1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

khung hoang kinh te toan cau (ban in)

25 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 366,5 KB
File đính kèm Tieu luan mon tai chinh quoc te.rar (141 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế nước Mỹ và lan rộng ra toàn cầu làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống tài chính và sự tăng trưởng kinh tế thế giới. Kể từ khi cơn lốc của cuộc khủng hoảng đi qua cuốn theo rất nhiều quốc gia vào vòng xoáy của nó, đến bây giờ cuộc khủng hoảng đã tạm qua đi, tình trạng thị trường đã trở nên ổn định hơn, quá trình khôi phục diễn ra mạnh mẽ. Mặt dù vậy các nước vẫn còn phải tiếp tục lịch trình tái cơ cấu và đang đứng trước một nguy cơ khủng hoảng tài chính mới (tàn dư của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu) đó là khủng hoảng nợ công ở châu Âu đã và đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế đồng Euro nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung. Đã có rất nhiều sách báo, các cuộc hội thảo quốc tế và khu vực đã viết và bàn về cuộc khủng hoảng tài chính, và dường như vẫn chưa đủ và người ta vẫn buộc phải nghĩ về nó, viết về nó vì nó vẫn đang ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội và chính trị của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và thế giới. Các tổ chức tài chính, các trung tâm nghiên cứu quốc tế cũng đưa ra các bài học và dự báo về nguy cơ của các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai. Tuy không nằm trong tiêu điểm của cơn lốc khủng hoảng, nhưng những ảnh hưởng và tác động của nó ngày càng được cảm nhận rõ rệt ở Việt Nam, thể hiện qua những chỉ số giảm đi cụ thể về thương mại, đầu tư, tốc độ phát triển kinh tế và du lịch. Hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu khủng hoảng, triển vọng và tác động của nó trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực, hội nhập với quốc tế. Đó cũng chính là lý do, động lực thúc đẩy nhóm chúng tôi chon đề tài tiểu luận nghiên cứu: “Khủng hoảng kinh tế tài chính và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam”. Tiểu luận đã đặt vấn đề nghiên cứu cuộc khủng hoảng và chiều hướng diễn biến của nó, nhóm nghiên cứu đề tài tiểu luận tập trung vào phân tích những diễn biến, nguyên nhân, tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2007 – 2008 đến Việt Nam. Trong khuôn khổ thời gian cho phép, thời gian nghiên cứu không nhiều, kiến thức thực tế và khả năng lý luận còn hạn chế nên tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và bạn bè để tiểu luận được hoàn thiện hơn. Nhóm xin chân thành cảm ơn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối vớinền kinh tế nước Mỹ và lan rộng ra toàn cầu làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống tàichính và sự tăng trưởng kinh tế thế giới Kể từ khi cơn lốc của cuộc khủng hoảng đi quacuốn theo rất nhiều quốc gia vào vòng xoáy của nó, đến bây giờ cuộc khủng hoảng đãtạm qua đi, tình trạng thị trường đã trở nên ổn định hơn, quá trình khôi phục diễn ra mạnh

mẽ Mặt dù vậy các nước vẫn còn phải tiếp tục lịch trình tái cơ cấu và đang đứng trướcmột nguy cơ khủng hoảng tài chính mới (tàn dư của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu) đó là khủng hoảng nợ công ở châu Âu đã và đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tếđồng Euro nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung

Đã có rất nhiều sách báo, các cuộc hội thảo quốc tế và khu vực đã viết và bàn vềcuộc khủng hoảng tài chính, và dường như vẫn chưa đủ và người ta vẫn buộc phải nghĩ

về nó, viết về nó vì nó vẫn đang ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xãhội và chính trị của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và thế giới Các tổ chức tài chính, cáctrung tâm nghiên cứu quốc tế cũng đưa ra các bài học và dự báo về nguy cơ của các cuộckhủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai Tuy không nằm trong tiêu điểm của cơn lốckhủng hoảng, nhưng những ảnh hưởng và tác động của nó ngày càng được cảm nhận rõrệt ở Việt Nam, thể hiện qua những chỉ số giảm đi cụ thể về thương mại, đầu tư, tốc độphát triển kinh tế và du lịch

Hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc nghiêncứu khủng hoảng, triển vọng và tác động của nó trong bối cảnh đất nước đang tham giangày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực, hội nhập với quốc tế Đó cũng chính là lý

do, động lực thúc đẩy nhóm chúng tôi chon đề tài tiểu luận nghiên cứu: “Khủng hoảng kinh tế tài chính và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam” Tiểu luận đã đặt

vấn đề nghiên cứu cuộc khủng hoảng và chiều hướng diễn biến của nó, nhóm nghiên cứu

đề tài tiểu luận tập trung vào phân tích những diễn biến, nguyên nhân, tác động và ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2007 – 2008 đến Việt Nam

Trong khuôn khổ thời gian cho phép, thời gian nghiên cứu không nhiều, kiến thứcthực tế và khả năng lý luận còn hạn chế nên tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sótrất mong nhận được sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và bạn bè để tiểu luận được hoànthiện hơn

Nhóm xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG 1 TOÀN CẢNH CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH NĂM 2007 - 2008

1 Diễn biến của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008 bắt nguồn từ tình trạng bong bóngcủa thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra trong khoảng năm 2005-2006) vớinhững khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điềuchỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiệnrất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu cơ vàobất động sản với hy vọng kiếm được nhiều tiền từ các khoản mua bán chênh lệch

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểuhiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc

sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:

- Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng

thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của

Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản chovay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ

- Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố

lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5

tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11

- Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và

vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngânhàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quálớn

- 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan

Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu

- 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua

lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu vàcác chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản

- 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac

Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay saukhi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày

- 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ

USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thành mộttrong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu

- 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát

hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Macnhằm hỗ trợ thị trườngnhà đất Mỹ

- 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại

chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%

Trang 3

- 14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp

sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers

- 15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa

trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001 Lehman Brotherssụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corpthâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khảnăng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố

- 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào

các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băngcủa hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fed công bố kế hoạchbơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays của Anh mua lạimột phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD

- 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập

đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chếtình trạng bán khống

- 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế

hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch

hệ thống tài chính

- 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Hai ngânhàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đanăng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall

- 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm

hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu vàTrung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley

- 25/9/2008: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hàng lớn

nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơquan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đóbán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớnnhất trong lịch sử Mỹ

Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng

ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD

- 29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tàichính Mỹ Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụtgiảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay

- 1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thunhập cho doanh nghiệp và cá nhân (dự tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tănghạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên250.000 USD

Trang 4

- 3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu lầnthứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171 Không đầy 2 giờ sau đó,

Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật

- 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ liên bang

Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các nướckhác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủnghoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930

- 14/10/2008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải cứu 700

tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của các ngânhàng này Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầuChính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần

- 25/11/2008 : Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố sẽ sử dụng khoảng 800 tỷ USD

để cải thiện thị trường tín dụng cho những người mua nhà, người tiêu dùng và các doanhnghiệp nhỏ

- 11/12/2008: giới tài chính quốc tế phải xôn xao vì vụ gian lận tài chính lên tới 50

tỷ USD ở Phố Wall, mà “tác giả” lại chính là một trong những nhà giao dịch chứngkhoán huyền thoại của nước Mỹ, đồng thời là một cựu chủ tịch của sàn chứng khoánNasdaq - ông Bernard L Madoff

- 17/02/2009: Tổng thống Mỹ đã ký Luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ (ARRA) với

tổng trị giá 787 tỉ USD Mục tiêu của gói kích thích kinh tế thứ 2 này là nhằm tạo 3,5triệu việc làm, giảm nhẹ tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng đối với người thu nhậpthấp; kích thích đầu tư và tiêu dùng để phục hồi tăng trưởng kinh tế trong 2 năm tới 65%giá trị của gói kích thích này là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và 35% là giảm thuế

2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

Năm 2008 không ai có thể ngờ nước Mỹ- một tượng đài, một đầu tầu kinh tế thếgiới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thìcuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nguyên nhân sâu xa sau:

2.1 Cho vay dưới chuẩn

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation)

để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vaymua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụngbất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sảncàng tăng làm giá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo củatrái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng

Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảmmạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếphoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả

là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ knh doanh

Trang 5

2.2 Bong bóng thị trường bất dộng sản

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là

sự suy sụp của thị trường bất động sản Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phảivay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, có một sựliên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản Khilãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao, khilãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuốngthấp

Có 3 yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:

- Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữliên bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũa hạ lãisuất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay mua nhà do cácngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản củaFED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản).Vào giữa năm 2000, lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản) của FED là trên 6%/năm nhưng sau

đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, đến giữa 2003 thì chỉ còn 1%/năm

- Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà ở, chính sách chung của chính phủ lúc bấygiờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm người dân damàu được vay tiền dễ dàng hơn từ các định chế tài chính để mua nhà ở Khoản cho vaynày phần lớn được thể hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là FannieMae và Pređie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cáchmua lại các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng

tứ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortage-backed securities – MBS), rồibán lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biết là các ngân hàng đầu tư khổng lồ nhưBear Stearns và Merrill Lynch

- Thứ ba, như đã trình bày ở trên, vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành cáccông cụ đầu tư nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn

là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thếchấp bất động sản nữa Nó đã trở thành một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khảnăng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc Điểm đặc biệt ởđây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS vô cùng phức tạp nên nó diễn

ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soátcần thiết nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư Bên cạnh

đó, vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty biến chúng thành MBS, cácngân hàng thương mại đả trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năngtrả nợ của người vay

2.3 Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ

Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân hàngđầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngânhàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vaytiền Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi ro cao,… tùy định

Trang 6

mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại chứngkhoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn.

Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tàichính sang ngân hàng đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua các chứng khoán này,nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹtăng nóng

Theo Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế 2001:

“Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình, đó

là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đà không làm những gì mà

nó đáng ra phải làm – như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi

ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vaytăng cao hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh”

2.4 Khủng hoảng niềm tin

Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốccủa niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản.Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trịtài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận “mùivị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thịtrường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ

Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xóimòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy xuốngmột mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục

2.5 Tâm lý ỷ lại

Các tập đoàn tài chính tận dụng hình thức đòn bẩy tài chính, khi chứng khoán muavào được sử dụng làm vật thế chấp để vay mua chứng khoán khác, cứ thế một đồng đô latài sản thật sẽ được biến hóa thành hàng trăm đồng đô la tài sản sản ảo chỉ hiện diện trên

sổ sách Chừng nào lãi suất còn ở mức thấp thì các tập đoàn tài chính này vẫn còn báo lãinhưng một khi lãi tiền vay cao hơn chênh lệch mua bán thì họ bắt đầu chuỗi ngày dài lỗnặng Trong trường hợp của Lehman, giá trị tài sản gấp 31 lần vốn chủ sở hữu cho nênnếu giá trị tài sản chỉ cần giảm 3% thì toàn bộ vốn chủ sở hữu sẽ mất tiêu!

Các tập đoàn tài chính này có biết rủi ro rất cao nhưng chính vì những khoản tiềnthưởng hậu hĩ cho những ai mua bán, giao dịch nhiều càng làm các giới quản lý bất chấptrách nhiệm, liều lĩnh lao vào vòng xoáy mua bán chứng khoán Dù sao, họ vững tin, nếu

có chuyện gì, chính phủ sẽ phải cứu để toàn bộ thị trường khỏi sụp đổ và quan trọng hơnhết, nếu phá sản, chỉ có giới đầu tư chịu còn họ đã yên tâm với khoản lương thưởng hàngtrăm triệu đô la hàng năm Chính vì tâm lý ỷ lại này mà họ không quan tâm tới hậu quả

2.6 Mua bán khống

Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vaydưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áplực giảm giá lốn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, giới đầu cơ

sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽhưởng trọn

Trang 7

Thậm chí, một số nhà đầu cơ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến 2 lần (nakedshort sale) tức là không vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống”

vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Thực trạng này đã khiến Bộtrưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo phải thốt lên “Họ giống như kẻ hôi củasau một cơn bão”

3 Tác động của cuộc khủng hoảng

3.1 Tác động đến Mỹ:

Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605000 việc làm trong 8tháng đầu năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 6.1%, đến tháng 2/2009 con số này là 7.6%,cao nhất trong vòng 17 năm trở lại đây Sự mất giá của các tài sản nhà đất cũng sẽ đẩy tỉ

lệ nợ trên tài sản sở hữu của người tiêu dùng Mỹ lên cao hơn con số 18% hiên nay, bắtbuộc họ phải thắt chặt hầu bao Tổng số nợ của người tiêu dùng Mỹ đã lên tới 2.500 tỉ đô

la (trung bình 8.500 đô la một người), tương đương khoảng 18% giá trị tài sản sở hữutheo đầu người Tỉ lệ tiết kiệm của người Mỹ trong vài năm qua đã xuống chỉ số âm, tức

là mỗi người Mỹ tiêu nhiều hơn thu nhập làm ra

Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã chitrong năm qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và ngân hàng, sẽ làgánh nặng lớn đối với ngân sách của chính phủ Mỹ trong nhiệm kì tới

Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong năm 2008

đã ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính phủ

Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương khoảng 60% Tổng thu nhậpQuốc dân của Mỹ

Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục hồi

hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo đuổicác chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai cuộcchiến tranh tại Afghanistan và Iraq

Kể từ tháng 8 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2008, trên 770000 căn nhà ở Mỹ bịngân hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà Cuộckhủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người mất việc làm

Một số ngân hàng Mỹ vẫn đối diện nguy cơ phá sản cho dù có gói cứu trợ tài chính

700 tỷ USD mà chính phủ đã đưa ra Các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhậptrong cuộc khủng hoảng Mỹ

Đánh giá thiệt hại của cuộc khủng hoảng bất động sản – tài chính Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF ước lượng thiệt hại đối với các tập đoàn tài chính – ngân hàng có thể lên tới 945 tỉ đô là Con số này chưa tính đến thiệt hại trực tiếp đối với người tiêu dùng Mỹ.

 Tốc độ tăng trưởng GDP

Vào quý 3/2008, nền kinh tế Mỹ bắt đầu nhận thấy rõ ràng nhất ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính tín dụng lên nền kinh tế vật chất Tốc độ tăng trưởng GDP của quý3/2008 so với quý 2/2008 giảm 0,5% Nền kinh tế Mỹ chính thức bước vào giai đoạn suythoái Và kết quả công bố sắp tới của quý 4/2008 cũng như 2 quý đầu năm 2009, chúng ta

sẽ còn chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ hơn nữa của nền kinh tế lớn nhất thế giới này

Trang 8

Theo nhiều dự đoán, 2 quý đầu năm 2009 sẽ tiếp tục chứng kiến sự suy giảm của nềnkinh tế, tính chung cả năm 2009, dự đoán kinh tế Mỹ suy giảm khoảng -0,8%.

3.2 Tác động đến các quốc gia khác

* Châu Âu:

Hầu hết các nền kinh tế lớn của Châu Âu đều có tốc độ tăng trưởng GDP âm vàoquý 3/2008, duy nhất Pháp là nước có tốc độ tăng trưởng GDP dương 0,1% Trong đóAnh là có nước có mức sụt giảm mạnh nhất -0,6% và là quý đầu tiên trong 7 quý gầnnhất nền kinh tế này chứng kiến mức suy giảm GDP Thụy sĩ, một nền kinh tế có sức đềkháng mạnh cũng không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế toàn cầu Qúy 3/2008, nền kinh tế này không tăng trưởng và là mức thấpnhất trong vòng 10 năm qua

Các Ngân hàng ở Anh cũng chịu ảnh hưởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tín dụngthứ cấp cho vay nhà ở tại Mỹ và nay là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tại Mỹ Điểnhình trong số đó là Ngân hàng Northern Rock Bank bị khoản nợ xấu đến hết tháng 7-

2008 lên tới 191,6 tỷ USD Trong tháng 9-2007, tại thời điểm mới xảy ra cuộc khủnghoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ hơn 2 tháng, Ngân hàng TW Anh BOE đã phải bơm 27 tỷBảng để cứu Northern Rock Bank trong tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng gia tăng Không chỉ các Ngân hàng ở Anh bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng thứcấp nhà ở tại Mỹ, mà chính thị trường nhà đất của Vương quốc Anh cũng bị ảnh hưởng

và trên đà đi xuống, giá giảm, giao dịch trầm lắng Ngày 2-9-2008, Chính phủ Anh đãphải thông qua góp giải pháp trị giá 1 tỷ Bảng Anh, tương đương 1,78 tỷ USD nhằm cứuvãn thị trường nhà đất tại Anh đang xuống dốc

Ngày 29-9-2008, Bộ Tài chính Anh đã chính thức tuyên bố quốc hữu hóa Tập đoàncho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước này là Bradford & Bingley Plc nhằm bảo

Trang 9

vệ khách hàng của tập đoàn này do thua lỗ lớn liên quan đến cuộc khủng hoảng tín dụngthứ cấp tại Mỹ và không có khả năng trụ vững Tổng giá trị sổ sách các khoản thế chấp

và vay là 50 tỷ Bảng Anh, tương đương 91 tỷ USD Đây là ngân hàng lớn thứ 3 tại Anh.Ngày 13-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Anh là Royal Bank of Scotland, Lloyds TSB

và HBOS công bố tiếp nhận khoản hỗ trợ từ Chính phủ trị giá 37 tỷ Bảng, tương đương

63 tỷ USD để đảm bảo thanh toán

Tiếp theo ngân hàng nói trên của Anh, cuối tháng 9-2008 có thêm một số ngân hàng lớnkhác tại Châu Âu như: Fortis (Bỉ và Luxemburg), Dexia (Bỉ và Pháp); đầu tháng 10-2008

là Hypo Real Estate (Đức) cũng lâm vào khủng hoảng được Chính phủ các nước đó cứutrợ bằng biện pháp tài chính Ngày 20-10-2008, Chính phủ Hà Lan cũng phải bơm trên13,4 tỷ USD vào tập đoàn Ngân hàng ING Bank

Hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, và thị trường tài chính của Nga cũng bịảnh hưởng nghiêm trọng Đợt sụt giảm trên thị trường chứng khoán Nga diễn ra trongtháng 9-2008 đã làm bốc hơi 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu Chính quyền Nga cũng phảibơm vào hàng chục tỷ USD để cứu vãn thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng nướcnày Cho đến ngày 7-10-2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần phải tạm đóng cửa,chỉ số chứng khoán giảm mạnh Chỉ trong quý II và III 2008, các nhà đầu tư nước ngoài

đã rút khoảng gần 50 tỷ USD từ Nga; trong đó tính riêng tháng 8-2008 số vốn các nhàđầu tư nước ngoài đã rút khoảng 5 tỷ USD và tháng 9-2008 rút 30 tỷ USD Chỉ trong thờigian ngắn khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10-2008, NHTW Nga đã phải tung rathị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và công ty tài chính

Đến ngày 10-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Iceland đã tuyên bố phá sản và chuyểngiao cho chính phủ quản lý

* Nhật Bản:

GDP 2007 của Nhật là 4.384 tỷ USD, tăng 0,2 % so với 4.375 tỷ USD của năm 2006.Quý 1 năm 2008 GDP Nhật tăng trưởng 0,6 % so với quý trước, tuy nhiên liên tiếp 3 quýtiếp sau con số tăng trưởng này đã bị âm Cụ thể quý 2/2008 GDP tăng trưởng -0,1% sovới quý 1/2008, quý 3 con số này là -0,5% và quý 4/2008 dự báo tăng trên -3,2% NhậtBản chính thức bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế trong năm 2008 và năm 2009 (bắt đầutính từ 01/04/2009 theo năm tài khóa của Nhật) các dự báo tăng trưởng GDP của Nhật là0% (theo Chính phủ Nhật) và -0,1 % (theo WB )

Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 9/3 công bố nền kinh tế Nhật Bản đã bị thâm hụt tàikhoản vãng lai ở mức kỷ lục 172,8 tỷ yen (tương đương 1,8 tỷ USD) trong tháng 1/2009

* Châu Mỹ Latinh:

Cơn bão tài chính Mỹ như một căn bệnh dịch lan sang các hệ thống tiền tệ toàn cầu,các nước láng giềng của Mỹ cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của cơn bão đó.Những ngày gần đây, thị trường tiền tệ lớn tại khu vực Mỹ Latinh cũng bị biến độngmạnh, thị trường chứng khoán (TTCK) tụt dốc, tiền tệ mất giá - tình hình khiến nhiềungười lo ngại Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế đánh giá, các nước Mỹ Latinh kiên địnhvới các chính sách kinh tế khiến cho mức ảnh hưởng là không lớn, khả năng xảy ra nguy

cơ của khủng hoảng tiền tệ là không cao, nhưng hậu quả từ khủng hoảng tiền tệ là khôngmấy khả quan, thậm chí còn ảnh hưởng đến cục diện chính trị

Trang 10

Thị trường tiền tệ biến động:

Vài tháng gần đây, các TTCK lớn tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng giảm, TTCKSao Paulo (Brazil), Buenos Aires (Argentina) giảm hơn 30%, giá cổ phiếu tại các TTCKchủ đạo của Mexico và Chi-lê lần lượt giảm 20% vaì 10%

Cùng với TTCK, các mệnh giá tiền tệ của khu vực Mỹ-Latinh cũng giảm so với tỷ giáđồng Đô-la Tỷ giá các tiền Brazil, Chi-lê, Mexico, và Argentina so với đồng đô-la lượtgiảm 13,5 %, 6,5%, 4,64%, và 2,63%

Thị trường tiền tệ bất ổn khiến niềm tin của các nhà đầu tư giảm sút

Các loại nguyên liệu như dầu thô, khí đốt thiên nhiên, đồng, các mặt hàng nông phẩmđều chiếm tỷ trọng lớn trong ngành xuất khẩu của Mỹ Latinh, trong hoàn cảnh nền kinh

tế thế giới hỗn loạn, nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, giá dầu giảm mạnh như hiệnnay lượng thu về từ xuất khẩu giảm ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Mỹ Latinh, đồngthời cũng ảnh hưởng đến tỷ giá tiền tệ của khu vực

4 Phản ứng của Mỹ và các quốc gia

4.1 Phản ứng của chính phủ Mỹ

Để ổn định thị trường và ngăn chặn cuộc khủng hoảng có nguy cơ lan rộng hơn nữa,Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã ngay lập tức bơm vốn cho thị trường cũng như camkết luôn trong tư thế sẵn sàng đáp ứng vốn nếu thị trường cần Điều đáng lo ngại là dùhàng trăm tỷ USD đã được FED bơm vào hệ thống ngân hàng, tín dụng của nước Mỹsong hiệu quả không nhiều, vẫn chưa giải quyết được cơn khát vốn của những ngân hàng,

tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ Tính tới nay (thời điểm đến tháng 3/2008) FED đã bơm

310 tỷ USD cứu trợ khẩn cấp song vẫn còn 91 ngân hàng và tổ chức tài chính xếp hàngdài xin vay Bên cạnh đó, FED cũng đang bàn thảo với Quốc hội về các biện pháp hỗ trợkhác như tái cấp vốn và bảo lãnh các khoản nợ thế chấp thông qua Cơ quan Nhà đất Liênbang

Ngoài ra, nhằm “phá băng” thị trường nhà đất, Chính phủ Mỹ đã đề xuất một kế hoạch

hỗ trợ thị trường nhà đất Cụ thể: những người vay thế chấp nhà có đủ ba điều kiện: Một

là, có rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được; hai là có những khoản vay phát sinh từ01/01/2005 đến 31/07/2007; ba là chứng minh được rằng: họ đang sinh sống trong nhàcủa mình và nếu lãi suất bị điều chỉnh cao hơn họ sẽ không có khả năng chi trả các khoản

nợ, thì những người này sẽ được áp dụng mức lãi suất cố định trong kỳ hạn 5 năm BộTài chính Mỹ và FED cũng đã ban hành các qui định mới với việc khuyến cáo giám sátchặt chẽ hơn các công ty cho vay trong lãnh vực nhà đất, và đề ra các tiêu chuẩn cho vaynghiêm ngặt hơn

Mặc dù Chính phủ Mỹ, FED cũng như các Ngân hàng Trung ương (NHTW) hàng đầutrên thế giới đã có những động thái tích cực Tuy nhiên, trong bối cảnh giá dầu leo thang(liên tiếp đạt những kỷ lục mới), đồng USD mất giá nghiêm trọng, vẫn còn nhiều lo ngạirằng cơn bão trên thị trường tài chính toàn cầu “chỉ mới bắt đầu” và “các điều kiện sẽ cònxấu hơn nữa”

Trang 11

4.2 Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác

Để giải cứu thị trường tài chính, ngăn chặn nguy cơ tác động tiêu cực của cuộc khủnghoảng tài chính này, chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng tổng hợp, đồng bộnhiều biện pháp khác nhau

- Thứ nhất, sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại các ngân hàng, ngăn chặn nguy cơ rút tiền gửi hàng loạt của người dân tại các tổ chức trung gian tài chính Một số chính phủ quyết định nâng mức bảo hiểm tiền gửi của

người dân và cam kết bảo đảm an toàn, chi trả đầy đủ tiền gửi tiết kiệm của họ tại cácngân hàng và tổ chức tài chính Chính phủ Australia cam kết bảo đảm an toàn các khoảntiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong vòng 3 năm; đồng thời tuyên bốkhông giới hạn bảo hiểm tiền gửi và không giới hạn về thời hạn bảo hiểm tiền gửi

Chính phủ Mỹ nâng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 100.000 USD lên 250.000 USD.Chính phủ New Zealand cũng có hành động tương tự Đặc khu hành chính Hồng Kôngcũng dỡ bỏ mức giới hạn bảo hiểm tiền gửi hiện nay tương đương 100.000 USD Chínhphủ Nhật Bản đã tuyên bố không giới hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong vòng 2 năm

- Thứ hai, sử dụng nguồn lực tài chính mạnh mẽ để hỗ trợ thanh khoản, cứu trợ trực tiếp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính.

Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng các nguồn lực tài chính trị giá hàng chục

tỉ, thậm chí hàng trăm tỉ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng, công ty tài chính và thịtrường tài chính thông qua các nghiệp vụ cho vay nhằm bảo đảm vấn đề thanh khoản cótính chất khẩn cấp và tức thời; đồng thời tiến hành quốc hữu hóa, mua lại các khoản nợxấu, mua cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành,

Cục Dự trữ liên bang Mỹ ( FED) tăng khoản vay kỳ hạn 28 ngày và 84 ngày lên 150 tỉUSD cho mỗi kỳ hạn, có hiệu lực từ ngày 6-10-2008 Như vậy, với số tiền 300 tỉ USDmới bơm thêm vào thị trường tài chính, nâng tổng số tiền định kỳ rót theo chương trìnhcho vay khẩn cấp mang tên “Chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn” (TAF) của Chính phủ

Mỹ sẽ tăng lên 600 tỉ USD Trong tháng 11-2008, số tiền các ngân hàng Mỹ được vaytheo hai kỳ hạn nói trên tiếp tục được duy trì ở mức 150 tỉ USD cho mỗi kỳ hạn Do đótổng số tiền cho vay theo chương trình TAF đến cuối năm 2008 có khả năng lên tới 900 tỉUSD

Chính phủ Anh tung ra 50 tỉ bảng Anh, tương đương khoảng 87 tỉ USD để cứu 8 ngânhàng của nước này có nguy cơ bị phá sản Đây là một phần trong cả gói cứu trợ gồm baphần với tổng trị giá lên đến xấp xỉ 550 tỉ bảng Anh, tương đương trên 870 tỉ USD đểbơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Anh theo các kênh khác nhau cũngđược công bố trong ngày 8-10-2008

Chính phủ Nga sử dụng khoản tài chính 950 tỉ rúp, tương đương khoảng 36,4 tỉ USD

để cho các ngân hàng vay với thời hạn 5 năm; đồng thời, dùng một khoản ngân quỹ kháctrị giá 50 tỉ USD để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng và công ty tài chính của Nga.Với dự trữ ngoại tệ khổng lồ, trị giá tới 563 tỉ USD và nguồn dự trữ dầu mỏ, khí đốt dồidào, Nga được đánh giá là một trong số các nền kinh tế có thể trụ vững trước cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu Nước Nga cũng dự kiến cho Iceland vay 5,4 tỉ USD để cứu vãnthị trường tài chính của nước này

Trang 12

Chính phủ Đức đã thông qua một gói cứu trợ lên tới 480 tỉ euro, tương đương 653 tỉUSD, trong đó có 108 tỉ USD được dự kiến bơm trực tiếp vào hệ thống ngân hàng và 545

tỉ USD là tiền bảo đảm cho các khoản vay Chính phủ Pháp đưa ra khoản trợ giúp lầnlượt là 320 tỉ euro và 40 tỉ euro; Chính phủ Áo: 85 tỉ euro và 15 tỉ euro; Chính phủ TâyBan Nha: 100 tỉ euro và 50 tỉ euro Chính phủ Hà Lan đưa ra khoản bảo đảm cho cáckhoản vay là 200 tỉ euro, tương tự chính phủ Bồ Đào Nha: 20 tỉ euro; Italia: 40 tỉ euro.Tính tổng cộng, chính phủ các quốc gia thuộc khu vực đồng euro và Chính phủ Anh đưa

ra khoản trợ giúp lên tới 2.300 tỉ USD

Bên cạnh đó, Chính phủ Thụy Điển cũng đưa ra kế hoạch cứu trợ trị giá 1.500 tỉKrona, tương đương 200 tỉ USD, nhằm nâng cao tính thanh khoản cho các ngân hàng và

tổ chức tài chính trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu

Năm Ngân hàng Trung ương của các nền kinh tế hàng đầu thế giới trong đó có FED,ECB (Ngân hàng Trung ương châu Âu) phát đi thông điệp “phá băng” thị trường tíndụng và tăng cường bơm vốn cho các ngân hàng Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngânhàng Quốc gia Thụy Sĩ và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) tuyên bố sẵn sàng cungứng một lượng vốn không giới hạn cho các tổ chức tài chính

Mười lăm quốc gia trong khu vực đồng euro cùng cam kết các khoản cho vay trên thịtrường liên ngân hàng từ nay đến cuối năm 2009, thông qua việc bảo lãnh các khoản nợcủa các ngân hàng tại nước mình phát hành với thời hạn tối đa lên tới 5 năm Chính phủcam kết sẽ cứu trợ các ngân hàng bằng giải pháp mua cổ phiếu ưu đãi

Tại châu Á, Chính phủ Nhật Bản đã bơm ra 20,7 tỉ USD vào hệ thống ngân hàng nướcnày để bảo đảm tính thanh khoản của thị trường tài chính và tiếp theo đưa ra kế hoạch

110 tỉ USD để cứu vãn hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Chính phủ ấn Độcũng bơm 12 tỉ USD và Chính phủ Australia bơm khoảng trên 10 tỉ USD vào các ngânhàng đang có vấn đề về thanh khoản

Chính phủ Hàn Quốc cũng dành 100 tỉ USD để cứu trợ các ngân hàng và thị trường tàichính Ngày 20-10-2008, chính quyền vùng lãnh thổ Đài Loan đã tiến hành quốc hữu hóamột tập đoàn ngân hàng đứng vào các ngân hàng lớn nhất của nước này

Một quỹ cứu trợ trị giá 350 tỉ USD cũng đã được đề xuất đối với châu á, nhằm bảo vệ

hệ thống tài chính thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tương đương khoảng10% dự trữ ngoại tệ của các quốc gia trong khu vực châu á Số tiền này do các nướctrong khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cùng đóng góp

Tại Trung Quốc, ngày 6-11-2008, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC) cũng

đã nhận được 19 tỉ USD tiền mặt cứu trợ của Chính phủ Theo đó, thỏa thuận cứu vãnnày được ABC ký kết với Tập đoàn đầu tư quốc gia Trung Quốc (CIC) Tập đoàn này sẽ

sở hữu 50% vốn của ABC và Bộ Tài chính Trung Quốc sẽ sở hữu 50% phần còn lại.ABC chuẩn bị cổ phần hóa và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng vào năm 2009

- Thứ ba, cắt giảm lãi suất cơ bản.

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9 đến tháng 11-2008, ngân hàng trung ươngcác nước đồng loạt thực hiện nhiều đợt cắt giảm lãi suất cơ bản, nhằm tăng khả năng hỗtrợ thanh khoản cho các ngân hàng và tổ chức tài chính thông qua các nghiệp vụ cho vayvới lãi suất thấp và hạ thấp mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế Thậm chí, có ngân hàng

Ngày đăng: 08/05/2017, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w