Do vậy cần thiết tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La và đề xuất giải pháp quản lý” nhằm xác định được về số lượng, c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ DI ỆU THÙY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
PHÁP QU ẢN LÝ
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
Hà N ội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ DI ỆU THÙY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
PHÁP QU ẢN LÝ
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải
Hà N ội, 2016
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TSKH Nguy ễn Xuân Hải người đã tận tuỵ dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ bảo cho
tôi trong quá trình học tập cũng như làm luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn, lời chúc sức khoẻ và thành công tới các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Quản lý môi trường, các thầy cô trong khoa Môi trường và trong Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích về chuyên môn và cho tôi những bài học, kinh nghiệm sống trong cuộc đời
Cùng với đó tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và anh chị phòng thí nghiệm phân tích môi trường, Khoa Môi trường đã chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình bạn bè đã giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Học viên
Lê Di ệu Thùy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2
1.1 Cơ sở lý luận đánh giá đất 2
1.2 Nhận xét các kết quả nghiên cứu đã có 12
1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 13
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai 28
3.1.1 Kết quả phân tích các nguyên tố dinh dưỡng 29
3.1.2 Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng 38
3.1.3 Kết quả phân tích hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất 40
3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 41
3.2.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 42
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 42
3.2.3 Biến động sử dụng đất nông nghiệp 44
3.3 Đề xuất phương án quản lý và sử dụng đất có hiệu quả bền vững tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 46
3.3.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của viêc đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp 46
3.3.2 Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững 53
3.3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất nông nghiệp 58
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại hình sử dụng đất chính trong nông lâm nghiệp 5
Bảng 1.2 Dân số các dân tộc huyện Quỳnh Nhai (thời điểm 31/12/2015) 16
Bảng 3.1 Phân loại đất huyện Quỳnh Nhai theo loại đất 28
Bảng 3.2 Kết quả phân tích phẫu diện QN01 30
Bảng 3.3 Kết quả phân tích phẫu diện QN02 30
Bảng 3.4 Kết quả phân tích phẫu diện QN03 31
Bảng 3.5 Kết quả phân tích phẫu diện QN04 32
Bảng 3.6 Kết quả phân tích phẫu diện QN05 32
Bảng 3.7 Kết quả phân tích phẫu diện QN06 33
Bảng 3.8 Kết quả phân tích phẫu diện QN07 34
Bảng 3.9 Kết quả phân tích phẫu diện QN08 34
Bảng 3.10 Kết quả phân tích phẫu diện QN09 36
Bảng 3.11 Kết quả phân tích phẫu diện QN10 37
Bảng 3.12 Kết quả phân tích phẫu diện QN11 38
Bảng 3.13 Kết quả phân tích hàm lượng KLN tổng số trong mẫu đất 38
Bảng 3.14 Kết quả phân tích dư lượng một số hóa chất BVTV hữu cơ 40
Bảng 3.15 Yêu cầu sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất 49
Bảng 3.16 Tổng hợp diện tích phân hạng thích nghi đất đai huyện Quỳnh Nhai 53
Bảng 3.17 Đề xuất cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai .56
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Trình tự các bước đánh giá đất theo FAO 25
Hình 3.1 Bản đồ đất huyện Quỳnh Nhai 29
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất của huyện 42
Hình 3.3 Biểu đồ phân bố đất trồng lúa tại các đơn vị hành chính 43
Hình 3.4 Bản đồ phân hạng thích nghi đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai 52
Hình 3.5 Bản đồ đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Quỳnh Nhai 57
Trang 6FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên hạn chế, hiện tại cũng như trong tương lai, diện tích đất
sử dụng cho nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong đó nông nghiệp vẫn là ngành sử dụng đất lớn nhất trong các ngành kinh tế để sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ cho con người Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên đất phục vụ sử dụng đất bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao là một vấn đề cấp bách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Huyện Quỳnh Nhai nằm ở phía tây Bắc của tỉnh Sơn La, xung quanh bao bọc
bởi dòng sông Đà và các dãy núi, có diện tích tự nhiên 105.600 ha, có điều kiện địa
hình phức tạp gồm tiểu vùng cao có độ cao trung bình 800m – 900m so với mặt nước biển, vùng này thích hợp để trồng rừng, trông cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc Tiểu vùng nằm dọc hai bên bờ sông Đà, có độ cao trung bình 150m – 200m
so với mặt nước biển, vùng này thích hợp cho gieo trồng các loại cây lương thực cây ăn quả, cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản
Mặc dù điều kiện địa hình khó khăn, nhưng Quỳnh Nhai có nhiều tiềm năng đất đai với việc bố trí đa dạng hóa cơ cấu cây trồng vật nuôi cho hiệu quả kinh tế cao Tuy vậy, do điều kiện dân trí còn thấp, vẫn còn những nơi người nông dân canh tác cả trên những loại đất được coi là không phù hợp dẫn đến giá thành sản xuất rất cao, hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích thấp, thậm chí còn thua lỗ Đánh giá chất lượng đất, phân tích tiềm năng, lợi thế để đề xuất các giải pháp quản
lý theo hướng sử dụng đất bền vững được xem là giải pháp quản lý đất đai hiệu quả
Do vậy cần thiết tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La và đề xuất giải pháp quản lý” nhằm xác định được về số lượng, chất lượng đất và phân bố của từng loại
hình sử dụng đất nông nghiệp cụ thể theo từng mức độ thích hợp phục vụ quản lý đất đai và góp phần nâng cao kinh tế và hiệu quả sử dụng đất
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận đánh giá đất
1.1.1 Các khái niệm liên quan
a Khái niệm về đất đai
Đất (soil): là vật thể tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các
yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người
Đất đai (Land): một vùng đất xác định về mặt địa lý, là một thuộc tính tương
đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực nào đó mà thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất của con người hiện tại và trong tương lai
Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit –LMU): là một vùng đất đai với
các tính chất riêng biệt được xác định trên bản đồ
Đặc trừng đất đai (Land Quanlity - LQ): Là thuộc tính của đất có ảnh hưởng
tới tính bền vững đất đai cho một loại sử dụng cụ thể
Loại hình sử dụng đất đai chính (Major type of land use): là một sự phân
chia chủ yếu đối với sử dụng đất ở nông thôn Thí dụ như nông nghiệp nhờ nước, nông nghiệp tưới, đồng cỏ, rừng cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm, chuyên trồng lúa,…
Loại hình sử dụng đất đai (Land Uniliztion Type _ LUT): Một kiểu sử dụng
đất đai cụ thể được miêu tả và xác định theo mức độ chi tiết từ các loại hình sử dụng đất chính
Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System – LUS): là một tổ hợp của các
loại sử dụng đất và đơn vị đất đai LUS=LUT+LMU
Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement – LUR): Yêu cầu sử dụng
đất đai được định nghĩa như là những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu [11]
b Khá i niệm về đất nông nghiệp
Trang 9Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích
sản, làm muốivà mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Đất nông nghiệp gồm:
xuất nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để
ngọt
kính(vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình
nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng
xuất nông nghiệp
Trong nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu lố hàng đầu cùa ngành sản xuất này Đất đai không chi là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồn thức ăn cho cây trồng Mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất đai và thông qua đất đai Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là
ruộng đất
Trang 10Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt khổng thế thay thế được Ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động [7]
c Khái niệm về loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế-xã hội và
kỹ thuật được xác định
Những loại hình sử dụng đất có thể hiểu nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính (Major type of land use) hoặc có thể mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land use type)
Loại hình sử dụng đất chính: Là sự phân chia việc sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở các phương thức:
Theo FAO thì loại sử dụng đất chính thường áp dụng cho việc điều tra mang tính tổng hợp, thể hiện trên các tỷ lệ bản đồ nhỏ, trên thực tế việc xác định các loại hình sử dụng đất chính không trả lời được những vấn đề thực tiễn trong sản xuất ở các quy mô nhỏ, cấp trang trại, cấp xã
Các loại hình sử dụng chính không xác định được những loại cây trồng cụ thể, điều này rất quan trọng vì mỗi loại cây trồng sẽ có những yêu cầu về đất đai khác nhau
Bên cạnh đó các loại phân bón cho cây trồng đã cung cấp đúng nhu cầu dinh dưỡng của các loại cây trồng chưa? Việc sử dụng phân bón không hợp lý sẽ làm giảm độ phì đất hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất [3]
Ví dụ: ở cấp tỷ lệ bản đồ nhỏ 1/1.000.000 không thể xác định được các loại cây trồng cụ thể [14]
Ví dụ: Các loại hình sử dụng đất chính trong nông lâm nghiệp được thể hiện trong bảng 1.1
Trang 11B ảng 1.1 Các loại hình sử dụng đất chính trong nông lâm nghiệp
- Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT):
Là loại hình đã được phân chia nhỏ riêng biệt từ các loại hình sử dụng đất chính Nó là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả chi tiết và rõ ràng theo các thuộc tính nhất định như: thuộc tính sinh học, quy trình sản xuất, đặc tính về quản lý đất đai (sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật) và các đặc tính về kinh tế, kỹ thuật, xã hội (định hướng thị trường, vốn đầu tư, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai)
Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau trong các
dự án đánh giá đất mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả chi tiết phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ, yêu cầu chi tiết và mục tiêu của mỗi dự án đánh giá đất khác nhau [7]
Ví dụ: 1 Lúa; 2 Lúa; 2 Lúa Màu; Chuyên Màu; Lúa Cá; Cây ăn quả;
Các loại hình sử dụng đất thường được xác định ở cấp tỷ lệ bản đồ từ 1/100.000, 1/50.000, 1/25.000, 1/10.000
c Phân loại đất nông nghiệp
Việc phân loại tiêu chuẩn theo FAO - Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp
Quốc thì phân chia đất nông nghiệp vào các thành phần sau đây:
Trang 12Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa)
Vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đồng nho (thông dụng ở châu Âu)
Đất trồng cây lâu năm ví dụ như trồng cây ăn quả)
Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc
Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và không tưới tiêu (thường xuyên) Ở các nước đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu
Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn như rừng, núi, và các vùng nước nội địa Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới) [9]
1.1.2 Những luận điểm cơ bản về đánh giá đất
a Trên thế giới
Có thể nói ràng thuật ngữ đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) được sử dụng từ năm
1950 tại Hội nghị các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam (Hà Lan) Năm 1968, tại hội nghị chuyên đề về đánh giá đất đai tại Canbera, khái niệm đánh giá đất đai được đưa ra tương tự như định nghĩa của Stewart (1968) như sau: Đánh giá đất đai
là “Sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất đai ” Hay nói cách khác đi là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết định cho sử dụng và quản lý đất đai” [6]
Năm 1976 FAO đã đề xuất định nghĩa về: ĐVĐĐ là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có
Trang 13Theo FAO, mục tiêu chính của đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích hợp (Suitability) các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt đã
lựa chọn Các dạng đất đai thường được mô tả và phân lập thành các đơn vị trên bản
đồ, được gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit)
Như vậy, trong đánh giá phân hạng đất đai người ta yêu cầu phải có hai nguồn thông tin: Những kết quả của công tác điều tra khảo sát đất đai xác định theo hệ
thống phân loại đất và những khoanh đất, từ đó xác định được đặc tính, tính chất
vốn có của từng khoanh đất Còn qua việc đề xuất những loại hình sử dụng đất, người ta sẽ nêu được đặc tính, tính chất đất đai hoạt động có kết quả Đánh giá đất đai được tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng, bao hàm cả không gian, điều kiện
tự nhiên - kinh tể, xã hội và môi trường Những đặc điểm của đất đai sử dụng trong đánh giá đất đai là những tính chất mà ta có thể đo lường hay ước lượng được
những thuận lợi khó khăn, đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất
hợp lý và đạt hiệu quả
Theo phân loại khả năng thích nghi đất đai có tưới của Cục cải tạo đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ biên soạn năm 1951, phân loại theo khả năng đất đai, phương pháp này do Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1961 Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đai được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây
trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng đối với cây trồng cụ thể Phân hạng được thực hiện trên cơ sở thống kê năng suất cây trồng trên các loại đất khác nhau, thống kê chi phí và lợi nhuận thu được Kết
quả ở Hoa Kỳ đã phân ra làm 8 hạng đất dùng trong nông nghiệp Trong đó, đất sử
dụng cho sản xuất nông nghiệp được phân thành 4 hạng chính còn đất hạng 5, 6, 7 dùng cho đất lâm nghiệp và đất hạng 8 là đất hoàn toàn không sử dụng được vào
mục đích nông, lâm nghiệp [5]
Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện từ những năm 1960, đánh giá dựa vào quy luật phát sinh của thổ nhưỡng Nguyên tắc trong đánh giá đất đai là các yếu tố đánh giá đất xác định phải ổn định
và phải nhận biết được rõ ràng, phải khách quan và có cơ sở khoa học Phải có những đánh giá về kinh tế và thống kê nông học của đất đai mới có giá trị trong việc Header Page 13 of 126
Trang 14đề ra những biện pháp sử dụng đất tối ưu Việc phân hạng và đánh giá đất được thực hiện theo 3 bước chính như sau:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (theo yếu tố tự nhiên) + Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (kết hợp giữa lớp phủ thổ nhưỡng với khí hậu, độ ẩm, địa hình)
+ Đánh giá kinh tế đất (đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất) Phương pháp này chủ yếu chỉ thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đổi tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến các khía cạnh kinh tế-xã hội trong việc sử đụng đất đai
Đặc điểm đất đai được sử dụng trong đánh giá phân hạng đất của FAO là những tính chất của đất đai mà có thể đo lường hoặc ước lượng được Người ta có thể chọn nhiều đặc điểm hoặc đôi khi chỉ có thể lựa chọn một số đặc điểm đất đai chính có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với mục đích hay vùng nghiên cứu Trong đánh giá, yếu tố thổ nhưỡng là phần đặc biệt quan trọng, song các lưu vực tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng phải được xác định trong đánh giá
Có thể nói, đánh giá đất đai của FAO đã kết hợp và kế thừa giữa các phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) (thiên về yếu tố chất lượng đất) và của Hoa Kỳ (thiên về yêu cầu của cây trồng), trên cơ sở đó phát triển, hoàn chỉnh và đưa ra phuơng pháp đánh giá thích hợp cho từng mục đích sử dụng đất đai
Phương pháp của FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất là (FAO,1990):
Các loại hình sử dụng đất đai được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển vùng hay quốc gia, cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội cùa khu vực nghiên cứu
Các loại sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế - xã hội
Việc đánh giá đất bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại hình sử dụng đất
Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững
Đánh giá khả năng thích hợp của đất bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi
ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của loại hình sử dụng đất
Đánh giá đất đai đòi hỏi một số phương pháp tổng hợp đa ngành
Trang 15b Ở Việt Nam
Ở Việt Nam phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, phân hạng điền thu thuế
là một trong những phương pháp được thực hiện đầu tiên và đã đưa ra khái niệm phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền, ) nhưng chưa xác định được nội dung, phương pháp cụ thể, về cơ bản có thể hiểu là: việc phân hạng
dựa theo phương pháp chủ quan, kinh nghiệm và bình chọn
Từ đầu những năm 1970, công tác đánh giá đất mới được xem như là một môn khoa học với các công trình nghiên cứu phân hạng đất lúa Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện thổ nhưỡng Nông hóa đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá đất, phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh
Năm 1981, thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Quản lý
Ruộng đất đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất Đây là tài liệu hướng
dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn có thể áp dụng trên một diện
rộng nhưng không tránh khỏi mang tính chủ quan
Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land suitability classification) của FAO
đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam)” (Bùi Quang Toàn và nnk,1985) Tuy nhiên trong nghiên cứu này
việc đánh giá chỉ dựa vào các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, điều kiện thủy văn, khả năng tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp) và việc phân cấp dừng lại ở lớp phân vị cấp thích hợp (Suitable - class)
Năm 1986, đánh giá phân hạng đất toàn quốc được thực hiện ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 dựa trên phân loại khả năng thích hợp đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa
Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình Mục tiêu nhằm sử dụng đất đai tổng hợp Có 7 nhóm đất đai được phân lập cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm đầu), cho sản xuất lâm nghiệp (2 nhóm kế tiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối cùng)
Năm 1989, trong chương trình 48C, Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa do Vũ Cao Thải chủ trì đã nghiên cửu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm Đề tài đã vận dụng phương pháp đánh giá khái quát