng đ ắn, chính xác, khách quan của các bản án , quyết đi ̣nh của Toà án , pháp luật tố tụng hình sự nước ta không những quy đi ̣nh hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm , mà còn quy đi ̣nh thủ tu ̣c xét la ̣i bản án , quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t , trong đó
có thủ tục tái thẩm Tái thẩm được áp dụng khi bản án , quyết đi ̣nh có hiê ̣u lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi
cơ bản nô ̣i dung của bản án, quyết đi ̣nh mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết đi ̣nh đó
Về khái niê ̣m tái thẩm , trong khoa học pháp lý có rất nhiều các quan
điểm khác nhau của các ho ̣c giả Trong bài viết : “Khái niệm giám đốc thẩm,
tái thẩm trong tố tụng hình sự”, tác giả Trần Văn Độ và Nguyễn Mai Bộ đã
nêu khái niê ̣m tái thẩm như sau:
Trang 13Tái thẩm là thủ tục tố tụng do Tòa án cấp trên thực hiện theo trình tự pháp luật quy định để xét lại bản án, quyết định hình sự đã
có hiệu lực pháp luật bị người có thẩm quyền kháng nghị khi có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó nhằm khắc phục những sai lầm nghiêm trọng trong giải quyết vụ án [7, tr.15]
Theo quan điểm này thì có thể hiểu rằng viê ̣c xét la ̣i bản án, quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t bi ̣ người có thẩm quyền kháng nghi ̣ chỉ khi có tình tiết mới chắc chắn sẽ làm thay đổi cơ bản nô ̣i dung của vu ̣ án mà Tòa án
không biết được khi ra bản án , quyết đi ̣nh đó; như vâ ̣y quan điểm trên đã loa ̣i trừ trường hợp những tình tiết mới phát hiê ̣n có thể làm thay đổi cơ bản nô ̣i dung của vu ̣ án Điều này là chưa phù hợp với quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự hiện h ành vì khi phát hiện ra tình tiết mới mà tình tiết này chỉ cần có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền đã có thể tiến hành kháng nghị tái thẩm
Quan điểm thứ hai là quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế đưa ra khái niê ̣m tái thẩm trong tác phẩm:
Giám đốc thẩm , tái thẩm về hình sự - những vấn đề lý luận
và thực tiễn của mình , theo đó : Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà tòa không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [17, tr 102]
Như vâ ̣y quan điểm trên của tác giả Đinh Văn Quế về cơ bản đã thể hiện được khái niệm tái thẩm theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 Tuy nhiên, đứng trên góc đô ̣ khoa ho ̣c pháp lý thì quan điểm này chưa được cu ̣ thể khi mới chỉ nêu được tính chất của tái thẩm mà
Trang 14chưa nêu được các vấn đề khác như : chủ thể của quyền kháng nghị (những người có quyền kháng nghi ̣ tái thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ) hay mu ̣c đích của tái thẩm
Mô ̣t quan điểm khác có thể kể đến đó là quan điểm nêu trong Giáo
trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội:
Thủ tục tái thẩm là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong
đó Tòa án xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó [35, tr 473]
Theo đó , tác giả không đưa ra khái niệm “tái thẩm” mà đưa ra khái niê ̣m “thủ tu ̣c tái thẩm” , như vâ ̣y có thể hiểu tác giả tiếp câ ̣n khái niê ̣m trên với phương diê ̣n là mô ̣t giai đoa ̣n của tố tu ̣ng hình sự
Có thể nói những quan điểm trên đã phần nào thể hiện được khái niệm của tái thẩm một cách cơ bản trong khoa học pháp lý hình sự Tiếp thu những
mă ̣t tích cực đồng thời khắc phu ̣c những ha ̣n chế của các ho ̣c giả trên , bản thân tác giả đưa ra quan điểm về khái niê ̣m tái thẩm như sau:
“Tái thẩm là thủ tục tố tụng, trong đó Tòa án có thẩm quyền xét lại bản
án hoặc quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luật nhưng bi ̣ kháng nghi ̣ bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy đi ̣nh của pháp luật khi có những tình tiết mới được phát hiê ̣n có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyế t
đi ̣nh mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết đi ̣nh đó, nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án chính xác , khách quan , khắc phục những sai sót trước đó”
1.1.2 Đặc điểm của tái thẩm
- Đối tượng của tái thẩm:
Nếu như đối tượng ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm là những vu ̣ án thì đối
Trang 15tượng của tái thẩm cũng giống như đối tượng của giám đốc thẩm , đó là các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, nếu như giám đốc thẩm bản án, quyết định bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án thì ở tái thẩm đối tượng là những bản án, quyết đi ̣nh bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nô ̣i dung của bản án, quyết đi ̣nh đó Các bản án, quyết
đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t tức là các bản án , quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; các bản án đã được xét xử qua 2 cấp sơ thẩm, phúc thẩm; các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và BLTTHS năm
2003 (nay là các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014) Đây
có thể coi là đặc điểm giúp phân biệt rõ ràng tái thẩm và giám đốc thẩm BLTTHS năm 2003 chỉ đưa ra một điều kiện hạn chế đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đó là những quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC Ngoài hạn chế đó, tất cả các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực đều có thể bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm nếu có căn cứ Tuy nhiên, đối tượng của kháng nghị không phải là tất cả các quyết định mà Tòa án ban hành
mà chỉ là các quyết định giải quyết thực chất vụ án
- Mục đích của tái thẩm:
Mă ̣c dù pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự nước ta quy đi ̣nh nguyên tắc hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm , nhằm khắc phu ̣c những thiếu sót , sai lầm của cấp xét xử thứ nhất , đảm bảo vu ̣ án được giải quyết mô ̣t cách khách quan , chính xác, minh ba ̣ch Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cấp xét xử phúc thẩm cũng hoàn toàn chính xác và đạt được những kết quả như mong muốn vì những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Do vâ ̣y, tái thẩm với
Trang 16tư cách là thủ tục tố tu ̣ng xem xét lại tính có căn cứ của các bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mà bị kháng nghị khi phát hiê ̣n ra các tình tiết mới, với mu ̣c đích cũng như giám đốc thẩm đó chính là nhằm khắc phu ̣c những sai sót trong các bản án , quyết đi ̣nh trước đó , đảm bảo bản án , quyết định đưa ra được đúng đắn , khách quan, đúng người, đúng tội; thể hiê ̣n chính sách pháp luật của Nhà nước pháp quyền
- Thẩm quyền tái thẩm:
Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có thẩm quyền xét xử , do vậy quyền tái thẩm được xác định là Tòa án cấp trên có thẩm quyền tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền tái thẩm gồm 3 cấp tái thẩm: Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu; Tòa hình sự TANDTC và Tòa án quân sự trung ương; Hội đồng Thẩm phán TANDTC
- Bản chất pháp lý của tái thẩm:
Tái thẩm xem xét tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Như vậy có các điều kiện cần thiết đối với tình tiết mới như sau : Thứ nhất, tình tiết mới phải là tình tiết tồn tại khách quan trước khi Tòa án ra bản án hoă ̣c quyết đi ̣nh của mình, chứ không phải là tình tiết sau khi xét xử và ra bản án thì mới xuất hiện tình tiết mới đó Sau khi đáp ứng yêu cầu tình tiết tồn ta ̣i trước khi Tòa ra bản án hoặc quyết định , thì yêu cầu thứ hai , tình tiết đó phải được phát hiện sau khi bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật , tức là sau khi bản án, quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực thi hành thì tình tiết này mới được phát hiê ̣n bởi bất kỳ người nào (người bi ̣ kết án , cơ quan tổ chức hay mo ̣i công dân) Yêu cầu cuối cùng của tình tiết mới đó là Tòa án không biết được tình tiết đó khi ra bản án , quyết định Như vâ ̣y , nếu Tòa án đã biết tình tiết đó
Trang 17trước khi ra bản án , quyết đi ̣nh của mình thì vấn đề tái thẩm sẽ không được
đă ̣t ra Chỉ khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện trên thì mới được coi là tình tiết mới Tuy nhiên, không phải bất cứ tình tiết nào khi được công nhâ ̣n là tình tiết mới đều đă ̣t ra vấn đề tái thẩm mà tái thẩm còn xem xét ý nghĩa của tình tiết mới đối với vụ án , tức là một tình tiết mới chỉ khi nó có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì mới là căn
cứ để có thể làm phát sinh tái thẩm Như vâ ̣y, tình tiết mới đó phải mang một
ý nghĩa quan trọng đó là khi áp dụng tình tiết đó thì nội dung cơ bản của bản án, quyết đi ̣nh đó có thể bi ̣ thay đổi , còn những tình tiết mới nhưng không có
ý nghĩa thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể nội dung của bản án, quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực của Tòa thì tình tiết đó cũng không thể coi là tình tiết làm phát sinh kháng nghi ̣ tái thẩm
- Cơ sở phát sinh tái thẩm:
Cơ sở làm phát sinh tái thẩm đó chính là có kháng nghị Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi có kháng nghị của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ là cơ sở để phát sinh tái thẩm Viê ̣c phát hiê ̣n những tình tiết phát sinh kháng nghị có thể do người bị kết án , cơ quan, tổ chức và mo ̣i công dân , song không phải ai cũng có quyền kháng nghi ̣ tái thẩm Các cá nhân khi phát hiê ̣n ra tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nô ̣i dung của bản án, quyết đi ̣nh đã có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t của Tòa thì cần báo cho Viê ̣n kiểm sát hoă ̣c Tòa án, theo đó, Viê ̣n trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó Như vậy chỉ khi có kháng nghị của người tiến hành
tố tụng có thẩm quyền bằng văn bản thì mới có thể phát sinh tái thẩm Điểm khác biệt giữa giám đốc thẩm và tái thẩm đó là trong khi giám đốc thẩm sẽ phát sinh khi có kháng nghị của Chánh án hoặc Viện trưởng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì ở tái thẩm chỉ ghi nhận quyền kháng nghị tái thẩm thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có thẩm quyền
Trang 181.1.3 Ý nghĩa của tái thẩm
Có thể khẳng định rằng tái thẩm mang ý nghĩa lớn lao không chỉ trong khoa học pháp lý hình sự mà còn mang ý nghĩa chính trị , xã hội, thực tiễn Trong công tác đấu tranh phòng , chống, ngăn chặn tội phạm , viê ̣c phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội là vô cùng quan trọng Các quy định của pháp luật tố tụng về tái thẩm thể hiện cơ chế đảm bảo nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đảm bảo thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng, bảo vệ triệt để các quyền cơ bản của công dân Ngoài ra, chế định tái thẩm còn góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp, qua đó bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Tái thẩm góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, thống nhất của pháp luật, làm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, đảm bảo quyền công bằng cho người dân trước pháp luật, đảm bảo pháp luật ngày càng đóng vai trò tối thượng trong đời sống Nhà nước cũng như đời sống xã hội
Về mă ̣t xã hô ̣i , thủ tục tái thẩm cũng mang ý nghĩa quan trọng Nhà nước ta với chủ trương, chính sách pháp luật đảm bảo việc xét xử khách quan, công bằng, bản án đưa ra đúng người , đúng tô ̣i, không bỏ lo ̣t tô ̣i pha ̣m cũn g như không làm oan người vô tô ̣i Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra , truy tố, xét xử vụ án hình sự thì vì nhiều lý do khác nhau nên vẫn còn có nhiều trường hợp án oan, sai, để lọt tội phạm, khi ấy pháp luật sẽ không thực hiện được đầy
đủ nhiệm vụ của mình khi không bảo vệ được lợi ích của xã hội , quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, thủ tục tái thẩm với chức năng xem xét lại các bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng có kháng nghị do phát hiện ra các tình tiết mới sẽ tránh được tình trạng oan, sai, giúp xử
lý đúng người , đúng tội, góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội