Có thể chia làm haitiểu vùng sau: + Tiểu vùng nam Trấn Yên - Văn Yên - Thành phố Yên Bái - Ba Khe: thuộc thunglũng sông Hồng dưới chân hệ thống núi Hoàng Liên - Pú Luông, nhiệt độ trung
Trang 1Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015-2025
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chương trình hỗ trợ phát triển Liên Hiệp Quốc : UNDP
Tài nguyên và Môi trường : TN&MT
Trang 3Biến đổi khí hậu toàn cầu là điều không thể tránh khỏi, hậu quả của biến đổi khí hậutoàn cầu sẽ khôn lường và nghiêm trọng chưa thể tính toán trước hết được Với kịch bảnbiến đổi khí hậu đã được tính toán, dự báo, nhưng thực tế xảy ra còn có thể lớn hơn rấtnhiều Biến đổi khí hậu sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến lĩnh vực nông nghiệp, thủysản, lâm nghiệp, du lịch, tài nguyên nước, môi trường sinh thái, sức khỏe con người Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ khí quyển tăng thêm 20C thì mựcnước biển sẽ dâng cao hơn 1m; Việt Nam sẽ bị mất hơn 12% diện tích đất, 23% số dânmất nơi cư trú, khoảng 22 triệu người dân sẽ bị mất nhà Một phần lớn diện tích củaĐồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải miền Trung có thể
bị ngập lụt
Là một tỉnh miền núi, Yên Bái luôn phải hứng chịu nhiều loại hình thiên tai, đặc biệt là
lũ quét, gây thiệt hại nặng nề Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của BĐKH thìcác loại hình thiên tai gia tăng về mức độ và tần số; các tai biến thiên nhiên liên quan đếntrượt lở đất, lũ lụt, lũ ống, lũ quét…đang có xu hướng gia tăng Các tai biến thiên nhiên ởYên Bái không những chỉ gây thiệt hại nặng nề về người và của mà còn gây một tâm lýhoang mang, lo lắng cho nhân dân vùng bị thiệt hại nói riêng và các nước nói chung Đã
có nhiều yêu cầu của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng Trung ương đề nghịcác cơ sở và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm tìm nguyên nhân và đề ra cácbiện pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do các tai biến này gây nên
II CƠ SỞ PHÁP LÝ
Trang 4Những căn cứ pháp lý để xây dựng kế hoạch hành động thích ứng với BĐKH tỉnh YênBái bao gồm:
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 về banhành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21của Việt Nam);
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ Tướng Chính phủ phêduyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổsung kinh phí năm 2010 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổikhí hậu;
- Thông tư liên tịch số 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT ngày 15/3/2010 của BộTài nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Hướng dẫn quản
lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứngphó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2009 - 2015;
- Công văn số 3815/BTNMT-KTTV biến đổi khí hậu ngày 13/10/2009 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biếnđổi khí hậu;
- Công văn số 3996/BTNMT-KTTV biến đổi khí hậu ngày 04/10/2010 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về việc hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ năm 2010 của Chươngtrình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môitrường công bố tháng 6 năm 2009;
- Quyết định số 116/2006/QĐ-TTg ngày 26/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái đến năm 2020
- Nghị quyết số 10/2009/NQ-HĐND ngày 17/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh YênBái về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh YênBái thời kỳ 2006 – 2020;
III ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
Trang 5- Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ
- Phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang
- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La
Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã,phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặcbiệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước,
có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằmtrong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước Yên Bái là đầu mối và trung độcủa các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửakhẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớntrong và ngoài nước
Trang 6Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái
Trang 72 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên TâyBắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc – Đông Nam: phíaTây có dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến làdãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôinằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2vùng lớn: vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm67,56% diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản,khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có độ caodưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diệntích tự nhiên toàn tỉnh
Địa khối Hoàng Liên Sơn - Phú Luông:
- Địa hình kiểu cổ: là các bán bình nguyên đã trải qua nhiều thời kỳ xâm thực bóc mòntạo thành các bậc thềm núi độ cao trung bình từ 1.300÷2.100 m, có bề mặt gợn sóng, độdốc lớn, thường có hiện tượng kasrt tạo nên các “phễu” hút nước, có mạch nước ngầmsâu, gây mất nước, dẫn đến thiếu nước cho động thực vật
- Địa hình thứ sinh: Phía đông Hoàng Liên Sơn là một hệ thống đồi núi cao, bị chia cắtmạnh, có độ cao từ 200÷1.500m, độ dốc lớn từ 40÷500 Xen kẽ các dãy núi cao, đồi thấp
là địa hình các thung lũng do sông bồi đắp và bồn địa tương đối bằng phẳng tạo các cánhđồng, bãi rộng thuận lợi cho trồng cây lượng thực, cây công nghiệp ngắn ngày và dàingày
- Địa khối Phú Luông: Nằm trong cùng một kiểu kiến trúc địa hình với Hoàng LiênSơn, song tương đối thuần nhất Dạng địa hình là núi thấp, đồi cao bồn địa Dạng địa hìnhnày thuận lợi cho cây lâm nghiệp, cây công nghiệp…
Địa khối núi Con Voi:
Là đường phân thuỷ giữa sông Hồng và sông Chảy, có hướng núi chủ đạo là tây bắc đông nam Là địa hình núi cổ gồm hệ thông núi thấp, đồi cao, đỉnh khum tròn có sườndốc, đồi có sườn thoải có nét đặc trưng của địa hình trung du Đồi núi chủ yếu là đồi núiđất, dọc theo sông Hồng, sông Chảy và các suối lớn là các cánh đồng, bờ bãi khá rộng,tương đối bằng phẳng thuận lợi cho trồng cây nông nghiệp và cây công nghiệp
-Địa khối đông nam dãy Phu Sa Phìn:
Trang 8Nằm trong cùng địa hình Hoàng Liên Sơn Pú Luông, hướng núi chủ đạo là tây bắc đông nam, địa hình thấp dần về phía đông nam, núi cao và sườn dốc mạnh.
-Địa khối phân cực bắc vùng đồi châu thổ Bắc Bộ:
Là vùng chuyển tiếp vùng đồi trung du (Phú Thọ) lên vùng cao Hoàng Liên Sơn, mangđặc điểm kiểu địa hình trung du, có các dạng địa hình đồi bát úp đỉnh tròn, sườn dốc thoảinằm trong thung lũng sông Hồng, sông Chảy Dãy đồi làn sóng trong thung lũng sôngHồng, sông Chảy nên có những cánh đồng tương đối rộng, bằng phẳng, đồi thoải thấp rấtthuận lợi cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả
3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc,nằm trải dọc theo hai bờ sông Hồng và nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc
và miền Đông Bắc, đồng thời cũng là khu vực chuyển tiếp giữa khu vực Tây Bắc vớitrung du Bắc Bộ Với vị trí quan trọng trong kết nối với tam giác động lực phát triển củaBắc Bộ nên việc xem xét những thuận lợi và khó khăn của điều kiện khí hậu ảnh hưởngđến kinh tế - xã hội là cần thiết
Các vùng khí hậu
Yên Bái được chia làm hai vùng khí hậu lớn có ranh giới là đường phân thuỷ của dãynúi cao theo hướng tây bắc - đông nam, dọc theo hữu ngạn sông Hồng Trong hai vùnglớn lại có các tiểu vùng với những đặc điểm khác biệt
- Vùng phía Tây: có độ cao trung bình trên 700m, địa hình bị chia cắt mạnh, khí hậumang tính chất á nhiệt đới và ôn đới, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió tâynam thổi tới nên khí hậu vùng này có nét đặc trưng là nắng nhiều, ít mưa so với vùngphía đông Xuất phát từ các yếu tố địa hình, khí hậu, đặc thù có thể chia vùng này làm batiều vùng sau:
+ Tiểu vùng Mù Cang Chải: vùng này có độ cao trung bình 900m, có đặc điểm nhiềunắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa tây nam Do độ cao địa hình lớn nênnền nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình 18-200C, về mùa đông nhiệt độ có thể xuống tới
00C, tổng lượng mưa 1800-2000mm/năm, độ ẩm 80% thích hợp phát triển cây trồng, vậtnuôi vùng ôn đới
+ Tiểu vùng tây nam Văn Chấn: vùng này có độ cao trung bình 800m, có đặc điểm khíhậu phía bắc nhiều mưa, nhưng phía nam lại ít mưa nhất tỉnh Nhiệt độ trung bình 18-
Trang 9200C, về mùa đông lạnh nhiệt độ xuống tới 1oC, lượng mưa 1800mm/năm, độ ẩm 84%.Thích hợp trồng cây và vật nuôi vùng á nhiệt đới và ôn đới.
+ Tiểu vùng Văn Chấn - Tú Lệ: độ cao trung bình vùng 250 -300m, có thung lũngMường Lò diện tích 2200ha, nhiệt độ trung bình 22-230C, độ ẩm 83% thích hợp pháttriển cây lương thực và cây công nghiệp
- Vùng phía đông: đặc điểm khí hậu vùng này là ảnh hưởng của gió mùa đông bắc,mưa nhiều về cả số ngày và lượng mưa Mưa phùn kéo dài ở khu vực Thành phố Yên Bái
và Trấn Yên Nhiệt độ trung bình 21-220C, lượng mưa 2000mm/năm Có thể chia làm haitiểu vùng sau:
+ Tiểu vùng nam Trấn Yên - Văn Yên - Thành phố Yên Bái - Ba Khe: thuộc thunglũng sông Hồng dưới chân hệ thống núi Hoàng Liên - Pú Luông, nhiệt độ trung bình 23-
240C, lượng mưa 1800-2200mm/năm và là vùng có mưa phùn kéo dài trong thời kỳ đầunăm
+ Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình: thuộc thung lũng sông Chảy - hồ thác Bà, là vùng códiện tích mặt nước tỉnh Vùng có khí hậu ôn hoà có điều kiện thuận lợi phát triển nônglâm nghiệp, thuỷ sản và du lịch
Điều kiện thời tiết, khí hậu
Do vị trí địa lý khá đặc biệt, nên Yên Bái mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới giómùa, do ảnh hưởng của địa hình miền núi nên tính chất gió mùa bị biến đổi khác biệt đó
là mùa đông bớt lạnh và hơi khô, mùa hè oi bức
Nhiệt độ trung bình năm là 22-23oC, lượng mưa trung bình từ 1.500-2.000 mm/năm,
độ ẩm cao từ 83- 87%, thảm thực vật xanh tốt quanh năm
Các mùa trong năm
Khí hậu Yên Bái chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh:
- Mùa lạnh: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vùng thấp lạnh kéo dài từ 115-125 ngày,vùng cao mùa lạnh đến sớm và kết thúc muộn hơn vùng thấp Vùng cao từ 1500m trở lênhầu như không có mùa nóng, nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20oC, cá biệt có lúc nhiệt
độ xuống dưới 0oC, có sương muối, băng tuyết Ở đây thường bị hạn hán vào đầu mùalạnh (tháng 12, tháng 1), cuối mùa thường có mưa phùn điển hình là Thành phố Yên Bái,các huyện Trấn Yên và Yên Bình
- Mùa nóng: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Đây là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trungbình ổn định trên 25oC, tháng nóng có nhiệt độ 35oC-37oC, mùa nóng cũng chính là mùa
Trang 10mưa nhiều, lượng mưa trung bình 1.500-2.200mm/năm và thường kèm theo gió xoáy,mưa đá gây ra lũ quét và ngập lụt Sự phân bố mưa, lượng mưa tuỳ thuộc vào địa hình vàtheo hướng giảm đần từ Đông sang Tây trên địa bàn tỉnh Theo thung lũng sông Hồng thìlượng mưa tăng dần từ tây bắc xuống đông nam, còn theo thung lũng sông Chảy thìlượng mưa lại giảm dần từ tây bắc xuống đông nam.
Chế độ khí lưu và gió
Vị trí địa lý và cấu trúc địa hình ảnh hưởng rất lớn đến chế độ gió của tỉnh Yên Bái.Gió mùa đông bắc thổi theo hướng đông bắc - tây nam gặp các dãy núi thuộc hệ thốngnúi của vòng cung Lô - Gâm ngăn cản làm chuyển hướng phần lớn về đồng bằng rồi trởlại Yên Bái theo thung lũng sông Hồng, sông Chảy nên cường độ giảm dần và bớt lạnh.Gió mùa hè mang tính chất khí hậu xích đạo thổi theo hướng đông nam dọc thung lũngsông Hồng, sông Chảy lên phía bắc tỉnh, gặp các dãy núi cao chặn lại gây mưa lớn tại cácvùng trước núi
Đối với vùng phía tây dãy Hoàng Liên Sơn, mùa hè gió nóng khô tây nam (gió Lào)thổi tới làm khí hậu vùng này khác hẳn vùng phía đông, Điều đáng lưu ý là chế độ giótrên địa bàn tỉnh mang tính địa phương rõ rệt, kể cả về hướng và về tốc độ Gió thổi mạnhnhất là vào thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa đông và mùa hè Các khu vực Yên Bái, Thác
Bà, Lục Yên quanh năm có gió đông và đông nam là hướng gió chính của vùng Cácthung lũng hay xuất hiện gió xoáy như Văn Chấn, Lục Yên có tốc độ gió trung bình đạt1,6- 2,2m/s Các cơn bão lớn hình thành từ biển Đông chưa bao giờ vào tới Yên Bái
Chế độ mưa
Nhìn chung Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình theo số liệu của cơ quan khítượng thuỷ văn tỉnh thì tổng lượng mưa trung bình năm của 10 năm trở lại đây ở trạmYên Bái là 17.517mm, ở trạm Lục Yên 18.042mm, ở Mù Cang Chải là 17.454mm Phân bố lượng mưa theo xu hướng tăng dần từ vùng thấp đến vùng cao và lượng mưaphân bố rất không đồng đều theo các tháng trong năm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 5đến tháng 9 (từ 149,8 - 294,9mm), các tháng mưa ít nhất là từ tháng 12 đến tháng 3 nămsau
Do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa cá tháng trong năm vào những tháng mùakhô lượng mưa trung bình chỉ đạt 52,5mm/tháng nên thường xảy ra tình trạng hạn hán,thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 11Vào mùa mưa, ở một số nơi lượng mưa quá lớn gây ra tình trạng lũ lụt gây thiệt hạinặng nề cho mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân Nhiều công trình giao thông,thuỷ lợi, trường học bệnh viện, nhà ở cũng bị phá huỷ và hư hại nghiêm trọng Đặc biệtmùa mưa năm 2010 lũ lụt nghiêm trọng xảy ra tại Yên Bái đã làm chết và mất tích nhiềungười, thiệt hại vật chất lên đến hàng ngàn tỷ đồng.
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ bình quân giữa các vùng trong tỉnh thay đổi theo từng tháng trong năm Năm
2007 nhiệt độ bình quân tại trạm Yên Bái là 23,5oC, trạm Văn Chấn là 23,1oC và trạm MùCang Chải là 19,8oC Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, các vùng thấp thuộc thung lũngsông Hồng, sông Chảy có nhiệt độ cao trên 23oC Nhiệt độ cao nhất là vào tháng 5 đếntháng 9 (từ 27,5oC - 29oC), nhiệt độ thấp nhất tháng 12 đến tháng 3 năm sau (từ 17oC -20.4oC) Các xã vùng thấp của các huyện Văn Chấn, Mù Cang Chải và các xã vùng caocủa huyện Văn Yên có nhiệt độ bình quân đạt 18oC-23oC, vùng có nhiệt độ bình quândưới 19oC là các xã vùng cao của các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn, Mù Cang Chải
Nhiệt độ mặt đất trung bìnhcủa các tháng luôn cao hơn nhiệt độ không khí và cũngthay đổi theo độ cao, càng lên cao nhiệt độ càng thấp
Chế độ ẩm
Theo số liệu khí tượng thì năm 2009 Yên Bái có độ ẩm tương đối trung bình cả năm ởtrạm Yên Bái là 85%, Văn Chấn là 83%, Mù Cang Chải là 81% Sự chênh lệch về độ ẩmgiữa các tháng trong năm và giữa các vùng trong tỉnh là không lớn, từ 3-5% Càng lêncao độ ẩm tương đối càng giảm Độ ẩm giữa các tháng có sự chênh lệch do phụ thuộc vàolượng mưa và chế độ bốc hơi Tháng có độ ẩm thấp nhất là 11,12,1 với độ ẩm từ 80-85%.tháng có độ ẩm cao nhất là các tháng 6,7,8 với độ ẩm từ 80-85%
Yên Bái là tỉnh nằm sâu trong nội địa, có nhiều sông suối, hồ ao, đặc biệt do chịu ảnhhưởng của hồ Thác Bà nên lượng mưa hàng năm lớn, độ ẩm tương đối cao so với các tỉnhkhác trong vùng nên thảm thực vật xanh tốt quanh năm, thế hiện rất rõ chế độ khí hậunhiệt đới gió mùa
Lượng mây, giờ nắng
- Lượng mây trung bình các tháng và trong năm có sự chênh lệch giữa các tháng trongnăm và các vùng trong tỉnh Vùng có lượng mây lớn là các huyện Trấn Yên, Yên Bình,Lục Yên, Văn Yên Vùng có lượng mây trung bình là các huyện Văn Trấn, Mù Cang
Trang 12Chải Lượng mây lớn nhất xuất hiện cuối mùa đông và đầu mùa xuân, mây nhiều thườngkèm theo mưa phùn.
- Số giờ nắng của Yên Bái nhìn chung thấp Số giờ nắng trung bình cả năm (2009) ởtrạm Yên Bái là 1.429 giờ/năm, Văn Chấn là 1.591 giờ/năm, Mù Cang Chải là1.710giờ/năm Qua số liệu thống kê có thể thấy giữa các vùng có sự chênh lệch lớn vềgiờ nắng, càng lên cao số giờ nắng càng nhiều Huyện có nhiều nắng nhất là Mù CangChải, huyện có ít nắng nhất là Yên Bình, Trấn Yên Số giờ nắng tập trung vào các tháng
7, 8, 9, 10 Số giờ năng trong năm được thể hiện trong Bảng 9 - Phụ Lục
Lượng bốc hơi
Nhìn chung toàn tỉnh có lượng bốc hơi nhỏ hơn lượng mưa và phân bố không đồngđều giữa các huyện, lượng bốc hơi tăng dần từ vùng thấp đến vùng cao Lượng bốc hơi ởtrạm Yên Bái là 785mm/năm, Văn Chấn là 746,7mm/năm, Mù Cang Chải là963,8mm/năm Các huyện vùng thấp có có lượng bốc hơi lớn vào các tháng 8,9,10,11,các huyện vùng cao có lượng bốc hơi cao vào các tháng 1,2,3,4
Hình 2 Giá trị trung bình tháng, max và min của lượng bốc hơi
trong giai đoạn 1978-2009 tại trạm Yên Bái Các hiện tượng thời tiết khác
- Sương muối: ở Yên Bái sương muối chủ yếu xuất hiện ở độ cao trên 600m, càng lêncao số ngày có sương muối càng nhiều Các vùng thấp thuộc thung lũng sông Hồng, sôngChảy ít xuất hiện sương muối
Trang 13- Mưa đá: xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa đá Chúngthường xuất hiện vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông
và gió xoáy cục bộ
4 Đặc điểm thủy văn và nguồn nước
Do điều kiện địa hình đồi núi dốc mạnh, lượng mưa lớn và tập trung đã tạo cho YênBái một hệ thống sông, suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thayđổi theo mùa Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ lụt lớn ở các vùng ven sông, suối
Hệ thống sông ngòi được hình thành từ các lưu vực chính: sông Hồng, sông Chảy, ngòiThia và vùng hồ Thác Bà
- Sông Hồng: bắt nguồn từ dãy núi Nguy Sơn, cao 1.766m ở tỉnh Vân Nam, TrungQuốc, chảy qua tỉnh Yên Bái theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Các chi lưu của sôngHồng ở địa phận Yên Bái đều ở hữu ngạn và bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên - Pú Luôngnhư ngòi Thi, ngòi Bo, ngòi Hút… Sông Hồng chảy qua các huyện Văn Yên, Trấn Yên,Thành phố Yên Bái Lưu lượng nước sông Hồng thay đổi thất thường, mùa khô lưu lượngxuống quá mức so với trung bình, gây ra tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp
và đời sống nhân dân
Trong mùa mưa, lưu lượng và mực nước tăng nhanh, nước lũ tràn về đột ngột gây ratình trạng ngập lụt, thiệt hại mùa màng và các công trình thuỷ lợi, giao thông Với chu kỳ50-60 năm thường có những trận lũ lụt đột ngột đổ về tàn phá nhà cửa, ruộng nương haibên bờ sông Điển hình là trận lụt lịch sử vừa xảy ra tại Yên Bái tháng 8/2008
Sông Hồng phát nguyên và và chảy qua vùng đất đỏ, đá vôi, đá biến chất và vùng trầmtích nên những cánh đồng phù sa bồi đắp hai bên sông Hồng ở các vùng thấp như VănYên, Trấn Yên, Thành phố Yên Bái rất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng
- Sông Chảy: bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh cao 2410m của tỉnh Hà Giang chảy
về Yên Bái qua hai huyện Lục Yên và Yên Bình rồi nhập vào sông Lô, sông Chảy theohướng tây bắc - đông nam, các chi lưu chính nằm ở phía tả ngạn như ngòi Biệc, ngòi ĐạiKại nằm ở hạ lưu sông Chảy thuộc huyện Lục Yên đã trở thành lòng hồ Thác Bà Vùngthượng lưu của sông Chảy đoạn qua huyện Lục Yên nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác,modun dòng chảy bình quân là 30,5lit/giây/km2 Mực nước bình quân các tháng trongnăm đo tại trạm Long Phúc là 67,26m Lưu lượng và mực nước sông Chảy biến đổi thấtthường gây ra hiện tượng vào mùa khô mưa ít, lưu lượng nước sông thấp làm khô hạnnhiều diện tích đất canh tác Mùa mưa lưu lượng nước sông lớn, tốc độ dòng chảy mạnhgây ngập lụt, phá hoại mùa màng, gây nhiều thiệt hại về người và của Do bắt nguồn và
Trang 14chảy qua vùng đá granit và vùng núi đá vôi xen diệp thạch mica nên phù sa sông Chảymang đặc tính ít chua, thành phần cơ giới nhẹ thích hợp với sản xuất nông nghiệp.
- Ngòi Thia: bắt nguồn từ dãy núi Phun Sa Phìn, cao 2.874m và núi Phu Chiêm Bancao 2.756m, dòng chảy theo hướng đông nam - tây bắc tới xã Đại Phác huyện Văn Yênthì thì quay lại theo hướng Tây bắc - Đông nam và nhập vào sông Hồng ở cửa QuangMục Ở phần thượng nguồn sông có lòng hẹp, độ dốc lớn, dòng chảy xiết, có nhiều ghềnh
đá nền sản phẩm bồi đắp là dạng lũ tích tạo nên đồng bằng ở vùng Văn Chấn thích hợpvới sản xuất nông nghiệp Đoạn cuối của ngòi Thia ít dốc hơn, dòng chảy hiền hoà đã tạonên các cánh đồng khá bằng phẳng ở huyện Văn Yên Do bắt nguồn từ vùng đá macmabazơ và trung tính và vùng đá diệp thạch, đá vôi nên đất phù sa tạo nên bởi ngòi Thia khágiàu dinh dưỡng thích hợp cho nhiều loại cây lương thực và cây công nghiệp
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500
Hmax Hmin Htb
Hình 3: Dao động mực nước trung bình năm, max và min trên sông Hồng
đoạn chảy qua tỉnh Yên Bái năm 2008
Trang 15Hình 4: Dao động mực nước trung bình năm, max và min trên sông Chảy
đoạn chảy qua tỉnh Yên Bái năm 2008
Nhìn vào hình 4 có thể thấy dao động mực nước trên sông Chảy đoạn qua tỉnh Yên Báikhá mạnh, đặc biệt từ các tháng từ 6 đến 11
Trang 16Bảng 1 Đặc điểm biến động của mực nước trung bình năm 2008
trên hai hệ thống sông chính chảy qua tỉnh Yên Bái
20
20
58
-173
123
165
139
100
168
60
197
96 101
158
98 -52 -90
-19
109
-Nguồn: Niên gián thống kê tỉnh Yên Bái năm 2009
Ngoài ra, Yên Bái còn có nhiều hệ thống sông ngòi nhỏ khác có lòng hẹp, độ dốc lớn,chiều dài nhỏ, mực nước thay đổi thất thường, khô hạn về mùa khô và dễ gây lũ lụt vềmùa mưa
Hệ thống ao hồ: các ao hồ lớn của tỉnh Yên Bái phần lớn nằm ở các huyện Yên Bình,Lục Yên, Trấn Yên Trong đó các đầm lớn tự nhiên phân bố ở các xã Giới Phiên, HợpMinh, Minh Quân, chúng có nguồn gốc là dòng cũ của sông Hồng Các đầm hồ nhân tạolớn nhất là hồ Thác Bà trên sông Chảy rộng 19.050 ha có sức chứa 3–3,9 tỷ m³, đượchình thành do việc đắp đập làm thuỷ điện
Các hồ đầm đều có đặc điểm chung là nước rất trong, hồ Thác Bà có độ sâu tới 40m, các hồ đập khác có độ sâu 5-6m Các hồ, đầm này rất có ý nghĩa đối với sản xuấtnông nghiệp, lâm nghiệp là nơi điều hoà nước, giảm tốc độ dòng chảy các sông vào mùamưa lũ và tích nước phục vụ tưới tiêu vào mùa khô hạn Ngoài ra hồ Thác Bà còn có ýnghĩa đối với thuỷ điện và nuôi cá
30-Tóm lại: Hệ thống sông suối của Yên Bái ngoài những lợi thế về sản xuất nông nghiệp
còn là nơi cung cấp nguồn nước dồi dào để phát triển sản xuất, phục vụ đời sống của người dân đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa vẫn coi nguồn nước sông suối là nguồn nước sản xuất và sinh hoạt chính Hệ thống sông ngòi còn là hệ thống giao thông đường thuỷ nối liền các vùng trong tỉnh và ngoài tỉnh
Do Yên Bái có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, rừng đầu nguồn bị suy giảm nhiều và nằm trong lưu vực các sông suối lớn nên về mùa mưa dễ xảy ra lũ lụt Hiện nay Yên Bái
Trang 17có khoảng 196 ha lúa và hoa màu thường xuyên bị lũ lụt đe doạ, hàng năm nhà nước phải bỏ ra hàng tỷ đông để tu sửa các công trình thuỷ lợi và giao thông do lũ lụt làm hư hỏng.
5 Các nguồn tài nguyên
5.1 Tài nguyên đất
Yên Bái có tổng diện tích tự nhiên là 688.627,64 km2, bằng 2% diện tích tự nhiên của
cả nước, xếp thứ 8 so với 11 tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc về quy mô đất đai; trong đódiện tích đất nông nghiệp hiện có là 583.717,47km2 chiếm 84,77% tổng diện tích của cảtỉnh Đất phi nông nghiệp 51.713,13 ha chiếm 7,5% diện tích toàn tỉnh Đất chưa sử dụng53.197,04 ha chiếm 7,73% diện tích toàn tỉnh Trong đó: Đất đồi núi 48.654,14 ha bằng91,46% diện tích đất chưa sử dụng
Yên Bái có tiềm năng về đất đai, thuận lợi cho cho phát triển nông, lâm nghiệp, đặcbiệt là phát triển về rừng Tuy nhiên, do ảnh hưởng của yếu tố địa hình, nhiều đồi núi cao,dốc, thường xuyên có mưa to lũ quét, đất đai bị xói mòn, sạt lở Cộng với sự tăng trưởng,phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn;
sự thiếu hiểu biết của không ít bộ phận dân trong quá trình khai thác và sử dụng tàinguyên đất, dẫn đến tình trạng thoái hoá đất, sử dụng không hiệu quả
5.2 Tài nguyên nước
* Nước mưa
Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình, hàng năm có lượng mưa bình quântrong toàn tỉnh là 1.864 mm với tổng lượng nước mưa là 13 tỷ m3 nhưng lượng nướcmưa phân bố không đều theo không gian và thời gian Theo số liệu của cơ quan khí tượngthuỷ văn tỉnh thì tổng lượng mưa trung bình năm của 10 năm trở lại đây ở trạm Yên Bái
là 17.517mm, ở trạm Lục Yên 18.042mm, ở Mù Cang Chải là 17.454mm
- Về thời gian: Yên Bái có 2 mùa rõ rệt: 80% lượng nước mưa tập trung vào 4 thángmùa mưa (từ tháng VI đến tháng IX) gây nên nhiều trận lũ lụt ảnh hưởng đến sự pháttriển kinh tế và đời sống nhân dân Còn lại 20% tổng lượng nước mưa ở 8 tháng mùa khô(từ tháng X đến tháng V năm sau) nên không đáp ứng được nhu cầu dùng nước của cácngành kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của đồng bào các dântộc vùng cao
- Về không gian: Yên Bái có nhiều tiểu vùng: Vùng có lượng mưa lớn nhất tỉnh làvùng hạ huyện Trấn Yên, điển hình là Minh Quân có lượng mưa lớn nhất là 2.634
Trang 18mm/năm Vùng có lượng mưa nhỏ nhất là thung lũng huyện Văn Yên điển hình là TráiHút có lượng mưa nhỏ nhất là 975 mm/năm.
Do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm vào những thángmùa khô lượng mưa trung bình chỉ đạt 52,5mm/tháng nên thường xảy ra tình trạng hạnhán, thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân Nước mưa là nguồn nướcquan trọng tại các vùng gặp khó khăn nguồn nước mặt, nước ngầm
* Nước mặt
Hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Chảy, đều chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy còn khoảng 200 ngòi,suối lớn nhỏ cùng hệ thống hồ đầm
-+ Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chiều dài chảy qua tỉnh Yên Bái là
115 km Các phụ lưu của sông Hồng trên địa phận Yên Bái, có tới 50 ngòi, có tổng diệntích lưu vực là 2.700 km2 Lớn nhất là ngòi Thia, diện tích lưu vực 1.570 km2, sau đó làngòi Hút (632 km2), ngòi Lao (519 km2), Ngòi Lâu (250 km2) Những con ngòi này,cùng với phụ lưu khe suối là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và cấpnước sinh hoạt cho nhân dân
+ Sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc), với 32 phụ lưu, diệntích lưu vực 2.200 km2 với lượng nước đổ vào trung bình là 5,3 tỷ m3 nước/năm, đoạn chảyqua địa phận Yên Bái có chiều dài 95 km, tại đây đã xây dựng hồ chứa nước Thác Bà, làmnguồn nước cho Nhà máy thuỷ điện Thác Bà Yên Bái Hồ Thác Bà là một trong ba hồnước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với diện tích 23.400 ha, bao gồm 19.050 ha diện tích mặtnước và 1.331 đồi đảo lớn nhỏ Hồ có sức chứa 2,9 tỷ m³ nước là điều kiện để phát triểnnguồn thuỷ sinh vật và là nguồn năng lượng phục vụ hoạt động của Nhà máy thuỷ điệnThác Bà - Công trình thuỷ điện đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam Các phụ lưu của sông Chảytrên đất Yên Bái có tới 23 ngòi và tổng diện tích phụ lưu 1.350 km2
+ Suối Nậm Kim có tổng diện tích lưu vực 600 km2 là chi nhánh hệ thống sông Đà, có
độ dốc lớn nên có khả năng phát triển thuỷ điện
+ Hệ thống ao hồ với diện tích 20.913 ha, là tiềm năng để phát triển các ngành du lịch
và thuỷ sản
* Nước ngầm
Theo các tài liệu địa chất - thuỷ văn, nguồn nước ngầm và nước khoáng phân bố ở độsâu 20 - 200 mét dưới lòng đất Nước khoáng nóng phân bố chủ yếu ở vùng phía Tây
Trang 19thuộc các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ, nhiệt độ trên 400C, hàm lượngkhoáng hoá 1- 5 gam/lít, có khả năng chữa bệnh khi được xử lý độc tố.
5.3 Tài nguyên rừng và thảm phủ thực vật
Yên Bái nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, giữa hai vùng sinh thái đôngbắc và Tây bắc Việt Nam, với nền nhiệt độ trung bình từ 22- 23oC, trên lớp vỏ phong hoádày đã tồn tại một thảm thực vật phong phú về chủng loại và giàu về trữ lượng Do điềukiện địa hình và khí hậu khác nhau giữa các vùng nên thực vật ở Yên Bái được chia racác vành đai thực vật khác nhau với các kiểu rừng chủ yếu sau:
5.3.1 Vành đai rừng nhiệt đới vùng đồi núi thấp (độ cao dưới 700m)
Phân bố ở khu vực đồi núi thấp thuộc thung lũng sông Hồng, sông Chảy, trong các bồnđịa Văn Chấn, Lục Yên Chúng có đặc điểm rừng kín, mật độ cao xanh tốt quanh năm,phần lớn là rừng thứ sinh, tầng ưu thế sinh thái không khép tán, cây thân gỗ, nhiều dâyleo chằng chịt, có nhiều tầng nhưng phân bố không rõ Thành phần thực vật chủ yếu gồmcác cây họ sấu, trò xanh, sến, táu, sui, đây leo có song, mây, dưới tán rừng còn có cây họchuối, ráy, hoàng tinh
Do quá trình chặt phá, khai thác, con người đã chặt đốn cây làm nương rẫy nên rừng ởđây đã mất tính phát triển đồng đều như thực vật vùng núi cao nên phần lớn rừng ở đây
đã chuyển thành rừng cây thấp, cây tạm hoặc trảng cỏ thứ sinh Đất đá có biểu hiện xóimòn về mùa mưa, mùa khô bị hạn, tỷ lệ mùn trong đất thấp
5.3.2 Vành đai rừng á nhiệt đới vùng núi cao trung bình (700-1800m)
Phân bố ở các khu vực đồi núi như đỉnh núi Con Voi, các bậc thềm của vùng núi cao ởhuyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải Vành đai này có đặc điểm là thành phần kháđơn giản so với vành đai vành đai rừng nhiệt đới, bao gồm các cây thấp, cây bụi và ítthảm cỏ xanh Đặc biệt ở đây dây leo cũng ít hẳn và thường ngắn, nhỏ chỉ quấn quanhcây thân gỗ, thực vật phụ sinh phát triển mạnh bám vào cành lá cây khác ở trên tất cả cáctầngvà cả trên mặt đất, phần lớn là họ dương xỉ, họ lan, họ giáy…Cây rừng chủ yếu làsồi, dẻ…các cây dược liệu như tam thất, đương quy, hoàng bá, đỗ trọng…Ngoài ra tạikhu vực này đồng bào còn phá rừng làm nương rẫy trồng các loại cây ngắn ngày như ngô,sắn và làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước, đặc biệt tại các huyện Trạm Tấu và MùCang Chải
5.3.3 Vành đai rừng cận nhiệt đới núi cao (trên 1700m)
Phân bố ở vùng núi cao thuộc dãy Hoàng Liên – Pú Luông, Phu Sa Phìn, Phu ChiêmBan.Vành đai rừng này có đặc điểm là quần thể thực vật mang nhiều tính đặc trưng của
Trang 20thực vật vùng ôn đới Đây là rừng hỗn giao giữa cây lá rộng như sồi, dẻ, đỗ quyên và cây
lá kim như pơ mu, sa mộc, thông, liễu sam Rừng thường có một hoặc hai tầng, trên thân,cành và cả mặt đất thường có rêu, dương xỉ, địa y mọc thành lớp dày
Ngoài 3 vành đai rừng chính nói trên, thản thực vật ở Yên Bái còn có các kiểu rừngsau:
Rừng nhiệt đới trên núi đá vôi: với đặc trưng là những cây thân gỗ cứng rất quý nhưnghiến, đinh, chò chỉ, dây leo như song, mây, cây tầm gửi như phong lan, ngoài ra còn cóchuối, ráy Loại rừng này phân bố ở các khu vực núi đá vôi như Lục Yên và Văn Chấn.Rừng tre nứa: phát triển trên đá cuội kết, phù sa cổ Là loại rừng thuần vầu, nứa phân
bố tại các xã Hoàng Thắng, Xuân Ái, Yên Hợp huyện Văn Yên, xã Y Can, Âu Lâu Thànhphố Yên Bái, trung tâm huyện Lục Yên và một vài nơi khác
Như vậy thảm thực vật có vai trò quan trọng trong việc giữ đất và giữ cân bằng sinhthái, bảo vệ môi sinh Thảm thực vật là tán che phủ cho lớp đất mặt không bị rửa trôi vàomùa mưa và giữ cho đất luôn ẩm vào mùa khô Việc người dân phá rừng làm nương rẫy,khai thác gỗ không hợp lý đã làm cho nhiều thản thực vật bị phá huỷ, lớp đất mặt bị rửatrôi làm cho đất bị khô, chai cứng rất khó hồi phục Vì vậy nhà nước đã đóng cửa rừng đểngăn chặn tệ phá rừng bừa bãi và có kế hoạch khoanh nuôi tái sinh và trồng mới nhằm cảitạo môi trương sinh thái vùng đồi núi trọc của tỉnh
Đất đai Yên Bái rất thích hợp cho trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, câyđặc sản, cây dược liệu và cây lương thực Điều kiện địa hình, khí hậu, đất đai và hệ thốngsông ngòi đã tạo cho Yên Bái nguồn tài nguyên rừng phong phú gồm nhiều loại rừngkhác nhau như rừng nhiệt đới, rừng á nhiệt đới, rừng ôn đới núi cao Tính đến tháng 12năm 2010, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Yên Bái là 410.702 ha, trong đó: rừng tự nhiên234.743 ha, rừng trồng 175.959 ha; đạt độ che phủ trên 57,7% Trong đó đất rừng quế tậptrung có khoảng 20.000 ha
Đất có rừng của Yên Bái được phân bổ ở các huyện, thị xã trong tỉnh; thực hiện chủtrương đóng cửa rừng của Chính Phủ tình trạng khai thác trái phép đã được quản lý vàgiảm đáng kể Việc khai thác gỗ rừng trồng được tổ chức quản lý theo kế hoạch và thiết
Trang 21Nguồn: Niên gián thống kê Tỉnh Yên Bái 2009
5.4 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản nhiên liệu:
Than đá: Hiện có 3 điểm quặng trong trầm tích điệp suối Bàng thuộc địa phận VănChấn, ít có khả năng khai thác sử dụng do chất lượng kém
Than nâu: có 10 trong trầm tích neogen dọc sông Hồng, sông Chảy, trong đó có 2 điểmđược điều tra khai thác là Hồng Quang và Hoàng Thắng Nhìn chung các điểm than đều
có quy mô nhỏ, chất lượng kém, không có triển vọng
Than bùn: Có ở Phù Nham huyện Văn Chấn, trữ lượng 103.832 tấn, trong than chứamùn, đạm, phốt pho, kaly cao có khả năng khai thác làm phân vi sinh tốt; ngoài ra có ởnúi Lịch
Khoáng sản kim loại:
Sắt: Có tới 32 điểm quặng và mỏ, tập trung ở 2 vùng chính là Đại Sơn - Văn Yên; làng
Mỵ - Văn Chấn Các mỏ vùng Đại Sơn có trữ lượng trên 20 triệu tấn Quặng sắt ở xã AnThịnh - Văn Yên có hàm lượng Fe = 32- 67%, trữ lượng 1,5 triệu tấn
Đồng: có ở Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên đang được tiếp tục khảo sát
Chì- kẽm: Có ở Tú Lệ - Văn Chấn; Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Yên Bình
Vàng: Vàng gốc được phát hiện cùng với đồng ở Văn Yên, Văn Chấn, hiện đang đượcđiều tra đánh giá Vàng sa khoáng phát hiện ở nhiều nơi như: Ngòi Viễn, Ngòi Tháp, Bản
Ty ở Văn Chấn, Lục Yên, Văn Yên
Đất hiếm: có ở xã Yên Phú - Văn Yên có quy mô nhỏ, trữ lượng đánh giá ở C1 + C2 là17,84 tấn TR2 O3-
Khoáng sản không kim loại:
Pirit: Có ở Tân Lĩnh - Lục Yên; Mỹ Gia – Yên Bình Điểm ở Lục Yên có trữ lượngkhoảng 25.000 tấn, cấp C1 hàm lượng S >33%
Trang 22Barit: Có ở núi Hang Hổ, Đại Minh - Yên Bình, chưa điều tra đánh giá.
Phôtforit: có ở Lục Yên với trữ lượng khoảng 10.000 tấn
Cao lanh: Tập trung ở khu vực thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình đã khai thác ởmột số điểm: Km2 Thành phố Yên Bái, Tân Thịnh, Trực Bình, Làng Cần với tổng trữlượng đánh giá ở cấp B + C1 + C2 là 1,1 triệu tấn, chất lượng Al2O3 = 29-34% ; Fe2O3-=0,8-4,2 % độ trắng đạt 40-70% đạt tiêu chuẩn làm bột độn giấy và sứ cách điện
Fenspat: Phát hiện 4 điểm ở Yên Bình và thành phố Yên Bái Mỏ Quyết Tiến (xã ĐạiMinh - Yên Bình ) trữ lượng cấp C1 + C2 là 128.000 tấn, có khả năng khai thác cho sảnxuất
Thạch anh: Tập trung ở Trấn Yên, điểm quặng có quy mô nhỏ, chủ yếu là quặng lăn,chất lượng yêu cầu cho sản xuất sứ và kính
Grafit: Phân bố thành một dải từ Trái Hút tới Văn Phú, trong đó đáng kể nhất là mỏBắc Mậu A, có trữ lượng 141.799 tấn, hàm lượng C từ 3- 7% Mỏ Yên Thái, Yên Hưng
Có nhiều điểm sét, trong đó đáng chú ý là mỏ sét gốm bản Đông dùng sản xuất đồ gốm
và gạch ngói Mỏ sét Bái Dương, điểm sét ở Xuân LAn, Cường Thịnh đang được khaithác
Đá vôi và đá hoa phân bố rộng khắp ở Lục Yên,Yên Bình, Văn Chấn, Văn Yên, TrấnYên Đá vôi của Yên Bái chất lượng tốt, có khả năng khai thác làm vật liệu xây dựng, sảnxuất xi măng và đá vôi nghiền công nghiệp và phục vụ xuất khẩu tốt
5.5 Các tài nguyên khác
* Tài nguyên du lịch:
Yên Bái là một tỉnh miền núi, phong cảnh thiên nhiên đa dạng và đẹp: hang Thẩm Lé(Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), di tích lịch sử, danh thắngcấp quốc gia Hồ Thác Bà, khu du lịch sinh thái Suối Giàng, danh thắng cấp quốc giaRuộng Bậc thang Mù Cang Chải Di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Căng và ĐồnNghĩa Lộ, khu mộ Nguyễn Thái Học và các đồng đội… Tỉnh Yên Bái có nhiều dân tộcthiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợpphát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém nên chưa có điều kiện khai thác hết được các tiềm năng
Trang 23này để phát triển mạnh ngành du lịch Tỉnh đang tiến hành đầu tư xây dựng khu du lịch
hồ Thác Bà, trong tương lai sẽ là điểm dừng chân cho du khách trên tuyến du lịch Hà Nội
- Lào Cai - Côn Minh (Trung Quốc)
6 Hiện trạng môi trường tỉnh Yên Bái
Cùng với sự tăng trưởng phát triển kinh tế, tỉnh Yên Bái đang đứng trước một số vấn
đề về môi trường, đó là: Môi trường đất, nước, rừng của tỉnh đang bị suy thoái, ô nhiễmchưa được phục hồi hoàn toàn; môi trường không khí, môi trường nước ở một số khu vựcđang có biểu hiện bị ô nhiễm Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải bệnhviện chưa được xử lý đảm bảo yêu cầu Trong đó, đặc biệt là bãi rác Tuần Quán, thànhphố Yên Bái vẫn chưa được đầu tư xử lý ô nhiễm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTgngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ Điều kiện về nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn chưa tốt, một bộ phận lớn nhân dân vẫn chưa được dùng nước hợp vệ sinh
6.1 Hiện trạng môi trường ở các đô thị và các khu dân cư tập trung
Thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ là 2 đô thị lớn của tỉnh Yên Bái Cơ cấu củathành phố, thị xã đã và đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp -thương mại, dịch vụ - nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp, tăng dần
tỷ trọng công nghiệp Hiện tại, thành phố Yên Bái đang trong quá trình nâng cấp kết cấu
hạ tầng kỹ thuật nhằm mục tiêu trở thành một cầu nối quan trọng trong hành lang kinh tếĐông Tây
Về môi trường các khu dân cư tập trung: Việc phát triển hệ thống công viên, cây xanhở các đô thị được chú trọng Các chỉ tiêu về các loại khí thải đều dưới mức cho phép Chỉtiêu về bụi và tiếng ồn ở các đường phố đô thị đều đã sát giới hạn cho phép Việc xử lýrác thải sinh hoạt, chưa tiến hành phân loại rác ngay tại nguồn, chưa có biện pháp xử lý
mà mới ở mức thu gom và đưa vào nơi chứa rác Hiện cũng chưa có hệ thống xử lý nướcthải sinh hoạt tập trung, nước thải sinh hoạt đô thị đã qua xử lý sơ bộ tại các hộ gia đình
và cơ quan hoặc chưa qua xử lý đều đổ ra cống rãnh thoát nước mưa hoặc các khe suối.Đến nay Bệnh viện đa khoa thành phố Yên Bái cũng đã được đầu tư hệ thống xử lý nướcthải và lò đốt rác, các bệnh viện khác đang trong quá trình đầu tư
6.2 Hiện trạng môi trường nông thôn
Cho đến năm 2007 toàn tỉnh Yên Bái đã có trên 350.000 người dân được sử dụng nướcsinh hoạt hợp vệ sinh Kết quả đạt được tương đối khả quan, giúp cho Yên Bái tuy là một
Trang 24tỉnh miền núi nhưng hiện nay đã có trên 60% dân số nông thôn được dùng nước sinh hoạthợp vệ sinh
Trong những năm vừa qua, tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhậnthức cho người dân cũng như việc đầu tư cho vấn đề này; lồng ghép các nguồn vốn từnhiều công trình, dự án đầu tư cho các công trình NSVSMT ở nông thôn nhằm giúpngười dân từng bước cải thiện cuộc sống và hướng đi mang lại hiệu quả thiết thực Năm
2006, Unicef đã chọn tỉnh Yên Bái làm thí điểm để đầu tư kinh phí xây dựng các côngtrình NSVSMT cho 13 trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn 3 huyện là VănChấn, Trấn Yên và Văn Yên phù hợp với qui mô học sinh của từng trường và đã hoànthành vào đầu năm học 2006-2007 với tổng mức đầu tư hơn 800 triệu đồng Nguồn vốncủa Unicef đầu tư cho lĩnh vực này tuy không lớn nhưng rất hiệu quả bởi qua đó học sinhcác dân tộc đã thay đổi được hành vi nhận thức, có ý thức bảo vệ các công trình đã đượcđầu tư, có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân
Tuy nhiên, trong những năm qua, chương trình nước sinh hoạt nông thôn của tỉnh đãbộc lộ một số yếu kém Việc tổ chức thực hiện chương trình chưa đủ mạnh, nguồn nhânlực thực hiện chương trình còn thiếu và yếu về chuyên môn nguồn vốn huy động xâydựng các công trình cấp nước sinh hoạt còn hạn chế quy hoạch chi tiết về cấp nước sinhhoạt cho từng huyện còn chậm, một số công trình sau khi bàn giao cho địa phương quản
lý không phát huy hiệu quả
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh, có một phần diện tích lớn đất sản xuấtnông nghiệp nằm xen kẽ với rừng và các lâm phần, tập trung ở các huyện: Văn Yên, YênBình, Văn Chấn, Trấn Yên, Lục Yên, Trạm Tấu và Mù Cang Chải Phần lớn diện tích đấtnày là do các hộ du canh, du cư khai phá và sản xuất, sau một thời gian thì bỏ hoang Do
đó, chất lượng đất không ổn định và bị thoái hóa dần
6.3 Hiện trạng môi trường ở các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung
Đặc thù tại tỉnh Yên Bái, công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản như khai thác vànghiền Fenspat (trên 100.000 tấn/năm) và Cacbonat canxi (mỗi năm sản xuất đá bột trên170.000 tấn, đá hạt khoảng 100.000 tấn), sản xuất vật liệu xây dựng như sản xuất gạchngói (khoảng 170.000.000 viên/năm) xi măng (1.500.000 tấn/năm), khai thác quặng sắt(trên 40.000 tấn/năm), sinh ra rất nhiều khói bụi độc hại nếu không có các biện pháp xử
lý triệt để các nguồn thải này sẽ dẫn đến tình trạng không kiểm soát được gây ra nhữngảnh hưởng tiêu cực lên môi trường chung của tỉnh Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái,còn tồn tại một số cơ sở sản xuất các loại hình sẽ sinh ra lượng nước thải có nồng độ các
Trang 25chất gây ô nhiễm môi trường tương đối cao như các cơ sở sản xuất giấy đế với công suấtkhoảng trên 30.000 tấn/năm, cơ sở sản xuất tinh bột sắn với sản lượng 15.000 tấn/năm,chè chế biến khoảng 14.000 tấn/năm Hầu hết các cơ sở sản xuất loại hình sản phẩm trênđịa bàn tỉnh Yên Bái đều chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa triệt để.
6.4 Hiện trạng đa dạng sinh học và các khu bảo tồn của tỉnh
Các ngành thực vật chiếm vai trò khác nhau nhưng không đồng đều Ngành Hạt kínchiếm ưu thế lớn nhất Với 617 loài (chiếm 93,91%) Số lượng thực tế chắc chắn còn caohơn rất nhiều nếu được khảo sát điều tra một cách toàn diện và chi tiết hơn
Tính đa dạng thực vật không chỉ thể hiện ở số lượng các họ, các loài mà còn liên quanđến giá trị nguồn gen quý hiếm và sử dụng của chúng trong đời sống
Trong hệ thực vật tỉnh Yên Bái có số loài cây làm thuốc lớn Nhiều loài đã được nhândân địa phương sử dụng như: Kim cang nhiều tán (Similax elegantissima), Mã tiền lábóng (Strychnos nitida), Trọng đũa đỏ chói (Arsida miniata), Cốt toái bổ (Drynariafortunei), Đỗ trọng Nam (Euonymus chinensis), Ba gạc Campuchia (Rauvolfiacambodiana), Kim cang poalane (Smilax poilanei), Thổ phục linh (Smilax glabra), Lákhôi tím (Ardisia silvestris)
Tài nguyên thực vật nằm trong đa dạng sinh học, đây là nguồn tài nguyên tái tạo Vìvậy, nếu không biết khai thác hợp lý đảm bảo sự tái tạo bền vững sẽ dẫn tới tình trạng đedoạ bị diệt vong của nhiều loài, nhất là các loài thực vật có ích thì hậu quả mang lạikhông gì có thể bù đắp được Tuy nguồn tài nguyên thực vật tỉnh Yên Bái phong phú vềtrữ lượng và thành phần loài, trong đó số loài thực vật có ích rất nhiều, nhưng trước tìnhtrạng khai thác quá mức phục vụ cho đời sống hàng ngày như khai thác gỗ củi, cây làmthuốc, cây làm cảnh, nhiều loài trở nên hiếm và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt
Trong nguồn tài nguyên thực vật tỉnh Yên Bái có 40 loài có tên trong Sách Đỏ ViệtNam Trong số 40 loài đó có 03 loài đang nguy cấp, 11 loài ở mức độ sẽ nguy cấp, 11loài ở mức độ hiếm, 4 loài ở mức độ bị đe dọa và 11 loài ở mức độ không biết chính xác.Các loài trên phần lớn là loài cây gỗ có giá trị kinh tế nên đã bị khai thác quá mức làm
Trang 26cho trữ lượng của chúng giảm sút đáng kể Một số loài khác số lượng còn quá ít nên đãtrở thành nguồn gen hiếm.
6.4.2 Đa dạng hệ động vật
Theo các kết quả nghiên cứu về khu hệ động vật có xương sống trên cạn tỉnh Yên Bái
đã thống kê được 214 loài thuộc 80 họ, 23 bộ bao gồm: 53 loài thú, 105 loài chim, 50 loài
bò sát và 23 loài lưỡng cư
Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi có nhiều loài sinh sống và định cư nhất, 162 loài Đặcbiệt, ở sinh cảnh này có hầu hết các loài thú, chim, bò sát cỡ lớn, có giá trị kinh tế và sinhthái cao
Đứng hàng thứ 2 là sinh cảnh rừng phục hồi nương rẫy sau khai thác Điểm khó khănnhất của sinh cảnh này là nơi trú ẩn của các loài hạn chế, điều kiện làm tổ của các loàikhông có Do vậy, nhiều loài Linh trưởng, chim thú lớn và nhiều loài bò sát quý hiếmkhông có mặt
Sinh cảnh nương rẫy làng bản cũng có 122 loài phân bố song chủ yếu là các loài có giátrị kinh tế thấp, con người ít hoặc không chú ý khai thác Ngoài ra, ở sinh cảnh này còn
có nhiều loài sống hang và các loài chim nhỏ
Sinh cảnh thủy vực nghèo loài nhất (47 loài) và chủ yếu là các loài trong lớp Ếch nhái,
họ Rắn nước, bộ Sẻ và bộ Gặm nhấm
Chỉ mới dừng lại ở kết quả khảo sát 4 lớp động vật có xương sống trên cạn, số quan sáttrực tiếp là 11 loài, 49 loài có mẫu vật, 5 loài ghi nhận được dấu hiệu, 63 loài ghi nhậnđược thông tin qua thợ săn, 2 nhóm dơi và gặm nhấm ghi nhận được còn ít
Từ các số liệu phân tích trên có thể khẳng định rừng tự nhiên (nguyên sinh hoặc phụchồi) là nơi sống chính của hầu hết các loài động vật và điều này một lần nữa khẳng định
sự cần thiết phải bảo vệ diện tích rừng hiện có Về lâu dài, cần phải mở rộng diện tíchrừng tự nhiên bằng cách khoanh bảo vệ và phục hồi rừng trên diện tích nương rẫy cũ
Trang 27nguồn thức ăn của rất nhiều loài động vật bậc cao như: Thú, chim, bò sát và ếch nhái.Trong 327 loài quan sát được có nhiều loài có thể gây hại cho cây trồng (226 loài ăn lá,chiếm 69,1% số loài, 15 loài hại thân, chiếm 4,6%) Tuy nhiên sự phá hại của chúng chỉtrở thành vấn đề khi số lượng cá thể lớn và chỉ thường gặp ở rừng trồng hoặc các phươngthức canh tác thâm canh nông nghiệp Đại đa số sâu hại tiềm năng là sâu ăn lá nhưngkhông có loài sâu ăn lá nào đã từng phát dịch.
Trong hệ sinh thái rừng tự nhiên, mặc dù đã được con người tác động nhưng do tính đadạng sinh học cao, có sự chia cắt nguồn thức ăn và sự khống chế bởi các loài thiên địchnên sâu hại đã không trở thành vấn đề lớn Đã phát hiện được 45 loài thiên địch có ýnghĩa kinh tế lớn, đặc biệt là các loài côn trùng ăn thịt thuộc bộ Bọ Ngựa (Mantodea), bộCánh cứng (Coleoptera) Có rất nhiều loài côn trùng có thể thụ phấn cho cây (139 loàithuộc bộ Cánh vẩy, và Ong mật) Đây cũng là những loài côn trùng nằm trong danh lụccác loài động vật hoang dã hạn chế khai thác và sử dụng
Khu hệ côn trùng Nà Hẩu có 2 loài ( loài Euploea mulciber ssp, Elwesii thuộc họBướm đốm Danaidae và loài Bướm phượng cánh chim chấm rời Troides aeacus aeacusC&R Felder thuộc cấp VU của sách đỏ thế giới và của sách đỏ Việt Nam) và 124 loài cótên trong nhóm IIB - Các loài hoang dã hạn chế khai thác sử dụng theo Nghị định số48/2002/NĐ-CP của Chính phủ
6.4.4 Các khu bảo tồn của tỉnh
Hiện nay tỉnh Yên Bái có Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nà Hẩu và Khu Bảo tồn loài sinhcảnh Mù Cang Chải
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu với diện tích 16.950ha, thuộc địa phận của bốn xãphía Nam của huyện Văn Yên, đó là xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và xã Phong DụThượng, cách trung tâm huyện 30km
Theo kết quả điều tra sơ bộ cho thấy thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cótính đa dạng về thành phần loài khá cao Ngoài ra, còn đa dạng về yếu tố địa lý, về dạngsống và về giá trị sử dụng
Kết quả điều tra, giám định, thống kê lập bảng danh mục thực vật cho thấy, ở khu bảotồn thiên nhiên Nà Hẩu, bước đầu đã thống kê được 657 loài thuộc 447 chi và 153 họtrong 5 ngành: Thông đất (Lycopodiophyta), Tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ(Polyopodiophyta), Hạt trần (Gymonospermoc) và ngành Hạt kín (Angiospermac)
Trang 28Hiện nay tại khu bảo tồn này còn có một số loài động vật quý hiếm Trong tổng số 214loài động vật có xương sống trên cạn có 65 loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ ViệtNam, 2000, Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định số 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006
- Khu bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải ở phía Tây Yên Bái thuộc huyện Mù CăngChải được thành lập theo Quyết định số 3693QĐ/BNN-KH ngày 9/9/2002 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với diện tích 20.293,1ha nằm trong các xã ChếTạo, Lao Chải, Dế Xu Phình, Pú Luông, Nậm Khắt Trung tâm khu bảo tồn cách huyện lỵ
Mù Cang Chải 15km theo đường chim bay, 40 km theo đường ô tô
Qua kết quả của 3 đợt điều tra của tổ chức bảo tồn Động Thực vật quốc tế (FFI) năm
2000 và Trung tâm Tài nguyên Môi trường năm 2002, bước đầu đã thống kê được 788loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 480 chi, 147 họ và 5 ngành: Thông đất(Lycopodiophyta), Tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polyopodiophyta), Hạt trần(Gymonospermoc) và ngành Hạt kín (Angiospermac) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)chiếm tỷ lệ cao nhất (>80%), tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), 3 ngành cònlại chỉ có 1 đến 7 loài
Trong số 788 loài đã ghi nhận có 77 loài cây làm cảnh Hai họ có nhiều loài cây làmcảnh là Đỗ quyên (Ericaceae) và Lan (Orchidaceae) Thực ra, số lượng này còn ít so vớithực tế, bởi lẽ còn rất nhiều loài cây có thể dùng vào việc trồng bóng mát và bon sai chưađược ghi nhận Ngày nay, do quá trình đô thị hóa, trang trí nhà cửa, phòng ở và chơi câycảnh đã trở thành một nhu cầu rộng rãi của người dân, đặc biệt là dân sống ở thành phốlớn và các đô thị, nên rất nhiều cây cảnh hoang dã đã bị khai thác nhiều hơn Vì vậy, việcquản lý bảo vệ chúng càng phải quan tâm hơn
Qua bảng danh lục động vật có xương sống ở cạn, đã thống kê được 42 loài quý hiếmở Việt Nam và 28 loài ở mức độ bị đe dọa toàn cầu Đặc biệt có 4 loài: Niệc cổ hung(Aceros nipalensis), Gà lôi tía (Tragopan temminekii), Vượn đen (Nomasus conlolorconlolor), Voọc xám (Trachypithecus phayrei), đang có nguy cơ đe dọa tiêu diệt loài ởmức toàn cầu
IV TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong Thế
kỷ 21 Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trườngtrên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm
Trang 29mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và hệthống kinh tế - xã hội trong tương lại
Tại Việt Nam, trong khoảng 50 năm năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càngtác tác động mạnh đến Việt Nam Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt
là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Theo tính toán, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam cóthể tăng lên 30C và mực nước biển có thể dâng 1 m vào năm 2100 Số đợt các không khílạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ qua; bão có cường độmạnh xuất hiện nhiều hơn với quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam vàmùa bão kết thúc muộn hơn Nếu mực nước biển dâng lên 1 mét, khoảng 40 nghìn km2đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc cáctỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn (Bộ TNMT, 2003) Theo ánhgiá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởngnghiêm trọng từ BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông
Mê Công bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biển dâng 1m thì có khoảng 10% dân
số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu mực nước biển dâng3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25%.Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu chomục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các các mục tiêu thiên niên kỷ và sựphát triển bền vững của đất nước
Để thích ứng với những thách thức do BĐKH gây ra và giảm thiểu BĐKH, Việt Nam
đã triển khai rất nhiều các hoạt động khác nhau, trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã được chỉ định là Cơ quan đầu mối Quốc gia về các hoạt động có liên quan đến việcthực hiện Công ước Khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thưKyoto Ngày 2 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Theo
đó, từ năm 2008 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thực hiện các nhiệm
vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, trong đó có việc hướng dẫn
và yêu cầu các bộ, ngành và tỉnh thành của cả nước xây dựng Kế hoạch hành động ứngphó với BĐKH
Yên Bái là một tỉnh nghèo miền núi phía Bắc có địa hình khá hiểm trở và chia cắtmạnh, với 30 dân tộc sinh sống, giá trị sản xuất nông nghiệp hiện vẫn đang chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh
Trang 30Trong những năm qua, những biểu hiện của BĐKH trên địa bàn tỉnh đã có những biểuhiện rõ rệt, đó là lượng mưa trung bình năm có xu hướng suy giảm nhưng số ngày mưalớn trung bình tháng đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ tháng 7 và tháng 8 trong giai đoạn
1978 – 1994 sang tháng 8 của giai đoạn 1994 – 2002; tần xuất và cường độ các trận lũquét gia tăng; các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc biệt là sốlượng và cường độ các đợt rét
Cùng với những biểu hiện của BĐKH, trong những năm qua Tỉnh Yên Bái đã chịunhững tác động không nhỏ từ các hiện tượng bất thường của thời tiết Các trận lũ quét,mưa lớn đã gây thiệt hại đáng kể: năm 2005, các trận lũ quét và mưa lớn đã gây thiệt hạitrên 380 tỷ đồng, trong đó làm sập 375 ngôi nhà và làm hư hỏng 2.879 ngôi nhà, và làm
76 người chết, gần 4.000 ha lúa và hoa màu bị mất trắng và hư hỏng Bên cạnh đó, cácđợt rét đậm và rét hại cũng gây ảnh hưởng không nhỏ Trong quý I/2011, trên địa bàntỉnh, thời tiết rét đậm rét hại trong thời gian dài đã gây ảnh hưởng thiệt hại tới đàn gia súctrong tỉnh Trong hai đợt rét đậm, rét hại đầu năm 2011, toàn tỉnh có 7.034 con gia súc bịchết rét, trong đó có 5.730 con trâu, 1.111 con bò, 68 con ngựa và 125 con dê Cùng vớinhững tác động do thiên tai, Tỉnh Yên Bái ngoài đặc điểm khó khăn về điều kiện pháttriển kinh tế, tỉnh còn có số lượng dân tộc thiểu số sinh sống rất lớn, có 30 dân tộc sinhsống Đây là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất đối với những thách thức doBĐKH gây ra
Là một tỉnh nghèo miền núi, những thiệt hại do thiên tai gây ra là không nhỏ, ảnhhưởng rất lớn đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Để ứng phó với những tháchthức nói trên, trong những năm qua, tỉnh đã tiến hành một số các giải pháp như di dời dân
cư ra khỏi vùng nguy cơ xảy ra lũ quét cao, quy hoạch các khu vực kinh tế phù hợp vớiđiều kiện từng địa phương Nhưng những giải pháp này là chưa đủ và đòi hỏi phải cónhững giải pháp đồng bộ và đặc biệt là phải tính tới các yếu tố BĐKH Vấn đề biến đổikhí hậu vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến tất cả cácngành, trên phạm vi khu vực và toàn cầu Vì thế, để thực hiện được mục tiêu ứng phó vàgiảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với Tỉnh, việc xây dựng các giảipháp, kế hoạch và công tác chỉ đạo thực hiện cần được nghiên cứu, trao đổi ở tất cả cáccấp, các khu vực, các lĩnh vực (tài nguyên nước, đất, môi trường, các hệ sinh thái…) vàtrong tất cả các ngành, quan trọng nhất là năng lượng, giao thông, công nghiệp, nông lâmnghiệp, thuỷ sản, du lịch, tài nguyên và môi trường
Trang 31Xuất phát từ những lý do trên và yêu cầu của nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc
gia ứng phó với BĐKH, việc xây dựng và triển khai kế hoạch hành động “Kế hoạch
hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông – lâm ngư nghiệp của tỉnh Yên Bái” là một việc làm cấp thiết, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát
triển bền vững của tỉnh Đồng thời, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách
và các nhà nghiên cứu có cách nhìn bao quát hơn về nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu, từ
đó đưa ra các quyết sách hợp lý nhằm thích ứng và đối phó với xu thế này
Trang 32B MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
* Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu của Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông –lâm – ngư nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015 - 2025 nhằm đánh giá mức độtác động của biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp của tỉnh; địnhhướng các chương trình, dự án phát triển của tỉnh theo hướng thích ứng với xu thế biếnđổi của khí hậu, phòng tránh và giảm các thiệt hại, rủi ro do thiên tai gây ra, đồng thờigiảm nhẹ và ứng phó hiệu quả với những tác động cấp bách trước mắt và những tác độngtiềm tàng lâu dài của biến đổi khí hậu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và qua đóđóng góp tích cực vào thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
* Mục tiêu cụ thể:
+ Điều tra đánh giá được hiện trạng, dao động khí hậu trong thời gian gần đây;
+ Đánh giá tác động của BĐKH đến lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp giai đoạn 2010
- 2015 và các kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015 - 2025;
+ Xây dựng và lựa chọn được các giải pháp ứng phó BĐKH cho Tỉnh Yên Bái; Đềxuất các nhiệm vụ và các giải pháp nhằm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia trênđịa bàn tỉnh Yên Bái;
+ Lồng ghép thông tin BĐKH và các hoạt động tương ứng của kế hoạch hành độngnhằm ứng phó hiệu quả với tác động của BĐKH cho lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệptrên địa bàn tỉnh Yên Bái;
+ Xây dựng danh mục các nhiệm vụ ưu tiên ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàntỉnh cho giai đoạn 2015 - 2025;
+ Củng cố và tăng cường năng lực tổ chức, thể chế và chính sách về BĐKH;
+ Nâng cao nhận thức, kiến thức, thái độ, hành vi cũng như trách nhiệm tham gia củacộng đồng về biến đổi khí hậu;
+ Tăng cường hoạt động khoa học công nghệ nhằm xác lập các cơ sở khoa học và thựctiễn cho các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu;
+ Tăng cường hợp tác quốc tế nằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế đối với tỉnhYên Bái trong ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 33C NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
CHƯƠNG I BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA TỈNH YÊN BÁI
I KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG CHO VIỆT NAM
Các tiêu chí để lựa chọn phương pháp tính toán xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu,nước biển dâng cho Việt Nam bao gồm: (1) Mức độ tin cậy của kịch bản biến đổi khí hậutoàn cầu; (2) Độ chi tiết của kịch bản biến đổi khí hậu; (3) Tính kế thừa; (4) Tính thời sựcủa kịch bản; (5) Tính phù hợp địa phương; (6) Tính đầy đủ của các kịch bản; và (7) Khảnăng chủ động cập nhật
Trên cơ sở phân tích các tiêu chí nêu trên, kết quả tính toán bằng phương pháp tổ hợp(MAGICC/SCENGEN 5.3) và phương pháp chi tiết hóa thống kê đã được lựa chọn đểxây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng trong thế kỷ 21 cho Việt Nam
I.1 Về nhiệt độ
Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khíhậu của nước ta Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng nhanh hơn so với cácvùng khí hậu phía Nam
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 khoảng từ 1,6đến 1,90C và ở các vùng khí hậu phía Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng từ 1,1 đến 1,40C
Bảng 3: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980 - 1999
Trang 34Nam Bộ 0,4 0,6 0,8 1,0 1,1 1,3 1,3 1,4 1,4
Nguồn: Kịch bản BĐKH và Nước biển dân cho Việt Nam
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
có thể tăng lên 2,6oC ở Tây Bắc, 2,5oC ở Đông Bắc, 2,40C ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C ởBắc Trung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,60C ở Tây Nguyên và 2,00C ở Nam Bộ so vớitrung bình thời kỳ 1980 - 1999
Bảng 4: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980 - 1999
theo KB phát thải trung bình (B2)
Vùng
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2060
2070
2080
2090
2100
Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 khoảng 3,1 đến3,60C, trong đó Tây Bắc là 3,30C, Đông Bắc là 3,20C, Đồng bằng Bắc Bộ là 3,10C và BắcTrung Bộ là 3,60C Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của các vùng khí hậu phía Nam là2,40C ở Nam Trung Bộ, 2,10C ở Tây Nguyên và 2,60C ở Nam Bộ
Bảng 5: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980 – 1999
theo kịch bản phát thải cao (A2)
Trang 35Đông Bắc 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,3 2,7 3,2Đồng bằng Bắc Bộ 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,3 2,6 3,1
Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
I.2 Về lượng mưa
Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước ta, đặc biệt làcác vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng ởtất cả các vùng khí hậu
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng
khoảng 5% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 1 - 2% ở NamTrung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 Lượng mưa thời
kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 3 - 6% ở các vùng khí hậu phía Bắc và lượngmưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 7 - 10% so vớithời kỳ 1980 - 1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 6 đến 10%ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉtăng khoảng 1% so với thời kỳ 1980-1999
Bảng 6: Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980 - 1999
Trang 36Nam Bộ 0,3 0,4 0,6 0,7 0,8 0,9 1,0 1,0 1,0
Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể
tăng khoảng 7 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2 3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999.Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 4 - 7% ở Tây Bắc, Đông Bắc vàĐồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở cácvùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10-15% so với thời kỳ 1980 - 1999 Lượng mưacác tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phíaBắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1%
-Bảng 7: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Vùng
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2060
2070
2080
2090
2100
Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng so
với trung bình thời kỳ 1980 - 1999, khoảng 9 - 10% ở Tây Bắc, Đông Bắc, 10% ở Đồngbằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, 4 - 5% ở Nam Trung Bộ và khoảng 2% ở Tây Nguyên, Nam
Bộ Lượng mưa thời kỳ từ tháng III đến tháng V sẽ giảm từ 6 - 9% ở Tây Bắc, Đông Bắc
và Đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 13% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ởNam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ có thể giảm tới 13 - 22% so với thời kỳ 1980 -
1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 12 đến 19% ở cả bốn vùng
Trang 37khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ vào khoảng 1 2%.
-Bảng 8 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980 - 1999
theo kịch bản phát thải cao (A2)
Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
I.3 Khuyến nghị kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam đã được xây dựng theocác kịch bản phát thải khí nhà kính khác nhau là: thấp (B1), trung bình (B2) và cao (A2,A1FI)
Kịch bản phát thải thấp (B1) mô tả một thế giới phát triển tương đối hoàn hảo theohướng ít phát thải khí nhà kính nhất, tốc độ tăng dân số rất thấp, cơ cấu kinh tế thay đổinhanh theo hướng dịch vụ và thông tin, các thỏa thuận quốc tế nhằm giảm thiểu phát thảikhí nhà kính được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, với
cơ cấu kinh tế không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới như hiện nay, cộng vớinhận thức rất khác nhau về biến đổi khí hậu và quan điểm còn rất khác nhau giữa cácnước phát triển và các nước đang phát triển, đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu nhằm
ổn định nồng độ khí nhà kính nhằm hạn chế mức độ gia tăng nhiệt độ ở mức dưới 20Cgặp rất nhiều trở ngại, kịch bản phát thải thấp (B1) có rất ít khả năng trở thành hiện thựctrong thế kỷ 21
Các kịch bản phát thải cao (A2, A1FI) mô tả một thế giới không đồng nhất ở quy môtoàn cầu, có tốc độ tăng dân số rất cao, chậm đổi mới công nghệ (A2) hoặc sử dụng tối đanăng lượng hóa thạch (A1FI) Đây là các kịch bản xấu nhất mà nhân loại cần phải nghĩ đến
Trang 38Với những nỗ lực trong phát triển công nghệ thân thiện với khí hậu, đàm phán giảm phát thảikhí nhà kính, và sự chung tay, chung sức của toàn nhân loại trong “liên kết chống lại biến đổikhí hậu”, có thể hy vọng rằng những kịch bản phát thải cao sẽ có rất ít khả năng xảy ra.Hơn nữa, vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản pháttriển kinh tế - xã hội và kèm theo đó là lượng phát thải khí nhà kính trong tương lai Với
sự tồn tại các điểm chưa chắc chắn thì các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng ứngvới các kịch bản phát thải khí nhà kính ở cận trên hoặc cận dưới đều có mức độ tin cậythấp hơn so với kịch bản ở mức trung bình
Vì những lý do nêu trên, kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với Việt Namđược khuyến nghị sử dụng trong thời điểm hiện nay là kịch bản ứng với mức phát thảitrung bình (B2)
II BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở YÊN BÁI
Để đánh giá diễn biến khí hậu ở Yên Bái, chuỗi số liệu 45 năm (1961 - 2005) của 4trạm Yên Bái (độ cao 56m), Văn Chấn (độ cao 257m), Mù Cang Chải (độ cao 975m) vàLục Yên được sử dụng trong quá trình đánh giá
Đánh giá xu thế diễn biến của nhiệt độ được xác định trên cơ sở chuỗi số liệu chuẩnsai (0C) và xu thế diễn biến lượng mưa được xác định thông qua tỷ chuẩn sai (%) códạng:
dR= R i−R
Trong đó Ri là lượng mưa năm thứ i
R là lượng mưa trung bình thời kỳ được đánh giá.
II.1 Nhiệt độ
Kết quả thống kê và tính toán cho thấy, nhìn chung, nhiệt độ trung bình qua các thập
kỷ đều có xu hướng tăng dần, trong thập kỷ 1961 - 1970, ở vùng thấp có nhiệt độ trungbình khoảng 22,60C, ở vùng cao là 22,20C và vùng núi cao là 18,60C Đến thập kỷ 2001 -
2005, nhiệt độ trung bình ở các vùng này lần lượt lên tới 23,40C, 22,90C và 19,60C
Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), thángVII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm được thể hiện trong Hình 5,Hình 6 và Hình 7
Trang 39
Hình 5: Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình tháng I tại 4 trạm Yên Bái, Văn Chấn, Mù
Cang Chải và Lục Yên trong giai đoạn 1961 – 2005.
Trang 40
Hình 6: Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình tháng VII tại 4 trạm Yên Bái, Văn Chấn, Mù
Cang Chải và Lục Yên trong giai đoạn 1961 – 2005.