1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

252 545 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Sự cần thiết của nghiên cứu Đối với những nƣớc đang phát triển với nguồn tích lũy vốn nội bộ trong nền kinh tế còn thấp nhƣ Việt Nam, việc thu hút vốn từ bên ngoài, trong đó có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI, là rất cần thiết cho đầu tƣ phát triển. FDI đƣợc coi là cú huých nhằm giúp Việt Nam thoát khỏi "vòng luẩn quẩn" về kinh tế. Trong nhiều năm, Việt Nam luôn duy trì tăng trƣởng ở mức cao, tốc độ tăng trƣởng kinh tế trung bình giai đoạn 2005 – 2015 đạt 6,25% (World Bank, 2016). Trong đó, yếu tố vốn đóng góp đến hơn 60% GDP (APO, 2015). Thực tế cho thấy, vốn FDI ngày càng bộc lộ tính hai mặt rất rõ rệt đối với nền kinh tế xã hội. Một mặt, vốn FDI đã và đang là một nguồn bổ sung rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế. Việc thu hút nguồn vốn FDI đã tạo thêm những ngành công nghiệp mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho Việt Nam, giúp cải thiện kim ngạch xuất khẩu, và cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Mặt khác, FDI làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, chuyển giao công nghệ lạc hậu, lấn áp doanh nghiệp trong nƣớc... Nhìn thẳng vào kết quả thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam, có thể thấy rằng hoạt động thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam chƣa đạt đƣợc những kết quả nhƣ kỳ vọng, Xét riêng yếu tố vốn đóng góp vào tăng trƣởng kinh tế, có đến 90% là vốn không đi kèm công nghệ (non-IT capital), cho thấy tăng trƣởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào yếu tố tài chính mà chƣa khai thác đƣợc sức mạnh đòn bẩy từ các yếu tố khác nhƣ chất lƣợng nguồn nhân lực, các nhân tố sản xuất (đất đai, công nghệ), năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ còn yếu. Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa sản xuất và hàng hóa xuất khẩu cũng chƣa đƣợc cải thiện nhiều. 80% mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đƣợc xuất khẩu từ khu vực FDI nhƣng hầu hết là những mặt hàng truyền thống, nguyên liệu thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng không cao, hàng gia công. Việt Nam vẫn chủ yếu khai thác nguồn lực có sẵn (nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh) nhƣ khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng lao động sẵn có mà chƣa khai thác tối ƣu lợi thế động. Nhiều mặt hàng nặng về sử dụng nhiều lao động giản đơn hay khai thác tài nguyên nên giá trị và khả năng cạnh tranh thấp. Mặt khác, mặc dù FDI đã góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhƣng kim ngạch nhập khẩu của khu vực này cũng tăng nhanh không kém. Tỷ trọng nguyên liệu nhập trong sản xuất của khu vực FDI rất cao, chiếm đến hơn 90%. Điều này khiến cho cán cân thƣơng mại của khu vực FDI trong thời gian dài bị thâm hụt, những năm gần đây (2012 đến nay) đã có sự cải thiện nhƣng không đáng kể. Ngoài ra, tốc độ phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ FDI còn thấp. Khu vực công nghiệp phụ trợ còn rất sơ khai, mới chỉ sản xuất linh kiện đơn giản với giá trị nội địa hóa rất nhỏ, tham gia một khâu rất nhỏ hoặc thậm chí không thể tham gia vào chuỗi sản xuất trong nƣớc và toàn cầu. Hơn nữa, việc gắn kết giữa thu hút FDI với chuyển giao công nghệ kỹ thuật tiến bộ, đảm bảo công bằng xã hội còn chƣa chặt chẽ. Do đó, Việt Nam đã và đang phải đánh đổi việc thu hút lƣợng vốn FDI khổng lồ với các vấn đề nảy sinh trong kinh tế - xã hội nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, thất nghiệp, phân hóa xã hội, phân hóa vùng miền, lấn át doanh nghiệp trong nƣớc... Điều này thể hiện một sự mất cân đối trong hệ thống chính sách FDI của Việt Nam, trong đó ƣu tiên thu hút về số lƣợng mà chƣa đảm bảo về chất lƣợng nguồn vốn. Thực tế cho thấy, kể từ khi ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1987 đến nay, Việt Nam theo đuổi chính sách FDI ở cả 3 cấp độ: thu hút FDI, nâng cấp FDI, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, khi đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của các chính sách FDI của Việt Nam, kết quả cho thấy Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào cấp độ chính sách đầu tiên – thu hút FDI, trong khi các cấp độ chính sách khác chƣa thực sự đƣợc quan tâm, khiến hiệu lực thực thi hoặc/và hiệu quả chính sách chƣa cao.

Trang 1

NGUYỄN QUỲNH THƠ

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 13

1.1 Vị trí và tác động của nguồn vốn FDI đối với phát triển kinh tế 13

1.1.1 Vị trí nguồn vốn FDI 13

1.1.2 Tác động của nguồn FDI đối với phát triển kinh tế 22

1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá việc thu hút và sử dụng FDI 25

1.2.1 Hệ thống chỉ tiêu về kết quả thu hút và thực hiện FDI 26

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu về chất lượng FDI 28

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế FDI 30

1.2.4 Chỉ số ngưỡng FDI 32

1.3 Hệ thống chính sách thu hút sử dụng FDI 35

1.3.1 Nhân tố ảnh hưởng tới thu hút, sử dụng FDI 35

1.3.2 Hệ thống chính sách thu hút và sử dụng FDI 40

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chính sách FDI 60

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2005 - 2016 66

2 1 Đặc điểm phát triển kinh tế Việt Nam 66

2.1.1 Diễn biến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 66

2.1.2 Vốn đầu tư phát triển và vị trí của nguồn vốn FDI 74

2.2 Thực trạng thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2016 77

2.2.1 Chỉ tiêu về kết quả thu hút và sử dụng FDI 77

2.2.2 Chỉ tiêu chất lượng FDI 89

2.2.3 Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế FDI 95

2.3 Thực trạng hệ thống chính sách FDI 103

2.3.1 Chính sách thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam 104

2.3.2 Đánh giá hiệu quả hệ thống chính sách FDI Việt Nam 130

2.4 Xác định ngưỡng FDI Việt Nam giai đoạn 2006-2015 135

2.4.1 Mô hình và phương pháp xác định ngưỡng FDI 136

2.4.2 Kết quả thực nghiệm 137

Trang 3

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2016-2025 144

3.1 Nhu cầu vốn FDI và những thay đổi môi trường thu hút sử dụng FDI của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 144

3.1.1 Nhu cầu huy động nguồn FDI cho phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn tới 2030 144

3.1.2 Cơ hội và thách thức trong việc thu hút và sử dụng nguồn FDI trong thời gian tới 146

3.2 Giải pháp đẩy mạnh thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam 149

3.2.1 Điều chỉnh cấp độ chính sách thu hút FDI cho phù hợp với vị trí vốn có của nguồn vốn 149

3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách FDI nâng cao để tăng nội lực hấp thụ của nền kinh tế 153

3.2.3 Xây dựng hoạch quy ngành, vùng kinh tế phù hợp với mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia 167

3.2.4 Xây dựng các đặc khu kinh tế để tập trung nguồn lực xã hội 174

3.2.5 Hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp FDI 176

3.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 177

3.3 Kiến nghị 179

3.3.1 Cần điều chỉnh quan điểm phát triển và mô hình phát triển 179

3.3.2 Nâng cao hiệu lực thực thi chính sách 181

3.3.3 Nâng cao tính minh bạch, chống tham nhũng 183

3.3.4 Phát triển thị trường tài chính trong nước, khai thác có hiệu quả nguồn vốn nội địa 184

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Anh

Viết đầy đủ tiếng Việt

: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

: Hiệp định Thương Mại song phương

: Chương trình liên kết các nhà đầu tư ngành công nghiệp

: Các nước Trung Âu và Tây Âu

: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương

: Chương trình phát triển hệ thống vệ tinh trung tập

: Liên minh Châu Âu

: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

: Mô hình tác động cố định

: Tổng sản phầm nội địa

: Quỹ tiền tệ quốc tế

: Chương trình nâng cấp các ngành công nghiệp địa phương

: Mua lại và sáp nhập

Trang 5

: Cục phát triển công nghiệp Malaysia

: Công ty đa quốc gia

: Chương trình liên kết quốc gia

: Mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng

: Viện trở phát triển chính thức

: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

: Nghiên cứu và phát triển

: Mô hình tác động ngẫu nhiên

: Mô hình tự hồi quy ngưỡng

: Năng suất các nhân tố tổng hợp

: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

: Tổ chức liên hợp quốc về thương mại quốc tế

: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Phân loại các nguồn vốn đầu tư xã hội

Hình 1.2 Các nguồn vốn bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển

Hình 1.3 Vị trí của nguồn vốn FDI trong số các nguồn vốn nước ngoài chảy

vào một số nước đang phát triển châu Á, 2005 – 2015 Hình 1.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDI

Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và trên thế giới (%)

Hình 2.5 Mức độ đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của một số quốc

gia, 2000 – 2013 Hình 2.6 Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia

Hình 2.7 Đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế

Hình 2.8 Tổng đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2000 -2015

Hình 2.9 Vốn đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam theo khu vực kinh tế giai đoạn

2005 – 2015 Hình 2.10 Hệ số ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

Hình 2.11 Diễn biến nguồn vốn FDI qua các năm

Hình 2.12 Tỷ lệ giải ngân vốn FDI qua các năm

Hình 2.13 Quy mô vốn dự án đăng ký, thực hiện, và tỷ lệ vốn thực hiện

Hình 2.14 Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư giai

đoạn 2005 – 2015 Hình 2.15 Số lượng lao động của khu vực FDI

Hình 2.16 Chi phí môi trường dự kiến tiết kiệm được khi đầu tư vào Việt Nam Hình 2.17 Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư nắm giữ công nghệ nguồn

Hình 2.18 Tỷ lệ chuyển giao công nghệ của dự án FDI

Hình 2.19 Tỷ trọng của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Hình 2.20 Đóng góp của khu vực FDI trong tổng GDP cả nước

Hình 2.21 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của khu vực

FDI giai đoạn 2005 – 2015

Trang 7

Hình 2.22 Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu

cả nước Hình 2.23 Tỷ trọng nhập khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch nhập

khẩu cả nước Hình 2.24 Thu ngân sách Nhà nước từ doanh nghiệp FDI

Hình 2.25 Thu nhập bình quân theo thành phần kinh tế

Hình 2.26 Chỉ số cơ hội đầu tư toàn cầu của Việt Nam và một số quốc gia

trong khu vực, 2005 – 2015 Hình 2.27 Chỉ số FDI tiềm năng Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực Hình 2.28 Chỉ số FDI thực hiện Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực Hình 2.29 Khoảng cách FDI và thặng dư FDI của Việt Nam và các quốc gia

trong khu vực Hình 2.30 Quy mô FDI qua các năm và giá trị ngưỡng FDI

Hình 3.2 Sơ đồ cụm ngành du lịch Thái Lan

Hình 3.3 Sơ đồ cụm ngành du lịch dưỡng sinh, chữa bệnh Thái Lan

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng kết hệ thống chính sách về FDI toàn cầu

Bảng 1.2 Mười quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu

2015 Bảng 1.3 Chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu bình quân theo khu vực 2015

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực

qua các năm trong giai đoạn 2005 - 2015 Bảng 2.2 Tăng trưởng toàn nền kinh tế theo từng giai đoạn

Bảng 2.3 Tỷ trọng vốn đăng ký của 10 địa phương đứng đầu về thu hút FDI

trong năm 2005, 2010 và 2015 Bảng 2.4 So sánh cơ cấu FDI theo ngành năm 2005, 2010, 2015

Bảng 2.5 Vốn FDI tại Việt Nam phân theo ngành

Bảng 2.6 Tỷ trọng số dự án và vốn đăng ký của 10 quốc gia và vùng lãnh thổ

đứng đầu về lượng FDI trong năm 2000, 2005, 2015 Bảng 2.7 Tỷ lệ ước tính doanh nghiệp thực hiện chuyển giá

Bảng 2.8 Những thay đổi cơ bản về thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động

FDI tại Việt Nam Bảng 2.9 So sánh những quy định về cấp phép đầu tư và hình thực đầu tư của

Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực Bảng 2.10 Những thay đổi cơ bản về ưu đãi thuế tại Việt Nam

Bảng 2.11 Tính hiệu lực và hiệu quả của các chính sách FDI tại Việt Nam, 2005

-2015 Bảng 2.12 Chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu Việt Nam so sánh với chỉ số bình quân

theo nhóm xếp hạng, 2015 Bảng 2.13 Chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu Việt Nam so sánh với chỉ số bình quân

theo khu vực, 2015 Bảng 2.14 Xếp hạng chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu Việt Nam năm 2015

Bảng 2.15 Chỉ số FDI tiềm năng Nam qua các giai đoạn

Bảng 2.16 Danh sách biến số, thước đo, nguồn số liệu

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của nghiên cứu

Đối với những nước đang phát triển với nguồn tích lũy vốn nội bộ trong nền kinh tế còn thấp như Việt Nam, việc thu hút vốn từ bên ngoài, trong đó có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài FDI, là rất cần thiết cho đầu tư phát triển FDI được coi là cú huých nhằm giúp Việt Nam thoát khỏi "vòng luẩn quẩn" về kinh tế Trong nhiều năm, Việt Nam luôn duy trì tăng trưởng ở mức cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2005 – 2015 đạt 6,25% (World Bank, 2016) Trong đó, yếu tố vốn đóng góp đến hơn 60% GDP (APO, 2015) Thực tế cho thấy, vốn FDI ngày càng bộc lộ tính hai mặt rất rõ rệt đối với nền kinh tế xã hội Một mặt, vốn FDI đã và đang là một nguồn bổ sung rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế Việc thu hút nguồn vốn FDI đã tạo thêm những ngành công nghiệp mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho Việt Nam, giúp cải thiện kim ngạch xuất khẩu, và cơ sở hạ tầng của Việt Nam Mặt khác, FDI làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như ô nhiễm môi trường, chuyển giao công nghệ lạc hậu, lấn áp doanh nghiệp trong nước Nhìn thẳng vào kết quả thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam, có thể thấy rằng hoạt động thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam chưa đạt được những kết quả như kỳ vọng,

Xét riêng yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, có đến 90% là vốn không đi kèm công nghệ (non-IT capital), cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào yếu tố tài chính mà chưa khai thác được sức mạnh đòn bẩy

từ các yếu tố khác như chất lượng nguồn nhân lực, các nhân tố sản xuất (đất đai, công nghệ), năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ còn yếu

Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa sản xuất và hàng hóa xuất khẩu cũng chưa được cải thiện nhiều 80% mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được xuất khẩu từ khu vực FDI nhưng hầu hết là những mặt hàng truyền thống, nguyên liệu thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng không cao, hàng gia công Việt Nam vẫn chủ yếu khai thác nguồn lực có sẵn (nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh) như khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng lao động sẵn có mà chưa khai thác tối ưu lợi thế động Nhiều

Trang 10

mặt hàng nặng về sử dụng nhiều lao động giản đơn hay khai thác tài nguyên nên giá trị và khả năng cạnh tranh thấp Mặt khác, mặc dù FDI đã góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng kim ngạch nhập khẩu của khu vực này cũng tăng nhanh không kém Tỷ trọng nguyên liệu nhập trong sản xuất của khu vực FDI rất cao, chiếm đến hơn 90% Điều này khiến cho cán cân thương mại của khu vực FDI trong thời gian dài bị thâm hụt, những năm gần đây (2012 đến nay) đã có sự cải thiện nhưng không đáng kể

Ngoài ra, tốc độ phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ FDI còn thấp Khu vực công nghiệp phụ trợ còn rất sơ khai, mới chỉ sản xuất linh kiện đơn giản với giá trị nội địa hóa rất nhỏ, tham gia một khâu rất nhỏ hoặc thậm chí không thể tham gia vào chuỗi sản xuất trong nước và toàn cầu Hơn nữa, việc gắn kết giữa thu hút FDI với chuyển giao công nghệ kỹ thuật tiến bộ, đảm bảo công bằng xã hội còn chưa chặt chẽ Do đó, Việt Nam đã và đang phải đánh đổi việc thu hút lượng vốn FDI khổng lồ với các vấn đề nảy sinh trong kinh tế - xã hội như ô nhiễm môi trường, thất nghiệp, phân hóa xã hội, phân hóa vùng miền, lấn át doanh nghiệp trong nước

Điều này thể hiện một sự mất cân đối trong hệ thống chính sách FDI của Việt Nam, trong đó ưu tiên thu hút về số lượng mà chưa đảm bảo về chất lượng nguồn vốn Thực tế cho thấy, kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay, Việt Nam theo đuổi chính sách FDI ở cả 3 cấp độ: thu hút FDI, nâng cấp FDI, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước Tuy nhiên, khi đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của các chính sách FDI của Việt Nam, kết quả cho thấy Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào cấp độ chính sách đầu tiên – thu hút FDI, trong khi các cấp độ chính sách khác chưa thực sự được quan tâm, khiến hiệu lực thực thi hoặc/và hiệu quả chính sách chưa cao

Trong bối cảnh việc thu hút FDI còn có những tranh luận trái chiều ở cả giới chuyên gia và các nhà làm chính sách do tính hai mặt của bản thân nguồn vốn, trong Nghị Quyết Đại hội Đảng Khóa 12 (Tháng 1/2016) đã thông qua phương hướng nhiệm vụ của toàn xã hội trong giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn tới 2030 với mục

tiêu “đổi mới toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh, bền vững, sớm đưa Việt Nam

Trang 11

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”

Để đạt được mục tiêu này, FDI được dự đoán sẽ vẫn là một trong những bộ phận quan trọng Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2016), để đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt 3.200 - 3.500 USD vào năm 2020, và vốn đầu tư toàn xã hội đạt

32 - 34% GDP thì trung bình hàng năm Việt Nam cần khoảng 90 tỷ USD vốn đầu

tư xã hội Trong khi nguồn vốn tích lũy nội địa còn hạn chế thì Việt Nam đang cố gắng hết mức tận dụng nguồn vốn bên ngoài như ODA, vay thương mại, và FDI.Theo kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trong gần 30 năm qua ở Việt Nam, 70% vốn đầu tư xã hội là nguồn vốn trong nước (vốn ngân sách, vốn doanh nghiệp nhà nước, vốn doanh nghiệp tư nhân và dân cư), 30% là nguồn vốn ngoại (bao gồm viện trợ phát triển ODA, FDI và các nguồn vốn nước ngoài khác) Với tỷ lệ này, trong giai đoạn 2016 – 2020 trung bình hàng năm sẽ phải huy động khoảng 23 – 25 tỷ USD vốn nước ngoài, trong đó 17 – 18 tỷ USD là FDI Hơn nữa, ODA ngày một giảm dần và không được ưu đãi như trước, khi Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình Dự kiến đến năm 2018, World Bank sẽ chấm dứt cung cấp nguồn vốn vay ODA đối với Việt Nam, còn vay thương mại hiện không đáng kể Điều đó cũng có nghĩa để bù đắp việc giảm ODA, vốn FDI và vốn đầu tư gián tiếp sẽ được coi trọng hơn

Chính bởi vị trí quan trọng và không thể thay thế của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế Việt Nam như vậy, cần có một công trình nghiên cứu sâu và toàn diện thực trạng thu hút và sử dụng FDI cũng như hệ thống chính sách FDI của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời xác định mức độ thu hút FDI phù hợp để tối ưu hóa lợi ích thu được từ nguồn vốn này Xuất phát từ thực tiễn này, đề tài nghiên cứu

“Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

được thực hiện

2 Tổng quan các nghiên cứu

Thời gian qua, có rất nhiều các nghiên cứu trong nước và quốc tế về tình hình thu hút FDI và tác động của FDI tới kinh tế - xã hội của các quốc gia tiếp nhận

Trang 12

Trong đó, nhiều nghiên cứu đã phân tích vai trò của FDI đối với quốc gia tiếp nhận, cũng như những chính sách mà quốc gia đó áp dụng trong việc thu hút và sử dụng FDI

2.1 Các nghiên cứu quốc tế về thu hút và sử dụng FDI

Hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận sự cần thiết của vốn đầu tư nước ngoài đối với quốc gia tiếp nhận bao gồm vốn, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý, marketing, mạng lưới sản xuất toàn cầu…; và là một động lực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp nhận phát triển và tăng trưởng kinh tế (Lall, 2000; OECD, 2002) Theo UNCTAD (1999), FDI có thể hỗ trợ phát triển cho địa phương bằng cách: (i) bổ sung các nguồn lực tài chính cho phát triển; (ii) đẩy mạnh cạnh tranh xuất khẩu; (iii) tạo ra việc làm và phát triển kỹ năng làm việc cho người lao động; (iv) bảo vệ môi trường và tránh nhiệm xã hội; (v) tăng cường trình độ công nghệ (bao gồm chuyển nhượng, khuếch tán, và tạo ra công nghệ) Có cùng quan điểm, OECD (2002) chỉ ra những lợi ích của nguồn vốn FDI và gợi ý việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI được thực hiện qua bốn kênh: (i) chuyển giao theo chiều dọc với nhà cung cấp ở nước sở tại; (ii) chuyển giao theo chiều ngang với các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty thuộc ngành phụ trợ; (iii) di chuyển các lao động có tay nghề cao; (iv) quốc tế hóa hoạt động R&D

Về động cơ của FDI, World Bank (2011), Rajan (2004) và nhiều nghiên cứu

khác cho thấy có một xu thế chạy đua để thu hút FDI trên toàn thế giới, tuy nhiên các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia không giống nhau [88, 95, 97, 98, 173, 175] Các nghiên cứu cũng đã tổng kết lại một số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con người; (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tư bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhận ví dụ công nghệ mới, thương hiệu, các kênh phân phối Theo đó, các nghiên cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình, để

có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hiệu quả

Trang 13

Về hệ thống chính sách FDI, các chính sách có thể được phân chia làm ba

cấp độ: (i) chính sách thu hút FDI; (ii) chính sách nâng cấp FDI; (iii) chính sách tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước [32, 33, 34, 35, 188] Trong đó, chính sách thu hút FDI được hình thành bằng các ưu đãi về thuế, đất đai, cơ chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trường trong nước và các bảo đảm bằng luật về quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các định hướng ưu tiên thu hút FDI theo chiến lược phát triển của quốc gia Trong một số trường hợp,

có nước còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tư để họ thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ưu tiên cao nhất Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước được hình thành như là một phần trong chính sách công nghiệp, dịch vụ của từng quốc gia, nhằm làm cho các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác và phân công về công nghệ và thị trường tiêu thụ với các MNCs Chính sách này cũng khuyến khích TNC quốc tế hợp tác với các cơ sở đào tạo (nhất là bậc đại học và dạy nghề trình độ cao), tổ chức nghiên cứu khoa học trong nước để nâng cao hơn nữa trình độ và năng lực của các cơ sở, tổ chức đó Ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, chính sách thu hút FDI được ưu tiên hàng đầu, trong khi các quốc gia phát triển theo đuổi tương đối đồng đều các cấp độ chính sách nói trên Ở công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cách tiếp cận hệ thống chính sách FDI theo ba cấp độ như phân tích khá ít gặp trong các công trình nghiên cứu

Về hiệu quả của các chính sách FDI, các nghiên cứu cho thấy rằng, chính

sách FDI hiệu quả phụ thuộc vào đặc thù riêng của từng quốc gia Nghiên cứu của Bellak và cộng sự (2005) phân tích dữ liệu theo ngành của hai nhóm nước là Mỹ và

6 nước EU (US + EU6) và nhóm 4 nước Tây Âu (CEEC 4); kết luận cho thấy ở các nước CEEC 4 chi tiêu chính phủ cho hoạt động R&D sẽ tạo ra sự gia tăng quan trọng trong FDI; trong khi ở các nước US+EU6 sự cải thiện trong chi phí lao động đơn vị (như cải thiện năng suất lao động) và chính sách thuế sẽ thu hút nhiều FDI hơn Còn theo Rajan (2004), một quốc gia muốn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 14

thì cần phải tạo ra một môi trường thuận lợi bằng cách giảm thiểu các chi phí quản

lý phức tạp (hassle cost) Nghiên cứu cũng hệ thống hóa các chi phí này trong 32 nước đang phát triển, từ đó chỉ ra mối liên hệ ngược chiều giữa chi phí quản lý và FDI đến tỷ lệ tăng trưởng GDP của các quốc gia sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác Để đánh giá hệ thống chính sách FDI, nghiên cứu của SESRIC (2014) gợi ý

sử dụng chỉ số FDI tiềm năng và chỉ số FDI thực hiện được xây dựng và phát triển bởi UNCTAD (2002)

Về mức độ thu hút vốn FDI (ngưỡng FDI), dựa trên ý tưởng về sự phụ thuộc

của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế với khả năng hấp thụ của nước

chủ nhà, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra gợi ý về các biến ngưỡng như

Borensztein (1998), Raheem D I & Oyinlola M A (2013), Alleyne D & S Edwards (2011), Jyun-Yi W & Chih-Chiang H (2008), Ford C T và cộng sự

(2008), Demekas D G và cộng sự (2005), Melnyk và cộng sự (2014), Shu-Chen

Chang (2015), Miao Fu, Tieli Li (2006)… Mặc dù kết quả khác nhau, song hầu hết các nghiên cứu đều đi đến kết luận về việc tồn tại một hoặc nhiều giá trị ngưỡng mà

một khi đạt tới các giá trị ngưỡng này, tác động của FDI lên tăng trưởng sẽ đảo

chiều

Theo Raheem & Oyinlola (2013), mức ngưỡng tối thiểu đối với năng lực quản lý nhà nước để FDI có tác động tích cực đối với nền kinh tế là -1.21 Shu-Chen Chang (2015) xác định mức ngưỡng ổn định chính trị là 0.845 và ngưỡng thể chế pháp luật là 1.228 để đảm bảo FDI không có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh

tế Tuy nhiên, khi Ford, Sen & Wei (2010) nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc trong giai đoạn 1970 – 2005, kết luận cho thấy cho dù trình độ quản lý nhà nước tốt

ở mức nào thì FDI cũng không có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế

Giá trị ngưỡng đối với trình độ nhân lực được đề cập trong nhiều nghiên cứu khác nhau của Borensztein và cộng sự (1998), Alleyne D & S Edwards (2011),

Jyun-Yi W & Chih-Chiang H (2008), Ford C T và cộng sự (2008), Shu-Chen

Chang (2015) Miao Fu & Tieli Li (2006) Các nghiên cứu chọn các thước đo đối

1 chỉ số đánh giá năng lực quản lý nhà nước được đo lường từ giá trị -2.5 đến 2.5 (Kaufmann và cộng sự,

2010)

Trang 15

với nhân tố trình độ nhân lực (vốn con người) không giống nhau, mẫu nghiên cứu cũng khác nhau nên các giá trị ngưỡng về trình độ nhân lực trong các nghiên cứu này cũng rất khác nhau Ví dụ, cùng lấy mức ban đầu về số năm trung bình mà nam giới học trung học (initial-year level of average years of the male secondary schooling) làm đại diện cho trình độ nhân lực, Alleyne D & S Edwards (2011) xác định được giá trị ngưỡng ở mức 0.2278 năm, trong khi mức ngưỡng này trong

nghiên cứu của Borensztein và cộng sự (1998) là 1.13 năm Trong một số nghiên

cứu, biến đại diện cho trình độ nhân lực được chọn là tỷ lệ dân số có bằng cao đẳng/

đại học, ví dụ nghiên cứu của Ford C T và cộng sự (2008) chỉ ra mức ngưỡng về tỷ

lệ dân số có bằng cao đẳng cần là 15.56%, Miao Fu & Tieli Li (2006) là 4.85% và 10.99%

Trong hầu hết các nghiên cứu về tác động ngưỡng lên mối quan hệ giữa FDI

và tăng trưởng, biến ngưỡng thường được sử dụng là trình độ lao động, năng lực quản lý nhà nước (như đề cập ở trên), độ mở thương mại (-0,813 trong nghiên cứu của Jyun-Yi W & Chih-Chiang H.,2008), CPI, khả năng hấp thụ của nền kinh tế (0,07 – 1,2 trong nghiên cứu của Girma, 2005)… Song, rất ít nghiên cứu tìm hiểu về

ngưỡng quy mô FDI trong mối quan hệ này Tác giả chỉ tìm thấy nghiên cứu của

Demekas D G và cộng sự (2005) phân tích trên mẫu 15 nước Đông – Nam Âu

trong giai đoạn 1995 – 2003 đề xuất mức ngưỡng quy mô vốn FDI không tư nhân hóa (non-privatization FDI) trên GDP là 12,1% Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng bản chất của FDI sẽ thay đổi khi nước chủ nhà thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài Cũng theo nghiên cứu, làn sóng đầu tư nước ngoài ban đầu chủ yếu bị hấp dẫn bởi quy mô thị trường, dễ dàng tiếp cận thị trường, chi phí nhân công rẻ, nhưng một khi vốn đầu tư FDI đến “điểm tới hạn” (hay khi vượt qua giá trị ngưỡng), một loại nhà đầu tư mới sẽ xuất hiện và bị thu hút bởi chất lượng môi trường kinh doanh, sự thịnh vượng của quốc gia và mức độ phát triển của thể chế luật pháp

Về mô hình xác định ngưỡng, thống kê cho thấy các mô hình được sử dụng

để xác định giá trị ngưỡng tương đối đa dạng, trong đó nổi bật là mô hình hồi quy ngưỡng (Threshold Regression), mô hình tự hồi quy ngưỡng (Threshold

Trang 16

AutoRegression – TAR) đối với dữ liệu chuỗi thời gian, mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng (Panel Threshold Regression - PTR) Trong đó, mô hình TAR và

mô hình PTR ưu việt hơn vì cho phép ước lượng được nhiều hơn một giá trị ngưỡng trong mô hình (nếu có), trong khi mô hình hồi quy ngưỡng chỉ cho phép ước lượng được một giá trị ngưỡng duy nhất Mô hình TAR được giới thiệu bởi Tong (1983) cho dữ liệu chuỗi thời gian, sau đó được thừa kế và phát triển bởi Hansen (1996,

1999, 2000) thành mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng (Panel Threshold Regression – PTR) Mô hình TAR và PTR ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và ý nghĩa của mình trên cả khía cạnh lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Các mô hình này cho phép kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến tính và xác định được số ngưỡng của mô hình Bên cạnh đó, kỹ thuật lấy mẫu có hoàn lại Bootstrap2 cho phép xác định giá trị ngưỡng và kiểm định sự tồn tại của hiệu ngưỡng (Hansen, 1996, 1997, 1999, 2000)

2.2 Các nghiên cứu trong nước về thu hút và sử dụng FDI

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều các nghiên cứu về thu hút và sử dụng FDI dưới

nhiều góc tiếp cận khác nhau Về đối tượng và không gian nghiên cứu, các nghiên

cứu chủ yếu được nghiên cứu ở cấp độ quốc gia (Nguyễn Mại, 2012, 2013, 2014, 2015; Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006, 2008, 2010; Trần Quang Thắng, 2012), hoặc địa phương (Nguyễn Tiến Long, 2010), vùng (Phạm Đức Minh, 2013; Nguyễn Ngọc

Anh, 2014) Về dữ liệu nghiên cứu, chủ yếu các nghiên cứu được thực hiện với số

liệu chuỗi thời gian (Nguyễn Văn Duy và cộng sự, 2014; Nam Hoai Trinh & Quynh Anh Mai Nguyen, 2015), một số khác sử dụng số liệu mảng chủ yếu với các nghiên cứu định lượng theo vùng kinh tế hoặc liên kết vùng (Nguyen Dinh Chien & Kezhong Zhang, 2012; Sajid Anwar & Lan Phi Nguyen, 2013; Meltem Sengun, 2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chủ yếu xoay quanh các vấn đề như: thực trạng dòng vốn FDI, các nhân tố ảnh hưởng đến FDI, hay hệ thống chính sách FDI, kinh nghiệm thu hút FDI tại một số quốc gia Số ít sử dụng mô hình định lượng để

Trang 17

lý giải cho mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, cũng như sự cần thiết của việc thu hút thêm FDI ở Việt Nam

Về thực trạng dòng vốn FDI, nhìn chung, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều

có sự thống nhất cao rằng dòng vốn FDI ở Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bậc qua các năm, và cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc thu hút FDI để tăng trưởng kinh tế ở cả cấp độ quốc gia và địa phương (Nguyễn Mại, 2012, 2013, 2014, 2015; Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006, 2008, 2010; Trần Quang Thắng, 2012; Nguyễn Tiến Cơi, 2009; Nguyễn Xuân Trung, 2011) Một số nghiên cứu sâu còn cho thấy FDI mang lại tác động tích cực lên tăng trưởng trong cả ngắn hạn và dài hạn (Christian

& Richard, 2012) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa & Bùi Thị Bích Phương (2014) chỉ ra rằng tổng dự trữ, cơ sở vật chất, chi phí lao động và độ mở thương mại

là những nhân tố tác động đến FDI chảy vào quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Cũng có nghiên cứu phân tích những vấn đề bất cập trong việc thu hút FDI ở Việt Nam (Trần Quang Thắng, 2012), nhưng nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích định tính mà không lượng hóa hay chỉ ra được “thu hút FDI bao nhiêu là đủ?”

Về hệ thống chính sách FDI của Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung

vào những vấn đề lý luận chung về hệ thống chính sách FDI, kinh nghiệm thu hút FDI của các quốc gia khác (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006; Nguyễn Xuân Trung, 2011; Trần Quang Thắng, 2012), tuy nhiên chủ yếu dựa trên phân tích định tính Xét riêng về hệ thống chính sách, các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào chính sách thu hút FDI mà không có sự bao quát các cấp độ chính sách FDI khác như chính sách nâng cấp FDI, chính sách tạo mối liên kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Chỉ tiêu đánh giá chính sách FDI tại Việt Nam hầu như không được nhắc tới trong các nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng

là phương pháp định tính, phân tích mô tả truyền thống (Trần Quang Thắng, 2012; Nguyễn Tiến Cơi, 2009; Nguyễn Xuân Trung, 2011) Thời gian gần đây xuất hiện nhiều các nghiên cứu định lượng hơn, chủ yếu xoay quanh mối quan hệ giữa FDI và

Trang 18

tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006; Le Thanh Thuy, 2007; Chien và cộng sự, 2012), hoặc mối quan hệ giữa FDI với cơ cấu kinh tế (Đỗ Thị Thủy, 2001; Nguyễn Tiến Long, 2010), thương mại, và thể chế (Dang Duc Anh, 2013; Nguyễn Quốc Việt và cộng sự, 2014), hoặc các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng FDI (Sajid Anwar & Nguyen Phi Lan, 2011; Dương Thị Bình Minh

và cộng sự, 2010; Christian & Richard, 2012; Nguyễn Thị Liên Hoa & Bùi Thị Bích Phương, 2014) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu định lượng đều dựa trên mô hình tuyến tính Theo hiểu biết của tác giả, chưa có nghiên cứu nào sử dụng mô hình phi tuyến để quan sát mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, các nghiên cứu không luận giải được một cách cặn kẽ tại sao lại cần thu hút thêm FDI trong khi FDI đã và đang làm nảy sinh rất nhiều vấn đề bất cập tại Việt Nam Các nghiên cứu cũng không chỉ ra được ngưỡng quy mô FDI mà tại đó tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế là tối ưu

3 Khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy rằng, tuy chủ đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là một vấn đề

mới, nhưng vẫn có những khoảng trống nghiên cứu để tiếp tục đào sâu nghiên

cứu:

Thứ nhất, hiện có rất ít nghiên cứu tiếp cận hệ thống chính sách FDI theo ba

cấp độ: chính sách thu hút FDI, chính sách nâng cấp FDI, chính sách tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước Ở Việt Nam, theo hiểu biết của tác giả chỉ có nghiên cứu của Nguyễn Mại (2012, 2013, 2014) đề cập đến cách phân loại này

Thứ hai, ở Việt Nam hiện chưa có công trình nghiên cứu nào xây dựng hệ

thống chỉ tiêu đánh giá chính sách FDI, mà chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích tính hiệu quả của các chính sách cụ thể

Thứ ba, có một khoảng trống nghiên cứu lớn về vấn đề ngưỡng FDI ở cả các

nghiên cứu trong và ngoài nước Hiện tác giả chỉ tìm thấy một nghiên cứu của

Demekas D G và cộng sự (2005) đề xuất mức ngưỡng quy mô vốn FDI không tư

Trang 19

nhân hóa trên GDP 12,1% Ở một số công trình nghiên cứu trong nước, các nghiên cứu nhận rằng FDI có cả tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế xã hội, và chỉ

ra rằng không nên thu hút FDI bằng mọi giá Tuy nhiên, các nghiên cứu đều không lượng hóa được quy mô vốn FDI là phù hợp với nền kinh tế Việt Nam

Thứ tư, các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu phân tích mối quan hệ tuyến tính

giữa FDI với tăng trưởng kinh tế mà ít sử dụng mô hình phi tuyến; và rất ít nghiên cứu đưa biến số “năng lực quản lý nhà nước” vào mô hình nghiên cứu

Theo đó, để tiếp tục đóng góp vào cơ sở lý thuyết hiện nay về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời lấp vào khoảng trống nghiên cứu về chính sách FDI

và ngưỡng FDI, đề tài luận án hướng đến ba câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây:

(1) Hoạt động FDI ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2016 tác động tới nền kinh tế xã hội Việt Nam như thế nào?

(2) Hệ thống chính sách FDI hiện nay của Việt Nam có hiệu lực và hiệu quả hay không?

(3) Với nội lực hấp thụ hiện tại của nền kinh tế, quy mô vốn FDI thu hút vào Việt Nam bao nhiêu là tối ưu?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là dòng vốn FDI và các chính sách thu hút,

sử dụng FDI trong phạm vi Việt Nam

Khoảng thời gian nghiên cứu từ 2005 – 2016 Sở dĩ luận án chọn thời điểm bắt đầu nghiên cứu năm 2005, vì đây là mốc đánh dấu sự thay đổi về hệ thống chính sách liên quan đến FDI tại Việt Nam với việc ban hành Luật Đầu tư (thống nhất)

2005 và cũng là thời điểm bước đệm trước thềm gia nhập WTO của Việt Nam (năm 2006)

Dữ liệu được tập hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư), Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài chính

Trang 20

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp phương pháp định tính truyền thống để phân tích các vấn đề và nội dung mang tính lý thuyết và phướng pháp định lượng để nghiên cứu thực nghiệm Phương pháp nghiên cứu cơ bản và xuyên suốt quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử Dựa trên số liệu thống kê quá khứ về FDI, chính sách FDI và các vấn đề nảy sinh liên quan đến FDI để làm cơ sở phân tích và nhận xét Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê so sánh và phân tích tổng hợp để phân tích thực trạng FDI, và tổng kết kinh nghiệm các nước trong việc thu hút FDI và giải quyết các vấn

đề liên quan

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng cho dữ liệu mảng PTR để xác định ngưỡng FDI cho Việt Nam

6 Kết cấu đề tài

Nội dung đề tài luận án được kết cấu thành các chương để giải quyết các vấn

đề đã nêu ở mục tiêu nghiên cứu Theo đó, luận án bao gồm phần cơ sở luận về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm khung lý thuyết để phân tích các nội dung liên quan, kinh nghiệm quốc tế về thu hút FDI làm bài học cho Việt Nam Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam, đề tại rút ra những gợi ý và đề xuất một số giải pháp thu hút và sử dụng FDI trong thời gian tới

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 chương như sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC

TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2016

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TẠI VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN 2016 - 2025

Trang 21

Theo lí thuyết “Vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài”

của Samuelson (1948), điều kiện để một quốc gia đạt tới sự tăng trưởng và phát triển là sự hội tụ của bốn yếu tố cơ bản, bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, nguồn vốn đầu tư, và trình độ khoa học kỹ thuật Lý thuyết này được vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển Thực tế cho thấy rằng các nhân tố này ở các quốc gia đang phát triển đều khan hiếm, và chất lượng chỉ ở mức trung bình và dưới trung bình nên sự kết hợp bốn nhân tố gặp trở ngại lớn Đói nghèo làm cho tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp, tốc độ tích lũy vốn thấp, theo đó năng suất lao động thấp Đó là lý do những quốc gia này cứ nằm mãi trong “vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ” Samuelson cho rằng, để phá vỡ vòng luẩn quẩn này, các quốc gia cần phải có một cú huých từ bên ngoài, cụ thể là yếu tố về vốn, khoa học công nghệ hiện đại, chuyên gia… Trong đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng, mang tính đột phá

Theo Cẩm nang cán cân thanh toán tái bản lần 5 của IMF (1993), FDI được

định nghĩa là “loại hình đầu tư quốc tế trong đó một chủ thể kinh tế thuộc một nền

kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế khác Đầu tư trực tiếp bao hàm mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của nhà đầu tư đối với công tác quản trị hoạt động tại doanh nghiệp nhận khoản vốn đầu tư” Một nhà đầu

Trang 22

tư FDI không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ công ty họ đầu tư, mà họ chỉ cần nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần hoặc quyền biểu quyết trong doanh nghiệp đó Mục đích của việc giới hạn 10% cổ phần hoặc quyền biểu quyết trong doanh nghiệp FDI theo IMF nhằm mục đích đảm bảo tính bền vững của vốn FDI, đồng thời phân biệt

nó với danh mục đầu tư Tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra trường hợp thậm chí khi khoản đầu tư FDI nhỏ hơn 10% cổ phần hoặc quyền đầu tư tại doanh nghiệp, nhưng nhà đầu tư FDI vẫn có thể có ảnh hưởng đối với công tác quản trị của công ty lớn hơn các nhà đầu tư khác có số vốn lớn hơn 10% Do đó, khi đánh giá vốn FDI, tỷ lệ phần trăm này nên được tham chiếu theo từng quốc gia, tuy nhiên tính bền vững của khoản đầu tư nên được đặt làm tiêu chí cơ bản Vốn FDI bao gồm 3 thành phần: (1) vốn cổ phần của doanh nghiệp (vốn của tất cả các chi nhánh, công ty con, và các khoản vốn khác như máy móc thiết bị hoặc cổ phần của doanh nghiệp được mua bởi nhà đầu tư FDI); (2) lợi nhuận để lại có liên quan đến lợi ích của nhà đầu tư FDI trong doanh nghiệp; (3) các khoản vốn khác tương ứng với các khoản vay hoặc cho vay giữa các nhà đầu tư FDI và doanh nghiệp FDI hoặc giữa hai doanh nghiệp FDI

mà nhà đầu tư FDI đều có cổ phần

Trong khi đó, theo OECD (1996), FDI được xem là “việc đầu tư được thực

hiện nhằm thu được lợi ích lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia (nhà đầu

tư trực tiếp) vào một chủ thể kinh tế ở một quốc gia khác (doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp) Lợi ích lâu dài bao hàm sự tồn tại của một mối quan hệ trong dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp tiếp nhận vốn, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của mối quan hệ này lên công tác quản trị hoạt động của doanh nghiệp Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể kinh

tế, và các giao dịch kế tiếp sau liên quan đến vốn các chủ thể này với các chi nhánh, các đơn vị liên kết”[164, 165, trg 5] Cũng tương tự IMF, OECD (1996) cho

rằng nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cần nắm giữ ít nhất 10% cổ phần hoặc quyền

bỏ phiếu trong doanh nghiệp liên kết, hoặc giá trị tương đương đối với doanh nghiệp không liên kết Tuy nhiên, điểm khác biệt là OECD xây dựng tỷ lệ phần trăm này dựa trên quan điểm của các doanh nghiệp FDI chứ không dựa trên dòng

Trang 23

vốn FDI thực tế OECD nhận thấy ở một số quốc gia, khoản vốn đầu tư nước ngoài dưới 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu cũng được coi là vốn FDI Trong trường hợp đó, OECD gợi ý cần tách riêng các khoản đầu tư dưới 10% cổ phần hoặc quyền

bỏ phiếu khi so sánh với dòng vốn FDI của các quốc gia khác

Còn theo UNCTAD (2012), “FDI là việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích

và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia này (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) vào một công ty ở một quốc gia khác (công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty con)”[184, trg 17] Không giống với định nghĩa của IMF, UNCTAD không sử dụng tỷ lệ vốn cổ phần tối thiểu tại doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài để phân loại vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thay vào đó, họ định nghĩa FDI trên khía cạnh định tính và mục tiêu của khoản đầu

tư UNCTAD cho rằng cần xem xét một cách thận trọng các khoản đầu tư ngắn hạn trong vốn FDI của một nền kinh tế, cũng như việc phân loại các khoản vốn FDI trong các giao dịch thương mại dựa trên thực tiễn cụ thể của từng quốc gia để tránh

sự mâu thuẫn khi so sánh FDI của các nền kinh tế

Như vậy, mặc dù được diễn giải theo các cách khác nhau nhưng bản chất của hoạt động FDI theo các quan điểm đều có sự thống nhất rằng:

Thứ nhất, bản chất của hoạt động FDI là sự thiết lập quyền sở hữu về tư bản của công ty của một quốc gia ở một quốc gia khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận lâu dài Khi thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài, chủ đầu tư không chỉ di chuyển

nguồn tài chính của mình ra khỏi biên giới quốc gia trong dài hạn, mà còn mang cả

kỹ năng quản lý, công nghệ sản xuất, thương hiệu… đến nước nhận đầu tư Trong quá trình này, chủ đầu tư sử dụng và quản lý các nguồn lực của mình một cách chặt chẽ và hiệu quả nhằm thu được giá trị thặng dư tối đa, đồng thời hỗ trợ nước chủ nhà thực hiện một số mục tiêu kinh tế xã hội nhất định

Thứ hai, hoạt động FDI có liên quan đến sự kết hợp giữa quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã đầu tư Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài phải có

mức độ ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động của các doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu

tư nước ngoài thông qua việc sở hữu một lượng cổ phần nhất định, hoặc các yếu tố

Trang 24

trong mối quan hệ trực tiếp như đại diện của công ty mẹ trong ban giám đốc của công ty con, tham gia vào quá trình biểu quyết, ra quyết định, trao đổi nhân sự, cung cấp tín dụng ưu đãi… đều coi là hoạt động FDI Như vậy, thực chất FDI là sự mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia (Multinational Corporations - MNCs) Đây là những công ty thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và/hoặc cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của ít nhất hai quốc gia trở lên Tuy nhiên, không phải công ty

đa quốc gia nào cũng được coi là doanh nghiệp FDI Tùy theo quan điểm khuyến khích và mục tiêu phát triển của từng nước, mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn riêng khi xem xét và phân loại doanh nghiệp FDI

b Đặc điểm

Dựa trên khái niệm và bản chất của FDI và doanh nghiệp FDI, có thể thấy FDI có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận Trong khi các

hình thức đầu tư gián tiếp thu được lợi tức tài chính ổn định, nguồn thu của các doanh nghiệp FDI hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

mà họ đầu tư vốn, do đó thu nhập mà doanh nghiệp FDI nhận được mang tính chất thu nhập kinh doanh và kém ổn định hơn Xét về mặt tích cực, nhà đầu tư được tự chủ hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyền đưa ra các quyết định tài chính và chịu trách nhiệm lãi lỗ với khoản đầu tư Đây có thể coi là động lực thúc đẩy nhà đầu tư tập trung đưa ra những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Đó cũng là lý do các dự án FDI thường đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các hình thức đầu tư khác

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, theo đó rủi ro và lợi nhuận cũng sẽ được san sẻ cho các bên Nếu nhà đầu tư

nước ngoài đầu tư 100% vốn thì họ có toàn quyền quản lý và điều hành công ty Trong trường hợp liên doanh, chủ đầu tư nước ngoài có quyền tham gia điều hành theo mức độ vốn góp của mình Tuy nhiên, theo IMF (2004), vẫn có trường hợp nhà đầu tư nước ngoài có mức độ ảnh hưởng lớn hơn các nhà đầu tư trong nước có số vốn tương đương hoặc lớn hơn

Trang 25

Thứ ba, FDI không tạo ra những ràng buộc về chính trị, quân sự, không để lại những gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận Mặc dù FDI

vẫn chịu sự chi phối của chính phủ nhưng FDI ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên do FDI là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân và hoạt động với mục đích cơ bản là lợi nhuận, bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý

và vận hành Theo đó, FDI tránh cho quốc gia tiếp nhận những ràng buộc phải đánh đổi về chính trị, quân sự, và đặc biệt không để lại hậu quả nợ nần cho nền kinh tế nước chủ nhà Tuy nhiên, một quốc gia sẽ có thể gặp nhiều rủi ro nếu như quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài này

Thứ tư, FDI thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ cho quốc gia nhận đầu tư Như đã phân tích ở phần trên về bản chất của FDI, khi thực hiện hoạt

động đầu tư nước ngoài, bên cạnh vốn bằng tiền và các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, bất động sản , nhà đầu tư còn mang cả quy trình công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, các phát minh sáng chế, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý đến nước chủ nhà Đây là một trong những điểm trọng yếu mà các quốc gia tiếp nhận đầu tư hướng tới khi kêu gọi thu hút FDI, đặc biệt ở các nước đang phát triển với trình độ khoa học – kỹ thuật, năng lực quản lý còn hạn chế

Thứ năm, FDI có tác động trực tiếp và lâu dài tới cơ cấu kinh tế, mức độ phát triển của quốc gia tiếp nhận Hoạt động FDI mang tới cho quốc gia tiếp nhận

những công nghệ mới, góp phần làm tạo lập các lĩnh vực mới, ngành nghề mới Sự phát triển của khu vực FDI trong một số ngành, lĩnh vực nhất định trực tiếp làm thay đổi cơ cấu kinh tế Bên cạnh đó, FDI cũng có tác động lâu dài đến mức độ phát triển của quốc gia tiếp nhận Một mặt, khi FDI làm tăng cung những hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiếp, FDI góp phần làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh trạnh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà, hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực

tế Mặt khác, nếu FDI kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế thì FDI lại khiến làm cạn kiệt các nguồn lực tăng

Trang 26

trưởng kinh tế, tăng nhập siêu, làm mất cân bằng cán cân thanh toán, tăng lạm

phát trong dài hạn

1.1.1.2 Vị trí nguồn vốn FDI

Đứng dưới góc độ vĩ mô, nguồn hình thành vốn đầu tư xã hội bao gồm

nguồn vốn tích lũy nội địa và nguồn vốn từ bên ngoài Theo các cách phân chia và

quan điểm khác nhau, mỗi nguồn vốn đều có vị trí nhất định phụ thuộc vào tính bền

vững, độc lập, hiệu quả trong sử dụng của từng loại nguồn vốn

Hình 1.1 Phân loại các nguồn vốn đầu tư xã hội

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Nguồn vốn tích lũy nội địa là nguồn vốn đầu tư cơ bản của nền kinh tế

Nguồn vốn đầu tư tích lũy nội địa được hình thành từ phần tích lũy của nội bộ nền

kinh tế, bao gồm nguồn vốn nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân, vốn từ thị

trường vốn trong nước:

- Nguồn vốn nhà nước: được coi là “vốn mồi” ban đầu để thu hút các nguồn

vốn trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển theo định hướng của Nhà nước Qua

đó, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội theo chiến lược quốc gia theo từng

thời kỳ Nguồn vốn này chủ yếu được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã

hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án cần sự dẫn dắt và tham gia của nhà

nước, quy hoạch và xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng

Căn cứ vào mục đích của các khoản chi, nội dung chi đầu tư phát triển của NSNN

bao gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi không có tính chất đầu tư xây

dựng cơ bản Trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của NSNN

Nguồn vốn đầu tư xã hội

Nguồn tích lũy nội địa

Nguồn vốn nước ngoài

Vốn ODA

Vốn vay thương mại

Vốn FDI

Vốn từ thị trường vốn quốc tế

Trang 27

nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ và vật tư hàng hóa

dự trữ cần thiết của nền kinh tế

- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, tích lũy

của các doanh nghiệp dân doanh, hợp tác xã Nguồn vốn đầu tư tích lũy từ các doanh nghiệp dân doanh thực chất là khoản đầu tư lại của các doanh nghiệp, dự án, lấy từ nguồn khấu hao cơ bản, lợi nhuận để lại từ bản thân các doanh nghiệp, dự án này Nguồn vốn này mang tính chất cục bộ do chỉ sử dụng để tại đầu tư các dự án

đã hoạt động có hiệu quả Còn, tiết kiệm từ dân cư và hợp tác xã thực chất là phần thu nhập của hộ gia đình tiết kiệm được và không bị tiêu dung Nguồn vốn này có một nhược điểm lớn là không ổn định

- Nguồn vốn từ thị trường tài chính, ngân hàng trong nước: là nguồn tích lũy

nội địa quan trọng, hoạt động giống như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, doanh nghiệp, tổ chức tài chính, chính phủ trung ương, địa phương, tạo ra một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế

mà không một phương thức huy động nào có thể làm được

Nguồn vốn nước ngoài bao gồm vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA và

các hình thức viện trợ khác), vốn vay thương mại, vốn FDI, vốn từ thị trường vốn quốc tế Nguồn vốn nước ngoài được luân chuyển thể hiện quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia:

- Nguồn vốn ODA: gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu

đãi, được phân bổ theo công trình, dự án Đặc điểm của nguồn vốn này là phải qua chính phủ nước tiếp nhận hoặc được bảo lãnh chính thức, phải đáp ứng cho đầu tư phát triển, đảm bảo hoạt động của nền kinh tế Theo đó, Chính phủ lên danh sách các lĩnh vực kêu gọi vốn viện trợ phát triển, hàng năm chính phủ họp với nhà tài trợ

để kêu gọi tài trợ, các nhà tài trợ sẽ xác định lĩnh vực cần viện trợ, xây dựng dự án

và tài trợ theo dự án Nguồn vốn này thường có tác dụng nhanh và mạnh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu kinh tế xã hội của nước tiếp nhận Tuy nhiên, tiếp nhận nguồn vốn này thường gắn với sự trả giá về mặt chính trị và tình trạng nợ nần chồng chất nếu sử dụng không có hiệu quả vốn vay và không thực hiện nghiêm

Trang 28

ngặt việc trả nợ vay Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia, thực tế chi phí vay ODA không hề rẻ do thường đi kèm với những điều kiện như chỉ định thầu, ưu tiên nhà đầu tư nước ngoài, yêu cầu mua máy móc, thiết bị, vật liệu từ quốc gia tài trợ ODA

- Vốn vay thương mại: là một hình thức huy động vốn bằng cách vay vốn từ

các quốc gia giống như ODA Tuy nhiên khác với ODA, vốn vay thương mại thường chịu lãi suất cao, thời gian vay không dài như ODA Bù lại, nước đi vay không phải chịu bất kỳ sự ràng buộc nào Ngoài ra, do thời gian vay hạn chế hơn so với ODA nên buộc nước đi vay phải chủ động sử dụng đồng vốn có hiệu quả

- Vốn huy động từ thị trường vốn quốc tế: Đây là dòng vốn đầu tư qua thị

trường chứng khoán Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu và rộng như hiện nay, các thị trường vốn trong nước ngày càng liên kết chặt chẽ với hệ thống tài chính quốc tế, nhằm đa dạng hóa nguồn vốn cho quốc gia

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Về cơ bản, nguồn vốn này khác với

các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của chính phủ nhưng FDI ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên do FDI là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân và hoạt động với mục đích cơ bản là lợi nhuận, bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và vận hành Theo đó, FDI tránh cho quốc gia tiếp nhận những ràng buộc phải đánh đổi về chính trị, quân sự, và đặc biệt không để lại hậu quả nợ nần cho nền kinh tế nước chủ nhà Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghiệp hay cần nhiều vốn thông qua việc mang theo tài nguyên kinh doanh từ nước đầu tư vào nước tiếp nhận trong quá trình đầu tư Bên cạnh đó, nguồn vốn FDI còn đóng góp vào bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Do vậy, có thể thấy, nguồn vốn FDI ưu việt hơn hẳn các nguồn vốn khác

Theo học thuyết Keynes về mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư:

Tiết kiệm = Chi tiêu đầu tư

Trang 29

Trong đó, tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân, chính phủ, và tiết kiệm của khu vực nước ngoài Chi tiêu đầu tư bao gồm chi tiêu dùng và chi tiêu chính phủ Trong một nền kinh tế mở, đẳng thức “đầu tư bằng tiết kiệm” không phải bao giờ cũng được thiết lập Mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên cán cân vãng lai theo công thức:

Cán cân vãng lai = (Tiết kiệm tư nhân – Đầu tư) + (Thuế - Chi tiêu chính phủ)

Theo đó, nếu phần tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước

sở tại, cán cân vãng lại thặng dư, dòng vốn trong nước có thể được luân chuyển ra nước ngoài Ngược lại, nếu tích lũy của nền kinh tế nhỏ hơn nhu cầu đầu tư, tài khoản vãng lai thâm hụt, nền kinh tế sẽ cần huy động vốn đầu tư từ nước ngoài Ở các nước đang phát triển, trong bối cảnh các quốc gia bước vào kỷ nguyên tự do hóa tài chính, khi mà các nguồn tích lũy trong nước không đủ, việc sử dụng nguồn vốn bên ngoài là một xu thế tất yếu, và là một bộ phận không thể thay thế trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư xã hội Thực tế cho thấy, tình trạng khan hiếm vốn tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển do hạn chế về khả năng tích lũy vốn ở các quốc gia này Trong khi các nước dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đầu tư ít nhất 20% thu nhập quốc dân vào việc tạo vốn thì ở các nước đang phát triển tỷ lệ này chỉ

có thể đạt mức 5% [171]

Hình 1.2 Các nguồn vốn bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển

Nguồn: Development Initiatives (2015)

ODA, 7% South-South

cooperation, 0.6%

Other official flows, 3%

Development finance institutions, 11%

Trang 30

Xét riêng các nguồn vốn bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển, nguồn vốn FDI được đánh giá là ổn định hơn so với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác nhờ quan điểm về lợi ích dài hạn về thị trường, triển vọng tăng trưởng, và không tạo

ra gánh nặng nợ cho nền kinh tế nước tiếp nhận Theo Development Initiatives (2015), có đến 23% nguồn vốn từ bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển là nguồn vốn FDI Và nguồn vốn này đang có xu hướng tăng dần lên theo các năm

(xem Hình 1.2 & Hình 1.3)

Hình 1.3 Vị trí của nguồn vốn FDI trong số các nguồn vốn nước ngoài chảy

vào một số nước đang phát triển châu Á, 2005 – 2015

Nguồn: Global Opportunity Index, Milken Institution (2016)

1.1.2 Tác động của nguồn vốn FDI đối với phát triển kinh tế

1.1.2.1 Tác động tích cực

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra những tác động tích cực đối với

cả chủ đầu tư nước ngoài và nền kinh tế tiếp nhận vốn

Đối với chủ đầu tư nước ngoài: Nhờ hoạt động FDI, doanh nghiệp có thể lưu

chuyển tự do dòng vốn của mình tới bất kì nơi nào trên thế giới mà họ thấy có triển vọng nhằm thu được mức sinh lời cao nhất với rủi ro thấp nhất Như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu này bởi FDI mang tới những

Trang 31

“lợi thế cạnh tranh” nhất định mà doanh nghiệp không thể có được nếu chỉ tiến hành hoạt động kinh doanh trong nội địa Những lợi thế cạnh tranh này giúp các doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng doanh thu tiêu thụ và phần nào giảm bớt được rủi ro nhờ việc “đa dạng hóa đầu tư quốc tế”

Không chỉ là một chiến lược đầu tư tìm kiếm lợi nhuận, FDI còn được coi là một “chiến lược phòng vệ” – giúp doanh nghiệp tránh được những hàng rào bảo hộ mậu dịch hà khắc của nhiều quốc gia Xét trên góc độ vĩ mô, FDI đã giúp nền kinh

tế của chủ đầu tư bành trướng sức mạnh, trở thành những “cường quốc”, “đầu tàu” kinh tế trên thế giới, đồng thời góp phần củng cố và nâng cao vị thế chính trị

Đối với nước nhận đầu tư: Mặc dù tác động của FDI còn gây nhiều tranh cãi,

song rất nhiều các nghiên cứu đã nêu bật những tác động tích cực của FDI đối với

tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thông qua quá trình chuyển giao vốn, công nghệ [98,110] Các dự án FDI quy mô lớn không những giúp nhiều quốc gia giải quyết hàng loạt những vấn đề nảy sinh về kinh tế - xã hội như tỉ lệ thất nghiệp cao, lạm phát phi mã, thâm hụt ngân sách, tệ nạn xã hội… mà còn góp phần nâng cao mức sống của người dân, tạo tiền đề cho việc tích lũy thu nhập, bổ sung nguồn vốn mới cho nền kinh tế nhằm hướng tới một sự tăng trưởng bền vững Hơn nữa, FDI ở nhiều nước nhận đầu tư được xem như là “chất xúc tác” cho sự phát triển kinh tế hiện đại [156]

Bên cạnh đó, về bản chất nguồn tài trợ quốc tế này là vốn của tư nhân đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận nên không tạo ra những ràng buộc về chính trị - xã hội quân sự và không để lại gánh nặng trả nợ nặng nề cho nền kinh tế tiếp nhận FDI tác động tích cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế bằng cách lấp đầy khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư, thâm hụt thương mại, nâng cao năng suất lao đông và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động tại nước chủ nhà, tăng nguồn thu cho phát triển

Ngoài ra, FDI còn góp phần nâng cao năng lực quản lý, khuyến khích các doanh nghiệp địa phương học hỏi, tăng nguồn thu ngân sách, Quan trọng hơn cả, thông qua những dự án FDI, nền kinh tế tiếp nhận vốn có cơ hội được tiếp thu,

Trang 32

chuyển giao những kỹ thuật, quy trình sản xuất, sáng kiến, công nghệ tiên tiến của thế giới; các bí quyết kinh doanh và kinh nghiệm quản trị quý báu… Việc “đi tắt đón đầu” khoa học – công nghệ sẽ giúp các nước tiếp nhận vốn không những cải thiện đáng kể quy trình, năng lực sản xuất, cơ sở vật chất – kĩ thuật của mình theo

định hướng chung “công nghiệp hóa - hiện đại hóa” mà còn tiết kiệm được thời

gian và chi phí bồi dưỡng, hình thành nên một đội ngũ lao động mới có tính chuyên môn hóa cao, lành nghề, có tri thức, thích nghi nhanh với nền sản xuất công nghiệp

hiện đại

1.1.2.2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những lập luận cho thấy tác động tích cực của FDI, có một số tranh cãi cho rằng trong nhiều trường hợp FDI không những không tạo ra tác động tích cực đối với nền kinh tế, mà còn khiến nền kinh tế nước tiếp nhận trở nên xấu hơn

Thứ nhất, có thể làm mất cân bằng cán cân thanh toán của nước chủ nhà Ví

dụ, khi giá trị hàng hóa nhập khẩu của các MNCs vào nước chủ nhà lớn hơn giá trị hàng hóa xuất khẩu cuối cùng, thì trạng thái cán cân thanh toán tại nước chủ nhà sẽ trở nên xấu hơn

Thứ hai, kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước Nhiều

nghiên cứu cho thấy mật độ tập trung của các dự án FDI lớn ở khu vực đô thị làm kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước [156] Được xem như là

“mũi tên xuyên thủng hàng rào bảo hộ mậu dịch nội địa”, lại nhận được nhiều ưu đãi từ phía chính phủ của nước chủ nhà, các doanh nghiệp FDI dần trở thành những đối thủ cạnh tranh trực tiếp hay tiềm tàng với các doanh nghiệp bản địa trong cùng lĩnh vực đầu tư, dần thu hẹp thị trường, bóp nghẹt và thâu tóm các doanh nghiệp này bằng ưu thế về vốn, thương hiệu, hiệu quả sản xuất và tính khoa học vượt trội của mình

Thứ ba, gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các quốc gia tiếp nhận vốn Đặc biệt ở các nước đang phát triển, chất lượng chuyển

giao công nghệ trong các dự án FDI rất thấp [131] FDI dần biến các nước tiếp nhận đầu tư thành những “bãi rác công nghệ”, trở thành sân sau, đại công xưởng của các

Trang 33

nước tư bản phát triển Thay vì chuyển giao công nghệ tiên tiến như mong đợi của các quốc gia tiếp nhận, FDI mang đến các quốc gia này những trang thiết bị, máy móc lỗi thời, đã hết khấu hao và những quy trình công nghệ, kỹ thuật vốn đã quá lạc hậu tại nước họ, tuy nhiên các công nghệ này vẫn được ghi nhận với giá cao

Thứ tư, có thể mang lại rủi ro cho nền kinh tế khi phụ thuộc vào bên ngoài

Với những quốc gia quá phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài, nền kinh tế sẽ rất rủi

ro nếu các doanh nghiệp FDI có hiện tượng “giảm vốn” (decapitalization), nghĩa là

thay vì tái đầu tư, các doanh nghiệp FDI ồ ạt chuyển lợi nhuận về nước của chủ đầu

tư hay sang một quốc gia khác Hơn nữa, họ còn lợi dụng những kẽ hở trong chính sách, pháp luật để gian lận thuế, gây thất thu cho nước chủ nhà Nhất là trong hình thức tham gia cổ phần vào các doanh nghiệp trong nước, nhiều trường hợp nhà đầu

tư FDI áp dụng “kỹ xảo chuyển giá” để thu lợi cho công ty mẹ ở nước ngoài, thậm chí chủ động gây lỗ cho công ty địa phương để thôn tính, mua lại Bên cạnh đó, mặc

dù về mặt nguyên tắc, nguồn vốn FDI không tạo ra những ràng buộc về chính trị, quân sự, tuy nhiên vẫn có những trường hợp doanh nghiệp FDI vận động hành lang chính trị, thậm chí đe dọa hoặc bắt buộc chính phủ nước chủ nhà thông qua các quy định, chính sách có lợi cho họ Trong những trường hợp như vậy, FDI giúp tối đa hóa lợi ích cho các nước lớn và trở thành công cụ điều khiển tình hình kinh tế chính

trị của quốc gia tiếp nhận vốn [37]

1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI

Hoạt động thu hút và sử dụng FDI có thể được đánh giá trên nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi luận án, tác giả đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDI trên các phương diện sau đây: (1) kết quả thu hút và thực hiện vốn FDI thể hiện thông qua quy mô và cơ cấu dòng vốn; (2) hiệu quả kinh tế của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế xã hội; (3) chất lượng FDI thể hiện qua tác động xã hội, môi trường và tác động lan tỏa của khu vực FDI; (4) chỉ số ngưỡng quy mô FDI Khung đánh giá được trình bày tổng hợp trong Hình 1.4

Trang 34

Hình 1.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDI

1.2.1 Hệ thống chỉ tiêu về kết quả thu hút và thực hiện FDI

Hệ thống chỉ tiêu này cho phép đánh giá trực tiếp kết quả thu hút và thực

hiện FDI tại nước chủ nhà Đây là nhóm chỉ tiêu truyền thống với các tiêu chí đánh giá bao gồm:

(1) Quy mô vốn đăng ký: là tổng số vốn góp bằng tiền hoặc tài sản hợp pháp,

lợi nhuận để lại và các hình thức vốn khác do nhà đầu tư nước ngoài cam kết đưa vào nước chủ nhà để tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp3

(World Bank, 2016) Vốn đăng ký bao gồm vốn cam kết của nhà đầu tư nước ngoài theo giấy phép cấp mới (đối với các dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án độc lập với các dự án đang hoạt động mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong kỳ); và cấp bổ sung (đối với các

dự án đầu tư nhằm mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực sản xuất kinh

Kết quả thu hút và thực hiện FDI

(1) Quy mô vốn FDI đăng ký (2) Quy mô vốn FDI thực hiện (3) Quy mô dự án đầu tư (4) Cơ cấu FDI theo vùng (5) Cơ cấu FDI theo ngành (6) Hình thức đầu tư

Chất lượng FDI

(1) Việc làm của khu vực FDI (2) Tác động đến môi trường (3) Chuyển giao công nghệ (4) Liên kết với doanh nghiệp trong nước

Hiệu quả kinh tế của khu vực FDI

(1) Tổng đầu tư xã hội (2) Tăng trưởng kinh tế (3) Cán cân thanh toán (4) Thu nhập tại khu vực FDI (5)Thu ngân sách nhà nước (6) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ngưỡng FDI

Trang 35

doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường của dự án đầu tư hiện có đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong các năm trước)

Quy mô vốn đăng ký cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư cũng như mức độ tin cậy của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư trong nước

(2) Quy mô vốn thực hiện: là số vốn đầu tư thực tế do các nhà đầu tư nước

ngoài đã chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại nước sở tại, bao gồm chi phí xây dựng các công trình, nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị… Quy mô vốn thực hiện thể hiện hiệu quả của hoạt động xúc tiến đầu tư, cơ chế quản lý nhà nước, cũng như hiệu lực thực thi của các văn bản pháp luật Về mặt lý thuyết, vốn FDI thực hiện thường nhỏ hơn vốn FDI đăng ký của dự án

Quy mô vốn FDI đăng ký và thực hiện càng lớn càng thể hiện quốc gia đó thành công trong công cuộc thu hút vốn FDI Theo UNCTAD (2016), FDI ngày càng được quan tâm thu hút hơn ở các nước đang phát triển Năm 2015, FDI toàn cầu chảy vào các nước đang phát triển (không tính các trung tâm tài chính Caribe)

đã tăng 9%, đạt kỷ lục mới 765 tỷ USD

Bên cạnh đó, khi xem xét khoảng cách giữa quy mô vốn đăng ký và vốn thực hiện có thể đánh giá được mức độ thực hiện của hoạt động đầu tư trong năm đó Khoang cách giữa được thể hiện thông qua tỷ lệ giải ngân Đây là tỷ lệ phần trăm của vốn FDI thực hiện trên tổng vốn FDI đăng ký theo thời gian, được tính bằng công thức:

Tỷ lệ giải ngân = Quy mô vốn th ực hi ện

Quy mô vốn đăng ký x 100%

Tỷ lệ giải ngân lớn thể hiện sự thống nhất giữa cam kết và thực hiện của hoạt động đầu tư Ngược lại, tỷ lệ nhỏ hàm ý những vấn đề nảy sinh trong quá trình giải ngân vốn như thủ tục hành chính, sự lưỡng lự của nhà đầu tư khi bắt tay vào hoạt động đầu tư, hay điều kiện toàn cầu và khu vực có biến động…

Trang 36

Ngoài ra, còn có chỉ tiêu quy mô vốn trên một dự án được sử dụng để đánh giá độ lớn của các dự án FDI tại nước tiếp nhận vốn Quy mô vốn dự án FDI đăng

ký và thực hiện được tính theo công thức:

Quy mô vốn dự án FDI đăng ký = Quy mô vốn đăng ký

(3) Cơ cấu FDI: là chỉ tiêu thể hiện sự cân bằng hay mất cân bằng trong xu

thế phát triển của dòng vốn FDI Cơ cấu FDI có thể được phân theo các tiêu chí khác nhau: hình thức đầu tư, ngành kinh tế, vùng kinh tế Nhóm chỉ tiêu này cho phép đánh giá sự thay đổi về mẫu hình (pattern) của dòng vốn tại quốc gia tiếp nhận vốn Nhìn chung trên thế giới, xét theo hình thức đầu tư, FDI thông qua các thương

vụ M&A xuyên quốc gia chiếm ưu thế và có xu hướng tăng lên, trong khi các dự án đầu tư mới giảm xuống Xét theo ngành, dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng chảy nhiều nhất vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm đến 64% tổng FDI toàn cầu (năm 2015), gấp hơn 2 lần lĩnh vực công nghệ [185]

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu về chất lượng FDI

Nhóm chỉ tiêu này bao hàm các tác động trực tiếp của FDI đối với xã hội và môi trường, cũng như tác động gián tiếp (tác động lan tỏa) của khu vực này đối với hoạt động đầu tư trong nước Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:

(1) Khả năng tạo việc làm: được thể hiện thông qua số lượng việc làm mà

khu vực FDI tạo ra trong tương quan với các khu vực kinh tế khác, thông thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trong tổng lao động có việc làm trong các ngành kinh tế

Tỷ lệ lao động tạo ra của khu vực FDI = Số lao động trong khu vực FDI

Tổng lao động của cả nước x 100%

Trang 37

Tỷ lệ lao động tạo ra của khu vực FDI cao cho biết dòng vốn FDI có chất lượng tốt trong việc tạo công ăn việc làm tại nước sở tại, và ngược lại

(2) Tác động của khu vực FDI đến môi trường: Đây là một chỉ tiêu rất khó

để chuẩn hóa Trong phạm vi của luận án, tác giả sử dụng một số tiêu chí sau đây:

- Tỷ trọng doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường được xác định thông qua tỷ lệ phần trăm số lượng doanh nghiệp không tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường trên tổng số các doanh nghiệp:

Doanh nghiệp FDI gây

Số lượng doanh nghiệp không tuân thủ quy

Tổng số doanh nghiệp FDI

- Chi phí cho hoạt động cải tạo môi trường hàng năm của khu vực FDI

- Chi phí môi trường dự kiến tiết kiệm được của các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào một quốc gia

Tỷ trọng doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường càng lớn cho thấy nước

sở tại đang tiếp nhận dòng vốn FDI kém chất lượng, gây ảnh hưởng tới môi trường

của quốc gia đó Chi phí cho cải tạo môi trường hàng năm của khu vực FDI và chi

phí môi trường dự kiến tiết kiệm được của các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào một quốc gia lại cho biết mức độ quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường của các

doanh nghiệp FDI tại nước sở tại

(3) Mức độ chuyển giao công nghệ: được thể hiện thông qua (i) số hợp đồng

chuyển giao công nghệ tại nước sở tại; (ii) tỷ trọng các dự án đầu tư đến từ các nước nắm giữ công nghệ nguồn (như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ…); (iii) mức độ hiện đại và cập nhật của các công nghệ được chuyển giao; (iv) chỉ tiêu năng suất các yếu tố tổng hợp TFP của khu vực FDI4 ; (v) tỷ lệ nội địa hóa Các chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy mức độ chuyển giao công nghệ lớn của các doanh nghiệp FDI vào

nước sở tại

4 Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP – Total factor Productivity) là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả lao động và vốn trong một lĩnh vực cụ thể, hoặc của cả nền kinh tế TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 38

(4) Mức độ liên kết của khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước: Sự liên

kết chặt chẽ của khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau đây:

- Hình thức liên kết trong hoạt động FDI (tỷ trọng lớn các hoạt động FDI dưới hình thức liên doanh, liên kết);

- Mức độ phát triển chuỗi và hình thành công nghiệp phụ trợ của nước chủ nhà (sự hoàn thiện của khu vực công nghiệp phụ trợ);

- Mức độ liên kết trong hệ thống quản trị điều hành (CEO) giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước (sự liên kết chặt chẽ của giới điều hành doanh nghiệp giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước);

- Mức độ đào tạo và nâng cao kỹ năng của người lao động trong khu vực FDI (tần suất và bậc đào tạo đối với người lao động trong khu vực FDI)

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế FDI

Hiệu quả kinh tế FDI là sự hài hòa giữa quy mô, cơ cấu và chất lượng của FDI Nhóm chỉ tiêu này được thể hiện thông qua phần đóng góp của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế tại quốc gia tiếp nhận vốn Các tiêu chí đánh giá bao gồm:

(1) Đóng góp của khu vực FDI vào tổng đầu tư xã hội: là tỷ lệ phần vốn FDI

trong tổng nguồn vốn đầu tư xã hội của nước chủ nhà Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều cho thấy FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận FDI tăng làm tăng tổng nguồn vốn đầu tư xã hội, đồng thời tạo ra tác động tràn đến đầu tư nội địa, thị trường lao động, và công nghệ của nước chủ nhà Do đó, đóng góp của FDI vào tổng đầu từ toàn xã hội càng cao càng cho thấy hiệu quả kinh tế của FDI là lớn

Đóng góp của FDI vào tổng đầu tư xã hội = Quy mô vốn th ực hi ện

Tổng ngu ồn vốn đầu tư xã hội x 100%

Tuy nhiên xét về tổng thể, tỷ lệ FDI/tổng nguồn vốn đầu tư xã hội còn phụ thuộc vào sự thay đổi đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước Vì vậy, cần đánh giá chỉ tiêu này trong mối tương quan với chỉ tiêu đóng góp vào tăng

Trang 39

trưởng kinh tế để biết sự tương xứng về đóng góp kinh tế và tiềm năng của khu vực FDI

(2) Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế: được thể hiện qua tỷ lệ đóng

góp của khu vực FDI vào GDP của quốc gia

Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế = GDP của khu vực FDI

Tổng GDP cả nước * 100% Đóng góp vào GDP lớn là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết hiệu quả kinh tế cao của khu vực FDI Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ nói lên hiệu quả kinh tế FDI về mặt lượng Theo đó, cần xem xét chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác trong nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế FDI

(3) Tác động của FDI đối với cán cân thanh toán quốc tế: được thể hiện

thông qua giá trị xuất khẩu ròng của khu vực FDI tại nước chủ nhà Một mặt, dòng vốn FDI chảy vào góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nhờ tận dụng được lợi thế

về chi phí, vị thế sẵn có của các công ty đa quốc gia (MNCs) trên thị trường Mặt khác, các doanh nghiệp FDI vẫn phải nhập khẩu hàng hóa, máy móc vào nước chủ nhà Đây là một bộ phận đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu Khi giá trị xuất khẩu ròng của khu vực này tăng lên, cho biết FDI có tác động bổ sung vào thặng dự cán cân vốn, từ đó cải thiện cán cân thanh toán

Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của khu vực FDI còn được thể hiện qua đóng

góp của khu vực FDI vào ngân sách nhà nước thông qua chỉ tiêu (4) hiệu quả thu

nhập (được tính bằng tiền lương trung bình của một lao động trong khu vực FDI

trong tương quan với các khu vực kinh tế khác); (5) thu ngân sách nhà nước (được

tính bằng tỷ lệ phần trăm thu NSNN từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên

tổng thu NSNN), và (6) khả năng giúp quốc gia tiếp nhận vốn thực hiện chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế của mình

Đóng góp của khu vực FDI trong mối tương quan với các thành phần kinh tế khác càng lớn, càng thể hiện hoạt động sử dụng FDI đạt hiệu quả cao Nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy, không phải lúc nào kết quả thu hút FDI tốt cũng song hành với hiệu quả kinh tế cao Do đó, cũng cần xem xét khía cạnh: (i) đóng góp của khu vực FDI có tương xứng với tiềm năng hay quy mô vốn đã thu hút được hay

Trang 40

không; (ii) nội lực hấp thụ vốn của nền kinh tế có đủ khả năng hấp thụ và khai thác tối ưu những lợi ích từ nguồn vốn này hay không

1.2.4 Chỉ số ngưỡng FDI

Khi mà hầu hết các quốc gia đang phát triển đều theo đuổi mục tiêu kết quả

thu hút và thực hiện FDI (quy mô FDI) nhưng lại cùng một lúc muốn thu được hiệu quả kinh tế và chất lượng FDI, thực tế này dẫn đến một mâu thuẫn rằng: Mặc dù

quy mô FDI càng lớn thể hiện kết quả thu hút tốt, nhưng điều đó không đảm bảo hiệu quả kinh tế và chất lượng FDI tại nước chủ nhà sẽ cao Bởi, bên cạnh những lợi ích mà dòng vốn FDI mang lại như nguồn vốn, việc làm, điều kiện để nước chủ nhà tiếp cận thị trường nước ngoài, tạo ra công nghệ, hiệu ứng lan tỏa, FDI cũng có không ít những tác động tiêu cực đối với phát triển kinh tế như mất cân bằng cán cân thanh toán, kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước, cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, rủi ro phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn lực bên ngoài

Như vậy, một quốc gia khi tiếp nhận vốn FDI, không chỉ hướng đến hiệu quả

kinh tế của FDI mà mục tiêu là phải khai thác được hiệu quả cuối cùng của FDI

Hiệu quả FDI là kết quả của một quy mô phù hợp với năng lực hấp thụ, thể hiện ở chất lượng của các khoản FDI đó Nó được kỳ vọng đóng góp vào ngân sách, GDP, thu nhập sau khi tính tới các tác động tiêu cực về môi trường, hỗ trợ giá, thuế… Hay nói cách khác, đó là đóng góp ròng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế

xã hội của nước chủ nhà sau khi trừ đi những chi phí cơ hội, giá phải trả cho những vấn đề tiêu cực nảy sinh khi thu hút và sử dụng FDI Tuy nhiên, rất khó có thể

lượng hóa tất cả các yếu tố trên để định lượng hiệu quả cuối cùng của FDI Theo

đó, luận án giới thiệu khái niệm ngưỡng FDI, với mục tiêu là một chỉ tiêu hỗ trợ

cho chỉ tiêu hiệu quả FDI

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã gợi ý rằng, hiệu quả FDI phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nước chủ nhà và thường xuyên thay đổi qua các thời kỳ khác nhau, chứ không phụ thuộc vào kết quả thu hút vốn [86, 98, 122]

Ngày đăng: 09/05/2017, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. An Ngọc (2016), Là nền kinh tế triển vọng nhất Đông Nam Á, World Bank vẫn hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam vào phút chót, Báo Điện Cafef ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Là nền kinh tế triển vọng nhất Đông Nam Á, World Bank vẫn hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam vào phút chót
Tác giả: An Ngọc
Năm: 2016
2. Ban Phân tích dự báo (2016), Một số điểm nhấn trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015, Trung Tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia http://www.ncseif.gov.vn/sites/vie/Pages/motsodiemnhantrongtang-nd-17232.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm nhấn trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Ban Phân tích dự báo
Năm: 2016
3. Ban Văn Kiện Đảng Cộng Sản (2011), Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-trung-uong/khoa-xi/doc-5926201511152746.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Tác giả: Ban Văn Kiện Đảng Cộng Sản
Năm: 2011
6. Bloomberg (2010), Vốn FDI vào Trung Quốc tăng vọt trong quý 1/2010, Báo điện tử Thị trường việt nam 2010, http://thitruongvietnam.com.vn/gpmaster.gp-media.thi-truong-viet-nam.gplist.86.gpopen.29748.gpside Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn FDI vào Trung Quốc tăng vọt trong quý 1/2010", Báo điện tử Thị trường việt nam 2010
Tác giả: Bloomberg
Năm: 2010
8. Bộ Lao động – thương binh và xã hội (2007), Thống kê thu nhập lao động 2011, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐT ĐI 2007.G/50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê thu nhập lao động 2011
Tác giả: Bộ Lao động – thương binh và xã hội
Năm: 2007
9. Chu Văn Cấp & Nguyễn Đức Hải (2015), Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình: Nhìn dưới góc độ mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Phát Triển& Hội Nhập, Số 24(34) – Tháng 9-10/2015 http://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-09-10-24/3.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình: Nhìn dưới góc độ mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Cấp & Nguyễn Đức Hải
Năm: 2015
10. CIEM (2006), Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Dự án SIDA về Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: CIEM
Năm: 2006
11. CIEM (2009), Một số vấn đề bất cập trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến nay, Tài liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bất cập trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Tác giả: CIEM
Năm: 2009
12. CIEM (2010), Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Trung tâm thông tin – tƣ liệuhttp://www.vnep.org.vn/Modules/CMS/Upload/6/Nang%20cao%20hieu%20qua%20su%20dung%20FDI%20tai%20Viet%20Nam%20CUOI.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: CIEM
Năm: 2010
13. CIEM (2012), Thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, Thông tin chuyên đề số 6/2012, Trung Tâm Thông tin – Tƣ liệu CIEM http://library.fes.de/pdf-files/bueros/vietnam/09864.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
Tác giả: CIEM
Năm: 2012
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đặng Hùng Võ (2015), Hệ thống và thực thi pháp luật Việt Nam lại “dẫn đầu” và về “nhất thế giới”?, Báo Điện tử Tầm nhìn, http://tamnhin.net/he-thong- va-thuc-thi-phap-luat-viet-nam-lai-dan-dau-va-ve-nhat-the-gioi-33548.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống và thực thi pháp luật Việt Nam lại “dẫn đầu” và về “nhất thế giới”
Tác giả: Đặng Hùng Võ
Năm: 2015
20. Đỗ Đức Bình (2011), “Một số ý kiến về định hướng chính sách nhằm thu hút FDI thực sự có hiệu quả vào Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về định hướng chính sách nhằm thu hút FDI thực sự có hiệu quả vào Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”, Tạp chí "Kinh tế và phát triển
Tác giả: Đỗ Đức Bình
Năm: 2011
4. Báo Đất Việt (2015), Trung Quốc cải tổ kinh tế quốc doanh, theo hướng tư nhân hóa, http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/trung-quoc-cai-to-kinh-te-quoc-doanhtheo-huong-tu-nhan-hoa-3285802/?paged=2 Link
5. Báo đầu tư Online (2016), “Ám ảnh với hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) http://baodautu.vn/am-anh-voi-he-so-dau-tu-tang-truong-icor-d41472.html Link
14. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2016), http://www.mpi.gov.vn/Pages/default.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Các nguồn vốn bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.2. Các nguồn vốn bên ngoài chảy vào các nước đang phát triển (Trang 29)
Hình 1.3. Vị trí của nguồn vốn FDI trong số các nguồn vốn nước ngoài chảy - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.3. Vị trí của nguồn vốn FDI trong số các nguồn vốn nước ngoài chảy (Trang 30)
Hình 1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDI - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu hút và sử dụng FDI (Trang 34)
Hình 2.6. Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia 7 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.6. Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia 7 (Trang 81)
Hình 2.7. Đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế 7 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.7. Đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế 7 (Trang 82)
Hình 2.8. Tổng đầu tƣ toàn xã hội giai đoạn 2005 -2015 14 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.8. Tổng đầu tƣ toàn xã hội giai đoạn 2005 -2015 14 (Trang 83)
Hình 2.11. Diễn biến nguồn vốn FDI qua các năm - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.11. Diễn biến nguồn vốn FDI qua các năm (Trang 86)
Hình 2.21 . Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của khu - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.21 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của khu (Trang 105)
Hình 2.26. Chỉ số Cơ hội đầu tƣ toàn cầu của Việt Nam và một số quốc gia - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.26. Chỉ số Cơ hội đầu tƣ toàn cầu của Việt Nam và một số quốc gia (Trang 138)
Hình 2.28. Chỉ số FDI thực hiện Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.28. Chỉ số FDI thực hiện Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực (Trang 141)
Hình 2.29. Khoảng cách FDI và thặng dƣ FDI của Việt Nam và các quốc gia - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.29. Khoảng cách FDI và thặng dƣ FDI của Việt Nam và các quốc gia (Trang 142)
Hình 3.1. Sơ đồ cụm ngành dệt Quảng Đông - Trung Quốc - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 3.1. Sơ đồ cụm ngành dệt Quảng Đông - Trung Quốc (Trang 178)
SƠ ĐỒ 100 CỤM NGÀNH LỚN NHẤT TRUNG QUỐC - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
SƠ ĐỒ 100 CỤM NGÀNH LỚN NHẤT TRUNG QUỐC (Trang 226)
Hình 1. Quy trình kiểm định ngƣỡng trong mô hình hồi quy ngƣỡng cho dữ - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 1. Quy trình kiểm định ngƣỡng trong mô hình hồi quy ngƣỡng cho dữ (Trang 232)
Bảng 10. Kết quả ước lượng mô hình PTR theo phương pháp FE - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 10. Kết quả ước lượng mô hình PTR theo phương pháp FE (Trang 248)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w