Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải gi
Trang 1TT Tên mục Trang
3
5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
b Phạm vi nghiên cứu
02 02 02
8
1 Cơ sở lý luận của hình thành và phát triển
phẩm chất và năng lực
1.1 Phẩm chất
1.2 Năng lực 1.3 Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực
03
10 3 Các giải pháp giải quyết vấn đề.
3.1 Đối với việc hình thành và phát triển năng lực
3.2 Biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất
07 08 11
11 4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 13
Trang 2Trong mọi thời đại, các chương trình giáo dục được áp dụng, tuy có khác nhau về cấu trúc, phương pháp và nội dung giáo dục, hình thức giáo dục nhưng đều hướng tới mục tiêu đào tạo ra con người có nhân cách Phẩm chất và năng lực
là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người Trong đó việc hình thành phẩm chất và năng lực con người (đức, tài) được quan tâm nhấn mạnh
Qua các thời kỳ với các giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu về nhân cách nói chung và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người với tư cách là thành viên trong xã hội cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời đại
Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục nước ta cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nếu như trước đây giáo dục chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh và giúp người học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn đúng, còn cần nhưng chưa đủ
Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Theo đó, tất cả các môn học trong các cấp học, nhất
là cấp học Tiểu học, càng phải quan tâm đến sự hình thành và phát triển phẩm chất
và năng lực người học trong quá trình giáo dục Đặc biệt là môn Tiếng Việt, môn học “mở cửa” cho các môn học khác, việc nhận biết, đọc viết được; đó là điều quyết định cho mọi hoạt động của người học chiếm lĩnh tri thức Trong quỹ thời
gian, và giới hạn của đề tài này tôi xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ bé là: “ Một số kinh nghiệm về dạy tập đọc để giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách”
2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu nhằm giúp học sinh thực hành các hành động, lời nói của nhân vật, các tính cách tích cực hầu học tập bắt chước, học đòi các gương sáng của các nhân vật; bắt chước các tài năng của các nhân vật để đưa vào cuộc sống hiện tại và mai sau
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp Năm A Trường Tiểu học Trường
Giang 2
b Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển phẩm
chất và năng của học sinh tiểu học qua phân môn Tập đọc – Lớp Năm A – Trường Tiểu học Trường Giang 2
4 Phương pháp nghiên cứu :
a Phương pháp quan sát
b Phương pháp phân tích, tông hợp, khái quát qua số liệu
c Phương pháp gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến với giáo viên khác, với học sinh về từng phẩm chất, năng lực cụ thể
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực
1.1 Phẩm chất.
Theo từ điển Tiếng Việt :
Trang 4Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục
1.2 Năng lực
Cũng theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên
1.3 Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân
- Các yếu tố bẩm sinh - di truyền tốt là những mầm mống của phẩm chất và tài năng, nhất là tài năng con người các mầm mống cần được phát hiện kịp thời và giáo dục đúng cách thì tài năng mới phát huy, tỏa sáng Nếu không làm như vậy, mầm mống cũng bị mai một Do vậy yếu tố di truyền không có vai trò quyết định đến hình thành nhân cách
- Môi trường tự nhiên, môi trường gia đình, xã hội, hoàn cảnh sống có tác động và ảnh hưởng to lớn đến cá nhân nhưng cũng không có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển nhân cách bởi vì hoàn cảnh sáng tạo ra con người nhưng trong một chừng mực, con người cũng sáng tạo ra hoàn cảnh
- Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách như: giáo dục sẽ định hướng cho phát triển nhân cách, giáo dục làm phát huy các yếu tố bẩm sinh – di truyền, giáo dục khắc phục được một số các khuyết tật, lệch lạc của cá nhân Tuy vậy cá nhân phát triển đến mức độ nào, theo xu hướng nào, giáo dục không quyết định được cho cá nhân Giáo dục không là vạn năng
- Trong các yếu tố kể trên chỉ có hoạt động của cá nhân mới là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Trang 51.3.2 Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với phát triển nhân cách.
Bàn về các thành tố cấu tạo nên nhân cách, các nhà khoa học tâm lý và khoa học giáo dục đưa ra nhiều cấu trúc khác nhau về nhân cách : Loại cấu trúc 2 thành phần (đức, tài) của các nhà tâm lý học Việt Nam; loại cấu trúc 3 thành phần ( ý thức, tiềm thức, vô thức) của Freud; loại cấu trúc 4 thành phần ( nguồn gốc sinh học - đặc điểm quá trình tâm lý – vốn kinh nghiệm – xu hướng nhân cách ) của K.K.Platonop Ngoài ra còn có các loại cấu trúc 2 tầng, loại cấu trúc 4 bộ phận, cấu trúc 5 đặc điểm
Ở Việt Nam, loại cấu trúc nhân cách hai thành phần được nghiên cứu và vận dụng rộng rãi nhất là trong công tác giáo dục Đó là quan điểm coi cấu trúc nhân cách gồm hai mặt cơ bản phẩm chất và năng lực (đức và tài) Trong đó phẩm chất bao gồm 4 nội dung gồm có: phẩm chất xã hội, phẩm chất cá nhân, phẩm chất ý chí và phẩm chất ứng xử Năng lực bao gồm 4 nội dung cơ bản: năng lực xã hội hóa, năng lực chủ thể hóa, năng lực hành động và năng lực giao tiếp Đây có thể coi là phẩm chất và năng lực khung của nhân cách theo quan niệm cấu trúc nhân cách hai thành phần (đức, tài)
Theo quan niệm nói trên, nhân cách gồm 2 mặt thống nhất phẩm chất và năng lực (đức, tài) Trường hợp một cá nhân có đức và tài không thống nhất nhau như "tài cao đức kém" hay "đức trọng tài hèn" thì là những nhân cách chưa hoàn chỉnh Đối với nhân cách hoàn chỉnh thì khó phân biệt được giữa đức và tài, đức và tài hòa quyện nhau thành một chỉnh thể
Do vậy mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với phát triển nhân cách được diễn đạt như sau:
- Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản của nhân cách
- Nhân cách là chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực
- Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách
Tóm lại, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vừa là mục tiêu giáo dục (xét về mục đích, ý nghĩa của dạy học), vừa là một nội dung giáo dục (xét về các
Trang 6tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người học) đồng thời cũng là một phương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện)
` Do vậy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có một ưu thế vượt trội trong hình thành và phát triển nhân cách bởi vì nó hướng người học đi vào hoạt động cá nhân (hoạt động trong giờ, ngoài giờ, hoạt động giao tiếp với tự nhiên, xã hội, môi trường, trải nghiệm ), mà các hoạt động sống, hoạt động cá nhân có vai trò quyết định đối với hình thành nhân cách Vì vậy vấn đề còn lại là người học tham gia như thế nào các hoạt động để hình thành và phát triển nhân cách của mình
2 Thực trạng vấn đề
Theo sự đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà cụ thể là thông tư 30 và bổ sung thông tư 22 thì đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh gồm :
Các năng lực của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
a) Tự phục vụ, tự quản: thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh hoạt
của bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập như chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn thành công việc;
b) Giao tiếp, hợp tác: mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn gọn;
nói đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng; ứng
xử thân thiện, chia sẻ với mọi người; lắng nghe người khác, biết tranh thủ sự đồng thuận;
c) Tự học và giải quyết vấn đề: khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá
nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc không cần giúp đỡ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên hoặc người khác; vận dụng những điều đã học để giải quyết nhiệm vụ trong học tập, trong cuộc sống;
Trang 7phát hiện những tình huống mới liên quan tới bài học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết
Theo sự đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà cụ thể là thông tư 30 và bổ sung thông tư 22 thì đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh gồm:
Các phẩm chất của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
a) Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động giáo dục: đi học
đều, đúng giờ; thường xuyên trao đổi nội dung học tập, hoạt động giáo dục với bạn, thầy giáo, cô giáo và người khác; chăm làm việc nhà giúp đỡ cha mẹ; tích cực tham gia các hoạt động, phong trào học tập, lao động và hoạt động nghệ thuật, thể thao ở trường và ở địa phương; tích cực tham gia và vận động các bạn cùng tham gia giữ gìn vệ sinh, làm đẹp trường lớp, nơi ở và nơi công cộng;
b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm: mạnh dạn khi thực hiện nhiệm vụ
học tập, trình bày ý kiến cá nhân; nhận làm việc vừa sức mình; tự chịu trách nhiệm
về các việc làm, không đổ lỗi cho người khác khi mình làm chưa đúng; sẵn sàng nhận lỗi khi làm sai;
c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết: nói thật, nói đúng về sự việc; không nói
dối, không nói sai về người khác; tôn trọng lời hứa, giữ lời hứa; thực hiện nghiêm túc quy định về học tập; không lấy những gì không phải của mình; biết bảo vệ của công; giúp đỡ, tôn trọng mọi người; quý trọng người lao động; nhường nhịn bạn;
d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước: quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em; kính trọng người lớn, biết
ơn thầy giáo, cô giáo; yêu thương, giúp đỡ bạn; tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xây dựng trường, lớp; bảo vệ của công, giữ gìn và bảo vệ môi trường; tự hào về người thân trong gia đình, thầy giáo, cô giáo, nhà trường và quê hương; thích tìm hiểu về các địa danh, nhân vật nổi tiếng ở địa phương
Trang 8Trên thực tế, tại các nhà trường, nhiều khi việc giáo dục chỉ quan tâm đến việc đạt được mục tiêu môn học; riêng môn Tiếng Việt, việc dạy cho học sinh đọc thành tiếng, đọc hiểu, đọc diễn cảm là được quan tâm đặc biệt Học sinh đọc tốt văn bản; hiểu rõ được ý chính, rồi nắm được nội dung bài đọc; thể hiện tốt cách đọc của văn bản Ngoài ra, việc dạy Tập đọc – các bài là truyện kể - thường quên một phần quan trọng là giáo dục, hình thành và phát triển phẩm chất ; năng lực cho học sinh
Tôi đã từng đi dự các tiết dạy của các đồng nghiệp khi dạy tập đọc ( các bài
về truyện kể ) thì tôi thấy như sau:
Số tiết dự
Liên hệ hình thành
và phát triển phẩm chất, năng lực tốt
Có liên hệ hình thành
và phát triển phẩm chất, năng lực
Không liên hệ hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
Trong các tiết học trên, tôi thấy việc học đưa ra được các phẩm chất và năng lực để học tập và thực hiện trong cuộc sống như sau :
Số lượt học sinh
phát biểu liên hệ
Học sinh phát biểu
tốt
Học sinh phát biểu
có ý đúng
Học sinh phát biểu chưa đúng
3 Các giải pháp giải quyết vấn đề:
3.1 Đối với việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh.
a/ Biện pháp hình thành và phát triển tính tự phục vụ, tự quản để hoàn thành các
năng lực của học sinh Chúng ta thông qua bài tập đọc sau đây:
Bài thứ nhất : NGƯỜI GÁC RỪNG TÍ HON
Ngoài việc giúp học sinh đọc trôi chảy, lưu loát toàn bài Giọng kể chậm rãi; nhanh và hồi hộp hơn ở đoạn kể về mưu trí và hành động dũng cảm của cậu bé có ý thức bảo vệ rừng Hiểu được ý thức bảo vệ rừng, sự thông minh và dũng cảm của một công dân nhỏ tuổi Còn giúp học sinh bài học cho bản thân là : Tự mình phải
có trách nhiệm chung “ bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường xung quanh” cũng là trách nhiệm của mỗi người, không phân biệt già hay trẻ; trai hay gái; lớn hay nhỏ; được giao nhiệm vụ hay không được giao nhiệm vụ khi thấy những việc cần phải ngăn cản kịp thời Nơi trường học, cũng có những thái độ sai về việc bảo vệ của công; bảo vệ cây cảnh,trong nhà trường; Lúc đó, mỗi học sinh sẽ là những người bảo vệ của công và bảo vệ cây cảnh để cho quang cảnh nhà trường xanh sạch đẹp
Trang 9Bài thứ hai : CHUỖI NGỌC LAM
Ca ngợi 3 nhân vật là những con người có tấm lòng nhân hậu, biết quan tam
và đem lại niềm vui cho người khác
Câu chuyện kể về một cô bé tên là Gioan - có tấm lòng biết ơn người chị và muốn thể hiện lòng biết ơn đó, qua việc mua món quà quý để tặng cho chị nhân dịp
lễ Noen nhưng cô bé chỉ có ít tiền nhờ tiết kiệm Với số tiền ít ỏi đó thì chắc chẳng mua được thứ gì có giá trị, nếu như không gặp người thanh niên đang có một tâm trạng đặc biệt như Pie; Những hoàn cảnh và lòng nhân ái gặp nhau
Chúng ta cần đặt thêm câu hỏi, khi chuẩn bị kết thúc bài : - Qua câu chuyện, các em thấy trong gia đình, mình đã quan tâm đến mọi người chưa? và bây giờ mình cần phải làm gì?
Từ câu hỏi này : Học sinh sẽ tìm được những điều cần làm cho gia đình, cho những người xung quanh : Quan tâm, biết nói những điều tốt đẹp trong những dịp người khác có niềm vui; có thể tặng quà cho cho người thân và những người làm
ơn cho mình
Bài thứ ba: LÒNG DÂN
Ngoài việc ca ngợi dì Năm dũng cảm, mưu trí cứu cán bộ cách mạng Chúng
ta nên lưu ý chi tiết mà nhân vật An trả lời tên lính và cai đội Đó là nhân vật mà tuổi chỉ bằng tuổi học sinh tiểu học, nhân vật này rất dễ cho học sinh học hỏi đức tính, học sinh thường coi nhân vật này là “bạn”; Qua hành động của An, chúng ta thấy nhân vật này rất thông minh, hóm hỉnh khi trả lời mà làm cho sự bất ngờ trở nên gay cấn, tưởng chừng như bất ngờ hay chưng hửng của tên lính và cai đội Giúp học sinh biết ứng xử trong các tình huống cho phù hợp, biết điều tốt điều xấu qua từng tình huống thực tế
b/ Biện pháp hình thành và phát triển cách giao tiếp, hợp tác:
Bài thứ nhất : MỘT CHUYÊN GIA MÁY XÚC
Cuộc gặp gỡ thân tình, thể hiện tình cảm chân thành của chuyên gia nước ngoài với chú công nhân Việt Nam đã nói lên tình hữu nghị giữa các dân tộc Chúng ta chú ý đến hành động bắt tay của chuyên gia với người công nhân, một hành động không ngại ngần: khi bàn tay của chú công nhân đang lao động còn rất
Trang 10Đối với học sinh, trong học tập, học sinh cần giúp nhau, cùng nhau làm việc, cùng nhau tìm cách hoàn thành các bài tập, các công việc chung được giao
Bài thứ hai : NHỮNG CON SẾU BẰNG GIẤY
Ngoài việc tố cáo tội ác chiến tranh hạt nhân, khát vọng sống, hoà bình của trẻ em toàn thế giới Ta thấy được tình cảm của các bạn nhỏ trên toàn thế giới luôn
có tinh thần tương trợ nhau, giúp đỡ lẫn nhau như hành động gửi những con sếu giấy đến cho Xa-da-cô Xa-xa-ki; luôn mong muốn cho bạn được những điều tốt đẹp; cho bạn được sống thêm; mặc dù đây chỉ là điều mơ ước mong manh nhưng
sự hồn nhiên của các bạn đã đem cho Xa-da-cô Xa-xa-ki những sự động viên khích
lệ Từ đó, ta dẫn học sinh đến những sự giúp đỡ, yêu thương nhau không chỉ nơi mình sinh sống; không chỉ huyện mình, tỉnh của mình, đất nước của mình, mà mỗi người chúng ta đều có thể giúp đỡ lẫn nhau, không phân biệt giới hạn về không gian và thời gian, xuyên biên giới; không phân biệt màu da, sắc tộc, tiếng nói; giới tính, giàu hay nghèo; chúng ta “ tất cả là anh em”
c/ Biện pháp hình thành và phát triển tự học và giải quyết vấn đề:
Việc học là sự tìm tòi những điều mới lạ để trau dồi cho bản thân những điềubổ ích hay để áp dụng vào trong cuộc sống, trong cách làm, cách nghĩ, cách ứng xử, tìm ra những bài học quý giá cho bản thân
Bài thứ nhất : TÁC PHẨM CỦA SI - LE VÀ TÊN PHÁT XÍT
Ca ngợi cụ già người Pháp thông minh, biết phân biệt người Đức với bọn phát xít và dạy cho tên sĩ quan một bài học Từ tình huống, cuộc giao tiếp không được thân tình của một bên là kẻ thù không đội trời chung và một ông già nhà văn,
ta rút ra các điều cần có cách ứng xử trong cuộc sống :
- Không được có thái độ kiêu căng
- Sự khéo léo trong ứng xử với kẻ thù; có thể nếu ứng xử khác đi sẽ ảnh hưởng đến tính mạng
Bài thứ hai : NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT
Nội dung : Khen ngợi sự thông minh, tình cảm gắn bó đáng quí của loài cá heo với con người