Chúng tôi lựa chọn và khẳng định ưu thế của quan điểm Mác-xit trong giải quyết các vấn đề về nhân cách - một mặt, vì nghiên cứu sinh NCS muốn làm rõ thêm và phát triển nghiên cứu theo hư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU TRANG
QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG NGHIÊN CỨU NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU TRANG
QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG NGHIÊN CỨU NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Xác nhận của chủ tịch Hội đồng TM Giáo viên hướng dẫn
GS TS Hoàng Chí Bảo GS TS Hồ Sĩ Quý
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS TS HỒ SĨ QUÝ
2 PGS.TS ĐẶNG THỊ LAN
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác
Tác giả
Phạm Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Nghiên cứu ngoài Mác-xít về nhân cách 8
1.2 Nghiên cứu Mác-xít về nhân cách 13
1.3 Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam 18
1.3.1 Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học 18
1.3.2 Nghiên cứu dưới góc độ đạo đức học 21
1.3.3 Nghiên cứu từ góc độ văn học và văn hóa học 23
1.3.4 Nghiên cứu từ góc độ liên ngành khoa học xã hội 25
1.3.5 Nghiên cứu dưới góc độ triết học 29
1.3.6 Những nghiên cứu về ý nghĩa quan điểm Mác-xit về nhân cách đối với nghiên cứu con người Việt Nam 30
1.4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 31
CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI - NỀN TẢNG LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHO NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH 34
2.1 Quan điểm Mác - Lênin về con người – nền tảng lý luận cho nghiên cứu nhân cách 34
2.1.1 Nguồn gốc, bản chất của con người theo quan điểm Mác - Lênin 35
2.1.2 Quan điểm Mác - Lênin về giải phóng con người, phát huy tính chủ động của con người, xây dựng con người phát triển hài hòa, toàn diện 43
2.2 Những định hướng phương pháp luận trong nghiên cứu nhân cách từ quan điểm Mác - Lênin về con người 48
2.2.1 Nguyên tắc hoạt động theo quan điểm Mác - Lênin - cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với nghiên cứu nhân cách 48
2.2.2 Những định hướng phương pháp luận khác trong nghiên cứu nhân cách từ quan điểm Mác - Lênin về con người 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÂN CÁCH THEO QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT 63
Trang 53.1 Khái niệm nhân cách 63
3.1.1 Phân biệt nhân cách với các khái niệm liên quan khác 63
3.1.2 Khái niệm nhân cách theo cách tiếp cận của triết học Mác-xít 67
3.2 Đặc trưng và cấu trúc của nhân cách 76
3.2.1 Đặc trưng của nhân cách 76
3.2.2 Cấu trúc của nhân cách 83
3.3 Những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách 87
3.3.1 Yếu tố sinh học - điều kiện, tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách 88
3.3.2 Tính quyết định của yếu tố xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
CHƯƠNG 4 Ý NGHĨA CỦA QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH ĐỐI
VỚI NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM 104
4.1 Những yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam hiện nay 104
4.1.1 Những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn đời sống xã hội 104
4.1.2 Những yêu cầu đặt ra từ thực tế nghiên cứu nhân cách 107
4.2 Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận Mác-xit về nhân cách trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam 110
4.2.1 Nguyên tắc hoạt động trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam 110
4.2.2 Nguyên tắc hệ thống trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam 112
4.2.3 Nguyên tắc lịch sử trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam 114
4.3 Xác định nội dung nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam theo quan điểm Mác-xit 119
4.3.1 Các nhân tố chủ yếu tác động đến nhân cách con người Việt Nam hiện nay theo quan điểm Mác-xít 119
4.3.2 Những phẩm chất xã hội chủ yếu trong nhân cách con người Việt Nam hiện nay128 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 138
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu về con người và nhân cách vốn là những đề tài tưởng chừng như
đã cũ nhưng thực tế cho thấy rằng “ngay cả khi tất cả các vấn đề khoa học đã được giải đáp thì bí ẩn con người vẫn chưa được đụng đến” (V E Davidovich) [Dẫn theo
101, tr 155], nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà xã hội xuất hiện nhiều biến đổi sâu sắc với những cái cũ và mới đan xen, với những hệ giá trị chuẩn mực và chưa chuẩn mực biến thiên phức tạp, với những trật tự xã hội diễn ra nhiều thay đổi khó lường Với tư cách là vấn đề đụng chạm đến những nền tảng sâu xa của cuộc sống con người, việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến nhân cách con người có ý nghĩa rất quan trọng
Trong nghiên cứu lý luận, nhân cách vốn là lĩnh vực nghiên cứu phức tạp, không chỉ bởi nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau mà còn bởi có quá nhiều biến số tham dự vào việc hình thành nhân cách Việc lý giải quá trình hình thành này bắt nguồn từ những yếu tố nào, từ cơ chế sinh học, tâm lý hay từ “không gian xã hội” đang biến đổi không ngừng mà ở đó cá nhân vừa là chủ thể vừa là khách thể, đã hình thành nhiều khuynh hướng lý luận khác nhau trong việc giải quyết vấn đề nhân cách
Nếu như quan điểm Mác-xít khẳng định rằng, sự hình thành nhân cách con người được quyết định bởi yếu tố xã hội dựa trên yếu tố sinh học làm tiền đề thì cách tiếp cận của các quan điểm ngoài Mác-xít lại ngược lại Tuyệt đối hóa những đặc điểm sinh học bên trong hay xem nhẹ môi trường xã hội là cách mà các nhà nghiên cứu theo quan điểm ngoài Mác-xít sử dụng để tìm hiểu bản chất cũng như sự hình thành nhân cách
Chúng tôi lựa chọn và khẳng định ưu thế của quan điểm Mác-xit trong giải quyết các vấn đề về nhân cách - một mặt, vì nghiên cứu sinh (NCS) muốn làm rõ thêm và phát triển nghiên cứu theo hướng này và cũng vì NCS cho rằng, muốn lý giải được bản chất và sự hình thành nhân cách thì phải đặt nó trong sự phát triển lịch sử của xã hội và trong hệ thống các quan hệ xã hội vốn tồn tại trên cơ sở những tiền đề sinh học sẵn có; mặt khác, NCS muốn góp phần trả lại những giá trị nhân
Trang 7văn vốn có cho chủ nghĩa Mác - Lênin, vì trên thực tế, có nhiều quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác, triết học Mác chỉ quan tâm đến những vấn đề kinh tế, xã hội, vật chất mà bỏ rơi con người cá nhân, cá tính
Đúng là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không để lại một tác phẩm riêng viết về con người và về vấn đề nhân cách cũng vậy Những tư tưởng về con người, về nhân cách của C Mác bắt đầu từ những tác phẩm như “Bản thảo kinh
tế - triết học 1844” qua “Luận cương về Phoiơbắc”, “Hệ tư tưởng Đức” đến “Tư bản” nhìn bề ngoài có vẻ rời rạc, chưa hệ thống nhưng nếu nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm túc chúng ta sẽ nhận thấy một hệ thống quan điểm thống nhất nội tại, tạo nền móng vững chắc về mặt lý luận cho nghiên cứu vấn đề con người và nhân cách Với những luận điểm sâu sắc được trình bày lần đầu tiên trong “Luận cương về Phoiơbắc” về bản chất con người, về vai trò của thực tiễn, về sự thống nhất giữa sự biến đổi của hoàn cảnh và hoạt động của con người trên cơ sở của thực tiễn cách mạng , Mác đã chỉ ra cho chúng ta thấy địa hạt cần nghiên cứu để hiểu được cơ sở hình thành con người nói chung, nhân cách con người nói riêng, từ đó hiểu được bí mật của chính bản thân mình
Tuy nhiên, trên thực tế, những đóng góp của chủ nghĩa Mác - Lênin về mặt
lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu về nhân cách hiện nay ở nước ta chưa được coi trọng đúng mức Việc các nhà nghiên cứu về nhân cách luôn lấy lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho những nghiên cứu của mình không đồng nghĩa với việc họ đã có những hiểu biết căn bản, đầy đủ và sâu sắc về hệ thống quan điểm này Vì thế, tình trạng ca ngợi một chiều, đề cao quá mức hoặc áp dụng một cách máy móc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác trong quá trình nghiên cứu nhân cách ngày càng bộc lộ những bất cập nhất định Vấn đề đặt ra là, những đóng góp thực sự của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nghiên cứu vấn đề nhân cách là gì? Những đóng góp đó còn những khía cạnh nào cần thiết phải vượt qua, cần được bổ sung và hoàn thiện hơn nữa? Giải đáp những vấn đề này là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận mà các khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay, nhất là triết học, không thể lảng tránh
Trang 8Ở nước ta, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng con người mới đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu những vấn đề liên quan đến con người và nhân cách Đặc biệt, tại Đại hội XII, Đảng ta cũng đã xác
định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục
tiêu của chiến lược phát triển Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật” [13, tr 126]
Bởi một quốc gia, một dân tộc, một đất nước sẽ không thể nào tiến lên, không thể nào phát triển nếu không xuất phát từ chính con người của quốc gia đó Trong điều kiện hiện nay của nước ta, do nhiều nguyên nhân mà hàng loạt những vấn đề bức xúc, nóng hổi, có ảnh hưởng lớn như: sự xuống cấp đạo đức, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, tham nhũng,… đang xuất hiện ngày một nhiều và gây bức xúc dư luận xã hội mạnh mẽ Những vấn đề như thế không chỉ trực tiếp đụng chạm đến con người, đến sự phát triển con người, đến nhân cách của họ mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới sự tồn vong và phát triển của đất nước ta trong hiện tại và tương lai
Trong bối cảnh đó, vấn đề nhân cách con người nổi lên như là một vấn đề
“nóng” của xã hội và được chú ý từ nhiều góc độ khác nhau, không chỉ trên bình diện nghiên cứu mà cả trên bình diện thực tiễn, không chỉ từ góc độ tâm lý mà cả từ góc
độ đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội Tuy nhiên, vấn đề này chưa được luận giải một cách thấu đáo từ góc nhìn triết học Do vậy, khi phải đối mặt với sự biến động lớn về hệ giá trị, về lối sống, về quan niệm sống… chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm những giải pháp khoa học, hợp lý, bài bản để giải quyết các vấn đề liên quan đến sự suy thoái nhân cách Chính vì lẽ đó, việc tìm kiếm và xác lập nền tảng lý luận và định hướng phương pháp luận cho nghiên cứu nhân cách qua những công trình nghiên cứu triết học chuyên sâu càng trở nên cấp thiết hơn
Trang 9Nhiều vấn đề bức xúc của xã hội đang đặt ra liên quan đến nhân cách con người Việt Nam, đến nền tảng đạo đức xã hội có lẽ vẫn rất cần đến tiếng nói của riêng triết học, như: phải chăng hệ giá trị của con người Việt Nam hiện nay đã đảo lộn hết? Những giá trị nào được coi là chuẩn mực, là căn bản, là gốc rễ trong nhân cách con người Việt Nam hiện nay? Sự thay đổi trong nhân cách con người Việt Nam như vậy là tất yếu hay ngẫu nhiên? Sự biến đổi đó do những nguyên nhân nào? Làm thế nào để khắc phục những tác động, ảnh hưởng tiêu cực, duy trì và phát huy tác động, ảnh hưởng tích cực đến nhân cách con người Việt Nam hiện nay?
Những vấn đề đặt ra về mặt lý luận và thực tiễn trên đây là những lý do
chính khiến NCS chọn Quan điểm Mác-xít về nhân cách và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam làm đề tài nghiên cứu trong luận án
tiến sĩ triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Luận án nghiên cứu và hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về nhân cách, luận giải những nội dung lý luận và phương pháp luận
cơ bản về nhân cách theo lập trường Mác-xít, trên cơ sở đó vận dụng và phân tích ý nghĩa của quan điểm đó trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích những nội dung cơ bản của quan điểm Mác-Lênin với tư cách là nền tảng lý luận và định hướng phương pháp luận cho nghiên cứu về nhân cách
- Phân tích một số nội dung chủ yếu trên phương diện lý luận về nhân cách theo lập trường Mác-xit: Khái niệm, đặc trưng, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển của nhân cách
- Vận dụng và phân tích ý nghĩa của quan điểm Mác-xít về nhân cách đối với việc nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nhân cách theo quan điểm Mác-xít và ý nghĩa của nó
trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10- Quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về nhân cách
- Một số quan điểm theo lập trường Mác-xít về nhân cách của một số tác giả trong và ngoài nước như: A.N Leonchiep, L Sevơ, L.X Vugotxki, Rubinstein, Phạm Minh Hạc,…
- Mặc dù nói tới nhân cách trước hết là nói về nhân cách cá nhân, song trong luận án này, chúng tôi luận giải một số nội dung lý luận cơ bản về nhân cách từ đó vận dụng vào nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam nói chung (theo nghĩa là nhân cách của cộng đồng (dân tộc Việt Nam)), chứ không phải nhân cách cá nhân hay nhân cách cụ thể của một tầng lớp/giới tính/lứa tuổi nào ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án được thực hiện dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử về con người, xã hội và sự phát triển con người
- Phương pháp chủ yếu được sử dụng là: Thống nhất lịch sử - lôgic, phân tích
- tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, hệ thống hóa, so sánh…
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và làm rõ thêm quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về con người và về nhân cách; đã chỉ ra những đóng góp cơ bản của triết học Mác - Lênin trong lý luận về nhân cách
- Luận án đã đưa ra cách hiểu chung trên lập trường Mác-xít về khái niệm nhân cách, chỉ rõ đặc trưng và cấu trúc của nhân cách, luận giải quá trình hình thành
và phát triển nhân cách
- Luận án đã chỉ ra và phân tích được những yêu cầu từ thực tiễn đối với nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận Mác-xít trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam và xác định được những nội dung cơ bản của nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án lựa chọn, sắp xếp, khái quát thành hệ thống những vấn đề, những quan niệm, khái niệm liên hệ lẫn nhau về nhân cách, làm cơ sở cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn hoặc chuyên ngành về con người và nhân cách
Trang 11- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu các vấn đề con người và nhân cách, đặc biệt là cho những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa, tư tưởng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
Với tư cách là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, nhân cách từ lâu đã là đề tài được các nhà tư tưởng cả ở phương Đông và phương Tây khảo sát ở nhiều bình diện khác nhau Đề tài về nhân cách, do vậy, không thể gọi là đề tài mới Tuy nhiên, do sự biến động của đời sống xã hội nên trong đề tài không mới này, hầu như lúc nào cũng xuất hiện những khía cạnh nội dung mới, những vấn đề mới, hoặc những cách kiến giải mới
Nghiên cứu về nhân cách đã được phân tích với các mức độ, phạm vi, mục đích khác nhau và từ nhiều góc độ như: tâm lý học, xã hội học, đạo đức học, luật học, v.v Trên thế giới vào những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, nhiều trào lưu nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học đã được hình thành và phát triển mạnh
mẽ ở nhiều quốc gia Việc nghiên cứu về nhân cách theo xu hướng nào, thực nghiệm hay lý luận, nếu là xu hướng lý luận thì lựa chọn lý luận Mác-xít hay ngoài Mác-xít để làm nền tảng lý thuyết cơ bản…, đã được các nhà nghiên cứu thảo luận rất sôi nổi trên các diễn đàn học thuật
Các quan điểm Mác-xít (chủ yếu ở Liên Xô cũ) nhìn chung đều cho rằng yếu
tố hình thành và quyết định nhân cách xuất phát từ văn hóa, lịch sử, môi trường xã hội trên cơ sở tiền đề, điều kiện của yếu tố sinh học Trong khi đó, các quan điểm ngoài Mác-xít (như phân tâm học, phân tâm học mới, chủ nghĩa hành vi, lý thuyết phân tích yếu tố, ) (chủ yếu ở châu Âu và Mỹ) lại tuyệt đối hóa một trong số các yếu tố đó, chỉ có yếu tố sinh học hoặc yếu tố xã hội có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Ở Việt Nam, vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân cách” chưa được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày nhưng nghiên cứu về nhân cách đã được các tác giả như Phạm Hoàng Gia, Hoàng Xuân Hinh, Đỗ Long đưa ra trao đổi, luận bàn trực tiếp, chuyên sâu trên tạp chí triết học thời kỳ những năm 1970 của thế kỷ XX Các tác giả đã tập trung bàn thảo, tranh luận về những nội dung căn bản của vấn đề nhân cách như: bản chất của nhân cách là gì, nhân cách hình thành từ đâu và quá trình đó diễn ra như thế nào, cấu trúc nhân cách gồm những bộ phận nào Dù còn
Trang 13những ý kiến chưa đồng thuận nhưng các tác giả đều thống nhất ở việc lựa chọn triết học Mác làm cơ sở lý luận cho việc luận giải các vấn đề về nhân cách
Sau đó, để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước đòi hỏi phải tìm hiểu rộng hơn những vấn đề xây dựng con người mới nói chung, vấn đề nhân cách ít xuất hiện hơn trên các diễn đàn triết học, từ đó trở đi vấn đề nhân cách chủ yếu được xem xét trong các nghiên cứu tâm lý học, đạo đức học, xã hội học Khoảng hơn mười năm trở lại đây, nghiên cứu về nhân cách đã được chú ý nhiều hơn từ các góc độ mới khác hơn, nhiều đề tài cấp Nhà nước về nhân cách đã được thực hiện, các đề tài đó đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, những vấn đề thực sự của bản thân nhân cách cũng như khoa học nghiên cứu về nó vẫn đặt ra nhiều vướng mắc chưa lý giải được đòi hỏi phải tiếp tục được nghiên cứu, xem xét
Để đánh giá tình hình nghiên cứu vấn đề nhân cách một cách cụ thể hơn, chúng tôi lựa chọn và sắp xếp các công trình nghiên cứu về nhân cách theo các nhóm sau:
Thứ nhất, nghiên cứu ngoài Mác-xít về nhân cách
Thứ hai, nghiên cứu Mác-xít về nhân cách
Thứ ba, nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
Thứ tư, những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong Luận án
1.1 Nghiên cứu ngoài Mác-xít về nhân cách
Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu tâm lý học về nhân cách, các nhà tâm lý học ở phương Tây thường tập trung hệ thống hóa, phân tích và làm rõ các quan điểm ngoài Mác-xít Các quan điểm này thường được khái quát thành các lý thuyết về nhân cách Nhiều công trình về các lý thuyết nhân cách với các kiểu phân loại nó rất đa dạng cũng đã xuất hiện
Richard A Kasschau trong tác phẩm Psychology: Exploring Behavior (năm
1985) đã khái quát các quan điểm với các đại diện tiêu biểu về nhân cách thành các
lý thuyết sau: lý thuyết về các nét nhân cách (W Sheldon, G Allport, R.B Cattell),
lý thuyết phân tâm học về nhân cách (S Freud, A Adler, E Erickson, C.G Jung),
lý thuyết học tập xã hội (J Dollard & N.E Miller, A Bandura, B.F Skinner), lý thuyết nhân văn (C.R Rogers, A Maslow) và thuyết Big Five - một lý thuyết hiện
Trang 14đại về nhân cách Theo tác giả, mỗi loại lý thuyết lại nhấn mạnh những biến số độc lập và phụ thuộc khác nhau như những yếu tố quyết định chủ yếu đến quá trình hoạt động của nhân cách Tác giả cho rằng, những mô tả lý luận về nhân cách đã tiến triển từ những lý thuyết ban đầu về nét nhân cách cho đến phân tâm học và thuyết hành vi rồi đến những lý thuyết “tự phát triển” về nhân cách Sự phát triển này của các lý thuyết thể hiện sự biến đổi từ việc quan tâm đến yếu tố di truyền (thể hiện ở
lý thuyết phân tâm học và lý thuyết về nét nhân cách) như là yếu tố tác động vào nhân cách, đến việc nhấn mạnh những ảnh hưởng của môi trường và sự nuôi dưỡng nhân cách (thể hiện ở lý thuyết học tập xã hội, lý thuyết hành vi, lý thuyết nhân
Còn theo George Boeree, Tiến sĩ, Khoa tâm lý học trường Đại học tổng hợp Shippensburg, các quan điểm về nhân cách được khái quát trong các học thuyết gắn liền với các tác giả có tên tuổi trong tâm lý học Ông đã giới thiệu trong cuốn sách
Personality Theory (năm 2006) của mình các quan điểm của các tác giả sau: S
Freud, Anna Freud, Erik Erickson, C Jung, Otto Rank, Alfred Adler, Karen Horney, Albert Ellis, Erick Fromm, B.F Skinner, Hans Eysenck, Albert Bandura, Gordon Allport, George Kelly; Snygg và Combs; Abram Maslow; Carl Rogers; Ludwig Binswager; Viktor Frankl, Rollo May, Jean Piaget Các tác giả này được
phân nhóm thành ba xu hướng trong tâm lý học: thứ nhất - tâm lý học phân tích (gồm S Freud, A Freud, Erickson, C Jung, Adler, Horney, Fromm); thứ hai - tâm
lý học hành vi (gồm Eysenck, Skinner, Bandura); thứ ba - tâm lý học nhân văn, bao
gồm cả tâm lý học hiện sinh: Maslow, Rogers, Kelly, Frankl [Xem 133]
Trong khi đó Barry D Smith và Harold J Vetter (năm 2005) giới thiệu các quan điểm về nhân cách có ảnh hưởng đáng kể và quan trọng nhất hiện nay gồm có:
Thuyết phân tâm học (S Freud), Tâm lý học bản ngã (Erick H Erkson và Heinz Hartmann), Tâm lý học phân tích (C Jung), Học thuyết phân tích xã hội (Alfred Adler, Karen Horney, Erich Fromm và Harry Stack Sullivan), Học thuyết hiện
khảo, giữa các tài liệu khác nhau được liệt kê ngăn cách bằng dấu phẩy (,) Ở các chương sau, chúng tôi trích dẫn theo quy định trong ngoặc vuông [số thứ nhất chỉ tên tài liệu trong tài liệu tham khảo, số thứ hai là số
Trang 15tượng học - chủ nghĩa nhân văn (Carl Rogers và Abraham Maslow), Học thuyết học hỏi phản ứng - kích thích, Phương thức nghiên cứu hành vi (B.F Skinner), Nhận thức, nhân cách và hành vi (George Kelly), Học tập và nhận thức xã hội: Học thuyết xử lý thông tin (Albert Bandura, Walter Mischel, Julian Rotter), Học thuyết
hệ thống dựa trên cấu trúc (Raymond Cattell), Học thuyết hoạt trường (Hans
Jurgen Eysenck, Kurt Lewin) [xem 107] Theo các tác giả, bất cứ học thuyết nào cũng phải trả lời hai câu hỏi chính là: nhân cách đến từ đâu, và cơ chế hoặc quá trình nào giúp nó tồn tại và phát triển Họ cho rằng, các học thuyết đều mặc nhiên
công nhận nhân cách có tính kế thừa và học hỏi tương đối, cả hai yếu tố đều có liên
quan nhưng có sự khác nhau khi nhấn mạnh một trong hai yếu tố này Theo họ, trong suốt chiều dài lịch sử, người ta luôn xem nhân cách như một cấu trúc nội tại
và như là một ý niệm hoặc hệ thống ý niệm Nhân cách cũng có thể được xem như lĩnh vực tìm hiểu, trong đó có hai dạng tìm hiểu có thể đồng nhất hóa: 1, nghiên cứu dựa trên học thuyết, dạng này tìm kiếm để kiểm tra những giả thuyết được tạo ra bởi một học thuyết hình thức, và 2, những cuộc tìm kiếm dựa trên kinh nghiệm, có khuynh hướng làm những cuộc thăm dò trong thiên nhiên [107, tr 44]
Có thể nhận thấy đặc điểm chung của các công trình trên đây là khi hệ thống hoá các quan điểm về nhân cách thì chúng đều xác định Freud là người đầu tiên đặt nền móng cho lý luận về nhân cách, các tác giả Calvin S Hall, Gardner Lindzey trong lần
xuất bản thứ ba cuốn sách Theories of personality (Các học thuyết về nhân cách (năm
1978), cũng theo đường hướng đó, đã giới thiệu các quan điểm về nhân cách trong tâm
lý học cổ điển của Freud, trong tâm lý học đương đại, trong thuyết phân tích của Jung, trong tâm lý học xã hội của Adler, Fromm, Horney, Sullivan, học thuyết của Murray, học thuyết con người là trung tâm của Roger, các học thuyết tâm lý học hiện sinh, tâm
lý học cá nhân của Allport, học thuyết yếu tố của Cattell, v.v [xem 141]
Jefferey Magnavita, một trong những học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên
cứu nhân cách, với tác phẩm Theories of personality, contemporary approaches to the Science of Personality (Học thuyết về nhân cách, các cách tiếp cận đương đại
đối với khoa học về nhân cách (năm 2002)), đã mang đến một cái nhìn toàn diện về lịch sử phát triển các quan điểm về nhân cách, bắt đầu từ nền móng lịch sử với các
Trang 16mô hình học thuyết Hy Lạp cổ đại, sau đó đến những nỗ lực xây dựng khoa học tâm
lý nửa sau thế kỷ 19 Magnavita cho rằng, sự hình thành các quan điểm khoa học nhân cách hiện đại bắt đầu từ Freud, sau đó là qua các công trình của học trò Freud
và các cuộc tranh luận mà họ khơi ra Ông đã phân tích 7 mô thức (model) nhân cách đương đại chủ yếu sau [xem 145]:
- Mô thức sinh tâm thần học về nhân cách;
- Mô thức phân tâm học đương đại về nhân cách;
- Mô thức hành vi về nhân cách;
- Mô thức nhận thức và nhận thức - hành vi về nhân cách;
- Mô thức liên nhân cách và nhân tố về nhân cách;
- Mô thức quan hệ về nhân cách;
Trong tác phẩm Nhân cách: các lý thuyết và nghiên cứu đương đại
(Personality: Contemporary Theory and Research (năm 2005)), nhưng không giống với cách triển khai vấn đề mà các nhà khoa học nghiên cứu về nhân cách trên đây
đã trình bày, các tác giả Valerian J Derlega, Barbara A Winstead, Warren H Jone lại tiếp cận, phân tích vấn đề nhân cách từ phương diện các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách như: văn hóa, cảm xúc, động lực, cấu trúc, gen, môi trường, stress, các mối quan hệ [138] Cùng cách xem xét như vậy, Lazarus Richard S trong tác
phẩm Nhân cách (Personalitty (năm 1967)) [143], Allport Gordon trong tác phẩm Các thành tố và sự phát triển trong nhân cách (Pattern and growth in personality (1961)) [132], cũng đã mô tả nhân cách, chỉ ra một cách tiếp cận đối với nhân cách,
nêu lên sự phát triển, cấu trúc, những hiểu biết về nhân cách cùng với việc tìm ra
Trang 17các động lực của nhân cách cũng như các yếu tố văn hóa và xã hội có ảnh hưởng quyết định đến nhân cách
Ở nước ta, Nguyễn Thơ Sinh trong khi đề cập đến Các học thuyết tâm lý nhân cách (năm 2008) cũng tập trung làm rõ các quan điểm về nhân cách theo xu hướng
ngoài Mác-xít gắn liền với các tên tuổi như S Freud - thuyết phân tích tâm lý, Anna Freud - tâm lý nhân cách cái tôi, E Erikson và thuyết nhân cách phát triển tư duy, C Jung với thuyết nhân cách biểu tượng, Otto Rank với thuyết nhân cách truyền thuyết,
A Adler thuyết nhân cách cá nhân, K Horney thuyết nhân cách tâm thần [106]
Trong Khái quát về lịch sử nghiên cứu nhân cách, (năm 2004) tác giả Lê Đức Phúc đã hệ thống hóa thành một bức tranh khá đầy đủ và chi tiết lịch sử phát triển của các xu hướng nghiên cứu nhân cách trong tâm lý học [22, tr.38-74] Theo
tác giả, tâm lý học tư biện và tâm lý học sai biệt vốn nghiên cứu nhân cách theo
cách thức của thực nghiệm khoa học tự nhiên, đã gặp phải nhiều hạn chế Tác giả
cũng điểm lại xu hướng sinh vật hóa trong nghiên cứu nhân cách với các đại diện
tiêu biểu như Ernst Kretschmer, W.H Scheldon, C Lombroo Bên cạnh đó, tác giả
cũng phân tích về chủ nghĩa hành vi theo xu hướng này và chịu ảnh hưởng của
thuyết phản xạ có điều kiện, chủ nghĩa này nổi lên như một trường phái tâm lý có ảnh hưởng nhất vào đầu thế kỷ XX với Watson, người sáng lập và các đại diện như G.M Mead, E.L Thorndiker, E.C Tolman, C L Hull, K.S Lashley, E.R Guthrie
Tác giả cũng nhắc tới Chủ nghĩa nhân cách (Personalism) và Nhân học văn hóa
như là những lý luận nhân cách chủ yếu Theo tác giả, căn cứ vào những cuộc thảo
luận và một số công trình xuất bản trong những năm 1960 và 1970, ở đây có hai xu hướng đối lập cơ bản là xu hướng mô tả cái riêng biệt, độc đáo, độc nhất vô nhị
trong nhân cách và xu hướng đi tìm cái quy luật Tác giả đã phân tích các đại diện tiêu biểu cho từng xu hướng và đã đưa ra kết luận rằng: “mặc dù còn những hạn chế trong quan niệm về nhân cách trong những mối quan hệ với xã hội, với ý thức hệ, niềm tin người ta đã chú ý nhiều hơn tới khía cạnh nhân văn, tới việc phải xem xét lại bản chất của nhiều khái niệm có liên quan đến nhân cách, đi sâu nghiên cứu nhân cách ở cấp độ hành động thường ngày” [22, tr 68]
Trang 18Nhìn chung, những học giả trên đây tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của mình, đã giới thiệu khá đầy đủ những học thuyết chủ yếu ngoài Mác-xít, các quan điểm tiêu biểu khác nhau về nhân cách, đại diện tiêu biểu cho từng khuynh hướng Đặc điểm chung của họ là đều tập trung phân tích các quan điểm về nhân cách điển hình, xứng đáng là đại diện cho các xu hướng nghiên cứu nhân cách ngoài Mác-xít hiện nay Qua các công trình có thể nhận thấy hiện có 3 loại quan điểm ngoài Mác-xít trong nghiên cứu về nhân cách [Xem thêm 22, tr.129-142]:
Quan điểm sinh vật hóa nhân cách nhấn mạnh khía cạnh sinh học trong
nguồn gốc và biểu hiện của nhân cách con người Các tác giả theo xu hướng này thường nhìn nhận nhân cách con người qua các đặc điểm hình thể, qua thể tạng, góc mặt hay ở bản năng vô thức
Đối lập với quan điểm trên, Quan điểm xã hội hóa nhân cách lại hạ thấp và
trên thực tế gần như phủ nhận vai trò của các yếu tố sinh học trong nhân cách, coi nhân cách thuần túy là sản phẩm của các yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế
Quan điểm tâm lý hóa nhân cách chỉ nhấn mạnh tính chất đơn giản nhất, có
một không hai bản chất tâm lý của nhân cách
Sự khảo sát cũng cho thấy, đa số các công trình trên đều không đề cập đến các học giả tên tuổi theo xu hướng nghiên cứu Mác-xít Luận án của chúng tôi với nội dung chính là lựa chọn quan điểm Mác-xit về nhân cách làm đối tượng nghiên cứu thì các quan điểm theo các khuynh hướng trên đây chỉ giữ vai trò là những mẫu hình tham khảo cho cách triển khai nội dung cũng như cách đặt vấn đề
1.2 Nghiên cứu Mác-xít về nhân cách
Khi đề cập đến các nghiên cứu Mác-xít về nhân cách thì không thể không nhắc tới các công trình nghiên cứu ở Liên Xô trước đây, trong đó nhân cách chủ yếu được xem xét từ góc độ tâm lý học và từ cách tiếp cận hoạt động (ngày nay, còn gọi là cách tiếp cận hành vi - the action approach) Có thể kể đến tên tuổi của một số nhà khoa học tiêu biểu như: A.R Luria, A.N Leonchiep, X.L Rubinstein, L.X Vugotxki
Trong số ít tài liệu đã được dịch ra tiếng Việt, cuốn Hoạt động, ý thức, nhân cách (bản gốc xuất bản năm 1978, bản dịch xuất bản năm 1989) của Leonchieplà tài liệu tham khảo có nhiều giá trị đối với nghiên cứu lý luận về nhân cách Đáng
Trang 19chú ý là trong tác phẩm này tác giả đã xây dựng khá hệ thống bộ máy khái niệm của tâm lý học Mác-xít Trong chương 5 “hoạt động và nhân cách”, tác giả đã xem xét, phân tích nhân cách như là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, phân biệt 2 khái
niệm cá nhân và nhân cách Từ đó, tác giả cũng chỉ ra hoạt động là cơ sở cho sự
hình thành và phát triển của nhân cách, phân tích các yếu tố và xác lập mối quan hệ giữa động cơ, cảm xúc và nhân cách, phần cuối cùng nêu lên quá trình hình thành nhân cách [58]
trình chuyên khảo về đề tài nhân cách đã được xuất bản bằng tiếng Việt Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học khối xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ chủ trương đề cao và bảo vệ học thuyết Mác-xít về nhân cách, các tác giả đã cố giải đáp những vấn đề liên quan tới sự phát triển nhân cách trong xã hội xã hội chủ nghĩa và
đó cũng là nội dung cơ bản được nghiên cứu và trình bày trong tác phẩm này Cuốn sách không chỉ nhấn mạnh đến mối liên hệ lẫn nhau giữa các quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật, tinh thần, kể cả đạo đức, mỹ học như là cơ sở xã hội của sự phát triển những đặc trưng của con người mới, tạo thành một tổng hòa các mặt phát triển toàn diện của nhân cách, mà còn là cơ sở của sự tác động lẫn nhau giữa nhân cách với các nhân tố quyết định bộ mặt hiện tại của xã hội xã hội chủ nghĩa, như cách mạng khoa học - kỹ thuật, nền văn hóa tinh thần, chủ nghĩa tập thể xã hội chủ nghĩa, thời gian nhàn rỗi Mặt khác, cuốn sách đã tập trung chú ý đến những vấn đề có tính chất xuất phát điểm của học thuyết Mác-xít về nhân cách như: bản chất của nhân cách, cơ chế quyết định thế giới tinh thần và hoạt động của nhân cách [103, 116]
Trong số các học giả phương Tây nghiên cứu triết học và tâm lý học khá công phu theo khuynh hướng Mác-xít, không thể không nhắc tới học giả người
Pháp Luyxiêng Sevơ (Lucien Seve) với tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa Mác và lý luận về nhân cách (năm 1989) Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu chủ nghĩa Mác, đặc biệt là bộ Tư bản, từ đó rút ra những khái niệm cơ bản làm phương pháp
luận cho nghiên cứu tâm lý học Cuốn sách có tên nêu trên ra đời là kết quả nhiều năm dày công nghiên cứu của ông Nó đã thu hút được sự chú ý lớn trong giới triết
Trang 20học Mác-xít thời bấy giờ Với 4 chương, “lý luận về nhân cách” đã được hình thành
và triển khai khá chi tiết, cụ thể trong tác phẩm này trên tinh thần Mác-xit [105]
Trong khi đề cập đến các vấn đề nghiên cứu mới về con người, cuốn sách Con người - Những ý kiến mới về một đề tài cũ (năm 1986) cũng đã khẳng định và đề cao
khuynh hướng tiếp cận duy vật lịch sử trong lý giải vấn đề lý luận về nhân cách mà L Sevơ là một đại biểu theo khuynh hướng này [123] Công trình khoa học này đã luận giải rất nhiều vấn đề cơ bản, nền tảng về con người, phê phán những quan điểm sai lệch và trực tiếp đấu tranh bảo vệ quan điểm Mác - Lênin về con người Theo các tác giả, vấn đề lý luận về nhân cách được lý giải theo quan điểm duy vật lịch sử là vấn đề quan trọng trở thành trọng điểm trong các cuộc tranh luận [123, tr 32]
Ở Việt Nam, nghiên cứu các quan điểm Mác-xít về nhân cách cũng đã được các nhà khoa học đề cập đến như là cơ sở lý luận và phương pháp luận của mình Việc hệ thống hóa các quan điểm Mác-xít về nhân cách đã được tác giả Nguyễn
Ngọc Bích trong công trình Tâm lý học nhân cách: một số vấn đề lý luận (năm
1998) đề cập đến Cùng với việc khái quát các tư tưởng trong lịch sử phương Đông
và tâm lý học phương Tây về nhân cách, cuốn sách mang tính giáo trình này cũng
đã đề cập đến xu hướng nghiên cứu nhân cách ở Liên Xô (cũ), trong đó tác giả trình bày các nguyên tắc nghiên cứu, các trường phái lớn, các trung tâm nghiên cứu nhân cách ở Liên Xô Bên cạnh đó, tác giả đã khái quát chín xu hướng nghiên cứu nhân cách ở Liên Xô với từng đại diện tiêu biểu cho từng xu hướng Đặc biệt tác giả đã dành một chương riêng để phân tích những tư tưởng của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh
về vấn đề nhân cách như là cơ sở phương pháp luận xây dựng tâm lý học nhân cách [4] Theo tác giả, “Mác đã đặt cơ sở triết học cho việc giải quyết vấn đề nhân cách
Đó cũng chính là mặt phương pháp luận của nhân cách Muốn nghiên cứu nhân cách phải đặt nó trong mối quan hệ xã hội, sự hoạt động của con người trong xã hội đó” [4, tr.189] Tác giả cũng đã phân tích khá chi tiết những tư tưởng của Mác về con người và nhân cách gồm có: tư tưởng của Mác về con người với tư cách một nhân cách là con người có ý thức, là một chỉnh thể, nhân cách được hình thành qua mối quan hệ giữa người này với người khác trong xã hội, nhân cách phát triển hài hòa, toàn diện, điều kiện để nhân cách phát triển hài hòa toàn diện, nghiên cứu nhân
Trang 21cách phải nghiên cứu phạm trù hoạt động của nhân cách Những phân tích này là những gợi ý rất quan trọng cho người thực hiện Luận án Tuy nhiên, việc hệ thống hóa và phân tích tư tưởng của Mác về nhân cách của tác giả còn những điểm chưa nhất quán, dàn trải và trùng lặp Kế thừa những tri thức gợi mở của tác giả, trong Luận án chúng tôi sẽ khắc phục những hạn chế mà cuốn sách này mang đến để phân tích cụ thể, chi tiết, cô đọng những giá trị tư tưởng trong quan niệm của Mác và các tác giả Mác-xít khác về con người và nhân cách
Trong cuốn sách Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay (Đào Thị
Oanh chủ biên, 2007), các tác giả đã tổng hợp khá cơ bản và đầy đủ những vấn đề
lý luận nhân cách, trong đó có phân tích lý luận về nhân cách trong tâm lý học Xô Viết với một số quan điểm và khuynh hướng chủ yếu như: khuynh hướng sinh - tâm
lý, khuynh hướng tiếp cận triết học từ cái chung đến cái riêng, khuynh hướng nghiên cứu nhân cách định hướng giáo dục con người mới Các tác giả cũng đã hệ thống hóa cách hiểu về nhân cách, quan niệm về cấu trúc nhân cách cũng như phân tích những tư tưởng chủ yếu trong Tâm lý học Xô Viết với các đại diện tiêu biểu như Vugotxki, V.X Merlin, B.G Ananhiep, A N Leonchiep Tuy nhiên, cũng giống như một số giáo trình khác về tâm lý học nhân cách, việc xác định rõ tiêu chí
để hệ thống hóa các học thuyết và các cách tiếp cận ở cuốn sách này còn chưa thật
rõ nét, cách sắp xếp vấn đề trong công trình này chưa thật logic và thiếu tính chặt chẽ [91]
Khẳng định trong lịch sử tâm lý học nhân cách, tâm lý học Mác-xít và tâm lý học Xô Viết trước đây luôn giữ một vị trí quan trọng, tác giả Lê Đức Phúc, trong
bài viết Về nhân cách và nghiên cứu nhân cách [Xem 22, tr 36-80], bên cạnh việc
khái quát lịch sử nghiên cứu nhân cách với các xu hướng tiêu biểu ngoài Mác-xít cũng đã có nhận định về quan điểm Mác-xít là “những quan điểm cơ bản có ý nghĩa
lý luận và phương pháp luận chỉ đạo chung cho hoạt động nghiên cứu con người và nhân cách” [22, tr 68] Tác giả cũng đã phân tích những nội dung cơ bản của quan điểm Mác-xít về nhân cách của các đại biểu tiêu biểu như Leonchiep, Rubinstein, Những nội dung tóm lược này là một trong những gợi ý của tác giả đối với người viết Luận án
Trang 22Trực tiếp bàn về “Chủ nghĩa Mác và vấn đề nhân cách”, (năm 1983) tác giả
Phạm Văn Sỹ đã làm rõ quan điểm duy vật lịch sử về nhân cách Theo tác giả, lý luận Mác-xít về nhân cách đã có những yếu tố cơ bản trong tác phẩm của Mác và được những người Mác-xit vận dụng triển khai theo yêu cầu phát triển của chủ nghĩa xã hội
và yêu cầu đấu tranh tư tưởng Tác giả đã phân tích những luận điểm cơ bản trong các tác phẩm của Mác về con người và nhân cách, từ đó có sự so sánh đối chiếu với những quan điểm khác nhau và đối lập nhau giữa người Mác-xít và học giả tư sản về nhân cách Tác giả đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác đã có một lý luận về nhân cách, lý luận này tìm thấy những yếu tố cơ bản trong nhiều tác phẩm của Mác và Ph Ăngghen Vấn đề là chúng ta phải khéo léo kết hợp ba cuộc cách mạng: cách mạng tư tưởng và văn hóa với cách mang quan hệ sản xuất, cách mạng học - kỹ thuật nhằm làm cho trình
độ đạo đức, thẩm mỹ của cá nhân, nhân cách cá nhân được gìn giữ và phát huy phù hợp với tình hình phát triển thực tế xã hội ” [109, tr 18]
Như vậy, sự đa dạng của các quan điểm, học thuyết, các cách tiếp cận trên đây đối với vấn đề nhân cách đã phần nào nói lên tính chất phức tạp, khó khăn của vấn đề nghiên cứu Như đã xác định ngay từ ban đầu, trong luận án của mình, NCS
lựa chọn quan điểm Mác-xít để triển khai vấn đề nghiên cứu, theo đó, chúng tôi sẽ
hệ thống hóa và phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là nền tảng lý luận và phương pháp luận cho nghiên cứu nhân cách Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, dựa trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhân cách, dẫn chứng thêm quan điểm về nhân cách của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu theo khuynh hướng Mác-xít như A.N Leonchiep, X.L Rubinstein, L.X Vugotxki, L.Sevo, chúng tôi sẽ luận giải và làm rõ những nội dung lý luận cơ bản về nhân cách như khái niệm, đặc trưng cấu trúc, các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của nhân cách theo lập trường của quan điểm Mác-xit Không những thế, Luận án cũng đã vận dụng và liên
hệ các vấn đề lý luận về nhân cách với nghiên cứu nhân cách ở Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầu đang đặt ra cả về thực tiễn đời sống xã hội và thực tế nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam hiện nay
Trang 231.3 Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam hiện nay ở nước ta đã có rất nhiều bài viết, công trình, đề tài các cấp Để dễ dàng hơn trong việc theo dõi và nắm bắt về mảng nghiên cứu này, chúng tôi đã tổng hợp và hệ thống hóa về tình hình nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam theo các góc độ nghiên cứu sau đây, dù rằng sự phân chia như vậy mang tính chất rất tương đối:
1.3.1 Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học
Hiện nay, trong nghiên cứu, nhân cách trước hết và chủ yếu vẫn là đối tượng của tâm lý học Trong tâm lý học có riêng một phân ngành là tâm lý học nhân cách
đi sâu nghiên cứu hiện tượng này Theo đó, các quan điểm, lý thuyết về nhân cách cùng với những vấn đề của nó như khái niệm, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển cũng chủ yếu được xem xét từ góc độ của các nghiên cứu tâm lý học Nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam do vậy cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ sự phát triển lịch sử xã hội và sự hình thành, phát triển khoa học tâm lý ở nước ta Tuy nhiên, trên thực tế, nghiên cứu về nhân cách người Việt Nam thời kỳ đầu chủ yếu được thực hiện trong những khảo cứu về con người Việt Nam nói chung qua các công trình văn hóa học của Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng một số nhà khoa học khác; về sau, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam đã được giới tâm lý học Việt Nam chú ý nhiều hơn, trong đó phải kể đến tên tuổi các tác giả gắn liền với sự phát triển của nghiên cứu tâm lý học nhân cách như Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Đỗ Long Nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn những vấn đề để ngỏ Hiện nay, về cơ bản có thể khái quát các nghiên cứu về nhân
cách con người Việt Nam dưới góc độ của tâm lý học, thành các hướng chính sau:
Thứ nhất, có khá nhiều công trình, bao gồm cả sách và bài tạp chí, tập trung
vào đối tượng là những nhân cách con người cụ thể như: nhân cách người Hà Nội, nhân cách nhà kinh doanh giỏi, nhân cách người cán bộ, sĩ quan, nhân cách Hồ Chí Minh, nhân cách của hội thẩm nhân dân, nhân cách người cán bộ quân đội, nhân cách người lãnh đạo, quản lý, nhân cách người cán bộ khoa học, nhân cách kiểm toán viên nhà nước, nhân cách người nông dân Các nghiên cứu thuộc loại này về
Trang 24cơ bản đã làm rõ các đặc điểm, phẩm chất quan trọng, chủ yếu thuộc về nhân cách của các đối tượng được đề cập đến như: bản lĩnh là phẩm chất cốt lõi của người cán
bộ quân đội, nhân tố đức và tài của người lãnh đạo quản lý, các chỉ số (hay các mặt) cần thiết về trình độ trí tuệ, về kiến thức, kỹ năng, vế sức khỏe thể chất, về động cơ, thái độ của một nhà kinh doanh giỏi, [Xem 7, 9, 66, 68, 83, 84, 87, 92, 121 ]
Thứ hai, cũng đề cập đến đối tượng nhân cách cụ thể, nhưng là những đối
tượng khá đặc thù nên có không ít nghiên cứu đề cập đến nhân cách của học sinh, sinh viên Việt Nam với những phân tích về thực trạng, nguyên nhân của sự phát triển nhân cách đối tượng này, trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, biện pháp giáo dục nhằm hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh, sinh viên Việt Nam Theo hướng nghiên cứu này, chủ yếu có các bài tạp chí quan tâm đến các vấn đề như sự hình thành và phát triển của hệ thống động cơ (học tập, lao động, chọn nghề, giao tiếp, động cơ thành đạt…); khả năng tự đánh giá; sự định hướng giá trị chung
và định hướng giá trị trong các hoạt động khác nhau; thái độ trước những vấn đề xã hội khác nhau cũng như đối với những hoạt động khác nhau; tinh thần trách nhiệm; hứng thú; khả năng thích ứng xã hội [Xem 55, 56, 85 ]
Thứ ba, có nhiều nghiên cứu về những yếu tố, những phẩm chất tâm lý quan
trọng, tích cực thuộc về nhân cách thông qua các biện pháp tác động tâm lý - giáo dục Các bài viết, các công trình nghiên cứu theo hướng này tập trung vào các vấn
đề như: hình thành động cơ nhân cách của hoạt động học tập; hình thành thái độ tích cực trong học tập và đối với các vấn đề xã hội hiện nay; hình thành khả năng tự đánh giá và đánh giá khách quan, phù hợp; giáo dục tinh thần trách nhiệm, giáo dục hình thành kĩ năng sống; giáo dục hình thành khả năng sáng tạo, giáo dục tài năng, nhân tài [42]
Thứ tư, là các nghiên cứu về những nhân cách bệnh lí, nhân cách phát triển
lệch lạc, nhân cách đang trong quá trình suy thoái, phát hiện những nguyên nhân sâu xa của sự lệch lạc để trên cơ sở đó có những biện pháp ngăn ngừa, trị liệu, giáo dục, tư vấn nhằm góp phần tạo ra một xã hội với những con người phát triển lành mạnh, hài hòa cả về thể chất lẫn tâm lý Thuộc hướng nghiên cứu này, những vấn
đề đã được làm rõ là: đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy; đặc điểm nhân
Trang 25cách của gái mại dâm; ảnh hưởng của nhóm bạn tiêu cực đến những hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên; những rối loạn hành vi và những dấu hiệu của chúng [46]…
Cuối cùng là các nghiên cứu định lượng, lượng hóa các yếu tố nhân cách,
theo hướng này các công trình đã Việt hóa hoặc bước đầu thích ứng một số phương pháp chuẩn hóa đo đạc, đánh giá nhân cách như: thích ứng Test sáng tạo; Test đánh giá kĩ năng xã hội; Test định hướng giá trị nhân cách; Test đánh giá các mặt nhân cách của Cattell 16 PF; Test phóng chiếu TAT…
Như vậy, những nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ của tâm lý học chủ yếu hướng tới tiếp cận những đối tượng nhân cách cụ thể, với những biện pháp tâm lý - giáo dục, với việc điều tra, lượng hóa các yếu tố và phẩm chất cụ thể của các đối tượng nhân cách đó Bên cạnh những nghiên cứu đã nêu thì
trong khi đề cập đến vai trò của các yếu tố cụ thể tác động đến quá trình hình thành
và phát triển nhân cách con người Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu tập trung
Trình bày vai trò của việc xây dựng văn hóa gia đình cũng như gia đình văn hóa trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người đặc biệt là thế hệ trẻ trong
đó có trẻ em, cuốn sách Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em của tác giả Lê Như Hoa (năm 2001) [36] lại đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn về văn hóa gia đình và gia đình văn hóa Tác giả đã xem xét sự lệch chuẩn văn hóa gia đình và suy thoái nhân cách của trẻ em, từ đó đưa ra những đánh giá về vai trò của văn hóa gia đình đối với sự hình thành nhân cách
Trang 26Trong quá trình hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, cùng với giáo dục gia đình thì nhà trường cũng đóng vai trò không thể thiếu Báo cáo tổng hợp nội dung
nghiên cứu và kết quả đạt được của đề tài KX-07-08 về Vai trò của nhà trường trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam bằng con đường
giáo dục đào tạo của Hoàng Đức Nhuận (năm 1996) [88] đã đưa ra hệ thống khái niệm, kết quả điều tra về hệ thống giá trị nhân cách, một số nét đặc trưng giáo dục nhân cách qua các đơn vị tiên tiến, những xu hướng kinh tế - xã hội và nhà trường hiện đại trên thế giới; thiết kế các mô hình nhà trường hiện đại; từ đó đưa ra những kết luận và kiến nghị về vấn đề này
Đề cập đến Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách,
Nguyễn Đình Đặng Lục (năm 2005) [70] tập trung vào quá trình hình thành nhân cách của người chưa thành niên mà pháp luật có vai trò không nhỏ Tuy nhiên, trong công trình này, từ phương diện luật pháp tác giả lại tập trung phân tích và làm
rõ đặc điểm của giáo dục pháp luật đối với trẻ vị thành niên, những nội dung, nguyên tắc và nhiệm vụ của công tác giáo dục pháp luật đối với đối tượng này
Ngoài ra, trong sự hình thành và phát triển nhân cách, văn hóa thẩm mỹ cũng đã
được các Luận án tiến sĩ của Lê Thị Thùy Dung [8] (năm 2013) và Lương Thị Quỳnh Khuê [54] (năm 1995) đề cập đến Trong các luận án này, các tác giả đã phân tích thực trạng của văn hóa thẩm mỹ, từ đó đề ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát huy vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam nói riêng và nhân cách của con người Việt Nam hiện nay nói chung
1.3.2 Nghiên cứu dưới góc độ đạo đức học
Đạo đức học xem xét nhân cách chủ yếu ở khía cạnh đạo đức cũng như vai trò và ảnh hưởng của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành nhân cách Trong lý luận nhân cách, đạo đức là gốc của nhân cách nhưng chưa nói lên đầy đủ, toàn bộ nhân cách Cho nên không thể đồng nhất đạo đức (vẫn thường được quan niệm là phẩm chất) với nhân cách Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ đạo đức học chủ yếu là các Luận án tiến sĩ triết học tập trung nhấn mạnh đến giáo dục đạo đức hoặc vai trò của giáo dục đạo đức trong điều kiện hiện nay đối với sự hình thành của nhân cách con người Việt Nam
Trang 27Trong số các công trình đề cập đến vấn đề này, phải kể đến Luận án tiến sĩ của
Trần Sỹ Phán với nội dung là Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (năm 1999) [93] Trong công
trình này, trên cơ sở phân tích một số quan niệm của các nhà triết học trước C Mác và phi Mác-xít về con người, về nhân cách, tác giả cho rằng, triết học Mác - Lênin xem xét nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử - cụ thể, tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò của chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới, chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác [93, tr 19] Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu sự hình thành và phát triển nhân cách dưới góc độ cụ thể - đó là vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách [93, tr 38 - 45]
Cũng đề cập đến Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay (năm 2000) [120], luận án tiến sĩ
của Lê Thị Thủy lại khẳng định, vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay là tiêu chí và là nền tảng của nhân cách, góp phần tạo dựng nhân cách phát triển hài hòa, toàn diện, theo xu hướng nhân văn Trong điều kiện hiện nay, để nâng cao vai trò của đạo đức, tác giả cho rằng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế - xã hội, giáo dục và văn hóa tinh thần Trong đó, việc giữ vững định hướng chính trị trong phát triển kinh tế xã hội, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, đẩy mạnh hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng, tận dụng lợi thế của văn hóa, đặc biệt là văn hóa nghệ thuật với những tác động biểu cảm và tinh tế của nó tới tâm hồn con người là những giải pháp thiết thực và chủ yếu
Tác giả Nguyễn Văn Phúc trong bài viết Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường (năm 1996) [97] đã phân tích
một số biểu hiện tác động của cơ chế thị trường lên nhân cách và khẳng định rằng giáo dục đạo đức sẽ góp phần lấy lại sự thống nhất, đảm bảo sự phát triển hài hòa cho nhân cách, “nó là một nhân tố tất yếu và quan trọng của chiến lược con người trong bối cảnh thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tuy nhiên, theo tác giả, giáo dục đạo đức chỉ có thể phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với
Trang 28các giải pháp ngoài đạo đức là các giải pháp kinh tế - xã hội Một cơ chế thị trường hoàn thiện được pháp chế hóa, sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những giải pháp phát triển lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở sẽ là cơ
sở kinh tế - xã hội cho sự phát triển nhân cách [97, tr 17]
Là một trong số không nhiều công trình trực tiếp khẳng định việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống có vai trò không nhỏ trong xây dựng nhân cách con
người Việt Nam hiện nay [31], luận án tiến sĩ của Cao Thu Hằng (năm 2011) đã luận giải các giá trị đạo đức truyền thống với tư cách là các giá trị xã hội vừa như yếu tố cấu thành, vừa như nhân tố quy định chiều hướng phát triển của nhân cách Tác giả cho rằng, ở Việt Nam hiện nay, việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách là một tất yếu và để các giá trị đạo đức truyền thống phát huy được tác dụng tích cực đối với sự phát triển nhân cách con người Việt Nam, cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống, phát huy vai trò của pháp luật và cùng với đó là nâng cao tính tích cực của nhân dân trong việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống Các giải pháp này có sự thống nhất và tác động qua lại lẫn nhau và đó là sự đảm bảo cho việc phát triển nhân cách con người Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu của xã hội hiện nay
1.3.3 Nghiên cứu từ góc độ văn học và văn hóa học
Những nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam từ góc độ văn học và văn hóa học chủ yếu đề cập đến việc xác định “mô hình nhân cách con người Việt Nam” như là những mẫu người tiêu biểu đại diện cho các giá trị văn hóa - lịch sử, là
sự khái quát những giá trị, đặc trưng nổi bật của con người Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử Theo Hồ Liên, từ góc độ này, các học giả chủ yếu định hình những mẫu người đó theo những chân dung văn học hay mô hình nhân cách của một lớp người hay những nhân vật lịch sử có thật
Từ góc độ nghiên cứu văn chương, Trương Tửu đề xuất mẫu hình của cặp
“nhà nho tài tử” và “nhà nho quân tử” Trần Đình Hượu đã xây dựng lý thuyết khảo sát “con người chức năng”, mẫu người “nhà nho tài tử” Trần Ngọc Vương phác thảo mẫu người “Hoàng đế”
Trang 29Dưới góc độ văn hóa học, Trần Quốc Vượng viết về những danh nhân tiêu biểu trong các giai đoạn văn hóa như: Lý Nhân Tông thời nhà Lý, nhà giáo Chu Văn
An ở giai đoạn nhà Trần, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Thánh Tông ở giai đoạn Hậu Lê, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn… Phan Ngọc viết về những nhân cách tiêu biểu của con người Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh…
Cũng tiếp cận nhân cách con người Việt Nam từ góc độ văn hóa học nhưng không giống với cách triển khai của Trần Quốc Vượng, Đỗ Lai Thúy trình bày các
“mẫu người văn hóa” để khái quát về “văn hóa Việt Nam”, điều này thể hiện trong
tác phẩm “Văn hóa Việt Nam - nhìn từ mẫu người văn hóa” (năm 2005) [122] Ông
quan niệm rằng “mẫu người văn hóa là khái niệm trừu tượng, có ý nghĩa khái quát
về những lớp người có diện mạo tinh thần giống nhau, được hình thành trong khoảng thời gian lịch sử mà ở đó văn hóa bộc lộ những tính chất giống nhau, một khí hậu văn hóa giống nhau” Và mẫu người văn hóa của các thời đại văn hóa cụ thể được Đỗ Lai Thúy gọi bằng “con người làng xã, con người vô ngã, con người quân
tử, con người tài tử, con người cá nhân” Chữ “con người” được sử dụng “mở rộng nghĩa: con người làng xã khác với người nông dân, con người vô ngã khác với nhà
sư, con người quân tử khác với nhà nho quân tử, con người tài tử khác với nhà nho tài tử, con người cá nhân khác với người tiểu tư sản” [122, tr 69]
Con người làng xã được Đỗ Lai Thúy coi là mẫu người tiêu biểu, tổng hợp tất cả những nét chung khi người thôn dân sống trong những ngôi làng như nhau, có diện mạo tâm lý, cách ứng xử, lối cảm lối nghĩ giống nhau: “… con người làng xã làm nên căn cước của con người Việt Nam, quyết định bản sắc của văn hóa cổ truyền Việt Nam Là phần lõi, là cơ tầng của văn hóa Việt Nam” [122, tr 131]
Sau con người làng xã, mẫu người văn hóa đại diện cho tinh thần dân tộc phát triển đến đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong thời đại Lý
- Trần là “con người vô ngã” Đó là những con người kiệt xuất, những nhân cách lớn, những trí thức phóng khoáng có trình độ tư duy cao, những anh hùng chống giặc ngoại xâm… Họ đa dạng về nhân cách, về cá tính, về hành trạng, nhưng có một điểm chung tạo thành mẫu người tiêu biểu của thời đại, đó là đem cái tiểu ngã
Trang 30cá nhân, gia đình, làng xã hòa vào cái đại ngã dân tộc, ý thức về tổ quốc là thiêng liêng, là trên hết
Sang đến thời kỳ mới, “con người quân tử” là kết quả sự kết hợp giữa tinh thần dân tộc Đại Việt với sự khúc xạ tư tưởng Nho gia Trung Hoa, sự kết hợp giữa con người chức năng với con người cộng đồng mà chủ nghĩa yêu nước là nét cơ bản tạo nên diện mạo tinh thần của nó Khi lịch sử Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới, những con người mới được hình thành trong cuộc chiến đấu lâu dài giành độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Mẫu người đại diện cho thời kỳ này là người anh hùng, người chiến sĩ, là “Anh lính cụ Hồ” và hiện thân tiêu biểu nhất của nhân cách văn hóa này chính là Hồ Chí Minh
1.3.4 Nghiên cứu từ góc độ liên ngành khoa học xã hội
Nhân cách với những yếu tố và thành phần trong cấu trúc của nó vừa được tâm lý học nghiên cứu nhưng đồng thời cũng được đo đạc bằng các chỉ số và các phương pháp thực nghiệm theo các phương pháp của xã hội học Với thế mạnh là định lượng được bằng các chỉ số rõ ràng hiện nay trong các công trình nghiên cứu, nhất là các đề tài cấp Nhà nước về vấn đề nhân cách, đã chủ yếu áp dụng các phương pháp liên ngành tâm lý học, xã hội học để nghiên cứu nhân cách của từng nhóm đối tượng cụ thể như: sinh viên, học sinh, công nhân, từ đó có những kết luận chung cho nhân cách con người Việt Nam Những công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước về nhân cách con người Việt Nam đã được thực hiện
có thể kể đến là Chương trình KX 07, KHXH 04
Chương trình KX-07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” (1990 - 1995) có một số đề tài nhánh liên quan đến nhân cách như: Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” (Nguyễn Quang Uẩn chủ biên); “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”, Hoàng Đức Nhuận (chủ biên) Trong đó,
có đề tài nghiên cứu trực tiếp về nhân cách là KX07-04 “Đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế - xã hội”
Đề tài này không chỉ thực hiện nghiên cứu lý luận về nhân cách mà còn song song tiến hành điều tra xã hội học trên cơ sở coi đặc trưng của nhân cách con người
Trang 31Việt Nam thể hiện trên ba mặt cơ bản là: định hướng giá trị, tiềm năng - khả năng -
kỹ năng; phẩm chất - nếp sống - thói quen Tuy nhiên, đề tài này chưa làm rõ vì sao lại coi “hệ thống giá trị và định hướng giá trị là thành phần cơ bản và cốt lõi của nhân cách” hay vì sao lại nghiên cứu nhân cách thông qua tiềm năng - khả năng - kỹ năng và phẩm chất - nếp sống - thói quen
Trong chương trình KHXH04 (1995-2000), trực tiếp liên quan đến nhân cách
có đề tài “Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đề tài này đã nghiên cứu cơ sở lý luận về nhân cách bao
gồm: khái niệm con người, khái niệm nhân cách con người, cấu trúc nhân cách, con đường hình thành nhân cách và tìm hiểu về hiện trạng nhân cách con người Việt Nam bằng trắc nghiệm Cattell 16PF Phần cơ sở lý luận của nghiên cứu nhân cách được tiến hành công phu, nêu rõ được mục tiêu và xác định được giới hạn của đề tài, song cũng như chương trình KX 07, đề tài chưa lý giải được tại sao lại lựa chọn trắc nghiệm Cattell 16PF mà không phải là trắc nghiệm khác nên độ thuyết phục chưa cao, hơn nữa kết quả thu được mới chỉ dừng lại ở việc có những nhận xét riêng
lẻ về các đặc trưng của nhân cách mà không đi đến một hiện trạng nhân cách toàn diện của con người Việt Nam
Tiếp nối các đề tài trên, chương trình KX.05 đã được triển khai trong giai đoạn 2001 - 2005, trong chương trình này, vấn đề con người, đặc biệt là nghiên cứu giá trị xã hội và giá trị nhân cách là một trong những hướng nghiên cứu chính Đề
tài KX.05.07 “Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế” (2001-2005,
GS.VS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm) có nhiệm vụ chính là nghiên cứu các giá trị xã hội và giá trị nhân cách người Việt Nam hiện nay theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định, các giá trị nhân cách cơ bản là: Lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, niềm tin, bản lĩnh là những giá trị nhân cách cơ bản được người Việt Nam hiện nay hướng tới
Cũng là đề tài thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước đã áp dụng phương pháp đo đạc tâm lý NEO PI-R có sửa chữa và bổ dung cho phù hợp với
Trang 32thực tế Việt Nam để điều tra, đo đạc những đặc điểm giá trị nhân cách của một số
tầng lớp người Việt Nam hiện nay, cuốn sách “Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên” do GS Phạm Minh Hạc chủ biên (Năm 2007)
[25] là kết quả của nghiên cứu liên ngành tâm lý học và xã hội học Cuốn sách mô
tả kết quả đo đạc điều tra nhân cách của một khối lượng lớn số mẫu đại diện cho các tầng lớp người Việt Nam (học sinh, sinh viên, nông dân, công nhân, giáo viên, trí thức, doanh nhân) và một số điển hình thành đạt đã tạo cơ sở rút ra những nhận định chung về mặt mạnh, mặt yếu của người Việt Nam hiện nay Điểm đáng lưu ý của công trình này có liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án là trước khi tiến hành các thao tác đo đạc nhân cách đối với các tầng lớp người được lựa chọn thì công trình
đã trình bày Cơ sở lý luận, trong đó đã đề cập đến “Chủ nghĩa Mác - Phương pháp luận nghiên cứu con người” Ở đây, tác giả đã khẳng định: chủ nghĩa Mác là
“phương pháp luận tổng quát để nghiên cứu con người”, các tác phẩm điển hình của Mác thể hiện “sự phát triển lý luận” trong nghiên cứu về con người của ông qua ba thời kỳ nhưng đều “toát lên một ý chung là vấn đề con người giữ một vị trí khoa học quan trọng trong chủ nghĩa Mác” [25, tr 14]
Bên cạnh đó, trong cuốn sách, tác giả cũng đã trình bày về “Nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam” cũng như “Cách tiếp cận nghiên cứu nhân cách”, khái niệm “Giá trị nhân cách”, “Về nhân cách theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Tuy nhiên, những phần viết này còn khá sơ lược và có những phần chưa thật nhất quán trong việc triển khai khái niệm “nhân cách” Chẳng hạn, trong nghiên cứu nhân cách người Việt Nam, chúng tôi đồng ý với ý kiến của tác giả khi cho rằng
“Nghiên cứu con người và nhân cách nhất thiết phải đề cập đến vấn đề truyền thống
và hiện đại nói riêng và tâm lý học dân tộc nói chung” nhưng việc tác giả lại trình bày phần này theo hướng khái quát “những nghiên cứu đề cập đến tính cách con người Việt Nam (mà chủ yếu là người Việt) từ năm 1945 trở lại đây” (từ tr 33-55),
từ đó đưa ra những kết luận, nhận xét cho cả “nhân cách con người Việt Nam” theo chúng tôi chưa thật thỏa đáng Hơn nữa, công trình này, sử dụng phương pháp định lượng mới nhất trên thế giới để đo đạc nhân cách con người Việt Nam, như chính tác giả khẳng định, có nhiều ưu thế nhất định nhưng vẫn không tránh khỏi “một số
Trang 33điểm bất cập về mặt phương pháp tiếp cận và triển khai nghiên cứu” Theo tác giả nhận định “có nhiều khía cạnh và chiều sâu của hiện thực mà hệ phương pháp định lượng không thể đáp ứng” [25, tr 54], hơn nữa “Việc cung cấp một bức tranh toàn
diện và sâu sắc về bối cảnh hình thành nhân cách, đặc biệt là nhân cách của các
nhóm xã hội khác nhau, chỉ ra những quá trình phức tạp và vô cùng linh hoạt của thực hành hình thành và biến đổi nhân cách, nêu bật lên những quan niệm của chính bản thân chủ thể hành động hay nói một cách khác là trình bày vấn đề nhân cách thông qua lăng kính chủ thể… chỉ có thể thực hiện được bằng hàng loạt những công
cụ hữu hiệu và đặc trưng của hệ các phương pháp định tính trong khoa học xã hội” [25, tr 54-55]
Như vậy, có thể nhận thấy, trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam việc áp dụng các phương pháp định lượng trong khoa học xã hội dù có ưu việt đến mấy, nhưng trên thực tế, lại có ý nghĩa không nhiều trong việc định hình được bản chất thực sự của nhân cách con người Việt Nam Hầu hết những đo đạc đó chủ yếu tập trung vào các đặc trưng mang tính chất trực quan, bên ngoài của đối tượng Rõ ràng, không ai có thể phủ nhận ưu thế của phương pháp thực chứng, định lượng; song mặt trái của việc nghiên cứu nhân cách người Việt bằng các phương pháp này, theo chúng tôi, là không giúp hiểu sâu và đầy đủ về bản chất của nó Vì những nghiên cứu như vậy cho dù có phong phú, toàn diện bao nhiêu chăng nữa cũng mới chỉ vạch ra
được các hiện tượng, các khía cạnh thuộc tiền đề vật chất, tức là một trong các tiền đề của việc hình thành tâm lý và nhân cách, một trong các điều kiện cần cho sự ra đời và
tồn tại của con người Việt Nam và nhân cách người Việt Nam, chứ không chỉ ra được bản chất thực sự của nhân cách Bản chất của nhân cách sẽ không thể nào được làm sáng tỏ nếu chỉ xét về mặt chức năng cũng như mặt cấu trúc vật chất Lý do có lẽ phần lớn thuộc về phương pháp luận, vì thế phương pháp luận trong nghiên cứu nhân cách theo chúng tôi vẫn là cần tuân theo những nguyên tắc tiếp cận của triết học Mác-xít đó là nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc lịch sử - xã hội và nguyên tắc hoạt động - giá trị Áp dụng những nguyên tắc này một cách chính xác thì mới có thể làm rõ được bản chất của nhân cách con người Việt Nam Vì vậy, đây chính là hướng mà chúng
Trang 34tôi sẽ triển khai trong Luận án và có thể coi là một trong những điểm mới và khác biệt của Luận án so với các công trình nghiên cứu khác
1.3.5 Nghiên cứu dưới góc độ triết học
Nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam nói riêng và nhân cách nói chung từ góc độ triết học có nghĩa là tập trung vào những vấn đề chung nhất của nhân cách và nhân cách con người Việt Nam cũng như tập trung vào những vấn đề xác lập nền tảng cơ sở lý luận và phương pháp luận cho nghiên cứu nhân cách Hiện nay, những nghiên cứu như thế hiện có không nhiều, có một số bài báo xem xét
khái niệm nhân cách từ góc độ triết học Mác - Lênin, đó là bài: Bàn về khái niệm nhân cách dưới góc độ triết học của Nguyễn Quốc Tuấn (năm 2006) [125] và Nhân cách theo quan điểm Triết học Mác - Lênin của Vũ Thị Kim Oanh (năm 2011) [90]
Nguyễn Quốc Tuấn cho rằng, theo quan điểm duy vật biện chứng, khái niệm nhân cách phải gồm một hệ thống các phẩm chất biểu hiện những mối quan hệ của
cá nhân con người với thế giới xung quanh, nó được hình thành từ các hoạt động mang tính xã hội - lịch sử Phẩm chất là cái làm nên giá trị xã hội của con người Người ta đã quy nhân cách thành những phẩm chất khác nhau, nhưng theo tác giả,
để trở thành một nhân cách, cá nhân phải có sự phát triển tương ứng với các nhóm phẩm chất cơ bản là: nhóm những phẩm chất thuộc nền tảng của cá nhân, nhóm những phẩm chất biểu hiện sự phát triển mang tính đặc thù của mỗi cá nhân và nhóm những phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cụ thể - năng lực
Còn theo Vũ Thị Kim Oanh, hạt nhân hình thành nên nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ những quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trị chung của cá nhân Nó giữ vai trò quyết định toàn bộ hoạt động của cá nhân Tác giả cho rằng nhân cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội trong quá trình xác lập cái “tôi” Thế giới của cái “tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội tạo nên Với đặc điểm riêng về di truyền, về sinh
lý thần kinh, về gia đình và hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân, theo cách riêng của mình, họ tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh, lọc bỏ, tự đánh giá, tự giáo dục; trên cơ sở đó, hình thành động lực, lợi ích, lòng tin, định hướng giá trị trong xúc cảm, suy tư và hành
Trang 35động Sự hoàn thiện nhân cách là kết quả của quá trình bản thân vươn lên làm chủ của mình: là quá trình làm chủ bản thân, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội
Có thể thấy, các tác giả đã phần nào chỉ ra những mặt, những yếu tố quan trọng hợp thành nhân cách Tuy nhiên, để làm rõ hơn đặc trưng, bản chất của nhân cách về mặt triết học, chúng tôi sẽ tiếp tục khai thác và phân tích rõ hơn trong luận
án của mình, bổ sung cho những gì trên đây còn thiếu sót
Về nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, đưa ra “Định hướng có tính chất phương pháp luận cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường kinh tế - xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”, bài viết của
tác giả Đặng Vũ Hoạt (năm 1993) là một trong những bài viết có những gợi ý quan trọng cho người thực hiện Luận án Tác giả cho rằng “chiến lược con người đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu hết sức nghiêm túc về mặt khoa học nhằm: - làm sáng tỏ bản chất với những đặc điểm cơ bản của con người Việt Nam; - phát hiện những quy luật và những tính quy luật của sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử nói chung; - xây dựng và thực hiện một hệ thống giải pháp phức hợp, hợp lý để một mặt có thể giáo dục, đào tạo mọi người trở thành những công dân hữu ích, những người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương được những trách nhiệm nhất định trên các cương vị nhất định, mặt khác, có thể khai thác và tận dụng có hiệu quả nhất những khả năng của mỗi con người phục
vụ cho sự nghiệp đổi mới của đất nước; - dự báo phát triển nhân cách con người Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI” [37]
1.3.6 Những nghiên cứu về ý nghĩa quan điểm Mác-xit về nhân cách đối với nghiên cứu con người Việt Nam
Ở nước ta hiện nay, trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, các công trình về nhân cách hiện có của các tác giả như Nguyễn Ngọc Bích [4], Phạm Minh Hạc [25], Lê Đức Phúc [22], Đào Thị Oanh [91], v.v đều lấy lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho những nghiên cứu của mình, đều khẳng định quan điểm Mác-xit về nhân cách có ý nghĩa lý luận
và phương pháp luận chỉ đạo quan trọng cho nghiên cứu con người và nhân cách Tuy nhiên, trong các công trình này mới chỉ chủ yếu phân tích, hệ thống hóa các
Trang 36quan điểm Mác-xit về nhân cách với các tác giả tiêu biểu như đã chỉ ra và phân tích
ở phần tổng quan mục 1.2 chứ chưa làm rõ và phân tích ý nghĩa của quan điểm Mác-xit trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, cũng như không thực hiện việc vận dụng quan điểm Mác-xit về nhân cách trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam như NCS dự định thực hiện trong luận án của mình
Vì thế, có thể khẳng định, việc chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm Mác-xit trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam từ đó vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận này trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam được thực hiện trong luận án của NCS là một công việc chưa được công trình nào trước đây thực hiện và đề cập đến Đây chính là một điểm mới mà NCS đã phân tích và làm rõ trong chương cuối cùng của Luận án
Như vậy, toàn bộ những tài liệu liên quan đến các vấn đề nhân cách và nhân cách con người Việt Nam trên đây đều là những tài liệu tham khảo quý báu, cung cấp những thông tin hữu ích cho người thực hiện đề tài Tuy nhiên, điều đáng lưu ý
là ở chỗ, ở nước ta cho đến thời điểm này, chưa có một công trình triết học nào được thể hiện dưới dạng sách, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ… trực diện bàn
chuyên sâu về Quan điểm Mác-xít về nhân cách và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam Nghĩa là, chưa có công trình nào trình bày và luận
giải một cách có hệ thống từ góc nhìn của quan điểm Mác-xít về vấn đề nhân cách,
từ đó phân tích và vận dụng được ý nghĩa của quan điểm đó trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam
1.4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể nhận thấy một số vấn đề còn
bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu là:
Thứ nhất, hiện nay, tồn tại khá nhiều các quan điểm khác nhau về nhân cách,
trong đó đa phần các nhà nghiên cứu ở nước ngoài trong các công trình của mình đều tiếp cận nhân cách từ quan điểm ngoài Mác-xít mà một số trong đó đã xuất phát từ lý thuyết phân tâm học của Freud Ở đây, việc chúng tôi đưa ra các quan điểm nhằm cung cấp các cái nhìn, các cách tiếp cận khách quan về cùng một vấn đề để từ đó chúng tôi
Trang 37lựa chọn cách tiếp cận của mình là dựa trên quan điểm Mác-xít và khẳng định sự tồn tại cũng như ý nghĩa của quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu về nhân cách
Quan điểm Mác-xít về nhân cách chủ yếu được các nhà nghiên cứu ở Liên
Xô cũ đề cập đến Vì vậy, trong luận án của mình chúng tôi sẽ nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm theo lập trường Mác-xít về nhân cách, phân tích và làm rõ thêm khái niệm nhân cách từ góc nhìn này Chúng tôi sẽ hợp nhất các quan điểm Mác-xít về nhân cách về một đầu mối dựa trên nền tảng lý luận xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ phân tích và làm rõ những đóng góp cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin với những định hướng phương pháp luận trong nghiên cứu nhân cách thông qua việc luận giải chi tiết về các nguyên tắc: nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc hệ thống Việc chỉ ra và luận giải những nguyên tắc phương pháp luận này của quan điểm Mác – Lênin trong lý luận về nhân cách là một trong những điểm mới của Luận án mà ở nhiều công trình trước đó chưa đề cập đến hoặc mới dừng lại ở mức
giới thiệu hết sức sơ lược
Thứ hai, trong các tài liệu hiện có những vấn đề lý luận về nhân cách như
khái niệm, đặc trưng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách cũng đã được nêu ra và giải quyết, tuy nhiên, chúng còn khá đa dạng, chưa nhất quán, vì vậy, trên cơ sở quan điểm Mác-xít chúng tôi sẽ luận giải các nội dung
lý luận cơ bản về nhân cách để đi đến một cách hiểu thống nhất và tương đối đầy đủ
về nhân cách nhằm áp dụng vào nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể nội hàm khái niệm nhân cách với những đặc trưng và cấu trúc của nó theo lập trường Mác-xít Bên cạnh đó chúng tôi cũng tập trung luận giải, khẳng định và làm rõ yếu tố sinh học như là điều kiện, tiền đề còn yếu tố xã hội mang tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Thứ ba, nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam từ nhiều góc độ khác
nhau cũng đã có nhiều bài viết, công trình, đề tài các cấp, tuy nhiên, hiện nay việc xác lập nền tảng lý luận và phương pháp luận mang tính chất định hướng của các công trình nghiên cứu triết học để mang lại một cái nhìn bao quát, toàn diện về nhân cách nói chung và nhân cách con người Việt Nam nói riêng vẫn còn khá ít ỏi và thiếu hệ
Trang 38thống Bên cạnh đó thì sự kết hợp giữa lý luận về nhân cách và thực tiễn khảo sát, điều tra trong nghiên cứu nhân cách người Việt Nam chưa đảm bảo sự gắn kết mật thiết, hay nói cách khác, như TS Vũ Thị Minh Chi đã khẳng định, “có thể nói rằng
mối liên quan giữa nghiên cứu lý luận và việc xác định khung lý thuyết nghiên cứu hay việc xử lý góc nhìn vấn đề nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài chưa thấy nổi lên
rõ ràng và chặt chẽ” trong đó có những công trình mà “những điều rút ra làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo hầu như không có mà chỉ là để rút ra rằng không thể
áp dụng vào Việt Nam” [22, tr 112-113] Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong các công trình là phương pháp định lượng để đo nhân cách như đo trí tuệ, khảo sát
xã hội học, trắc nghiệm Cattell 16 PF, phương pháp NEO-PI-R, Trong số này, có những phương pháp đã được sử dụng từ lâu đời, có những phương pháp mới ra đời, được nhiều nước sử dụng trong nghiên cứu nhân cách, một mặt có nhiều điểm thuận lợi như đo đạc được chính xác các con số, các yếu tố, nhưng mặt khác có thể thấy kết quả thu được “chỉ dừng ở những điểm chuẩn trung bình cho phép có những nhận xét riêng lẻ về các đặc trưng nhân cách mà không đi đến một hiện trạng nhân cách toàn diện của con người Việt Nam” [22, tr 118]
Vì vậy, chúng tôi, trên cơ sở những vấn đề mới nảy sinh liên quan đến thực tiễn đời sống xã hội của con người Việt Nam hiện nay cũng như những vấn đề đang tồn tại liên quan đến nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, sẽ chỉ ra và phân tích sự cần thiết và lợi thế của việc nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam theo quan điểm Mác-xit, nêu rõ việc vận dụng các nguyên tắc mang tính phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam như thế nào và xác định một số nội dung nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam theo quan điểm Mác-xit để có thể đóng góp vào việc nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam được hoàn thiện, đầy đủ hơn Trong Luận án, chúng tôi cũng sẽ phân tích một số hiểu biết của mình về nhân cách con người Việt Nam, chỉ ra những yếu tố xã hội khách quan đang tác động đến nhân cách con người Việt Nam và phân tích những nét nhân cách chủ yếu của con người Việt Nam với những phẩm chất cơ bản thuộc về truyền thống và hiện đại để phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện nay
Trang 39CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI - NỀN TẢNG LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHO NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH 2.1 Quan điểm Mác - Lênin về con người – nền tảng lý luận cho nghiên cứu nhân cách
Từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, các học giả tư sản đã luôn tìm cách phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng Xung quanh vấn đề con người, để trả lời cho câu hỏi: “trong chủ nghĩa Mác - Lênin, có học thuyết về con người hay không?”, phần lớn những người đó đều đưa ra câu trả lời phủ định Theo họ, chủ nghĩa Mác đã “bỏ quên”, “bỏ rơi” con người, trong triết học Mác không hề có học thuyết về con người Một số quan điểm khác ít cực đoan hơn thì cho rằng, Mác chỉ bàn đến con người trong những tác phẩm thời trẻ, tức là thời kỳ quan điểm của ông còn chịu nhiều ảnh hưởng của triết học Hêghen Họ cho rằng,
đỉnh cao của học thuyết về con người mà Mác đạt đến thể hiện trong Bản thảo kinh
tế - triết học năm 1844, còn sau đó Mác không chú ý, quan tâm đến con người nữa
Với những sáng tạo khoa học của Mác, họ chỉ thừa nhận cống hiến của ông trong những nghiên cứu kinh tế học, còn về mặt triết học, theo họ, Mác đã xa rời truyền thống “nhân đạo” của triết học phương Tây Họ lý giải, vì trong các học thuyết của mình, đặc biệt là ở những tác phẩm thời kỳ trưởng thành, Mác đã “bỏ quên con
người” như là con người cá nhân mà chỉ chú ý đến con người giai cấp
Đúng là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không để lại một tác phẩm riêng
về con người và vấn đề này không được các ông trình bày trong một tác phẩm trực tiếp, mà nằm rải rác trong nhiều tác phẩm Trên thực tế, Mác, Ăngghen, Lênin cũng không có ý định xây dựng một hệ thống lý luận triết học “thuần túy” về con người, vấn đề nhân cách theo đó không được đưa ra để xem xét một cách trực diện Tuy nhiên, khi theo dõi tiến trình phát triển về mặt tư tưởng và về mặt lý luận từ những tác phẩm thời kỳ đầu của Mác trước năm 1844 đến những tác phẩm sau này của Mác, Ăngghen, Lênin chúng ta có thể nhận thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ con người và trở lại con người, mục đích cuối cùng là hướng tới giải phóng con người Những cách thức trong nghiên cứu con người đồng thời cũng là những chỉ dẫn mang tính phương pháp luận cho nghiên cứu nhân cách đã hình thành dần dần trong quá
Trang 40trình hoàn thiện, phát triển về mặt tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin, thể hiện những bước tiến, những “vượt bỏ” của các ông về mặt lý luận
Nội dung cơ bản trong học thuyết về con người của chủ nghĩa Mác - Lênin là
làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất của con người, đồng thời khẳng định tính tất yếu của giải phóng con người, khẳng định tính chủ động của con người, xây dựng con người phát triển hài hòa, toàn diện
2.1.1 Nguồn gốc, bản chất của con người theo quan điểm Mác - Lênin
Những nhà triết học trước Mác khi luận giải về vấn đề nguồn gốc, bản chất của con người thường bàn luận, tìm kiếm ở một cái gì đó có tính chất siêu nhiên hoặc nếu có đi vào cuộc sống trần thế thì lại hạ thấp con người xuống hàng động vật, hoặc coi con người không hơn gì cái máy, nhiều lắm thì cũng xét con người trừu tượng, chung chung với một bản chất tộc loài, bất biến nào đó Với việc nghiên cứu sâu sắc các thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dựa vào đó mà nêu ra những khái quát về mặt thế giới quan, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra: Con người không do ai sáng tạo ra mà là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên Bản chất của con người chỉ có thể được giải thích một cách khoa học nếu được đặt trên cơ sở đó, tức là trên cơ sở thừa nhận những
nguồn gốc tự nhiên khách quan của sự tồn tại người
Những điều này được thể hiện rõ thông qua việc Mác phân tích về mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên - con người tồn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Trong quan niệm của Mác, sự tồn tại của con người bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện tự nhiên nhất định, và hơn thế nữa, con người tồn tại với tư cách là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên, con người là sản phẩm và sự phát triển lâu dài của tự nhiên Điều này hoàn toàn bác bỏ những nhận định của các nhà tư tưởng tư sản cho
rằng, chủ nghĩa Mác không chú ý đến bản tính tự nhiên của con người
Ngoài việc xem xét con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tất cả các nhà triết học trước Mác đều loay hoay tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ các cá nhân riêng lẻ, nghĩa là con người trong mắt họ đã bị tách khỏi các mối quan hệ xã hội hiện thực của nó Khác với họ, Mác và Ăngghen tìm ra chìa khóa thực