ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Tô Thị Hoàng Yến ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN, SẢN XUẤT GỖ TẠI THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI - NGHIÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Tô Thị Hoàng Yến
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN, SẢN XUẤT GỖ TẠI THƯỜNG TÍN,
HÀ NỘI - NGHIÊN CỨU CHẾ BIẾN THÀNH THAN SẠCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Tô Thị Hoàng Yến
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN, SẢN XUẤT GỖ TẠI THƯỜNG TÍN,
HÀ NỘI - NGHIÊN CỨU CHẾ BIẾN THÀNH THAN SẠCH
Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
TS Trần Thị Huyền Nga PGS.TS Trần Văn Quy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn PGS.TS Trịnh Văn Tuyên - Viện Công nghệ môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) và TS Trần Thị Huyền Nga - Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) - những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ phòng Công nghệ xử
lý chất thải rắn và khí thải - Viện Công nghệ môi trường Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), các thầy cô trong khoa Môi trường
đã tạo điều kiện giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2016
Học viên
Tô Thị Hoàng Yến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan tình hình ô nhiễm chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Việt Nam 3
1.2 Các phương pháp xử lý, quản lý chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất gỗ ở Viêt Nam và trên thế giới 5
1.2.1 Quản lý, xử lý chất thải rắn trong công nghiệp sản xuất gỗ trên thế giới 5 1.2.2 Quản lý, xử lý chất thải rắn làng nghề gỗ ở Việt Nam 9
1.3 Phương pháp chế tạo than sạch dạng bánh 12
1.3.1 Chế tạo than sạch dạng bánh 12
1.3.2 Các chủng loại, thành phần của sản phẩm than mùn cưa hiện có trên thị trường Việt Nam 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 29
2.2.3 Phương pháp thực nghiệm chế tạo than sạch 29
2.2.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 31
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.2.7 Phương pháp tổng hợp 32
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Hiện trạng ô nhiễm chất thải rắn tại các làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Thường Tín, Hà Nội 33
3.2 Đánh giá, đề xuất các phương pháp quản lý, xử lý chất thải rắn tại các làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Thường Tín, Hà Nội 40
3.3 Khả năng chế tạo thành than sạch từ chất thải mùn cưa 42
3.3.1 Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng khả năng chế tạo than sạch từ mùn cưa quy mô phòng thí nghiệm 42
3.3.2 Nghiên cứu chế tạo than cacbon hóa quy mô pilot 49
3.4 Đánh giá về mặt kinh tế 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
Kết luận 54
Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 59
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân bố các làng nghề chế biến gỗ của Việt Nam năm 2009 4
Bảng 1.2: So sánh giữa quá trình cacbon hóa và khí hóa 20
Bảng 3.1: Chất lượng không khí tại các cơ sở sản xuất gỗ tại Thường Tín 39
Bảng 3.2: Các thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 300oC 43
Bảng 3.3: Các thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 350oC 44
Bảng 3.4: Bảng thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 400oC 45
Bảng 3.5: Bảng thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 450oC 46
Bảng 3.6: Bảng thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 500oC 47
Bảng 3.7: Bảng thông số than cacbon hóa ở quy mô pilot 49
Bảng 3.8: So sánh chất lượng than mẫu với tiêu chuẩn châu Âu [20] 50
Bảng 3.9: Bảnh so sánh chất lượng than mẫu với các loại than khác có sẵn trên thị trường 50
Bảng 3.10: Bảng so sánh chất lượng than mẫu với các loại than cacbon
từ rác thải sinh hoạt thành phố Hà Nội 51
Bảng 3.11: Thành phần hóa học của gỗ 51
Bảng 3.12: Thông số khí thải của hệ thống lò đốt 53
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hệ thống thông gió phụ trợ 7
Hình 1.2: Khuôn hút biến đổi 8
Hình 1.3: Quan hệ của làng nghề gỗ với các bên liên quan 9
Hình 1.4: Hệ thống xử lý mùn cưa tại Yên Lạc - Vĩnh Phúc 10
Hình 1.5: Các bước sản xuất than sinh học 15
Hình 1.6: Cấu tạo của gỗ [23] 16
Hình 1.7: Chu trình hệ thống khí hóa 18
Hình 1.8: Sơ đồ nguyên lý công nghệ một hệ thống khí hóa phát điện cỡ nhỏ 18
Hình 1.9: Bốn giai đoạn khí hóa sinh khối 19
Hình 1.10: Viên nén mùn cưa công ty Phú An Sinh 24
Hình 1.11: Thanh nén mùn cưa Công ty TNHH Tân Khải Phát 24
Hình 1.12: Than mùn cưa Công ty Nam Minh Long 25
Hình 2.1: Mùn cưa 27
Hình 2.2: Bản đồ phân bố làng nghề gỗ Huyện Thường Tín, Hà Nội 28
Hình 2.3: Sơ đồ sản xuất than mùn cưa quy mô phòng thí nghiệm 29
Hình 2.4: Lò cacbon hóa mùn cưa quy mô phòng thí nghiệm 30
Hình 2.5: Sơ đồ sản xuất than mùn cưa quy mô pilot 30
Hình 2.6: Lò cacbon hóa than mùn cưa quy mô pilot 31
Hình 3.1: Quy trình sản xuất và nguồn phát sinh chất thải trong hoạt động sản xuất và chế biến gỗ cơ bản tại Thường Tín, Hà Nội 33
Hình 3.2: Hoạt động gỗ, đục, chạm, khảm 34
Hình 3.3: Hoạt động làm mộng, chà nhám 34
Hình 3.4: Chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất gỗ 35
Trang 8Hình 3.5: Chất thải rắn ở làng nghề mộc Vạn Điểm 36
Hình 3.6: Chất thải rắn làng nghề mộc Phụng Công 36
Hình 3.7: Chất thải rắn ở làng nghề mộc Nguyên Hanh 37
Hình 3.8: Chất thải rắn ở làng nghề thôn Nhị Khê 38
Hình 3.9: Chất thải rắn ở làng nghề thôn Định Quán 38
Hình 3.10: Hiện trạng thu gom tại làng nghề 40
Hình 3.11: Xử lý mùn cƣa ở các làng nghề 41
Hình 3.12: Biểu đồ thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 300oC 43
Hình 3.13: Biểu đồ thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 350oC 44
Hình 3.14: Biểu đồ thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 400oC 45
Hình 3.15: Biểu đồ thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 450oC 46
Hình 3.16: Biểu đồ thông số than cacbon hóa ở nhiệt độ 500oC 47
Hình 3.17: Sản phẩm than mùn cƣa 49
Hình 3.18: Thiết bị sản xuất than mùn cƣa quy mô pilot công suất 30 kg nguyên liệu/mẻ 52
Hình 3.19: Cân bằng vật chất quá trình cacbon hóa 53
Trang 9MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều làng nghề gỗ truyền thống nổi tiếng như: Chàng Sơn, Canh Nậu, Sơn Đồng (Hà Nội); Đồng Kỵ (Bắc Ninh); La Xuyên (Nam Định); Kim Bồng, Văn Hà (Quảng Nam) Có những làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm, mang lại công ăn việc làm cho hàng nghìn người, nhiều nghệ nhân được cả thế giới biết đến Xã Phù Khê (thị xã Từ Sơn - Bắc Ninh) có tới 2000 hộ tham gia sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ (chiếm 90% số hộ trong xã), tạo việc làm ổn định cho trên 8000 lao động trong và ngoài xã với mức thu nhập bình quân từ 4 đến 5 triệu đồng/người/tháng Riêng thợ cả có tay nghề cao thu nhập từ 10 đến 12 triệu đồng/người/tháng [27]
Tuy nhiên, các làng nghề chế biến gỗ chủ yếu nằm xen lẫn với các khu dân
cư đông đúc, thậm chí nhiều hộ gia đình lấy luôn nhà để làm xưởng chế biến thủ công Quá trình chế biến gỗ gây ô nhiễm tiếng ồn bởi tiếng động cơ chạy ngày đêm, bụi gỗ bay mù mịt bởi công đoạn chà gỗ gây ô nhiễm không khí thậm chí là nguồn nước Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, mùn cưa, gỗ vụn rất lớn ra khu vực xung quanh, khiến môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân
Hiện nay, ở Việt Nam hầu hết các làng nghề gỗ xử lý chất thải rắn tự phát như thiêu đốt, chôn lấp Cũng có các cách xử lý khá thân thiện với môi trường như
sử dụng mùn cưa để làm vật liệu trồng nấm, làm phân hữu cơ, chế tạo thành viên nén xuất khẩu Nhưng phần lớn chất thải vẫn để tràn lan ngoài môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng cho dân cư Vì vậy, rất cần thiết sự đánh giá mức độ ô nhiễm
do chất thải rắn làng nghề gỗ để những người quản lý có thể đưa ra biện pháp quản
lý, xử lý hữu hiệu tình trạng ô nhiễm đó Bên cạnh đó nếu có thể đưa ra được một cách xử lý thân thiện với môi trường thì cũng vô cùng cần thiết cho giải pháp xử lý
ô nhiễm
Vì vậy, luận văn “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Thường Tín, Hà Nội - Nghiên cứu chế biến thành than sạch” sẽ đưa ra các giải pháp giúp môi trường làng nghề chế biến sản xuất gỗ hạn chế ô nhiễm, đồng thời chế tạo được nguồn nguyên liệu an toàn, chi phí thấp
Trang 10Các nội dung nghiên cứu của luận văn:
- Thực trạng ô nhiễm chất thải rắn tại các làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Việt Nam, Hà Nội
- Đánh giá, đề xuất các hướng xử lý, quản lý chất thải rắn làng nghề
- Nghiên cứu chế tạo than sạch từ nguồn chất thải rắn mùn cưa
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình ô nhiễm chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất gỗ tại Việt Nam
Việt Nam hiện nay có khoảng trên 300 làng nghề chế biến, sản xuất gỗ (làng nghề gỗ), với gần 50% số làng nghề này tập trung tại vùng Đồng bằng Sông Hồng Theo ước tính, lượng gỗ nguyên liệu sử dụng hàng năm cho các làng nghề gỗ trong
tỉ đô la/năm Các làng nghề hiện nay cung cấp trên 80% tổng đồ gỗ nội thất và xây dựng cho thị trường nội địa [3]
Về quy mô hoạt động, đa số các làng nghề gỗ hiện nay có quy mô nhỏ, chủ yếu là hình thức hộ gia đình, với khoảng 10-15 lao động/cơ sở và chủ yếu là lao động phổ thông Hầu hết tại các cơ sở này chủ và người làm thuê không có hợp đồng lao động mà thường tự thỏa thuận miệng với nhau về công việc và tiền công Quy mô vốn sản xuất của các hộ thường nhỏ, khoảng dưới 10 tỉ đồng/hộ Quy mô nhỏ về vốn và lao động tạo ra sự linh động trong tổ chức sản xuất kinh doanh, điều này tạo động lực thúc đẩy làng nghề gỗ phát triển
Khác với ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu có sử dụng công nghệ hiện đại nhằm tiết kiệm nguyên liệu đầu gia tăng giá trị sản phẩm, nhiều làng nghề
gỗ hiện nay chủ yếu sử dụng công nghệ thô sơ, điều này ảnh hưởng đến giá và chất lượng sản phẩm cuối cùng Một số làng nghề gỗ truyền thống sử dụng lao động tay nghề cao, tạo ra sản phẩm độc đáo có giá trị gia tăng cao, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu
Đồ gỗ của Việt Nam đã được xuất khẩu đến 120 thị trường trên toàn thế giới
Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc là những thị trường tiêu thụ chính của đồ gỗ Việt
Trang 12Nam, trong đó chỉ riêng thị trường Mỹ và EU đã chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu về các sản phẩm này Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã đạt trên 3,9 tỷ USD
Các làng nghề này sử dụng một lượng gỗ nguyên liệu tương đối lớn để sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Năm 2007, các làng nghề chế biến gỗ ở Đồng bằng sông Hồng sử dụng trên 221.600 m3
gỗ trong tổng số 305.600 m3 gỗ của tất cả các làng nghề cả nước Nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 20%; phần còn lại (80%) được nhập khẩu từ nước ngoài [3]
Tính đến năm 2010 cả nước có trên 300 làng nghề gỗ, dự kiến đến năm 2015
sẽ phát triển trên 350 làng nghề
Phân bổ các làng nghề gỗ được thể hiện theo bảng 1.1:
Bảng 1.1: Phân bố các làng nghề chế biến gỗ của Việt Nam năm 2009
Tốc độ tăng trưởng về số lượng làng nghề chế biến gỗ trong 5 năm từ 2010 -
2015 khoảng 23% Mặc dù số lượng làng nghề gỗ chỉ chiếm tỷ lệ 6.6% trên tổng số làng nghề (300/4.575), nhưng giá trị sản xuất và tổng doanh thu của các làng nghề gỗ chiếm 50% tổng giá trị của 6 nhóm làng nghề (32.000 tỷ/69.000 tỷ) Giá trị kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề gỗ và lâm sản ngoài gỗ là 200 triệu USD, chiếm 25% tổng số kim ngạch của tất cả làng nghề Việt Nam [8] Trên 80% đồ gỗ nội thất
và đồ gỗ xây dựng trên thị trường nội địa được sản xuất từ các làng nghề chế biến gỗ Các làng nghề gỗ đã thu hút được trên 300.000 lao động làm việc thường xuyên, chiếm 20% số lượng lao động của các loại hình làng nghề khác
Trang 13Đối với các cở sở chế biến, sản xuất gỗ chất thải rắn bao gồm vỏ cây, bìa bắp, cành ngọn, mùn cưa, phoi bào, bụi gỗ mịn Ước tính với tỷ lệ sử dụng gỗ khoảng 50% đối với các sản phẩm mộc thì lượng phế thải rắn phát sinh là rất lớn Phần lớn các cơ sở sản xuất nhỏ, phân tán không đầu tư thiết bị sấy gỗ thì lượng phế thải rắn này được chưa thu gom để sử dụng có hiệu quả, mà thường được đốt tạo ra khí thải gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, nguồn phế thải rắn nếu không quản lý tốt sẽ là một nguy cơ gây cháy cho cơ sở sản xuất Nếu phát triển cơ sở chế biến gỗ theo quy hoạch, theo từng cụm thì có thể tận dụng tối đa lượng phế thải rắn
để sản xuất ván dăm, viên đốt, làm giá thể nuôi trồng nấm
Mùn cưa với thành phần chính là cellulose, là một chất khó tiêu hóa cho con người, chúng từng được sử dụng như là một chất độn trong một số thực phẩm ít calo như vỏ xúc xích, bánh mì
Với cấu trúc phức tạp mùn cưa chứa các loại đường lên men có thể được sử dụng để sản xuất ethanol cellulosic Việc sản xuất này khó khăn hơn so với việc chuyển đổi thành ethanol từ các chất tinh bột truyền thống như ngũ cốc Quá trình
sử dụng bao gồm việc thủy phân phá hủy cấu trúc cellulose của mùn cưa, tiếp theo
là thủy phân enzyme để tách chiết đường cho quá trình lên men ethanol
Vấn đề phát sinh bụi mịn tại các công đoạn chế biến từ khâu xẻ đến khâu đánh nhẵn là rất lớn Nhiều nhà máy chế biến gỗ có quy mô công nghiệp đều bố trí
hệ thống thu hồi bụi nhưng khá đơn giản (xyclon đơn), chỉ có khả năng thu hồi bụi
có kích thước lớn mà không có khả năng thu hồi bụi tinh từ các công đoạn chà nhám, đánh bóng
1.2 Các phương pháp xử lý, quản lý chất thải rắn làng nghề chế biến, sản xuất
gỗ ở Viêt Nam và trên thế giới
1.2.1 Quản lý, xử lý chất thải rắn trong công nghiệp sản xuất gỗ trên thế giới
- Nguyên tắc quản lý, xử lý chất thải trên thế giới ngày nay là ưu tiên sản xuất không chất thải theo thứ tự sau [16]
+ Sản xuất không chất thải:
Điều này chỉ có thể có nếu gỗ không gia công, xẻ hoặc cát, hoặc nếu tất cả các công việc sản xuất bụi gỗ được khóan ngoài cho nơi làm việc khác với các chương trình kiểm soát toàn diện
Trang 14+ Sử dụng loại gỗ an toàn hơn:
Thay thế các loại gỗ nguy hiểm bằng các loại ít nguy hiểm về nguy cơ sức khỏe Tuy nhiên, có rất ít số liệu có sẵn về mối nguy hại đối với hầu hết các loài
Các sản phẩm có lượng phát thải formaldehit thấp hơn có thể được thay thế cho các sản phẩm với mức phát thải formaldehit cao hơn
+ Cô lập chất thải:
Công nhân được không phải làm việc trong khu vực bụi bặm Trong môi trường sản xuất, công nhân được mặc quần áo bảo hộ tránh việc tiếp xúc và hít phải các loại bụi mùn cưa độc hại Trang thiết bị bảo hộ cá nhân là một giải pháp ngắn hạn để tránh việc tiếp xúc của công nhân với bụi gỗ Các loại mặt nạ có thể được đeo để loại bỏ các hạt bụi độc hại (bụi) và các loại khí Việc lựa chọn các mặt nạ thích hợp đòi hỏi một hệ thống đồng bộ về nơi làm việc, kiểm soát các chất ô nhiễm hóa học tiềm năng và nồng độ của chúng Việc sử dụng mặt nạ cũng là một yêu cầu thực hiện để bảo vệ đường hô hấp Trang thiết bị bảo hộ cá nhân khác như bảo vệ mắt, áo và găng tay nên được làm sạch thường xuyên
+ Các biện pháp kỹ thuật:
Trên một số máy với một cắt đơn, nghiền hoặc chà nhám mặt; có nhiều nguồn bụi bị thổi từ các bộ phận khác nhau của máy Trong điều kiện lý tưởng nhất, mỗi nguồn bụi nên được kiểm soát bởi hệ thống thông khí (local exhaust ventilation - LEV)
Trong khi hầu hết bụi gỗ là từ máy móc, việc chà nhám bằng tay có thể là một trong những công việc tạo ra nhiều bụi mùn cưa nhất tại nơi làm việc Việc chà nhám tay thường đòi hỏi việc sử dụng dụng cụ bảo vệ đường hô hấp
Các hệ thống thông khí bao gồm một cửa hút để thu bụi với cơ chế như một bộ lọc hoặc dạng xoáy xyclon để loại bỏ các bụi bẩn Năng lượng để di chuyển không khí và bụi được cung cấp bởi một động cơ quạt và thông qua một động cơ điện
Hầu hết các máy chế biến gỗ hiện đại được trang bị với một hoặc nhiều cửa hút khí hoặc túi trữ bụi
Máy cầm tay nhỏ như máy đánh nhám thường có một túi lọc kèm theo Các
bộ lọc này thường không thu hoàn toàn được bụi mịn phát sinh Đối với các loại
Trang 15máy lớn, các túi thu khí được nối với nhau bằng một ống dẫn đến một đơn vị thu
gom bụi cố định hoặc di động Như vậy, hiệu quả lọc sẽ tốt hơn Tuy nhiên, trong cả
hai trường hợp việc bảo vệ đường hô hấp có thể cần phải được trang bị nếu các tiêu chuẩn tiếp xúc với môi trường làm việc có khả năng bị vượt quá
Các hướng dẫn chi tiết về thiết kế hệ thống thông gió cho một loạt các máy móc trong chế biến, sản xuất gỗ được phổ biến rộng rãi Ví dụ, các tổ chức như
Viện Quốc gia Hoa Kỳ về An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (NIOSH), Sức khỏe và
An toàn Anh (HSE) và Hội nghị Mỹ của Chính phủ Vệ Sinh Công Nghiệp
(ACGIH) đều công bố các thông tin trên các máy chế biến gỗ Bảo dưỡng hệ thống
thông khí cũng quan trọng như thiết kế Hiệu suất của hệ thống thông khí cần phải
được giám sát và bảo trì hệ thống phù hợp với thông số kỹ thuật của nhà sản xuất
Đối với những thiết bị cũ hơn: Các cửa thải có thể lắp thêm thông gió và cải tiến cho một số máy trước đó như máy cưa vòng, đai chà nhám, máy đánh nhám
Máy móc và công cụ mà khó có thể phù hợp với hệ thống thông khí có thể cần phải được thay thế
và có thể dễ dàng lắp đặt Hệ thống bao gồm hai thiết bị: một khuôn nón phụ trợ và
bộ phận lọc khí, bụi Khuôn nón phụ trợ được đặt nằm giữa bề mặt đai và bàn làm
Trang 16việc (cuối đoạn chà nhám) Bộ phận lọc khí nằm bên trong ống thải chính Hai thiết
bị được kết hợp với ống xả chính, giảm bụi gỗ trong phòng làm việc mà không ảnh hưởng đến hoạt động chà nhám
- Hệ thống khuôn hút biến đổi
Lượng bụi gỗ thải ra phụ thuộc vào độ sắc nét của máy cắt, độ sâu của nhát cắt, vị trí tại đó gỗ được đưa vào máy và vị trí của ống thải khí Sau khi nghiên cứu các vị trí ống thải thông thường, các nhà nghiên cứu đã phát triển một cấu hình hình ống được lắp thêm, giảm đáng kể lượng khí thải bụi gỗ
Hình 1.2: Khuôn hút biến đổi
Khí thải thường được kiểm soát bởi một ống hút nằm ở rìa sau của bàn làm việc cho phép di chuyển phôi trên bàn Đặt ống thải gần đầu cắt sẽ tối đa hóa thu bụi, tuy nhiên, điều này gây hạn chế trong việc di chuyển phôi Để khắc phục vấn
đề này, một phần khuôn biến đổi với một mặt mở linh hoạt được thêm vào Các mặt
mở linh hoạt bao gồm túi vải cho phép gỗ để đi qua, nhưng thu lại các hạt bụi gỗ Việc mở rộng cũng làm tăng vận tốc mặt hút bằng cách giảm thiểu các khu vực mở thiết bị kiểm soát bụi
+ Các biện pháp tái chế:
Ngày nay mùn cưa có thể được sử dụng để tái chế sản xuất vật dụng trong gia đình như bàn ghế, giường tủ Ngoài ra có thể được làm thành một dạng năng lượng sinh học như than mùn cưa, viên nén mùn cưa
Trang 171.2.2 Quản lý, xử lý chất thải rắn làng nghề gỗ ở Việt Nam
Hầu hết các chính sách liên quan đến phát triển làng nghề gỗ hiện nay ở Việt Nam như Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Chính phủ về một
số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó chế biến nông, lâm thủy sản và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là những nhóm ngành nghề thuộc danh mục khuyến khích đầu tư với những ưu đãi về đất đai, thuế, đầu tư đều mới chỉ nhấn mạnh về việc quy hoạch, tổ chức và phát triển về khía cạnh kinh tế, xã hội chứ chưa
có quan tâm đến khía cạnh môi trường, về các biện pháp quản lý, xử lý ô nhiễm do các hoạt đông sản xuất gây ra [3]
Hình 1.3: Quan hệ của làng nghề gỗ với các bên liên quan
Trang 18* Phân loại và thu gom chất thải rắn phát sinh ở các làng nghề Chất thải rắn khu xưởng sản xuất gỗ: đầu mẩu gỗ thừa, mùn cưa… Các chất thải này được thu gon để dùng trong đun nấu của gia đình và bán cho nhân dân trong thôn hoặc các doanh nghiệp khác Tuy nhiên chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom triệt để, nhiều làng nghề xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, tác động xấu đến cảnh quan xung quanh và đặc biệt là phần mùn cưa với kích thước nhỏ rất khó thu gom, xử lý gây ảnh hưởng tới sức khỏe và môi trường
* Một số kỹ thuật áp dụng xử lý bụi đã được áp dụng ở Việt Nam [31]
Năm 2010, Công ty TNHH Trung Hiếu - thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng thành công mô hình xử lý bụi gỗ và bụi sơn cho xưởng sản xuất gỗ của mình Khi đưa vào sử dụng, mô hình này đã làm giảm đáng kể các tác động tiêu cực đến môi trường, cải thiện sức khỏe cho người lao động và người dân xung quanh khu vực Đồng thời, việc vận hành mô hình này sẽ mở ra hướng phát triển bền vững cho làng nghề chế biến gỗ trên địa bàn huyện Yên Lạc nói chung, cũng như nhân rộng ra các làng nghề khác tương tự
Hình 1.4: Hệ thống xử lý mùn cưa tại Yên Lạc - Vĩnh Phúc