Mục tiêu nghiên cứu Đặt vấn đề nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của người Mường trong thời kỳ Đổi mới trên cả ba phương diện là văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội, song
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HẰNG
NHỮNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ TÍNH CỐ KẾT
HỢP DÂN TỘC MƯỜNG TẠI TỈNH HÕA BÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HẰNG
NHỮNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ TÍNH CỐ KẾT
HỢP DÂN TỘC MƯỜNG TẠI TỈNH HÕA BÌNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐXH : Biến đổi xã hội BSVH : Bản sắc văn hóa CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐSXH : Đời sống xã hội
KHKT : Khoa học kỹ thuật VHTT : Văn hóa tinh thần VHVC : Văn hóa vật chất
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của luận án 6
6 Kết cấu luận án 7
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
Chương 1 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Đôi điều dẫn nhập 8
1.2 Về những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước 13
1.2.1 Hướng nghiên cứu khái quát hóa 13
1.2.2 Hướng nghiên cứu dân tộc chí 15
1.2.3 Hướng nghiên cứu chuyên sâu 17
1.2.4 Những nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường 19
1.3 Mấy nhận xét sơ bộ về định hướng nghiên cứu 21
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài 26
2.1.1 Tiếp cận theo lý thuyết hành động xã hội (còn gọi là phân tích văn hóa) của Max Weber 26
2.1.2 Tiếp cận theo lý thuyết đoàn kết xã hội và ý thức tập thể của Émile Durkheim 31
2.1.3 Quan điểm/phương pháp lịch sử 35
2.2 Định nghĩa và các khái niệm làm việc 36
2.2.1 Văn hóa 36
2.2.2 Biến đổi văn hóa 38
2.2.3 Tính cố kết cộng đồng 38
Trang 62.2.4 Dân tộc Mường 39
2.3 Thao tác hóa khái niệm làm việc 40
2.4 Sơ đồ phân tích 42
2.5 Phương pháp nghiên cứu 43
2.5.1 Phương pháp phân tích tài liệu 43
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 43
2.5.3 Phương pháp quan sát tham gia 45
2.5.4 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi 45
2.5.5 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia 47
2.6 Bối cảnh kinh tế - xã hội và địa bàn nghiên cứu 48
2.6.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội 48
2.6.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 51
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3 SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ TÍNH CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG 57
3.1.Tập quán sản xuất và tính cộng đồng 57
3.2 Văn hóa ẩm thực và tính cố kết cộng đồng 62
3.2.1 Một số giá trị ẩm thực cổ truyền của người Mường 62
3.2.2 Thực trạng và sự biến đổi văn hóa ẩm thực của người Mường trong thời kỳ Đổi mới 66
3.3 Trang phục và tính cộng đồng 69
3.3.1 Trang phục truyền thống của người Mường 69
3.3.2 Sự biến đổi trang phục và tính cộng đồng 76
3.4 Văn hoá ở và tính cộng đồng 79
3.4.1 Nhà ở truyền thống của người Mường 80
3.4.2 Thực trạng nhà ở của người Mường 91
Tiểu kết Chương 3 96
Chương 4 BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TINH THẦN VÀ TÍNH CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG 98
4.1 Nghi thức hôn nhân, cưới hỏi và tính cố kết cộng đồng 98
4.2 Việc tang ma và tính cố kết cộng đồng 105
4.3 Tục thờ cúng tổ tiên, lễ hội và tính cố kết cộng đồng 112
Trang 7Tiểu kết Chương 4 119 Chương 5 BIẾN ĐỔI VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TÍNH CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG 121
5.1 Biến đổi trong quan hệ gia đình, dòng họ và tính cố kết cộng đồng trong gia đình người Mường 122 5.1.1 Quan hệ gia đình, dòng họ và tính cố kết cộng đồng của người Mường
cổ truyền 122 5.1.2 Thực trạng quan hệ gia đình, dòng họ và tính cố kết cộng đồng của người Mường hiện nay 124 5.2 Tổ chức đời sống cộng đồng người Mường 127 5.2.1 Mối quan hệ làng bản và tính cố kết cộng đồng của người Mường cổ truyền127 5.2.2 Mối quan hệ làng bản và tính cố kết cộng đồng của người Mường hiện nay 138
Tiểu kết Chương 5 142 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu khảo sát 47
Bảng 2.2 Nhóm tuổi của người trả lời 47
Bảng 2.3 Cơ cấu nghề nghiệp của người được khảo sát 47
Bảng 2.4 Cơ cấu nghề nghiệp của người được khảo sát 47
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của các hộ được khảo sát 59
Bảng 3.2 Thực trạng ẩm thực truyền thống của các hộ được khảo sát (%) 67
Bảng 3.3 Tỷ lệ người mặc trang phục truyền thống ở địa phương phân theo nhóm tuổi 77
Bảng 3.4 Mặc trang phục truyền thống phân theo vùng (tỷ lệ %) 79
Bảng 3.5 Thực trạng các loại nhà ở của người Mường 92
Bảng 3.6 Mong muốn làm nhà ở phân theo nhóm tuổi 94
Bảng 4.1 Việc đăng ký kết hôn của người Mường Hòa Bình hiện nay 101
Bảng 4.2 Không gian kết hôn của người Mường theo các nhóm tuổi (%) 102
Bảng 4.3 Về trang phục cưới của người Mường Hòa Bình hiện nay (%) 104
Bảng 4.4 Sự tham gia của người dân vào các lễ hội cổ truyền (%) 118
Bảng 5.1 Tỷ lệ hộ nhờ cậy anh, em, họ hàng, cộng đồng lúc có việc quan trọng 126
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang
Sơ đồ 1: Sự vận hành của văn hóa và tính cộng đồng từ ngày Đổi mới (1986) đến
nay (2015) 41
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Hòa Bình (năm 2014) 53
Hình 1: Mâm cỗ truyền thống của người Mường Vang 63
Hình 2: Tục hút thuốc lào truyền thống của người Mường Vang 66
Hình 3: Trang phục truyền thống của người Mường (Sưu tầm) 69
Hình 4: Vị trí nhà ở truyền thống của người Mường 80
Hình 5: Miếu thờ thần Đất (Thổ Công) của người Mường truyền thống 81
Hình 6: Cầu thang nhà sàn Mường truyền thống ở Mường Bi 82
Hình 7: Tiếp khách tại nhà sàn truyền thống của người Mường 87
Hình 8: Gia chủ ngồi bên cửa vóong truyền thống ở Mường Thàng 89
Hình 9: Bếp lửa truyền thống của người Mường Bi Nguồn: Khảo sát thực tế năm 2013 90
Trang 10
sự biến đổi diễn ra càng rõ nét Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi trong thực tiễn, nền văn hóa dân tộc này bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa dân tộc kia để thậm chí dẫn đến nhiều nền văn hóa bị mai một, mất đi bản sắc riêng của mình Văn hóa dân tộc Mường, một dân tộc có bề dày hàng ngàn năm lịch sử trên đất nước Việt Nam, cũng không là một ngoại lệ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, ở trong nước thì
đó là tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, nền văn hóa Việt Nam đang có sự biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc Bằng cảm quan đời thường, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự chuyển động lớn lao này – một sự chuyển động mà trong đó không tránh khỏi sự xen cài giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu, thậm chí không thiếu những cái được coi là ngoại lai, mất gốc Chẳng hạn, trong lĩnh vực văn hóa vật chất, chúng ta không chỉ chứng kiến cảnh quần jean áo pull song hành cùng quần nhiễu áo the, khăn xếp Mà trong các lĩnh vực khác của cuộc sống như ăn uống, nhà ở, đi lại và tập quán lao động sản xuất cũng xảy ra tình trạng tương tự Trong các mối quan hệ giữa người với người trong gia đình, họ hàng, làng bản, người ta cũng thấy từ các khuôn mẫu ứng xử, các vai trò xã hội đến sự liên kết cộng đồng cũng không còn vận hành như cũ, chúng cũng bị lai tạp giữa ta và tây, giữa nông thôn và thành thị Cũng như vậy, trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng, các lễ cưới, lễ tang, lễ hội lại đang làm nảy sinh một hiện tượng mới được gọi là “văn hóa phong bì”, khiến nhiều người nghĩ rằng nghi lễ cổ truyền ở ta bị “thương mại hóa”
Trang 112
Trước thực trạng đó, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như trong dư luận xã hội nói chung, người ta cho rằng đó là sự xuống cấp của đạo đức, người khác lại gọi đó là sự rối loạn của hệ giá trị xã hội Từ đó nhiều người tỏ ra lo lắng đến sự phai nhạt của nền văn hóa nước nhà – một nền văn hóa đã tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử Điều cần lưu ý là, những hiện tượng xã hội như vừa nêu không chỉ diễn ra ở người Việt, mà còn có cả ở các dân tộc thiểu số anh em khác, trong đó có tộc người Mường nói chung và người Mường ở Hòa Bình nói riêng
Vậy có phải nền đạo đức của chúng ta đang “xuống cấp”, hệ giá trị xã hội đang “rối loạn” và bản sắc văn hóa Việt Nam đang bị đe dọa Thiết nghĩ, để góp phần trả lời các câu hỏi vừa đặt ra, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và có hệ thống về sự vận hành và biến đổi của văn hóa Việt Nam trong xu thế phát triển của nhân loại Bởi chỉ có như vậy, chúng ta mới tránh được những sai lầm mang tính siêu hình và cục bộ
Như chúng ta đã biết, từ trước đến nay, cả trong thời kỳ Đổi mới (từ 1986) cũng như các giai đoạn trước đó – Đảng và Nhà nước ta luôn coi văn hóa không chỉ
là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển con người và xã hội Trong Nghị quyết Trung ương lần 5 (khóa VIII) Đảng đã xác định xây dựng “nền văn hóa Việt Nam nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Điều đó có nghĩa là nền văn hóa của chúng ta được cấu thành bởi hai hợp phần rất cơ bản: “tiên tiến” và
“bản sắc dân tộc” Từ đó đến nay, qua mỗi kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, mục tiêu ấy ngày càng được cụ thể hóa thành các chương trình hành động trong việc điều hành thực tiễn từ trung ương đến địa phương
Dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng ở cả hai mặt nhận thức lý luận và điều hành thực tiễn, chúng ta có cơ sở để hiểu sâu sắc hơn sự vận hành và biến đổi của nền văn hóa Việt Nam hiện nay Có thể ví nền văn hóa ấy như một dòng sông
vỗ sóng xuôi về biển cả, trong đó, không chỉ có những lớp sóng nổi lên trên bề mặt
mà còn có cả những lớp sóng ngầm tiềm ẩn dưới lòng sâu Sóng trên bề mặt thì gây
ấn tượng tức thì vào cảm quan của người ta, nó dễ dàng thay đổi và không tránh khỏi mang theo ít nhiều bọt bèo và cả rác Trong khi đó, những lớp sóng tiềm ẩn dưới lòng sông lại thể hiện những gì tương đối ổn định và bền vững, tạo nên bản sắc
Trang 123
của một nền văn hóa Trong số những gì ổn định và bền vững tạo nên bản sắc của nền văn hóa ấy, theo tác giả, tính cố kết cộng đồng là một đặc trưng tiêu biểu và đây cũng là điều mà chúng ra cần lưu ý
Xuất phát từ những tiền đề vừa nêu, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài cho
Luận án của mình là: “Những biến đổi văn hoá và tính cố kết cộng đồng hiện nay: nghiên cứu trường hợp dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình” Trên tư cách là một
nghiên cứu trường hợp, với hi vọng góp phần nhận thức về sự vận hành và biến đổi văn hóa Mường trong bối cảnh hội nhập, qua đó cung cấp các luận cứ khoa học cho
sự nghiệp xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà toàn Đảng, toàn dân ta đang hướng tới hiện nay
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của người Mường trong thời kỳ Đổi mới trên cả ba phương diện là văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội, song không dừng lại ở đó, nghiên cứu này còn đi sâu thêm một chút nữa – đó là thông qua các biến đổi văn hóa bề nổi đó để tìm hiểu một đặc điểm ẩn chìm và xuyên suốt của chúng là tính cố kết cộng đồng, với tư cách là một phẩm chất tạo nên bản sắc văn hóa của người Mường Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm vào hai lĩnh vực hoạt động cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, từ đó tìm hiểu thực trạng và các nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của dân tộc Mường Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ sự nghiệp xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà đất nước ta đang hướng tới
- Về mặt khoa học, theo thông lệ quốc tế, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ít nhiều mang tính hệ thống trong nghiên cứu này sẽ được lưu giữ làm tài liệu đối chiếu và so sánh trong các nghiên cứu lặp lại ở những năm tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của dân tộc Mường
Trang 134
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng sự biến đổi văn hóa dân tộc Mường, đặc biệt là sự thay đổi về tính cố kết cộng đồng dưới tác động của những điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ Đổi mới
Phân tích các nhân tố tác động làm biến đổi văn hóa và tính cố kết của cộng đồng dân tộc Mường và chỉ ra xu hướng biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng dân tộc Mường
Đề xuất các giải pháp chính sách nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đó là những biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng dân tộc Mường ở Hòa Bình
3.2 Khách thể nghiên cứu
Là cộng đồng dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình, cụ thể là ở bốn vùng Mường tiêu biểu là Mường Bi (huyện Tân Lạc), Mường Vang (huyện Lạc Sơn), Mường Thàng (huyện Cao Phong) và Mường Động (huyện Kim Bôi)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Tỉnh Hòa Bình
Về thời gian: Tập trung vào thời kỳ Đổi mới (từ 1986 đến nay) Tuy nhiên,
để có thể thấy được sự biến đổi văn hoá của người Mường thời Đổi mới, cũng cần đối chiếu các khuôn mẫu, mô hình văn hoá của thời kỳ này với các thời kỳ đã lùi vào lịch sử, mà trực tiếp nhất là so sánh với thời kỳ bao cấp
Về vấn đề nghiên cứu: Như đã nói, văn hóa là một hiện tượng xã hội rộng lớn, nó bao phủ lên toàn bộ cả ba môi trường hoạt động và sinh sống của con người,
là môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường nội tâm của con người Tương ứng với ba môi trường đó là ba loại hình văn hóa, đó là VHVC, VHTT và VHXH Ba loại hình văn hóa là nét chung phổ biến của toàn nhân loại Nhưng ở mỗi quốc gia, dân tộc hay ở mỗi tộc người, quá trình vận hành của ba loại hình văn hóa ấy lại làm nảy sinh những thuộc tính cơ bản tạo thành bản sắc riêng của mình Một trong những thuộc tính cơ bản tạo thành bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung,
Trang 145
cũng như văn hóa dân tộc Mường nói riêng là tính cố kết cộng đồng Do đó, vấn đề trọng tâm của nghiên cứu này là tìm hiểu sự vận hành và biến đổi của các loại hình văn hóa nói chung cũng như tính cố kết cộng đồng của người Mường Hòa Bình trong thời kỳ Đổi mới đã và đang diễn ra như thế nào?
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
4.1.1 Dưới tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội của thời kỳ Đổi mới, đời sống văn hóa của người Mường Hòa Bình đã và đang biến đổi như thế nào? Các hợp phần cơ bản của nó như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội
có biến đổi giống nhau không?
4.1.2 Cũng tương tự như vậy, trong bối cảnh kinh tế - xã hội chung đó, nét văn hóa ẩn chìm tạo nên bản sắc văn hóa Mường là tính cố kết cộng đồng có biến đổi không? Nếu có thì xu hướng biến đổi của nó ra sao?
4.1.3 Các nhân tố nào tác động đến sự biến đổi biến đổi văn hóa Mường ? Mức độ tác động mạnh, yếu của từng nhân tố đó tới sự biến đổi văn hóa Mường như thế nào?
4.1.4 Nhìn chung, sự biến đổi văn hóa Mường ở cả bề nổi (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội) và bề sâu (tính cố kết cộng đồng) có phản ánh mục tiêu xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào các câu hỏi trên, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu dưới đây: 4.2.1 Dưới tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội của thời kỳ Đổi mới (xem Sơ đồ phân tích 1), đời sống văn hóa của người Mường đã và đang có sự biến đổi khá mạnh mẽ Trong đó, văn hóa vật chất thay đổi nhanh và triệt để hơn hai loại hình còn lại là văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội
4.2.2 Trong sự biến đổi chung đó, tính cố kết cộng đồng của người Mường với tư cách một thuộc tính làm nên bản sắc văn hóa Mường đang ngày càng được
mở rộng vượt qua khuôn khổ của bản làng (nhờ có các phương tiện sinh hoạt mới như xe máy, điện thoại di động, internet, ), đồng thời nó cũng có sự chi phối trở lại đối với các lĩnh vực văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần
Trang 155 Đóng góp mới của luận án
Đóng góp mới của luận án này, theo tác giả, được thể hiện ở bốn điểm cơ bản sau đây:
5.1 Nhìn nhận và nghiên cứu văn hoá dân tộc Mường như một hệ thống được cấu thành từ ba loại hình: VHVC, VHTT và VHXH Trước đây, loại hình VHXH thường bị gộp chung vào với VHTT, thì nay tác giả đã mạnh dạn tách nó ra thành một lĩnh vực riêng, song hành cùng với VHTT và VHVC Những biểu hiện
cơ bản của VHXH được điều tra, khảo sát và trình bày trong luận án này là các khuôn mẫu ứng xử, các vai trò xã hội được thể hiện trong các mối quan hệ giữa con người với con người từ trong gia đình, dòng họ, đến các mối quan hệ làng bản và tổ chức cộng đồng của người Mường ở Hòa Bình
5.2 Từ trước đến nay, đã có nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu về người Mường và văn hóa Mường Tuy nhiên, hầu hết các công trình này chỉ dừng lại ở việc mô tả các khuôn mẫu, các mô hình, các tình tiết của văn hóa Mường đã được định hình trong lịch sử, nghĩa là nghiên cứu văn hóa ở dạng tĩnh với việc tách rời từng yếu
tố và trừu tượng hóa chúng để phân tích, chứ chưa có mấy ai đi sâu nghiên cứu văn hóa Mường ở các dạng thức sống động trong sự vận hành và biến đổi của nó Trong nghiên cứu ngày, như tiêu đề luận án đã chỉ rõ, là nghiên cứu văn hóa Mường trong sự biến đổi Vì vậy, người viết đã tập trung vào sự vận hành của văn hóa Mường trong thời kỳ Đổi mới với tất cả những biểu hiện khác nhau của nó (như giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa, cũng như những mâu thuẫn, xung đột nội tại của nó trong quá trình
Trang 167
biến đổi) Nghĩa là luận án nghiên cứu văn hóa ở thể “động”, chứ không phải ở dạng
“tĩnh” như nhiều công trình đã công bố
5.3 Việc so sánh làm nổi bật sự khác biệt giữa các địa bàn nghiên cứu có thể xem xét như là một minh chứng thuyết phục cho lý thuyết về sự khuyếch tán văn hóa Ở những vùng “ven”, nơi có sự giao lưu, tiếp xúc nhiều hơn với nền văn hoá ngoại vi, thì cũng là nơi sự tiếp biến văn hoá diễn ra mạnh mẽ hơn Bổ sung vào đó, việc vận dụng cách tiếp cận liên ngành (dân tộc học, xã hội học, văn hoá học), để từ
đó làm nổi bật được các chiều cạnh khác nhau của sự biến đổi từ truyền thống đến hiện đại cũng là một điểm mới của nghiên cứu này
5.4 Đóng góp quan trọng nhất của luận án – đó là nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa những biến đổi văn hóa được biểu hiện trên bề mặt (thể hiện qua văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần) và nét văn hóa ẩn chìm ở bề sâu
là tính cố kết cộng đồng, một thuộc tính tạo ra bản sắc văn hóa của người Mường Hòa Bình trong thời kỳ Đổi mới Việc nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ này đã cho thấy sự vận hành và biến đổi văn hóa của người Mường hiện nay không chỉ giúp cho người Mường tiếp biến và hội nhập ngày càng sâu với các dân tộc khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới, mà bản sắc văn hóa Mường cũng ngày càng được phát huy và phát triển
6 Kết cấu luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các Phụ lục
đính kèm, nội dung luận án được chia thành 5 chương Cụ thể là:
Chương 1: Trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu văn hóa dân tộc Mường, từ đó xác định nội dung và phương hướng nghiên cứu của luận án
Chương 2: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Đây là
những tiền đề, những tri thức, những công cụ cần thiết để triển khai nghiên cứu thực
nghiệm những chương tiếp theo;
Chương 3: Mô tả và phân tích sự biến đổi VHVC, trong đó bao gồm các yếu
tố như ẩm thực, trang phục, nhà ở, việc đi lại, tập quán sản xuất trong mối quan hệ tương hỗ với tính cộng đồng của người Mường tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới
Chương 4: Mô tả và phân tích sự biến đổi văn hóa tinh thần với các yếu tố cơ
Trang 178
bản là ngôn ngữ, lễ cưới, lễ tang và lễ hội trong mối quan hệ tương hỗ với tính cộng đồng của người Mường tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới
Chương 5: Mô tả và phân tích sự biến đổi VHXH với các biểu hiện cụ thể là
các mối quan hệ gia đình, dòng họ, bản làng và tổ chức đời sống cộng đồng trong mối quan hệ tương hỗ với tính cộng đồng của người Mường tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Đôi điều dẫn nhập
Để có thể viết tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận
án, tác giả nhận thấy cần sơ lược về các khái niệm như văn hóa, tính cố kết cộng đồng, cũng như một số vấn đề kéo theo như sự biến đổi và mối quan hệ tương hỗ giữa hai khái niệm này
1.1.1 Văn hóa: là một khái niệm có nội hàm và ngoại biên vô cùng rộng lớn,
nó trùm lên và bao phủ mọi phương diện của đời sống xã hội, nó thể hiện tính vô tận của cuộc sống con người Ở đây, luận án không đi sâu vào các định nghĩa về văn hóa (vì điều này đã được trình bày ở chương 2 – cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài), mà chỉ tập trung vào diện bao phủ của văn hóa hay nói khác đi là các loại hình văn hóa
Như chúng ta đã biết, trước đây, trong khoa học cũng như trong đời sống xã hội, người ta chỉ phân chia văn hóa thành hai loại hình, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Nhưng sự phân chia này vẫn còn khá trìu tượng, gây cản trở cho quá trình nhận thức cũng như trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày Nhằm khắc phục nhược điểm đó (mà cụ thể là khắc phục sự đối lập một cách trìu tượng giữa tính vật chất và tính tinh thần của văn hóa), vào những năm 90 của thế kỷ trước, UNESCO đã tổ chức thảo luận và đi đến nhất trí dùng các thuật ngữ mới: văn hóa vật thể (tangible culture) và văn hóa phi vật thể (intangible culture) để chỉ hai lĩnh vực tương đối đối lập của văn hóa
Trang 189
Nhưng nhận thức là một quá trình, còn con người cũng luôn không thỏa mãn với những thành tựu đã đạt được Về sau này, để tạo thuận lợi cho việc thao tác hóa khái niệm “văn hóa” cho phù hợp với biểu hiện của nó đang diễn ra trong cuộc sống, các nhà nhân học và xã hội học không còn dựa vào phép “nhị phân” truyền thống nữa, họ đã nhìn nhận sự vận hành của văn hóa từ góc nhìn “tam phân” Khi cho rằng con người luôn đồng thời sống với ba môi trường: môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường nội tâm của chính mình Để thích ứng với môi
trường thiên nhiên, con người đã sáng tạo ra loại hình văn hóa vật chất; cũng tương
tự như vậy, tương ứng với môi trường của các quan hệ giữa người với người là văn hóa xã hội; tương ứng với môi trường nội tâm là văn hóa tinh thần (theo L.G.Iomin
1996, Mai Văn Hai và cộng sự 2011) Theo đó, văn hóa vật chất được quan niệm là các sự việc về ẩm thực, trang phục, cư trú, đi lại, tập quán lao động sản xuất; văn hóa xã hội là các khuôn mẫu ứng xử giữa người với người, các vai trò và thiết chế
xã hội; văn hóa tinh thần là niềm tin, khát vọng, tri thức được thể hiện ra bằng ngôn ngữ, phong tục tập quán và tôn giáo, tín ngưỡng,.v.v
1.1.2 Có nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng, tuy nhiên, khái niệm
cộng đồng với tư cách như là một khái niệm làm việc trong luận án này, được tác giả thống nhất như sau:
Cộng đồng là một tập hợp dân cư sinh sống trên cùng một lãnh thổ, và do vậy,
họ thường có ý thức, tình cảm và sự thống nhất trong một địa phương và khả năng tham gia những hành động mang tính tập thể vì lợi ích và trách nhiệm chung (như lợi ích về kinh tế, lãnh thổ, nghề nghiệp, môi trường xã hội, ) Xét theo quy mô, cộng đồng được hình thành từ nhiều cấp độ, từ vi mô như gia đình, dòng họ (là cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc thân thuộc), làng xã (theo nguyên tắc láng giềng),… đến cấp độ vĩ mô như dân tộc (theo nguyên tắc chính trị xã hội), tộc người (theo tiêu chí cùng chung nguồn gốc),.v.v Đối với cộng đồng người Mường, cộng đồng được thể hiện ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô
Trong mỗi cộng đồng, con người có mối quan hệ với nhau, có sự liên kết, gắn kết tình cảm, kinh tế với nhau một cách bền chặt tạo thành tính cố kết cộng đồng Nói khác đi, tính cố kết cộng đồng phản ánh mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với
Trang 1910
con người trong sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hàng ngày, phản ảnh cách ứng xử lành mạnh, lạc quan, đức tính đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa những con người có cùng hoàn cảnh
Cố nhiên là tính cố kết cộng đồng với tư cách là một giá trị văn hóa và xã hội thì ở dân tộc nào trên thế giới cũng đều có, song tiêu biểu nhất vẫn là ở phương Đông, nhất là ở các nước Đông Nam Á, do đặc trưng trồng lúa nước quy định
Để minh chứng cho nhận định vừa nêu, tác giả xin dẫn ra một đoạn văn của
Karl Max Trong công trình Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapac, Marx đã
phân tích về tâm lý người tiểu nông Pháp (và cũng là tâm lý chung của những người tiểu nông ở những nước làm ruộng khô khác) như sau: “Người tiểu nông là một khối quần chúng rộng lớn, trong đó, tất cả mọi thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau, nhưng giữa họ lại không có những quan hệ nhiều mặt nó ràng buộc
họ lại Phương thức sản xuất của người tiểu nông không liên kết họ lại với nhau mà lại làm cho họ tách rời nhau; mỗi gia đình nông dân gần như tự túc hoàn toàn, họ trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội Điều đó tạo nên tính rời rạc của khối quần chúng nông dân: bao gồm những gia đình riêng lẻ với mảnh đất con con Cái khối quần chúng lớn lao này chỉ giản đơn là một đại lượng đồng danh hợp lại mà thành Đại khái giống như những củ khoai tây cùng nằm trong một bao tải khoai thì người ta gọi là một bao tải khoai Còn giữa các củ khoai nằm cạnh nhau đó thì chẳng liên quan gì với nhau hết Họ chỉ là giai cấp khi so với giai cấp khác, còn giữa những người tiểu nông với nhau thì lợi ích giống nhau của họ không tạo nên một mối liên hệ cộng đồng nào cả, một mối liên hệ toàn quốc nào cả”[11]
Không giống với người tiểu nông Pháp, cũng như người tiểu nông của những
xứ sở canh tác trên nền ruộng khô, người tiểu nông ở khu vực Đông Nam Á, trong đó
có Việt Nam và người Mường, lại là người nông dân trồng lúa nước Mà văn minh lúa nước khác rất xa với các nền văn minh du mục và làm nông nghiệp trên ruộng khô Làm nông nghiệp ruộng nước nghĩa là – nói như nhà nghiên cứu Phạm Ngọc – trước khi đến ruộng tôi phải qua ruộng anh (hoặc ngược lại), do đó, tôi với anh phải đồng cam cộng khổ, phải đoàn kết với nhau, nếu không thì cả hai sẽ cùng chết Đó chính là cơ sở khách quan hình thành nên tính cộng đồng của nền văn minh lúa nước,
Trang 2011
trong đó có Việt Nam và người Mường ở Việt Nam Tinh thần cố kết cộng đồng đó không chỉ thể hiện trong đời sống của gia đình, họ hàng, làng bản, mà còn được mở rộng ra cả vùng miền và đất nước, nhất là những khi gặp thiên tai hay địch họa Cộng đồng dân tộc Mường đã trải qua quá trình hình thành và phát triển hàng ngàn năm, họ liên kết với nhau để cùng tồn tại, chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt, hợp tác cùng khai khác nguồn tài nguyên thiên nhiên và cùng nhau đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược Chính điều này đã tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ của mạng lưới các quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản và hình thành bản sắc văn hoá độc đáo
mà có thể gọi là di sản văn hoá của dân tộc Mường Đây chính là điểm độc đáo của văn hóa Mường so với các dân tộc khác
Trong luận án này, tác giả khai thác một số hình thức biểu hiện của tính cố kết cộng đồng như: (i) Liên kết sản xuất; (ii) Sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng – lễ hội; (iii) Gia đình, dòng họ
Tính cố kết cộng đồng được biểu hiện phong phú, đa dạng thông qua tất cả thành tố văn hóa như văn hóa vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội, trong
đó, biểu hiện rõ rệt nhất ở khía cạnh quan hệ gia đình, dòng họ và tổ chức đời sống cộng đồng Vì vậy, tính cố kết cộng đồng sẽ được tác giả phân tích, lồng ghép trong tất cả các chương của Luận án với tư cách như là một trong những phẩm chất văn hóa nổi bật của người Mường Từ đó, tác giả cũng cố gắng đi tìm lời giải liệu rằng
có mối quan hệ giữa tính cố kết cộng đồng và sự biến đổi văn hóa không, liệu rằng tính cố kết cộng đồng càng bền chặt thì văn hóa Mường sẽ càng chậm biến đổi không và phải chăng các mối quan hệ cộng đồng lỏng lẻo có thể là nguyên nhân dẫn tới biến đổi nhanh chóng văn hóa Mường ?
Trong bối cảnh công nghiệp của đất nước, nhiều chuẩn mực và giá trị mới đang được hình thành Do đó, giá trị cố kết cộng đồng, tinh thần tập thể đã và đang dần thay đổi để phù hợp với bối cảnh mới Những thay đổi diễn biến như thế nào, theo chiều hướng nào, sẽ được tác giả lồng ghép phân tích trong các chương 3 và 4 của Luận án này
1.1.3 Đến đây, một vài câu hỏi được đặt ra: vậy quan hệ giữa văn hóa và tính
cố kết cộng đồng, cũng như quá trình vận hành và biến đổi của chúng diễn ra như
Trang 2112
thế nào? Giữa văn hóa và tính cố kết cộng đồng, cái nào quy định cái nào, cái nào mới thực sự thể hiện sức sống trường cửu và bản sắc của nền văn hóa dân tộc Trả lời các câu hỏi trên, tác giả cho rằng, giữa văn hóa và tính cố kết cộng đồng có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, trong đó, tính cố kết cộng đồng không phải
là cái gì khác hơn, đó cũng chính là văn hóa Tuy nhiên, khái niệm văn hóa được hiểu ở đây cũng có sự khác biệt nhất định so với tính cố kết cộng đồng Sự khác biệt
này được thể hiện ở chỗ, nếu như văn hóa là những hình thái được thể hiện ra có hình có nét, có sắc có màu một cách khá ổn định trong không gian và thời gian như
ẩm thực, trang phục, các việc cư trú, đi lại, tập quán lao động sản xuất, các khuôn mẫu và vai trò xã hội, các cách tổ chức liên kết xã hội kể cả các lễ cưới, lễ tang, lễ hội – thì tính cố kết cộng đồng lại là một thuộc tính, hay phẩm chất, là biểu hiện theo chiều sâu của văn hóa Nó biểu hiện mức độ gắn kết, sự bền chặt của giữa các thành viên trong cộng đồng thông qua các hình thái văn hóa mà họ thể hiện Tính cộng đồng tiềm ẩn trong tâm trí con người một cách vô hình, chỉ khi nó được khách thể hóa (thông qua các hoạt động hay hành vi của con người) thì người ta mới nhận
ra được sức sống và những tác động xã hội lớn lao của nó
Như ở trên đã nói, tính cố kết cộng đồng của người Việt Nam nói chung cũng như của người Mường nói riêng đã được hình thành và phát triển trong điều kiện của nền văn minh lúa nước, cụ thể là qua lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Nhưng một khi đã được hình thành và tồn tại với tư cách là một giá trị thì tính cố kết cộng đồng lại trở thành cơ sở, hay nói khác đi trở thành một thuộc tính cực kỳ quan trọng, được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, đảm bảo cho mọi hoạt động của con người, kể cả trong hoạt động sản xuất lẫn sinh hoạt hàng ngày Trong mối quan hệ tương hỗ đó, văn hóa, hay nói chính xác hơn là văn hóa vật thể được biểu hiện trên bề mặt, còn tính cố kết cộng đồng là văn hóa phi vật thể, thì lắng đọng ở tầng sâu và tao nên nét đặc thù, tạo nên bản sắc và sức sống trường cửu của một nền văn hóa Như vậy,
có thể nói rằng, tính cộng đồng chính là sự biểu hiện sâu xa của văn hóa
Nhưng không phải là những gì “nhất thành bất biến”, cả văn hóa và tính cố kết cộng đồng đều vận hành và luôn đổi thay, cùng với sự vận hành và đổi thay của
xã hội Ở đây, tác giả tán thành với nhà nghiên cứu Phương Lựu khi ông viết: “Cứ
Trang 2213
mỗi khi phải đương đầu với những vấn đề lớn trong cuộc sống, thì văn hóa dân tộc, tất yếu phải phát triển, và bản sắc nền văn hóa, do đó cũng được bồi đắp nâng cao lên Dân tộc, nhưng phải luôn luôn hiện đại là như vậy”[56]
Sau cùng cũng cần nhắc lại rằng những luận bàn về khái niệm cũng như sự giả thuyết vấn đề vừa nêu đã đặt cơ sở để luận án thực hiện phần tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài luận án – điều sẽ được trình bày tiếp theo dưới đây
1.2 Về những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước
Tính đến thời điểm hiện nay, đã có không ít người kể cả các học giả nước ngoài và các tác giả là người Việt Nam dành công sức nghiên cứu về người Mường ở Việt Nam nói chung cũng như người Mường ở Hòa Bình nói riêng Các công trình của họ trải dài suốt từ khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ của chúng ở Việt Nam cho đến những năm gần đây, trong đó có khá nhiều vấn đề về văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường đã được đề cập Như vậy, về nguyên tắc, có thể bố cục bài tổng quan theo nhiều cách Chẳng hạn, có thể xếp các tác giả nước ngoài và các tác giả trong nước thành những phần riêng Hoặc phân chia việc nghiên cứu thành các giai đoạn khác nhau theo tiến trình lịch sử Cũng có thể bố cục bài viết theo nội dung các vấn đề nghiên cứu,…Tuy nhiên, sau khi đọc và cân nhắc kỹ, tác giả đã phân loại và chọn cách trình bày bài viết theo tiếp cận nghiên cứu khác nhau – đó là nghiên cứu khái quát, hướng nghiên cứu dân tộc chí, hướng nghiên cứu chuyên sâu và những nghiên cứu về biến đổi vắn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường, chưa định hình như một khuynh hướng mới diễn ra gần đây
1.2.1 Hướng nghiên cứu khái quát hóa
Theo cuốn từ điển Triết học do Rodentan làm chủ biên, khái quát hóa được hiểu là: “quá trình logic chuyển từ cái đơn nhất đến cái chung, từ một tri thức ít chung hơn đến tri thức chung hơn (…) Việc thu được một tri thức khái quát có nghĩa là sự phản ánh hiện thực sâu sắc hơn là sự đi sâu vào bản chất của hiện thực” [72] Đọc nguồn tư liệu về người Mường ở Việt Nam từ trước đến nay, tác giả nhận thấy một số tác giả cũng đã triển khai công trình theo hướng khái quát hóa
Trang 2314
Theo hướng nghiên cứu này, có thể kể đến C.Cheson với những ghi chép về
người Mường ở tỉnh Sơn Tây (“Notes sur les Muong de la province de Sơn Tay [111]; P.Grossin với Người Mường ở Hòa Bình (La province Muong de Hoa Binh)
[112] Những công trình này đã mô tả về đặc điểm địa lý, cư trú và những nét khái quát về dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Mường nói riêng ở Sơn Tây và ở Hòa Bình nó đã phần nào đề cập đến nguồn gốc dân tộc và tộc danh “Mường”, mối quan
hệ giữa người Việt và người Mường
Những năm gần đây có những nghiên cứu đi theo hướng khái quát như trên nhưng đã hệ thống một cách chặt chẽ hơn, toàn diện hơn về văn hóa Mường ở Hòa Bình hoặc một vùng Mường trong tỉnh Chẳng hạn đó là những nghiên cứu của
Viện dân tộc học được tập trung trong cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các
tỉnh phía Bắc) [100] Trong số những người đặc biệt tâm huyết với chủ đề này, Nguyễn Ngọc Thanh là người đã dành nhiều thời gian, công sức và đã có nhiều
công trình được công bố, trong đó có “Người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình” [62]
Cuốn sách đã đề cập về con người, thiên nhiên, đời sống kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán truyền thống của Mường ở Tân Lạc
Đặc biệt, tác giả Bùi Tuyết Mai đã trình bày khá công phu và độc đáo về
người Mường qua cuốn sách ảnh Người Mường ở Việt Nam [57] và Người Mường trên đất tổ Hùng Vương [58] Qua hơn 100 bức ảnh đã được chọn lọc, sắp xếp theo
quan điểm tiếp cận liên – đa ngành, chú trọng đến mối quan hệ giữa văn hóa, lịch sử
và thời đại, đã cung cấp cho bạn đọc sự hiểu biết tương đối đầy đủ về người Mường
ở Việt Nam với các nét đặc trưng về lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của họ
Năm 2005, tỉnh Hòa Bình đã xuất bản cuốn Địa chí Hòa Bình [97] Đây là
công trình đề cập khá toàn diện các khía cạnh của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế của các dân tộc sinh sống tại tỉnh Hòa Bình như Kinh,
Mường, Thái, Dao, Mông Cũng theo hướng này, cuốn Dân tộc Mường [48] lại
phác họa lên những nét cơ bản về lịch sử và đời sống của người Mường như nguồn gốc, cư trú, tổ chức, văn hóa truyền thống với các tín ngưỡng lễ hội…
Trang 2415
Cũng thuộc khuynh hướng khái quát hóa, song tập trung vào phương diện
Lịch sử dân tộc Mường, có những nghiên cứu nổi bật của phương diện lịch sử dân tộc Mường, có các nghiên cứu nổi bật của Vương Hoàng Tuyên với Tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử của dân tộc Mường [86]; Nguyễn Lương Bích với Trong lịch sử người Việt và người Mường là hai dân tộc hay một dân tộc [10];
Nghiên cứu về các mối quan hệ chính trị - xã hội của người Mường có rất
nhiều các công trình nghiên cứu về các mối quan hệ ruộng đất trong chế độ Lang
Đạo, điển hình là Nguyễn Dương Bình, Trần Quốc Vượng với Một vài nhận xét về mối quan hệ Mường - Việt và quá trình phân hóa giữa tộc Mường và tộc Việt [8]; Mạc Đường với Xã hội và ruộng đất ở vùng Mường trước cách mạng Tháng Tám [25]; Nguyễn Dương Bình với Một vài nét về tình hình xã hội vùng Mường ở tỉnh Vĩnh Phú trước Cách mạng tháng Tám [6] và Về tình hình ruộng đất của dân tộc Mường trước Cách mạng tháng Tám [7]; Trần Từ với Góp thêm tài liệu điền dã về chế độ nhà lang: xung quanh các hình thức khai thác ruộng lang [91] Các nghiên
cứu này đã đề cập đến nguồn gốc, quá trình tụ cư và tổ chức xã hội của một bộ phận người Mường, ruộng đất và phân loại ruộng đất, phác họa mô hình tổ chức xã hội, các mối quan hệ giữa người và người trong xã hội Mường
Ngoài ra, nhìn lại suốt chiều dài thời đại nghiên cứu về người Mường và văn hóa Mường chúng ta còn có thể kể ra nhiều công trình mà tên gọi của nó đã thể hiện
cách nhìn khái quát, chẳng hạn: Tư liệu về người Mường ở vùng Việt [61] và Hình tượng Tản Viên trong đời sống văn hóa của người Mường của Lâm Bá Nam [60]; Đôi điều về văn hóa Mường của Trần Quốc Vượng [101]; Từ vấn đề ngôn ngữ Việt- Mường góp phần tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Mường của Phạm Đức Dương
[23],.v.v…
1.2.2 Hướng nghiên cứu dân tộc chí
Về khái niệm “Dân tộc chí”, từ điển Petit Larousse (1981) định nghĩa rằng:
“Dân tộc chí là sự khảo cứu và sự miêu tả các tộc người khác nhau về phương diện sinh học và xã hội” Một cách cụ thể hơn nhà nhân học Lesvi – Strauss còn viết:
“Trong sự sinh tồn vật chất của các cá nhân, các gia đình hay xã hội trình ra nét nào đó đặc biệt, là thuộc vào lĩnh vực của dân tộc chí Tổng lại, dân tộc chí là
Trang 2516
ngành của nhân học quan tâm đến tất thảy những biểu thị của trí tuệ người” [20] Ở
Việt Nam, hướng nghiên cứu dân tộc chí đã có truyền thống khá dài, chẳng hạn
Nguyễn Trãi với Dư địa chí, Lê Quý Đôn với Kiến văn tiểu lục và Vân đài loại ngữ,…Nghiên cứu về người Mường ở Việt Nam cũng có những người đi theo
khuynh hướng đó
Đại diện cho khuynh hướng nghiên cứu dân tộc chí về người Mường ở Việt Nam trước hết phải kể đến nữ học giả người Pháp là Jeanne Cuisinier với tác phẩm
Người Mường - Địa lý nhân văn và Xã hội học [41] Phương pháp điền dã đã giúp
bà thâm nhập sâu vào xã hội Mường, miêu tả khá toàn diện về xã hội, văn hóa của người Mường Tuy nhiên, do bà thu thập thông tin, ghi chép chủ yếu qua lời kể của tầng lớp trí thức, quan lang Mường cũng như khỉ trực tiếp quan sát nếp sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng người Mường qua sinh hoạt của tầng lớp này nên công trình khó tránh được sự phiến diện Dù vậy, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi vẫn xem đây là “cuốn sách vỡ lòng đến người Mường”1 Tác phẩm đã cung cấp những
cơ sở dữ liệu quan trọng về các giá trị văn hóa Mường truyền thống, ở các khía cạnh VHVC (như ăn, mặc, ở) và VHTT (như tín ngưỡng, lễ hội, cưới xin, ma chay,.v.v.)
Đi theo nghiên cứu này còn một tác giả của Việt Nam cũng rất nổi tiếng, là Trần Từ (tức Nguyễn Từ Chi mà chúng ta vừa nhắc ở trên) Cũng bằng phương pháp điền dã dân tộc học, ghi chép tại chỗ, xong Trần Từ lại lựa chọn một vùng Mường khá khép kín, ít biến động và đối tượng là tầng lớp dân nghèo, thuần khiết Mường, không bị ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Từ đó, ông tìm hiểu xã hội Mường, tìm ra mối quan hệ cội nguồn giữa tộc Mường và tộc Kinh
Trần Từ hay là Nguyễn Từ Chi - một “hiện tượng dân tộc học”2, là một trong những nhà nghiên cứu có nhiều công trình nghiên cứu sâu về người Mường,
về đời sống tinh thần, các quan hệ xã hội và sở hữu đất đai của người Mường nói chung và người Mường ở Hòa Bình nói riêng Các công trình nghiên cứu tiêu
biểu của tác giả này gồm Cõi sống và cõi chết trong quan niệm của người Mường
Thời đại, số 83
Trang 2617
[15], Hoa văn Mường [16]; Người Mường ở Hòa Bình [92] Ông còn có nhiều
công trình viết chung, nhiều bài báo có khám phá độc đáo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nhiều sách và ấn phẩm dịch Trong các tác phẩm này, tác giả đã đề cập khá chi tiết về xã hội cổ truyền, đặc điểm của chế độ ruộng lang3, phong tục tập quán, ngôn ngữ tín ngưỡng,… nhờ đó mà những vấn đề về hình thái kinh tế,
tổ chức xã hội, các mối quan hệ của con người, mối quan hệ Việt –Mường,…
được làm sáng rõ thêm Với các công trình đã nêu, nhất là với Vũ trụ quan Mường(“La Cosmologie Mương”) [17], Nguyễn Từ Chi được giới dân tộc học ở
nước ngoài, nhất là ở Pháp, coi như chuyên gia số một về người Mường
1.2.3 Hướng nghiên cứu chuyên sâu
Khác với các hướng nghiên cứu khái quát hóa hay nghiên cứu dân tộc chí hướng cái nhìn vào những cái gì chung nhất hay những nét đặc thù, độc đáo, hướng nghiên cứu chuyên sâu lại tập trung tìm hiểu từng lĩnh vực cụ thể trong đời sống của người Mường và văn hóa Mường
Trước hết, đó là Ngôn ngữ Mường Ở phương diện này cần phải kể đến các
công trình về ngôn ngữ học như Từ điển Mường – Việt của Nguyễn Văn Khang và Bùi Chỉ [43], Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn[75] của Nguyễn Văn Tài
Các công trình này đã cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết nhất định về ngôn ngữ của người Mường cũng như sự khác biệt của ngôn ngữ Mường so với ngôn ngữ của các dân tộc khác Đặc biệt, các nghiên cứu này cũng làm nổi bật những thông điệp
về văn hóa ứng xử thông qua ngôn ngữ, mà hàm ý bao trùm là sự tôn trọng, lòng thương yêu và tình đoàn kết giữa những người Mường với nhau
Về phong tục tập quán, năm 1988, Ủy ban Nhân dân huyện Tân Lạc và Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình xuất bản cuốn Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi [98] Đây là tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả nhằm
giới thiệu vốn văn hóa cổ truyền, tập tục sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nghệ thuật múa của người Mường Bi huyện Tân Lạc Hầu hết các nghiên cứu này đều tập trung vào
của người Kinh), theo đó, mọi ruộng đất đều thuộc về tầng lớp thống trị
Trang 27Nếu xét riêng ở từng tác giả ta cũng thấy có nhiều người dốc nhiều tâm huyết
đi sâu tìm hiểu phong tục tập quán của người Mường Chẳng hạn, đó là Dương Hà
Hiếu với Tục cưới xin của người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ[36] Trong đó mô
tả khá kỹ lưỡng một số tập tục, nghi lễ cưới xin của người Mường trên địa bàn này Nhưng tiêu biểu hơn cả trong lĩnh vực này phải kể đến tác giả Nguyễn Ngọc Thanh
Với công trình Gia đình và hôn nhân của người Mường ở tỉnh Phú Thọ [77]
Nguyễn Ngọc Thanh đã phác họa được bức tranh khá sinh động về phong tục, lối sống, hôn nhân và gia đình của người Mường ở Phú Thọ Tác giả đã phân tích các nguyên tắc, hình thức hôn nhân, cấu trúc, quy mô, chức năng cơ bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đồng thời cũng chỉ ra một cách khá thuyết phục
về mối quan hệ Việt – Mường trong lịch sử Trong khi so sánh người Mường Phú Thọ với người Mường ở nơi khác, ít nhiều tác giả đã đề cập đến sự biến đổi một số khía cạnh trong đời sống gia đình dù chưa chỉ ra nguyên nhân và xu thế biến đổi của
nó Bên cạnh đó Nguyễn Ngọc Thanh có nhiều công trình công bố liên quan đến phong tục tập quán, nghi lễ của người Mường trên các tạp chí chuyên ngành Dân
tộc học, Văn hóa dân gian, Khảo cổ học, chẳng hạn như: Mấy ghi chép về lễ cưới cổ truyền của người Mường [70], Tục lệ cưới xin của người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình [72]
Gắn liền với phong tục tập quán là những nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng của người Mường Chẳng hạn, Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Ngợi
Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Ngợi quan tâm nghiên cứu về Mo Mường và nghi lễ tang ma [55], Diễn xướng Mo trượng mỡi [85] Các cuốn sách này đã đề cập
khá chi tiết về các áng mo và việc sử dụng các áng mo ấy trong nghi lễ tang ma
Với độ dày 579 trang, tác phẩm Mo Mường và nghi lễ tang ma là một trong những
Trang 2819
minh chứng về đời sống VHTT đa đạng và phong phú của người Mường Bên cạnh
đó, tác giả Đinh Văn Ân lại sưu tầm và biên soạn Mo - Đường lên trời [1], một
trong những áng mo không thể thiếu trong nghi lễ tang ma của người Mường, trong
đó đã trình bày khá chi tiết bằng cả tiếng Việt và tiếng Mường cả diễn trình nghi lễ
tang ma của người Mường gồm: Sắm sửa ra đi, Ra đường, Mở cổng về Mường trời,
Mở cổng về trần gian,… Cũng quan tâm tới chủ đề này, song tác giả Bùi Thị Kim Phúc lại tập trung vào Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường [66],
nhất là hệ thống tín ngưỡng dân gian, vị trí của thầy mo cũng như vai trò của nhân vật này trong đời sống tinh thần của người Mường Bi Có thể nói, các tác phẩm trên
đã dựng lên được bức tranh khá sinh động về đời sống tinh thần của người Mường thông qua các áng mo, tuy ở đó lại chưa đề cập cụ thể về trình tự tiến hành, các nghi
lễ và ý nghĩa của nó trong tang lễ và trong đời sống cộng đồng Mường
Gần đây, Bùi Huy Vọng cho xuất bản cuốn Tang lễ cổ truyền của người Mường[98], tập trung mô tả về tang lễ cổ truyển của người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Nguyễn Ngọc Thanh cũng bổ sung bằng Góp thêm tư liệu dân tộc học về tục chôn cất của người Mường[80] Đây là những nghiên cứu thực sự
chuyên sâu về những lĩnh vực cụ thể của văn hóa Mường
1.2.4 Những nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường
So với các hướng nghiên cứu đã nêu thì đây là những nghiên cứu có phần mới mẻ Bởi vì hầu hết các công trình ở ba hướng nghiên cứu đã nêu đều chủ yếu nghiên cứu văn hóa Mường ở dạng tĩnh, tức là những gì đã được định hình trong cuộc sống, còn những nghiên cứu này lại đề cập văn hóa ở trạng thái động, tức là những gì đang được vận hành và biến đổi cùng với sự vận hành và biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội nói chung
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về biến đổi văn hóa Mường là Lương
Quỳnh Khuê với Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay
- Qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình, (đề tài cấp Bộ; mã số 27,2008) [47] Ở đây người viết đã cung cấp những hiểu biết về một số đặc trưng
B06-cơ bản của văn hóa truyền thống ở các khía cạnh về kinh tế vật chất cũng như đời
Trang 2920
sống tinh thần của người Mường qua góc nhìn dân tộc học và văn hóa học Tác giả cũng dự báo xu hướng biến đổi của văn hóa Mường trước xu thế hội nhập và những kiến nghị nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa Mường Công trình này cũng
đã đề cập đến một số hệ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của người Mường cố truyền, dự báo xu hướng biến đổi của chúng Cũng thuộc khuynh hướng này, Lê
Hải Đăng trong Các nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở con Cuông, Nghệ
An [25], đã trình bày có hệ thống về nghi lễ gia đình, qua đó làm sáng rõ đặc trưng
văn hóa của người Mường ở Con Cuông, Nghệ An; mô tả chỉ ra những biến đổi trong các nghi lễ gia đình của người Tày Mường và chỉ ra các nguyên nhân tác động đến sự biến đổi đó
Bên cạnh những nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần cũng có tác giả quan tâm đến những vấn đề thuộc tổ chức xã hội Chẳng hạn đó là
luận án tiến sỹ của Hà Văn Linh với tiêu đề Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở người Mường Thanh Sơn, Phú Thọ[53] Trong nghiên cứu này, tác giả
đã mô tả tổ chức xã hội truyền thống cùng với các mối quan hệ xã hội kèm theo đó, đồng thời phân tích ở khía cạnh định tính những biến đổi của tổ chức xã hội hiện hành so với xã hội truyền thống Đồng thời, tác giả cũng tập trung tìm hiểu các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi về tổ chức xã hội Mường Nghiên cứu này cũng đã lồng ghép phân tích về tính cố kết cộng đồng của người Mường thông qua cơ cấu tổ chức xã hội Mường truyền thống
Những mối quan hệ giữa văn hóa và tính cố kết cộng đồng, chủ đề mà người viết luận án này đặc biệt quan tâm – đã được phản ánh rõ hơn cuốn sách do Nguyễn
Thị Thanh Nga viết trong cuốn Văn hóa Truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình[63] Ở cuốn sách này, tác giả không chỉ giới thiệu với người đọc những biểu
hiện dễ thấy của văn hóa truyền thống của một số tộc người sinh sống lâu đời ở Hòa Bình như H’Mông, Thái, Mường, và còn đề cập đến tính cố kết cộng đồng của các dân tộc này, với tư cách là loại hình văn hóa phi vật thể được phân tích lâu đời, góp phần tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc
Với hướng nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng cần đặc
biệt lưu ý đến tác giả Nguyễn Thị Song Hà, qua công trình Nghi lễ trong chu kỳ đời
Trang 3021
người của người Mường ở Hoà Bình [30], tác giả đã so sánh những điểm tương đồng
và khác biệt trong các nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hoà Bình với người Mường ở các tỉnh khác Đó còn là sự biến đổi của các nghi lễ từ truyền thống đến hiện đại, cũng như những nguyên nhân của sự biến đổi và đề xuất một số kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá này trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách
có hệ thống và toàn diện về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường; Thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người, luận án nêu được những nét đặc trưng văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, đồng thời làm rõ xu thế biến đổi, giao lưu và tiếp nhận những giá trị văn hóa mới từ các cộng đồng dân tộc khác trong vùng và của thế giới Luận án chỉ ra những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi các nghi lễ trong chu kỳ đời người, rút ra nhận xét và đề xuất kiến nghị nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Mường ở tỉnh Hòa Bình trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
1.3 Mấy nhận xét sơ bộ về định hướng nghiên cứu
Ở các phần trên, sau khi trình bày đôi lời dẫn nhập, tác giả đã cố gắng tóm lược một cách ngắn gọn khuynh hướng cơ bản nghiên cứu về văn hóa, tính cố kết cộng đồng, mối quan hệ tương hỗ và sự biến đổi của chúng từ trước đến nay Đến đây cần rút ra các nhận xét, để từ đó định hướng cho việc nghiên cứu của luận án
1.3.1 Quả đúng như Từ điển Triết học do M.M.Roodentan chủ biê đã viết,
hướng nghiên cứu khái quát hóa của các học giả Pháp như C.Cheson, P.Grossin, cũng như các tác giả Việt Nam như Vương Hoàng Tuyên, Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Dương Bình, Mạc Đường, Trần Quốc Vượng, Lâm Bá Nam…đã đem lại cho chúng ta sự hiểu biết chung nhất, hay nói khác đi là một bức họa toàn cảnh về người Mường và văn hóa Mường ở Việt Nam nói chung, cũng như ở Hòa Bình nói riêng, có thể coi đây là những tri thức cơ bản và nền tảng để tìm hiểu về người Mường, văn hóa của người Mường Tuy nhiên, trong việc phản ánh hiện thực, một khi đã định hướng vào cái chung, chỉ cốt “đi sâu vào bản chất của hiện thực”, thì cũng có nghĩa đành phải tước bỏ đi ở một mức nào đó những biểu hiện đa dạng của
Trang 3122
cái riêng và cái đặc thù làm cho bức tranh toàn cảnh về người Mường và văn hóa Mường phải bớt đi một phần sinh động như nó vốn có trong đời sống hiện thực
1.3.2 Nếu hướng nghiên cứu khái quát hóa chú trọng đến cái chung, cái bản
chất nhiều hơn so với cái riêng, cái đặc thù, thì hướng nghiên cứu dân tộc chí, như Lévi – Strauss đã nói, lại đặc biệt lại quan tâm đến những “nét nào đó đặc biệt”, những “biểu thị của trí tuệ người” Các đại biểu xuất sắc của khuynh hướng nghiên cứu dân tộc chí về người Mường và văn hóa Mường là Jean Cuissinier và Nguyễn
Từ Chi Qua các cuộc điền dã dân tộc học, đã quan sát lắng nghe, thu nhận, ghi chép, nghiền ngẫm, trước tác và để lại cho hậu thế những công trình nghiên cứu để đời thật sự độc đáo, phản ánh những nét “đặc biệt”, biểu thị cho “trí tuệ” của người Mường, của xã hội và văn hóa người Mường Chính vì vậy, hướng nghiên cứu dân tộc chí mà Cuissinier và Nguyễn Từ Chi là đại diện, là sự bổ sung không thể thiếu cho hướng nghiên cứu khái quát hóa Nhưng cũng tương tự như hướng nghiên cứu khái quát hóa, một khi hướng nghiên cứu dân tộc chí chú ý đặc biệt vào những gì đặc thù, độc đáo, thì đương nhiên nó đã không thể quan tâm đầy đủ đến bức tranh chung phản ánh nhiều phương diện khác nhau và mang tính khái quát về người Mường và văn hóa Mường – điều mà hướng nghiên cứu khái quát đã làm được nhưng đã nói ở trên
1.3.3 Tránh được những hạn chế và bất cập của các hướng nghiên cứu khái
quát hóa và dân tộc chí, hướng nghiên cứu chuyên sâu – đúng như tên gọi của nó –
đã đi sâu mô tả và phân tích hàng loạt các lĩnh vực cụ thể của văn hóa Mường như ngôn ngữ, phong tục tập quán, các nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian, rồi so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa chúng giữa các vùng Mường khác nhau hoặc so sánh với những hiện tượng đó ở người Kinh Đây là hướng đã thu hút được nhiều người quan tâm nghiên cứu nhất, trong đó không chỉ có các tác giả là người Kinh mà còn các tác giả là người Mường Có thể kể ra hàng loạt những người có tên tuổi như Nguyễn Văn Khang, Bùi Chỉ, Nguyễn Văn Tài, Hoàng Hữu Bình, Dương Hà Hiếu, Nguyễn Ngọc Thanh, Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Ngợi, Bùi Thị Kim Phúc…Điều cần biểu dương là các nghiên cứu này đều mang tính hiện đại, bởi lẽ hầu hết các tác giả đều xuất phát từ một đơn vị nghiên cứu cụ thể (gọi là mẫu
Trang 3223
nghiên cứu) – nó giúp cho bạn đọc nếu có nghi ngờ điều gì đều có thể kiểm chứng Nhưng cũng tương tự, như 2 khuynh hướng đã nêu, hướng nghiên cứu chuyên sâu cũng có khiếm khuyết riêng của nó: đó là thấy cây nhưng không thấy rừng, người đọc khó biết được bức tranh toàn cảnh về văn hóa Mường Cố nhiên là khi đã chọn hướng chuyên sâu thì sự bất cập này là khó tránh khỏi
1.3.4 Sau cùng là những nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng
đồng của người Mường với các tác giả như: Lương Quỳnh Khuê, Lê Hải Đăng, Hà Văn Linh, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Song Hà…Có lẽ những nghiên cứu này chưa tạo thành khuynh hướng với những đặc trưng ổn định và rõ rệt như ba hướng nghiên cứu đã nêu Nhưng nếu so với ba hướng nghiên cứu đã tạo nên những lối mòn có sẵn đó, thì những nghiên cứu này lại tạo ra được một hướng tiếp cận khá mới mẻ Điều này được thể hiện ở chỗ, nếu ba hướng tiếp cận trên xem xét văn hóa Mường ở dạng tĩnh, đã định hình, thì những nghiên cứu này lại nhìn nhận văn hóa
ấy ở trạng thái động, tức là ở trạng thái đang vận động và phát triển
Có điều cách tiếp cận văn hóa ở trạng thái động như thế cũng mới dừng lại ở các biểu hiện của văn hóa vật thể - đó là tập quán sản xuất, những sinh hoạt hàng ngày như ăn mặc, cư trú, đi lại, cách tổ chức cộng đồng…còn những nghiên cứu về văn hóa phi vật thể, mà những biểu hiện tập trung của nó là tính cố kết cộng đồng,
kể cả sự vận hành và biến đổi của nó, thì đến nay vẫn còn quá hiếm Dẫu sao đây cũng là một hướng tiếp cận mới, có nhiều triển vọng, rất cần được khuyến khích
1.3.5 Nhìn chung lại, chúng ta dễ dàng nhận thấy một điều – đó là hầu hết
các công trình đã có về người Mường và văn hóa Mường ở Việt Nam đều thuộc về nhân học và Dân tộc học, chúng cũng do các nhà dân tộc học và nhân học thực hiện
Mà nhân học và dân tộc học, như chúng ta đều biết không đặt trọng tâm vào cơ cấu
xã hội, cũng không chú trọng nhiều đến các số liệu định lượng dưới hình thức các con số, tỷ lể phần trăm…Chính vì thế, kết quả nghiên cứu hầu hết chỉ cho thấy các hiện tượng văn hóa của người Mường nói chung hoặc cả cộng đồng người Mường ở một địa bàn nào đó, chứ ít thấy sự vận hành của những hiện tượng đó có sự khác biệt như thế nào ở những nhóm xã hội khác nhau Cũng tương tự nhu vậy, các tài liệu điền dã mà các tác giả dựa vào cũng không được kiểm chứng bằng định lượng
Trang 3324
để xem tính phổ biến của chúng đạt đến mức độ nào Đấy là chưa qua các nghiên cứu đã có, người ta thấy mối quan hệ tương hỗ giữa văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường cũng như sự vận hành và biến đổi của chúng vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nghĩa là người đọc đang chờ đợi nhiều hơn những gì mà giới khoa học chúng ta đã đạt được
1.3.6 Căn cứ vào những nhận xét trên đây, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề
tài: “Những biến đổi văn hoá và tính cố kết cộng đồng hiện nay: nghiên cứu trường hợp dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình” Về mặt nội dung, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu
mối quan hệ giữa văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường, nhất là sự biến đổi của chúng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế hiện nay Về phương pháp và phương pháp luận, luận án lựa chọn cách tiếp cận liên ngành của Nhân học và Xã hội học – nghĩa là không chỉ bằng việc sử dụng tài liệu thứ cấp, quan sát, quan sát tham gia, phỏng vấn sâu mà còn kết hợp với phương pháp thống kê và bảng hỏi trực tiếp dựa trên chọn mẫu ngẫu nhiên Hy vọng là việc chọn lựa này sẽ đóng góp thêm một góc nhìn và một gam mầu mới vào bức tranh tổng thể nghiên cứu về người Mường và văn hóa Mường đã được định hình từ trước Những kết quả nghiên cứu theo hướng này sẽ được thể hiện ở phần nghiên cứu thực nghiệm của luận án
Tiểu kết chương 1
Sau đôi lời dẫn nhập mang ý nghĩa phương pháp luận cho việc làm tổng quan tác giả đã điểm lại một cách ngắn gọn các khuynh hướng nghiên cứu đã được định hình về người Mường và văn hóa Mường ở Việt Nam nói chung cũng như ở tỉnh Hòa Bình nói riêng Đó là các hướng khái quát hóa, dân tộc chí, chuyên sâu
và những nghiên cứu về biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của người Mường diễn ra trong những năm gần đây Đáng chú ý trong chương tổng quan này, người viết không chỉ nhấn mạnh những thành tựu, những mặt mạnh mà còn chỉ ra những hạn chế, bất cập cả ở nội dung và cách tiếp cận nghiên cứu của từng khuynh hướng Việc tổng quan như vậy đã tạo ra một cơ sở khoa học để tác giả
Trang 3425
lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình- nó cho thấy ngay từ đầu là luận án đƣợc bắt đầu từ đâu và sẽ đi đến đâu Đồng thời nó cũng giúp tác giả không rơi vào tình trạng phát minh lại chiếc bánh xe, hoặc cố gò lƣng đẩy chiếc cánh cửa mà thực ra
nó đã đƣợc mở từ lâu lắm rồi
Trang 3526
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài
2.1.1 Tiếp cận theo lý thuyết hành động xã hội (còn gọi là phân tích văn hóa) của Max Weber
Một trong những chủ đề quan trọng nhất trong luận án này là tìm hiểu sự biến đổi văn hóa (BĐVH) của dân tộc Mường, cụ thể là của người Mường ở Hòa Bình hiện nay Sự BĐVH của một quốc gia, dân tộc, cũng như BĐVH của bất kỳ một cộng đồng hay nhóm người nào, một mặt chịu sự tác động của những nguyên nhân
từ bên ngoài, nhưng mặt khác cũng phụ thuộc vào nguyện vọng, nhu cầu, ý chí chủ quan của con người của chính quốc gia – dân tộc, cộng đồng hay nhóm xã hội đó Việc phân tích nhu cầu, nguyện vọng, ý chí chủ quan của con người dẫn đến những hành động làm thay đổi cuộc sống, thay đổi thói quen, tập quán của họ, trong Xã hội học được gọi là lý thuyết hành động xã hội, hay nói khác là lý thuyết phân tích văn hóa của M Weber
M Weber được coi là một trong những nhà xã hội học lớn nhất đầu thế kỷ 20
và là người sáng lập ra xã hội học tôn giáo, đại diện cho lý thuyết hành động xã hội Tiểu sử của ông là một giải thích mang tính xã hội học về mối quan hệ tác động giữa xã hội, con người và lịch sử sự nghiệp Một trong những đóng góp lớn của ông trong xã hội học là phân tích về văn hóa
Thuyết hành động xã hội là một quan niệm phổ biến của xã hội học phương Tây, được xem là lý thuyết có khả năng giải thích và phân tích những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội Những luận điểm cơ bản của lý thuyết này do M.Weber đưa ra trên cơ sở các quan điểm của ông về phương pháp nghiên cứu xã hội học
Xuất phát từ cách tiếp cận văn hoá, ông cho rằng nền văn hoá quyết định sự phát triển kinh tế xã hội, quyết định hành động của con người
Hành động theo Weber được gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính tới hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai
Trang 3627
Ông phân biệt hai loại ý nghĩa của hành động xã hội: thứ nhất là nghĩa đang
có thực của hành động cụ thể do một chủ thể, một nhóm chủ thể gán cho hành động của nó; thứ hai là nghĩa được gán một cách lý thuyết cho một chủ thể, một nhóm chủ thể
Phạm trù hành động xã hội, đòi hỏi phải xuất phát từ chỗ hiểu biết động cơ của từng cá nhân riêng lẻ, là điểm quyết định sự khác biệt chủ yếu giữa cách tiếp cận xã hội học của Weber với xã hội học của E Durkheim Bằng khái niệm này, Weber tuyên chiến chống lại cách kiến giải do Durkheim đề nghị đối với sự kiện xã hội Trái với Durkheim, Weber cho rằng nếu như tiếp cận vấn đề một cách khoa
học, thì cả xã hội nói chung lẫn các hình thức này hay khác của tính tập thể đều
không được coi như là những chủ thể hành động Chủ thể hành động chỉ có thể là từng cá nhân riêng lẻ Xã hội học có thể coi các tập thể là phát sinh từ các nhân tố hợp thành, chúng không phải là những hiện thực độc lập như Durkheim quan niệm,
mà chỉ là những phương thức tổ chức hành động của cá nhân
Weber nhấn mạnh rằng muốn hiểu được hành động của con người cần thâm nhập vào thế giới bên trong của con người, đặt mình vào tình huống của người hành động để hiểu biết hành động Weber đã xây dựng một hệ thống mẫu, nhờ đó người nghiên cứu có thể kiểm tra suy nghĩ của mình với đối tượng Hệ thống đó gồm 4 kiểu (4 loại hành động) được xắp xếp theo trật tự về tính hợp lý:
i) Hành động duy lý - công cụ (hợp lý so với mục đích): là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất Trong xã hội đó có hàng loạt các phương tiện để đạt mục đích, người ta phải suy nghĩ quyết định xem sử dụng những phương tiện nào để đạt được mục đích một cách dễ dàng hơn Ở đây, chủ thể phải lựa chọn, quyết định mục đích, mục tiêu, phương tiện đạt mục đích Nó là loại hành động có tính chủ động cao, động cơ thúc đẩy mạnh mẽ
ii) Hành động duy lý giá trị (hợp lý so với 1 giá trị): là hành động được thực hiện vì bản thân hành động Nó được thúc đẩy bởi ý thức của chủ thể về giá trị mà hành động đó mang lại cho mình có phù hợp hay không với địa vị xã hội của mình Khác với loại trên, hành động có tính định hướng bởi giá trị đòi hỏi phải có sự cân
Trang 3728
nhắc của chủ thể về giá trị của hành động đó Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý
iii) Hành động duy cảm (cảm xúc): là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tình cảm bộc phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động Theo Weber phần lớn hành động của con người được thực hiện do cảm xúc Hành động mang tính cảm xúc là khó nghiên cứu nhất Loại hành động này thường mang tính tự phát theo tình cảm Đây là loại hành động khó kiểm tra, kiểm soát vì cùng một chủ thể, trong hoàn cảnh tương tự nhưng lại có những hành động rất khác nhau
iv) Hành động duy lý - truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục tập quán đã được truyền lại qua các thế hệ Con người hành động do một nhân tố quan trọng là thói quen, truyền thống Họ hành động xuất phát từ cái họ được học hành và cho đó là đúng Ví dụ họ lao động theo cách hiểu về phân công lao động mang tính truyền thống, hành động trong ứng xử Đây
là hành động được thúc đẩy bởi các thói quen, đã được hình thành từ trước đó trong nền văn hoá xã hội mà nó sống và tiếp thu và là loại hành động mang tính tự động, không cần suy nghĩ, có thể kiểm tra và kiểm soát được, nếu biết rõ các quy tắc văn hoá của cộng đồng mà cá nhân tham gia Chẳng hạn, các hành vi ứng xử của con cái trong gia đình, các hành vi phục tùng quy tắc phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, bộ tộc
Những kiểu hành động mà Weber đưa ra có giá trị cho việc tìm hiểu, lý giải hành động của chủ thể Nhưng thông thường một hành động của con người có thể là
sự kết hợp của hai hoặc nhiều các động cơ hành động Ông rất quan tâm đến những khuôn mẫu, hành vi, động cơ, nguyên nhân bên trong thúc đẩy hành động Ông yêu cầu khi quan sát hành động của con người, muốn hiểu con người, phải luôn luôn nhìn thấy trước mắt mình bốn loại hành động nêu trên Và để hiểu được động cơ bên trong, theo ông là phải đặt mình vào vị trí của người hoạt động và xem xét bối cảnh của nó để giải thích cho những căn cứ khoa học Weber là một người có nhiều đóng góp cả ở thuyết lịch sử - cấu trúc và thuyết hành động này
Trang 3829
Bốn kiểu hành động này không hoàn toàn tách rời nhau, luôn thâm nhập vào nhau Vì vậy, nhà nghiên cứu phải xác định được giới hạn và quan hệ giữa các loại hành động ấy trong từng nền văn hoá khác nhau Không phải ngẫu nhiên mà Weber đã sắp xếp bốn kiểu hành động xã hội do ông mô tả theo trật tự tăng dần tính hợp lý Trật
tự như vậy không đơn thuần chỉ là một thủ pháp hay phương pháp luận tiện lợi cho giải thích Ông tin rằng hợp lý hoá hành động xã hội là xu hướng của bản thân quá trình lịch sử Tất nhiên quá trình này xẩy ra không phải không có những trở ngại và sai lệch Nhưng lịch sử châu Âu, cùng với việc các nền văn minh khác ngoài châu Âu đều tiến
vào con đường công nghiệp hoá do phương tây khai phá, điều đó xác nhận rằng sự hợp
lý hoá là một quá trình lịch sử toàn thế giới Một trong nhưng yếu tố căn bản của sự
hợp lý hoá hành động là việc thay thế sự trung thành đối với những tập tục bằng việc thích nghi một cách duy lí với những điều kiện mới Dĩ nhiên quá trình này không lột tả hết khái niêm hợp lý hoá hành động, bởi vì hợp lý hoá có thể diễn ra một cách tích cực
có ý thức về mặt giá trị và một cách tiêu cực bằng cách phá hoại các tập tục
Theo Weber, nhân tố cho phép tổng hợp lại tất cả các yếu tố này, là Đạo Tin lành Chính tôn giáo cải cách này đã tạo ra những tiền đề thực hiện một phương thức điều hành kinh tế hợp lý, và kết quả là ở châu Âu xuất hiện một kiểu loại xã
hội mới mà các nhà xã hội học gọi là xã hội công nghiệp Weber gọi tất cả các kiểu
xã hội có trước đây, khác với kiểu xã hội công nghiệp đó, là các xã hội cổ truyền Dấu hiệu quan trọng nhất của các xã hội cổ truyền là ở đó các nhân tố hợp lý về mặt hình thức không thống trị
Tính hợp lý về mặt hình thức là cái tính được về mặt lượng, là cái nhận diện được bằng số lượng Weber cho rằng tính hợp lý về mặt hình thức của nền kinh tế được quy định bởi mức độ tính toán có thể có và thực sự đang dược áp dụng đối với
nền kinh tế đó Trái lại, tính hợp lý về vật chất là cái thể hiện ở trong hành động xã hội được định hướng về mặt kinh tế dưới góc độ các định đề giá trị Tính hợp lý về vật chất là tính hợp lý vì một cái gì đấy; tính hợp lý về mặt hình thức là tính hợp lý
chẳng vì cái gì cả, tính hợp lý được coi như mục đích tự thân
Khái niệm tính hợp lý về mặt hình thúc là một điển hình lý tưởng và rất ít khi gặp nó trong hiện thực kinh nghiệm dưới dạng thuần khiết Như Weber đã nêu
Trang 39Tuy nhiên, cách lý giải về hành động xã hội của Weber ở góc nhìn khác vẫn
bị xem là có những hạn chế nhất định Việc lý giải hành động của Weber vẫn bỏ qua các tác động của điều kiện khách quan bên ngoài Vì thế người ta vẫn cho rằng
nó đã sai lầm khi đặt ý nghĩ và hành động trong bất kỳ bối cảnh xã hội hiện thực nào Weber tôn trọng cấu trúc xã hội nhưng nhấn mạnh vai trò chủ quan tư duy của con người Nhìn chung, lý thuyết về hành động xã hội của M Weber giúp chúng ta trả lời những câu hỏi về động cơ, ý nghĩa của hành động xã hội, chẳng hạn, động cơ nào thúc đẩy các cá nhân hành động theo cách đã xảy ra và tiếp tục xảy ra trong
cộng đồng đó
Là một khoa học phân tích văn hóa, song khi vận dụng quan điểm của M Weber vào nghiên cứu văn hóa cũng cần lưu ý rằng, trong mỗi xã hội không chỉ có một, mà có nhiều văn hóa Cụ thể là, bên cạnh nền văn hóa chung của quốc gia – dân tộc, trong mỗi xã hội đều có sự khác biệt về văn hóa của các vùng miền, các giai tầng và các nhóm xã hội khác nhau Tổng hợp những đặc trưng riêng của mỗi vùng miền, giai tầng hay nhóm xã hội như thế được gọi là một tiểu văn hóa
Theo cách lập luận này, có thể coi văn hóa của nhóm người Mường Hòa Bình như một tiểu văn hóa nằm trong nền văn hóa Việt Nam nói chung cũng như của dân tộc Mường nói riêng Trong sự biến đổi, văn hóa Mường Hòa Bình mang những nét đặc trưng riêng, đồng thời cũng chịu sự chi phối chung của sự BĐVH của dân tộc Việt Nam Từ góc nhìn xã hội học, trong tiểu văn hóa của người Mường ở Hòa Bình lại có sự khác biệt giữa văn hóa của nhóm già và nhóm trẻ (nhóm tuổi), người giàu
và người nghèo (nhóm thu nhập), người có học vấn cao và người học vấn thấp (nhóm trình độ học vấn), Nói cách khác, mỗi một giai tầng hay một nhóm xã hội vừa nêu đều có một tiểu văn hóa của riêng mình Như thế, chính sự đa dạng của các tiểu văn hóa giúp chúng ta hiểu và cắt nghĩa về sự khác biệt trong quá trình biến đổi
Trang 4031
của các giai cấp, nghề nghiệp, các nhóm nhân khẩu học, các tộc người nói chung và văn hóa của người Mường ở Hòa Bình nói riêng Cũng từ cách tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu về biến đổi văn hóa, có thể nhận thấy sự xuất hiện của các quan hệ
xã hội mới, lối sống mới,… với diện mạo ít nhiều rõ nét trong điều kiện mới
2.1.2 Tiếp cận theo lý thuyết đoàn kết xã hội và ý thức tập thể của Émile Durkheim
Chủ đề thứ hai song không kém phần trong luận án này là tìm hiểu về tính cố kết cộng đồng của người Mường, nhất là trong bối cảnh CNH, HĐH, nền KTTT và
xu thế HNQT hiện nay Để góp phần soi sáng cho quá trình tiếp cận nghiên cứu sự vận hành của đối tượng nghiên cứu này trong đời sống hiện thực, luận án lựa chọn thêm một lý thuyết để bổ sung cho lý thuyết hành động xã hội – đó là lý thuyết đoàn kết xã hội và ý thức tập thể của học giả Pháp Émile Durkheim Nhà nghiên cứu nổi tiếng này cho rằng tính cố kết cộng đồng được thể hiện qua các khái niệm “đoàn kết
xã hội” Các cá nhân tồn tại trong một cộng đồng và phải thực hiện các hành động theo khuôn khổ chuẩn mực mà cộng đồng đó đặt ra để hình thành nên ý thức tập thể Theo ông, ý thức tập thể chính là hệ thống niềm tin và giá trị chung, sinh ra và
có trước cá nhân, nó uốn nắn và kiểm soát hành vi cá nhân Và chính sự tuân theo các giá trị này mà họ cảm thấy mình có ý nghĩa và mình được xã hội chấp nhận Ý thức tập thể được hình thành trong mỗi cá nhân là yếu tố quan trọng để tạo nên đoàn kết xã hội (nói khác đi là cố kết cộng đồng)
Trong cuốn sách Émile Durkheim: cuộc đời và sự nghiệp, Steven Lukes đã
đánh giá rất cao quan điểm lý thuyết về đoàn kết xã hội và ý thức tập thể của Émile Durkheim S Lukes cho rằng, các khái niệm cơ bản mà Durkheim đã đóng góp – như đoàn kết xã hội, sự kiện xã hội, ý thức tập thể hay lương tri tập thể - “là những khái niệm chứng minh sự phân biệt của Xã hội học với những khoa học xã hội khác (mà chủ yếu là Tâm lý học) Những khái niệm này rất phù hợp với đối tượng của giải thích xã hội học – tức là hiện tượng tập thể không thể qui giản về hành động hay tâm lý cá nhân”[24]
Durkheim là người đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của cách tiếp cận chức năng luận, phân tích chức năng được xem như một yếu tố cần thiết trong