Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu ghỉ nhận và phân tích về biến cố bất lợi trong điều trị MDR và XDR-TB, nhưng kết quả của các nghiên cứu riêng lẻ khó phần ánh được đầy đủ về biến cố
Trang 1Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 2-9
cua thuéc trong diéu tri lao da khang/lao siêu khúng
Nguyễn Thị Thủy!, Nguyễn Hồng Dương?, Cao Thị Thu Huyền?, Vũ Đình Hòa?,
Nguyễn Hoàng Anh?, Nguyễn Viết Nhung’ 1Bệnh viện Phổi Trung ương, ?Trường Đại học Dược Hà Nội
SUMMARY
Adverse drug events (ADE) have been mentioned as the most crucial obstacle in the management of multi/extensively drug-resistant tuberculosis (MDR/XDR-TB) using second-line drug chemotherapy The information of such ADE was found diverse among studies and a systematic summary was therefore required to assist clinical practice The study aimed to identify the proportion and type of ADEs reported in published medical literature, A systematic search for ADEs in MDR/XDR-7B treatment from Medline in January 2016 was carried out and subsequently the search result was reviewed under pre-defined criteria, Extracted data was summarized and the pooled incidence for each specific ADE and for cases with at least one ADE was presented Of 1504 searched articles, 69 were selected for the review A total of 5313 (68.2%) patients in 49 studies experienced at least one ADE, In addition, 2000 patients (21.8%) in 46 studies required change of MDR/XDR-TB treatment The most three common side effects were gastrointestinal disorders (39.6%), red blood ceil disorders (18.8%), and general disorders (18,3%) Most of the P values were over 90%, These results revealed that ADE was found to be common in MDR/XDR-7B treatment The high heterogeneity of the result suggested a wide variation among studies in assessing and reporting ADE during the treatment of MDR/XDR-TB,
Từ khóa: Biến cố bất lợi, MDR-TB, XDR-TB, tổng quan hé théng, phan tich g6p
Dat van dé
Lao kháng thuốc đã và đang trở thành một thử
thách lớn đối với việc kiểm soát bệnh lao trên toàn
cầu Riêng trong năm 2014, đã có khoảng 190 000
trường hợp tử vong do lao đa kháng (MDR-TB) Ước
tính chỉ có 50% số bệnh nhân MDR-TB được điều trị
khỏi và đã có khoảng 9,7% số ca MDR-TB bị siêu
kháng thuốc (XDR-TB) Việt Nam nằm trong nhóm 27
quốc gia có gánh nặng lao đa kháng cao nhất thế
giới, xếp thứ 11/20 nước có số lượng bệnh nhân
MDR-TB nhiều nhất [5] Bệnh nhân MDR/XDR-TB phải
sử dụng nhiều thuốc đồng thời với thời gian điều trị
bệnh kéo dài, đặc biệt các thuốc lao hàng hai thường
có độc tính cao hơn thuốc lao hàng một, dẫn đển
tăng khả năng xuất hiện biến cố bất lợi Vì vậy, việc
nhận diện, đánh giá và xử trí biến cố bất lợi trong
điều trị lao đa kháng đóng một vai trò quan trọng
trong việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và điều trị thành công MDR/XDR-TB [9], Tuy nhiên, thông tin về các biến cố do thuốc điều trị MDR/XDR-TB thu được
trên thực tể từ hệ thống báo cáo tự nguyện tại Việt Nam còn rất hạn chế do số lượng và chất lượng bảo
cáo chưa cao Bên cạnh đó, các nghiên cứu theo dõi chủ động biển cổ bất lợi của thuốc điều trị lao mới
bắt đầu được triển khai trong những năm gần đây
tại một số cơ sở trọng điểm và chưa công bố kết quả đầu ra Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu ghỉ nhận và phân tích về biến cố bất lợi trong điều trị MDR và XDR-TB, nhưng kết quả của các nghiên cứu riêng lẻ khó phần ánh được đầy đủ về biến cố bất lợi
và những yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện của biến cố khi sử dụng những phác đồ điều trị MDR và XDR-TB Mặc dù một nghiên cứu tổng quan hệ thống
và phân tích gộp về biến cố bất lợi trong điều trị lao
Trang 2Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tập 8, Số 1,trang 2-9
đa kháng đã được tiến hành vào năm 2012 [10],
nhưng kể từ thời điểm đó đến nay đã có thêm nhiều
nghiên cứu được thực hiện bổ sung thêm vào dữ liệu
biến cố bất lợi khi điều trị MDR/XDR-TB Do vậy, để
có được góc nhìn tương đối toàn diện về biến cố bất
lợi của thuốc trong điều trị lao đa kháng và siêu
kháng đã được ghi nhận trên thể giới, từ đó cung cấp
những thông tin hữu ích phục vụ cho công tác điều
trị MDR/XDR-TB, nghiên cứu này được thực hiện với
mục tiêu phân tích tần suất xuất hiện các biến cố bất
lợi xảy ra trong điều trị lao đa kháng/siêu kháng
thuốc thông qua tổng quan hệ thống và phân tich
gộp từ các nghiên cứu quan sát
Đối lượng và phương pháp nghiên cứu
Đổi tượng nghiên cửu
Các bài báo từ nguồn dữ liệu PubMed/Medline
được cập nhật đển tháng 1/2016, Chiến lược tìm
kiếm là sử dụng MeSH để thu được danh mục các từ
đồng nghĩa của”“MDR-TB',“XDR-TB”và“Adverse Drug
Events”; giới hạn ngôn ngữ là tiếng Anh
Phương pháp nghiên cứu
Quy trình lựa chọn nghiên cứu
Hai thành viên trong nhóm nghiên cứu đọc tiêu
để và tóm tất của các nghiên cứu một cách độc lập và
soát chéo Nếu có kết quả khác nhau, tiến hành thảo
luận lại hoặc xin ý kiến thành viên thứ ba trong nhóm
nghiên cứu để thống nhất Sau đó, đọc bản đẩy đủ các
nghiên cứu đã chọn Những nghiên cứu thỏa mãn
tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn
loại trừ được đưa vào trong tổng quan hệ thống
Tiêu chuẩn lựa chọn
Các nghiên cứu quan sát phải thỏa mãn những
tiêu chuẩn như sau: có dữ liệu đầu ra là biến cố có
hại của thuốc; nghiên cứu về lao đa kháng và lao siêu
kháng thuốc; là tài liệu cấp một; phác đồ điều trị lao
của các nghiên cứu có bao gồm các thuốc hàng hai;
ngôn ngữ bằng Tiếng Anh
Tiêu chuẩn loại trừ
Các nghiên cứu được loại bỏ nếu đối tượng
nghiên cứu có trẻ em, phụ nữ có thai, người cao tuổi
Ngoài ra, các nghiên cứu báo cáo ca, báo cáo chuỗi,
nghiên cứu bệnh chứng, nghiên cứu chỉ quan sát
một biến cố bất lợi hoặc chỉ quan sát biến cố bất lợi
của một thuốc cũng không được đưa vào tổng quan
hệ thống
Đảnh giá chất lượng nghiên cứu
Sử dụng thang NOS§ (Newcastle-Ottawa Scale) [6]
để đánh giá chất lượng các nghiên cứu trước khi đưa
vào phân tích gộp dựa trên 3 tiêu chí: Khả năng lựa
chọn (tối đa 4 điểm); khả năng so sánh (tối đa 2
điểm); kết quả đầu ra (tối đa 3 điểm) Thang điểm này
BÀI NGHIÊN cuuẾ
đã được nhiều nghiên cứu sử dụng để đánh giá chất lượng trong phần tích gộp, đặc biệt là trong các phân tích đánh giá biến cổ bất lợi của thuốc điều trị lao [21, [31, [4] Trong tổng quan hệ thống này, nhóm nghiên cứu quy định những nghiên cứu có mức
điểm đánh giá theo thang NOS đạt từ 5 điểm trở lên (> 50%) được coi là nghiên cứu đạt chất lượng để
đưa vào tiến hành phân tích gộp
Chiết xuất dữ liệu Một thành viên trong nhỏm nghiên cứu tiến hành phân loại và nhập dữ liệu theo các trường dữ liệu xác định, thành viên thứ hai trong nhỏm nghiên
cứu kiểm tra lại Trong trường hợp có ý kiến không
đồng nhất, tiến hành thảo luận lại hoặc xin ý kiến thành viên thứ ba trong nhóm nghiên cứu, Các trường dữ liệu liên quan đến nghiên cứu được chiết
xuất bao gồm: Thông tin chung về nghiên cứu (tên tác giả chính, nằm xuất bản, thiết kế nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu, thời gian tiến hành nghiên cửu, cỡ
mẫu); đặc điểm bệnh nhân (tuổi trung bình, giới tính, tiển sử điều trị lao, đồng nhiễm HIV, số thuốc điều trị lao bị kháng trung bình); phác đồ điều trị (thời gian điều trị, số thuốc trung bình trong phác đồ, phác đồ chuẩn hóa/cá nhân hóa); kết cuộc của ADE liên quan đến điều trị (số bệnh nhân xuất hiện ít nhất 1 ADE,
số bệnh nhân xuất hiện ít nhất 1 ADE nghiêm trọng,
số bệnh nhân tử vong do ADE, số bệnh nhân phải
thay đổi phác đồ do ADE, số bệnh nhân xuất hiện
từng loại ADE)
Phân tích dữ liệu Kết quả tổng quan hệ thống được trình bày dưới dạng bảng tóm tắt thông tin của các nghiên cứu đạt tiêu chuẩn Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010
Sử dụng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên để phân tích và ước lượng kết quả gộp bằng phần mềm Open MetaAnalyst [1], [7] Độ dị biệt giữa các nghiên cửu
được đánh giá thông qua chỉ số l° Tiến hành phân
tích gộp từng nhóm nhỏ/phân tích dưới nhóm
(sub-group) theo một số tiêu chí về đặc điểm quần thể
bệnh nhân, cỡ mẫu nghiên cứu, tiền sử điều trị,
Kết quả nghiên cứu
Từ 1504 bài báo được tìm thấy, qua các bước lựa chọn và loại trừ, đã có 69 nghiên cứu được đưa vào
tổng quan hệ thống Quy trình lựa chọn các nghiên cửu sử dụng trong tổng quan hệ thống và phân tích
gộp được trình bày ở hình 1 (Xem bảng)
Đặc điểm các nghiên cứu được lựa chọn
Nội dung thu nhập từ 69 bài báo được trình bày tóm tất trong bảng 1 Trong số 69 nghiên cứu quan sát được lựa chọn, có 39 nghiên cứu hồi cứu và 30 nghiên cứu tiến cứu Các nghiên cứu được thực hiện
Trang 3Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 2-9
tại 35 quốc gia, trong đó Ấn Độ là nước có
nhiều nghiên cứu nhất với 15 nghiên cứu Đặc
biệt, có 1 nghiên cứu được thực hiện tại Việt
Nam Cỡ mẫu của nghiên cứu dao động từ 9
đến 1390 bệnh nhân, có 37 nghiên cứu có cỡ
mẫu dưới 100 và 32 nghiên cứu có cỡ mẫu trên
100 bệnh nhân Quần thể nghiên cứu có tuổi
trung bình từ 26 đến 46 tuổi, trong đó có 49
nghiên cứu có tuổi trung bình nằm trong
khoảng từ 30 đến 40 tuổi Phần lớn bệnh nhân
âm tính với HIV và đã có tiền sử điều trị lao Về
mặt phác đồ điều trị, có 41 nghiên cứu sử dụng
phác đồ cá nhân hóa, 26 nghiên cứu sử dụng
phác đồ chuẩn, 1 nghiên cứu bao gồm cả phác
đồ cá nhân hóa và phác đồ chuẩn, 1 nghiên
cứu không rõ thông tin về phác đề sử dụng
Các nghiên cứu đạt tiêu chuẩn (101)
"Nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống và phân tích gộp (N=69)
“Không tìm được bản đây đủ)
1 - Khôngphù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn tu chuẩn loại trừ của tổng quan
Hình 1 Quy trình lựa chọn các nghiên cứu
Bang 1 Một số thông tin của các nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống
sir Tát giả đầu tiên của Năm (8mäu(n) Tiển sử điều trị | Tỷ lệ đồng nhiễm Phác đồ Số BN gặp ít
nghiên cửu xuất bản TB (%) HIV (%) điều trị nhất 1 ADE
19 | Rodriguez 20 29 SA a5 Chudin vi nhân hóa xử
Trang 4
BAI NGHIEN CUUS
sm Tác giả đầu tiên của Năm tðmáu (n) Tiền sử điều trị | Tỷ lệ đồng nhiễm Phác đồ Sổ BN gặp ít
nghiên cứu xuất bản TB (%) HIV (%) điều trị nhất 1 ADE
Trang 5Nghién ctu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 2-9
Phân tích gộp về biến cố bất lợi trong điều trị lao
đa kháng và lao siêu kháng thuốc
Bảng 2 Phân tích gộp về tỷ lệ xuất hiện biến cố
Kết quả đánh giá chất lượng các nghiên cứu NC |xuấthiện sé BNy hiện ADE os Với 69 bài báo được đưa vào tổng quan hệ thống, sp| ave |SPÌ @sgqpp | PÉĐ chúng tôi thực hiện chấm điểm để đánh giá sự đồng BN mất hiện Rnhất
đều về chất lượng của các nghiên cứu trước khiđưua || gape - 4| #13 | 7875) 68,2 (6/733) | 95,07
vào tiến hành phân tích gộp Kết quả: tất cả nghiên Đhuthnhnhốt
cứu đều đạt mức >5 điểm (trên thang tối đa 9 điểm) |;ap nghiêm trạng | ” | 51 2526) 269 (0.0353) | 917
trong tất cả các tiêu chí đánh giá nên đều được đưa BN thay fi phic as
vào phân tích gộp, cụ thể: 23 nghiên cửu (33%) đạt ove, pach | „ | 000 | 4959] 21,8 (17,0-27,4) | 95,67
8 điểm, 40 nghiên cứu (58%) đạt 7 điểm và 6 nghiên a
Phân tích gộp về tỷ lệ xuất hiện biến cố chung
Hình 2 Biểu đồ gộp về tỷ lệ xuất hiện ít nhất một ADE
Trang 6Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tập 8, Số 1, trang 2-9
Z tÂn cứ An thông tìn về cế Bằng 4 Phân tích gộp dưới nhóm về tỷ lệ xuất hiện
Có 49 nghiên cứu thu thập thông tin về số lượng 9 sộp “ oe ệ
bệnh nhân xuất hiện ít nhất một ADE Trong đó, cỡ
mẫu gộp là 7875 bệnh nhân và số bệnh nhân xuất Tiu dự sone | Tỷ uất hiện tnhất1 | hisố P hiện ít nhất 1 ADE là 5313 bệnh nhân Tỷ lệ gộp thu " ADE (95% C1) (96) (6) dugc la 68,2% (95% Cl: 62,4% - 73,5%) “Dhan vĩnh nên z4 hiển cá hết li rrr, br Phân tích gộp về biến cổ bất lợi trên từng hệ cơ quan 2 luẩn thểnghiên cứu
Hiến sử điều trịtheo 9 số bệnh nhân tham gia hin cu tg iu rl)
4 |tung ương và| 50 | 1715 | 9676 | 152 (I20-192) | 9491 thínknhngaivi Không có thôngtin — 1| Ø4 5277) | 9M
[peng nhiém HIV
s | n0 | T78 | 8875 | 17 (9- 195)| 9680 úp Không nhiễm HIV 14 BA 604672) | 83,69
6 |RẾ Mạn tính | øs | 1y | 967 | 140 (08-180) | 913 giác tiến định {6 đồng nhiễm HIV 2 | 735 (67800 | %3
Những biến cổ trên hệ tiêu hóa, rối loạn hồng
cầu, rối loạn toàn thân, rối loạn trên hệ thần kinh
trung ương và tại chỗ, rối loạn hệ cơ xương khớp là
những biến cố có tỷ lệ gộp cao nhất, Biến cố bất lợi
trên đường tiêu hóa có tỷ lệ gộp cao rõ rệt: 34,8%
(95% Cl: 26,2% - 44,6%), Các rối loạn trên hệ thần
kinh trung ương, hệ tiêu hóa, rối loạn thính giác và
tiền đình được nhiều nghiên cứu ghi nhận nhất,
Trong tổng số 49 nghiên cứu có ghi nhận tỷ lệ
xuất hiện ít nhất 1 ADE, phân tích dưới nhóm đã được thực hiện và kết quả được tóm tắt trong bảng
4 Trong số 24 nghiên cứu tại châu Á, tỷ lệ gộp xuất hiện ít nhất 1 ADE là 61,2% (95% Cl; 54,3 - 67,6), còn với 24 nghiên cứu tiến hành tại các khu vực khác, tỷ
lệ gộp có xu hướng cao hơn (74,9%, 95% Cl: 65,4% - 82,5%) Tương tự, tỷ lệ gặp ADE gộp từ các nghiên cứu có bệnh nhân đồng nhiễm HIV có xu hướng cao hơn các nghiên cứu không có bệnh nhân HIV Các phân tích phân nhóm còn lại không cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ gặp ADE
Trang 7Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 2-9
Bùn luận
Trong nghiên cứu này, 69 bài báo đã được đưa
vào tổng quan hệ thống và phân tích gộp, vượt trội
hơn hẳn về số lượng công trình tìm kiếm ban đầu
cũng như bao gồm trong phân tích cuối cùng so với
nghiên cứu của Shanshan Wu, một tổng quan có
phương pháp tương tự được tiến hành vào năm
2012 với 39 nghiên cứu [7] Nghiên cứu của Wu đã
đánh giá các nghiên cứu dựa trên thang điểm được
để xuất bởi nhóm nghiên cứu ”Phân tích gộp của các
nghiên cứu quan sát” [11, [2] Thang Newcasle-
Ottawa (NOS) được sử dụng trong nghiên cứu của
chúng tôi giúp đánh giá các nghiên cứu một cách
toàn diện hơn thang điểm trong nghiên cứu của
Wu, thé hiện qua một số mặt như: mức độ đầy đủ
của việc theo dõi, so sánh các nghiên cứu dựa trên
thiết kế [6], [10]
Trong tổng số 69 nghiên cứu quan sát được đưa
vào tổng quan hệ thống, có 39 nghiên cứu sử dụng
phương pháp hồi cứu từ bệnh án để lấy thông tin về
ADE (các kết quả xét nghiệm, bản ghi chép của nhân
viên y tế trong những lần tái khám định kỳ và một
nghiên cứu thu thập ADE từ báo cáo tự nguyện của
bệnh nhân) và 30 nghiên cứu tiến cứu có phương
pháp thu thập ADE, trong đó chủ yếu là phương
pháp theo dõi tích cực (theo dõi định kỳ) với mẫu
báo cáo được thiết kể sẵn Tất cả các biến cố ghi nhận
từ các nghiên cứu đã được chuẩn hóa lại theo thuật
ngữ WHO-ART [7] So với nghiên cứu của Wu [10],
nghiên cứu của chúng tôi đã tổng hợp các kết quả
phân tích gộp về tỷ lệ xuất hiện ít nhất một ADE
nghiêm trọng (26,9%), tỷ lệ bệnh nhân tử vong do
ADE (3,2%), đây là những con số rất có ý nghĩa đổi
với thực hành lâm sàng, định hướng cho các bác sĩ
điều trị thấy thực sự quan trọng hơn trong công tác
theo dõi, đánh giá, xử trí và báo cáo ADE trong điều
trị MDR/XDR-TB
Tý lệ gộp xuất hiện ít nhất 1 biến cố là 68,2% từ
7875 bệnh nhân của 49 nghiên cứu Rối loạn tiêu hóa
là biến cố bất lợi phổ biến nhất với tỷ lệ gộp là 39,6%
từ 47 nghiên cứu Những rối loạn khác cũng có tỷ lệ
gộp khá cao 8ó là rối loạn hồng cầu (18,8%), rối loạn
toàn thân (18,3%), rối loạn thần kinh trung ương và
thần kinh ngoại vi (15,2%) Có thể thấy, tỷ lệ xuất
hiện biến cố ở bệnh nhân MDR/XDR-TB là rất cao, với
khoảng một phần ba trong số này (21,8%) cần phải
thay đổi phác đồ, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
điều trị cũng như chất lượng sống của người bệnh
Có nhiều biến cố là phản ứng không mong muốn
BÀI NGHIÊN CỨU Š- điển hình của các thuốc lao hàng hai được đề cập trong y văn đã được nhiều nghiên cứu ghi nhận (> 40/69 nghiên cứu) như rối loạn thần kinh, thính gidc-tién đình, tiêu hóa, da và tổ chức dưới của da, rối loạn tâm thần Một số biển cố khác tuy được ít nghiên cứu ghỉ nhận hơn nhưng lại là những biến cố bất lợi nghiêm trọng như biến cố trên huyết học (rối loạn hồng cầu, bạch cầu), rối loạn điện giải (hạ kali máu), rối loạn chuyển hóa (tăng acid uric), rối loạn nội tiết (suy giáp) Trong đó, rối loạn hồng cầu là một biến cố bất lợi đáng chú ý và có tỷ lệ khá cao mặc dù chỉ được ghỉ nhận trong 6 nghiên cứu Kết quả này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi sát sao công thức máu của bệnh nhân, đặc biệt theo dõi trên những bệnh nhân được chỉ định phác đồ chứa các thuốc có độc tính trên hệ tạo máu như linezolid
Một trong những hạn chế chủ yếu của nghiên cứu này là chỉ số bất đồng nhất I? khá cao, dao động
từ 61,77% đến 97,72%, khiến cho kết quả gộp chưa đại diện được cho từng nhóm trong phần tích gộp Mặc dù tỷ lệ gộp xuất hiện ít nhất một ADE trong một số phân nhóm cụ thể là cao hơn các nhóm khác, phân tích gộp dưới nhóm cho thấy không có sự khác
biệt đáng kể giữa các phân nhóm này, có thể từ các
yếu tổ có khả năng gây sai lệch, ví dụ như các bệnh mắc kèm (suy thận, viêm gan, đái tháo đường, ) Chỉ số bất đồng nhất cao như vậy chủ yếu do sự khác biệt khá rõ giữa các nghiên cứu thành phần, cụ thể
là những khác biệt về phương pháp nghiên cứu như cách định nghĩa hoặc tiêu chí chẩn đoán biến cố bất lợi/biển cố bất lợi nghiêm trọng, cách theo dõi và thu thập biến cố bất lợi (ví dụ: nghiên cứu tiến cứu có cán bộ y tế được đào tạo bài bản so với nghiên cứu hồi cứu dựa trên báo cáo tự nguyện từ bệnh nhân); khác biệt về mặt lâm sàng như phác đồ chuẩn áp dụng ở từng quốc gia, yếu tố nhân chủng học, tiêu chí lựa chọn bệnh nhân dẫn đến khác biệt lớn về thống kê Nguy cơ tiểm tàng gây sai lệch trong theo dõi ADE như các biến cố chỉ ghỉ nhận theo lời kể của bệnh nhân cũng có thể ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả nghiên cứu Ngoài ra, nghiên cứu giới hạn nguồn tài liệu tìm kiếm từ duy nhất một nguồn dữ liệu PubMed/Medline với chiến lược tìm kiếm sử dụng các từ đồng nghĩa trên MeSH và chỉ lựa chọn bài báo Tiếng Anh do khan hiếm về nguồn lực khi tiếp cận với các nguồn tài liệu ít được chia sẻ rộng rãi khác như Embase, Google Scholar Một hạn chế khác trong nghiên cứu này là việc chưa thực hiện đánh giá thiên vị trong xuất bản để hướng tới xác
Trang 8Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tập 8, Số 1,trang 2-9
định thêm những yếu tố gây bất đồng nhất giữa các
nghiên cứu và khả năng ảnh hưởng đến kết quả
phân tích gộp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng không
thể đánh giá được ảnh hưởng của ADE đến kết quả
điều trị do thiếu các dữ liệu cần thiết có liên quan do
chúng tôi không thể tiếp cận sầu hơn tới dữ liệu gốc
của các nghiên cứu và tôn trọng ghi nhận của từng
bài báo được lựa chọn
Kết luận
Từ phân tích gộp cho thấy tỷ lệ xuất hiện ít nhất
một ADE là khá cao (68,2%) trong đó tỷ lệ gặp ít nhất
BÀI NGHIÊN CỨU Š- một ADE nghiêm trọng là 26,9% và tỷ lệ tử vong do ADE là 3,2% (l? = 61,77%) Các biến cố trên hệ tiêu hóa là phổ biển nhất (39,6%) sau đó là biển cố trên rối loạn hồng cầu (18,8%) và có tình trạng rối loạn toàn thân (18,3%) Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh việc cần thiết phải theo dõi biểu hiện lâm sàng cũng như giám sát tình trạng của bệnh nhân thông qua các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng thường quy trong suốt quá trình điều trị để tầm soát các biến cố bất lợi nghiêm trọng có nguy cơ xảy ra để từ đó có những can thiệp điều trị phù hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Egger Matthias, Davey-Smith George, et al (2008), Systematic reviews in health care: meta-analysis in context, John Wiley & Sons, pp.336-346,
DeyT,, Brigden G,, et al (2013), "Outcomes of clofazimine for the treatment of drug-resistant tuberculosis:
a systematic review and meta-analysis’, J Antimicrob Chermother, 68(2), pp 284-293
Jiang R H., Xu H B., et al (2015), "Outcomes of Chinese herb medicine for the treatment of multidrug-resistant tuberculosis: a systematic review and meta-analysis", Complement Ther Med, 23(4),
pp 544-554
Langendam M.W.,Tiemersma E.W,, et al (2013), "Adverse events in healthy individuals and MDR-TB contacts treated with anti-tuberculosis drugs potentially effective for preventing development of MDR-TB: a systematic review", PLOS ONE, 8(1), pp 53599
Stroup D-F., Berlin J.A., et al (2000), "Meta-analysis of observational studies in epidemiology: a proposal for reporting Meta-analysis Of Observational Studies in Epidemiology (MOOSE) group", JAMA, 283(15),
studies in meta-analyses, "http://www.ohri.ca/programs/clinical_ epidemiology/nos_manual.pdf"
World Health Organisation - The Uppsala Monitoring Centre (2012), WHO Adverse Reaction Terminology - WHO-ART
World Health Organisation (2015), Global tuberculosis report pp.66-73
World Health Organisation (2014), Companion handbook to the WHO guidelines for the programmatic management of drug-resistant tuberculosis pp 8-9; 18; 76-86; 149; 152-165
10 Wu S., Zhang Y,, et al, (2013), "Adverse Events Associated With the Treatment of Multidrug-Resistant Tuberculosis: A Systematic Review and Meta-analysis", American journal of therapeutics, 23{2), pp 521-30
*Do khuôn khổ giới hạn số trang theo quy định của tạp chí, danh sách đây đủ các nghiên cứu: liên hệ nhóm
tác giả để có thông tin chỉ tiết
(Ngày gửi đẳng: 13/12/2016 - Ngày duyệt đăng: 24/3/2017)
Trang 9Nghiên cứu dược & Théing tin thuée 2017, Tap 8, $61, trang 10-14
we
BAI NGHIEN CUU
Loại bỏ ảnh hưởng nên tron phan tich ° 9 9
khúng sinh cloramphenicol bang cột súc g g »
Nguyễn Duc Thinh’2, Chu Phạm Ngọc Sơn3, Trần Linh Thước?
"Viện Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, ?Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG-HCM),
SUMMARY
*Trung tâm Sắc ký Hải đăng
Cloramphenicol is an banned antibiotic which is absolutely not permitted to present in food The currently analytical
methods for Cloramphenicol have many problem with complex samples In thịs article, we reported experimental results using
specific immunoaffinity chromatography column to remove matrix effect from fish, honey and animal feed The results showed JAC column could removed interference from complex matrix samples
Từ khóa: cloramphenicol, cột sắc ký ái lực cloramphenicol, loại ảnh hưởng nên, thức ăn, LC-MS/MS
Đặt vấn đẻ
Cloramphenicol (CAP) là kháng sinh thường được
sử dụng trong điều trị cho người cũng như động vật
Mặc dù có tác dụng điều trị trên nhiều loại vi khuẩn
khác nhau nhưng cloramphenicol cũng có nhiều ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe con người như suy tủy, tác
nhân gây ung thư [4], [5] Vì vậy cloramphenicol là
kháng sinh bị cấm tuyệt đối không được phép có
mặt trong thực phẩm ở bất kỳ hàm lượng nào [2] Để
giám sát sự tồn dư của cloramphenicol trong thực
phẩm người ta thường sử dụng phương pháp sắc ký
lỏng kết ghép khối phổ (LC-MS/MS)I3], I4] Bên cạnh
những ưu điểm về độ nhạy, độ chọn lọc, phương
pháp sắc ký lỏng ghép nối khối phổ cũng có những
hạn chế khi sử dụng đối với một số nền mẫu phức
tạp như mật ong hay thức ăn chăn nuôi do nhiễu
nền hay suy giảm ion (ion suppression) dẫn đến làm
giảm độ nhạy cũng như độ chính xác của kết quả
phân tích Để xứ lý mẫu cloramphenicol người ta
thường sứ dụng phương pháp chiết pha rắn với cột
chiét Cis Loại cột này có tính chọn lọc không cao, qui
trình xử lý phức tạp dịch mẫu sau xử lý còn chứa
nhiều tạp chất ảnh hưởng đến quá trình phân tích
trên khối phổ [3], [8] Để tăng hiệu quả quá trình xử
lý mẫu thực phẩm khi định lượng cloramphenicol cũng như giảm thiểu ảnh hưởng của nền mẫu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng cột tách chiết miễn dịch (IAC) cloramphenicol trong công đoạn xử lý mẫu với mục tiêu loại bỏ ảnh hưởng nền
mẫu qua đó nâng cao chất lượng quá trình phân tích
đảm bảo khả năng phát hiện cloramphenicol ở nồng
độ thấp (0,3 ppb) theo qui định châu Âu
Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguyên liệu Chuẩn cloramphenicol (Supelco-442513), cột sắc
ký ai luc cloramphenicol (IAC-Cloramphenicol) được sản xuất tại phòng thí nghiệm Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh, NazHPOa.2HzO (1.06580), KH2PO4(104873), NaCl (166400), Methanol (106007) đều của hãng Merck, Đức và các hóa chất tinh khiết phòng thí nghiệm khác
Thiết bị
Hệ thống sắc ký lỏng ghép khối phổ ba tứ cực (LC-MS/MS) Applied Biosystem Triple Quad 5500 va các thiết bị phòng thí nghiệm cơ bản khác
Mẫu thử
Mẫu thử nghiệm bao gồm mẫu cá thu, mật ong Việt Honey được mua tại siêu thị Coopmart; thức ăn
| 10
Trang 10Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tap 8, $61, trang 10-14
gia súc CP được mua tại cửa hàng thức ăn chăn nuôi
Toàn bộ các mẫu được mua tại thành phố Hồ Chí
Minh năm 2015
Phương pháp nghiên cứu
Khả năng loại bỏ tạp chất của cột sắc ký lAC
được thực hiện bằng cách xác định tín hiệu của
cloramphenicol thêm vào dịch nền mẫu đã được xử
lý bằng cột IAC Nếu khả năng loại bỏ tạp chất tốt thì
tín hiệu thu được sẽ cao và ổn định hơn qua đó sẽ
nâng cao được kha nang phát hiện cloramphenicol
trong mẫu Nền mẫu khảo sát bao gồm từ đơn giản
như mẫu cá hay phức tạp như mẫu mật ong và thức
ăn gia súc
Qui trình xử lý mẫu bằng cột IAC
Đồng nhất mẫu, cân 2 g mẫu, thêm vào 20 ml
dung dịch đệm phosphat chứa muối (Phosphate
Buffered Saline-PBS) lắc đều trên máy lắc khoảng 1
giờ, sau đó ly tâm 6000 vòng/phút trong 15 phút Lấy
dịch nổi vào ống nhựa 50 ml sạch Nạp dịch mẫu vào
cột IAC với tốc độ dòng 1ml/phút Tiếp tục rửa cột
bằng 20 ml dung dịch PBS, tiếp theo là 20 ml nước
Rửa giải cloramphenicol ra khỏi cột 02 lần, mỗi lần
bằng 0,5 ml methanol Sau đó dịch nền mẫu này
(1ml) sẽ được thêm chuẩn cloramphenicol và phân
tich bang LC-MS/MS,
Phương pháp xác định cloramphenicol bằng
LC-MS/MS
Cloramphenicol được phân tích bằng hệ thống
sắc ký khối phổ ba tứ cực LC-MS/MS với các điều
kiện: cột phân tích Acclaim RSLC (150 x 2,1 mm;
2,2 ym), pha dong methanol: nudc (50:50), tốc độ
dòng 0,5 ml/phút, thể tích tiêm mẫu 5 Hl Khối phổ
sử dụng nguồn ion hóa Turbo Spray (ESI), nhiệt độ
nguồn ion hóa 650°%C, tốc độ khí GS1 30, tốc độ khí
GS2 40, tốc độ khí cắt đuôi CUR 20, điện thế ion hóa
-3500 V, điện thế đầu dò CEM 2200 V Chế độ đọc
loại ion âm, MRM với mảnh định lượng m/z =152
(CE= -27V) và mảnh xác nhận m/z = 257 (CE= -15V)
[8], [9] Thời gian phân tích 6 phút
Thẩm định phương pháp
Các thông số đánh giá bao gồm độ chọn lọc, độ
tuyến tính, giới hạn phát hiện, hệ số thu hồi, độ biến
thiên và tý lệ ion Độ chọn lọc được đánh giá bằng
cách so sánh mẫu trắng của cá, mật ong và thức ăn
gia suc sau khi xử lý bằng cột IAC và chuẩn
cloramphenicol Độ tuyến tính và giới hạn phát hiện
được khảo sát dựa trên chuẩn cloramphenicol thêm
, 2
BÀI NGHIÊN CỨU «đê
vào dung dịch nền mẫu đã được xử lý bang cot IAC
có hàm lượng 0,5; 1; 2; 5 và 10 ng cloramphenicol/g mẫu Hệ số thu hồi được tính bằng cách so sánh tín hiệu của cloramphenicol trong dung dịch nền mẫu
đã qua xử lý và trong dung dịch chuẩn Độ biến thiên được tính dựa trên các kết quả phân tích của cùng một nồng độ Giới hạn phát hiện được tính toán dựa trên độ lệch chuẩn tại nồng độ thấp nhất của đường chuẩn [6] Các tiêu chí đánh giá dựa trên qui định của cộng đồng châu Âu về phân tích cloramphenicol (2002/657/ECQ) [1], [2]
Phương pháp xử lý số liệu Giá trị đo trên LC-MS/MS được thực hiện bằng phần mềm Analyst phiên bản 1.5.2 Xử lý thống kê
số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
Kết quủ nghiên cứu
Độ chọn lọc Khả năng loại bỏ tạp chất nền của cột sắc ký ái lực được đánh giá bằng cách đối chiếu dung dịch nền của cá, mật ong và thức ăn gia súc sau khi qua cột IAC với mẫu chuẩn cloramphenicol 1ng/ml Kết quả khảo sát cho thấy các mẫu sau khi xử lý bằng cột IAC không xuất hiện các pic tap tại thời gian lưu của chuẩn ứng với mảnh có m/z= 152 (hình 1 và 2) Như vậy quá trình xứ lý các nền mẫu trên bằng cột lAC đã loại bỏ hầu hết các tạp chất có thể ảnh hưởng đến quá trình phân tích chứa trong nền mẫu
Hình 1 Phổ phân mảnh của cloramphenicol chuẩn
Tỷ lệ cường độ ion 257/ cường độ ion 152 Hiện nay trong phương pháp phân tích khối phổ qui định 2002/657/EC bắt buộc phải tính toán tỷ lệ cường độ ion để đảm bảo tính chính xác của kết quả phân tích Kết quả khảo sát (Bảng 1) cho thấy tỷ lệ cường độ ion trung bình giữa cặp ion xác nhận (m/z=257) và ion định lượng (m/z=152) của
| TI
Trang 11Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tap 8, $61, trang 10-14
cloramphenicol trén cac nén dung dich mau ca, mat
ong và thức ăn gia súc trên dải nồng độ từ 0,5 ng đến
10 ng cloramphenicol⁄g mẫu dao động trong
khoảng từ 0,64 đến 0,74 và sự biến thiên tý lệ ion
trong cùng một nồng độ nhỏ hơn 10% (từ 0,0 đến
7,85%) Với tỷ lệ cường độ ion > 0,5 các nền mẫu
khảo sát đều đạt yêu cầu về độ biến thiên tỷ lệ ion
<20% theo qui định châu Âu
Bảng 1 Trị số tỷ lệ cường độ ion 257/cường độ
Hình 2 Sắc ký đô phân tich mdu béing LC MS/MS
Mẫu trắng nên cd (a), nên mật ong (b), nền thức ăn gia súc (c), chuẩn cloramphenicol 1ng/ml (d)
Độ tuyến tính
Độ tuyến tính được xác định dựa trên mẫu bổ sung cloramphenicol trên khoảng nồng độ từ 0,5 đến 10 ng cloramphenicol/g mẫu Kết quả khảo sát cho thấy có tương quan tuyến tính cao trong khoảng từ 0,5-10ng cloramphenicol/g mẫu với hệ
số tương quan (R?>0,99) trên cả 3 nền mẫu khảo sát (hình 3)
Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng
Từ phương trình đường chuẩn và độ lệch chuẩn tín hiệu tại nồng độ thấp nhất của đường chuẩn (0,5
ng cloramphenicol/g mẫu), tính giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) đối với 3 nền mẫu trên (Bảng 2) Các kết quả khảo sát cho thấy phương pháp xác định đạt yều cầu về độ nhạy dùng để phát hiện cloramphenicol (0,3 ppb) theo qui định của EC Hiệu suất thu hồi
Kết quả khảo sát (Bảng 3) cho thấy trong dải nồng độ từ 0,5 đến 10 ng cloramphenicol/g hiệu suất thu hồi đạt từ 91,41% đến 100,41%, độ biến thiên từ 3,19% đến 7,86% Mẫu mật ong có hệ số thu
| 12
Trang 12Nghiên cứu dược & Thông tỉn thuốc 2017, Tap 8, $61, trang 10-14
Mau mat ong 43 y=130385-2055 | 0/1 | 003
Mau TAGS 2320 y=1W8lx-3274 | 006 | 0,18
Tinhigu
(cps)
2.00E+05 0.00E+00
Chuẩn dựng trên nên mật ong của cặp ion 321/152
Hình 3 Đồ thị biểu diễn mối tương quan tuyến tính giữa nông độ cloramphenicol và diện tích pic (ion m/⁄z=152)
đối với nên mẫu cá (a), mật ong (b) và thức ăn gia súc (c)
hồi từ 94,65% đến 125,67%, độ biến thiên từ 0,51%
đến 6,34%, trừ nồng độ 2 ng là 10,19% Mẫu thức ăn
gia súc có hệ số thu hồi từ 71,71% đến 90,19%, độ
biến thiên từ 1,70% đến 11,60%
Bàn luận
Hiện nay, ở nước ta chưa có nghiên cứu nào về
chế tạo cột IAC dùng để xác định kháng sinh trong
thực phẩm Các cột lAC nhập ngoại thường có giá
thành cao (khoảng 300.000 đồng/cột) do đó không
phù hợp với điều kiện của các phòng thí nghiệm
Việc chế tạo cột lAC trong nước (được sản xuất tại
phòng thí nghiệm Viện Y tế Công cộng Tp Hồ Chí
Minh) sẽ giúp giảm giá thành (còn khoảng 120.000
đồng/cột) do đó các phòng thí nghiệm sẽ dễ dàng
tiếp cận hơn với phương pháp xử lý mẫu này
Kết quả nghiên cứu cho thấy trên nền mẫu cá và
mật ong hiệu suất thu hồi của tín hiệu chuẩn lớn hơn
90% (từ 91,41% đến 100,41% cho cá và 94,65% đến
125,67% cho mật ong) Đổi với nền mẫu thức ăn gia
súc mặc dù cột IAC đã loại bỏ được phần lớn tạp
chất, nhưng văn còn một số tạp chất gây ảnh hưởng đến việc phân tích trên khối phổ Do đó, tỷ lệ thu hồi tín hiệu trên nền mẫu này chỉ đạt từ 71,71% đến 90,19%, thấp hơn hai nền mẫu cá và mật ong Độ biến thiên tín hiệu giữa các mẫu nhỏ hơn 10% và độ
Bảng 3 Hiệu suất thu hồi (H%) trên các nền mẫu của ion
(n=10) Hàm lượng Mẫu dá Mẫu mậtong |Mẫu thứcăn giasúc|
Viên trang) He) trungbinh fW% | trungbình | (W% trung bình œ% Nữ) HO)
| 13
Trang 13Nghiên cứu dược & Thénng tin thuée 2017, Tap 8, $61, trang 10-14
biển thiên của tỷ lệ ion cũng nhỏ hơn 10% Kết quả
nghiên cứu cho thấy hệ số thu hồi của cột lAC do
chúng tôi chế tạo có hệ số thu hồi tương tự như cột
IAC đã công bổ của tác giả Mackie là từ 84% đến
108% cho thủy sản và 83% đến 103% cho mẫu mật
ong [7] Bằng việc sử dụng cột IAC quá trình xử lý
mẫu đã được đơn giản hóa nhiều chỉ cần làm đồng
nhất mẫu, chiết bằng dung môi và cho qua cột IAC,
so với các qui trình phân tích trước đây phải tách
chiết, làm sạch bằng cột C18, thổi khô dung môi,
hoàn nguyên chất phân tích Giới hạn phát hiện
cũng như giới hạn định lượng cloramphenicol trong
LS
BAI NGHIEN CUU ©
các nền mẫu là khoảng 0,1 ppb tốt hơn các qui định trong nước và quốc tế (0,3 ppb) [2]
Kết luận
Sử dụng cột sắc ký ái lực miễn dịch IAC trong qua trình làm sạch mẫu để phân tích cloramphenicol đã loại bỏ ảnh hưởng của các tạp chất chứa trong các nền mẫu cá, mật ong và thức ăn gia súc Quá trình xử
lý mẫu bằng cột IAC két hợp với phân tích trên sắc ký lông khối phổ LC-MS/MS cho phép xác định chính xác
sự hiện diện của cloramphenicol trong các loại mẫu trên phù hợp với các qui định của quốc tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 COMMISSION DECISION of 12 August 2002 implementing Council Directive 96/23/EC concerning the performance of analytical methods and the interpretation of results (2002/657/EC), Official Journal of the European Communities
COMMISSION DECISION of 13 March 2003 amending Decision 2002/657/EC as regards the setting of minimum required performance limits (MRPLs) for certain residues in food of animal origin, Official Journal
of the European Communities
Douny C, Widart J, Pauw E, Maghuin-Rogister G and Scippo M-L (2013),’Determination of Cloramphenicol
in honey, shrimp, and poultry meat with liquid chromatography—mass spectrometry: validation of the method according to Commission Decision 2002/657/EC’, Food Analytical Methods,6, pp.1458-1465, FAO/WHO (Food and Agriculture Organization of the United Nations/World Health Organization) (1995),
“Toxicological evaluation of certain veterinary drug residues in food Cloramphenicol’, WHO Food Additives Series
FAO/WHO (Food and Agriculture Organization of the United Nations/World Health Organization) (2004),
“Residues of some veterinary drugs in animals and foods Cloramphenicol’, FAO Food and Nutrition paper,
41(6), pp.1-12
Hubaux A., Vos G (1970) Decision and detection limits for linear calibration curves, Analytical Chemistry,
48, pp 849 -855
Mackie Ji, Marley E, Donnelly C (2013), “Immunoaffinity column cleanup with LC/MS/MS for the
determination of chloramphenicol in honey and prawns: single-laboratory validation’, Journal of AOAC International, 96 (4), pp.910-916
Renning HT, Einarsen K and Asp TN (2006), "Determination of Chloramphenicol residues in meat, seafood, egg, honey, milk, plasma and urine with liquid chromatography-tandem mass spectrometry, and the validation of the method based on 2002/657/EC’, Journal of Chromatography A,1118, pp.226-233 Yiqing Yang, Qian Wang, Qiao Wang and Shijie Yan (2013), “Determination of Chloramphenicol Residual
in Freshwater Fish by HPLC’, Advanced Materials Research, Vols 781-784, pp 1708-1711
(Ngày gửi đăng: 28/11/2016 - Ngày duyệt đăng: 24/3/2017)
Trang 14Nghiên cứu dược & Thông tin thuée 2017, Tap 8, $6 1, trang 15-20
BAI NGHIEN cuuẾ
Xây dựng quy trình định lượng đồng thời paracetamol, ibuprofen và tạp C cua
ibuprofen bang phuong phap UPLC/DAD
Nguyễn Thị Ngọc Vân, Trần Thị Tiết Nghĩa Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
SUMMARY
A reverse phase UPLC method was developed for simultaneous determination of paracetamol, ibuprofen and related impurity of ibuprofen Separation was complete in less than 10 min The mobile phase was a gradient mode of methanol
- triethylamine in water, Two wavelengths were used 230 nm for paracetamol and ibuprofen; and 254nm for related impurity
of ibuprofen All calibration curves showed good linear regression (r >0.999) within the concentration ranges of 5 - 60ug/mi for paracetamol, 5-100 g/ml for ibuprofen and 0.05-5yg/mi for impurity The RSDs of intra-day and inter-day were under 2% for paracetamol, ibuprofen and under 2.5% for impurity compound The LOD and LOQ of ibuprofen impurity were 0.03ug/ml and 0.05ug/ml, respectively The recovery of three compounds was 98-102%, The results of the studies showed that the proposed
RP -UPLC method is simple, rapid, precise and accurate, which can be applied for the routine assessment of paracetamol, ibuprofen and impurity of ibuprofen in pharmaceutical dosage forms
Từ khóa: UPIC, tạp chất liên quan, tạp C của Ibuprofen
Đặt vấn đẻ
Jbuprofen có 5 tạp chất liên quan đã được
công bố, bao gồm tap A: 2-(3-Isobutylphenyl)
propanoic acid; tạp B; 2-(4-Butylphenyl) propanoic
acid; tap C: 2-(4-Isobutylphenyl) propanamide; tap
D: 2-(4-Methylphenyl) propanoic acid; tap E:
1-(4-Isobutylphenyl) ethanon Hiện tại chi cỏ tap B
được quy định trong Dược điển Anh [3], trong đó
quy định về phương pháp định lượng tạp B bằng
phương pháp HPLC và mức giới hạn cho phép là
không quá 0,1 % Dược điển Mỹ quy định kiểm soát
giới hạn cho tạp C với mức cho phép là không quá
0,25% trong 1 viên bằng phương pháp HPLC [10] và
trong Dược điển Việt Nam IV đến nay thì chưa có quy
định về kiểm soát giới hạn tạp ibuprofen trong
thuốc Tạp C của ibuprofen được hình thành trong
thời gian bảo quản của thuốc do đó nó được khuyến
cáo cần kiểm soát dư lượng tạp này trong suốt thời
gian còn hạn dùng của thuốc [5] Paracetamol (PARA)
có tác dụng hạ sốt và giảm đau, thường được phối
hợp với thuốc giảm đau khác như ibuprofen (IBU)
Trên thị trường, nhiều biệt dược có chứa đồng thời
hai hoạt chất trên như Alaxan, Lopenca, Aliaxon
Tuy nhiên trong DĐVN IV, Dược Điển Anh (BP 2015), Dược điển Mỹ (USP 38) vẫn chưa có chuyên luận riêng định lượng đồng thời paracetamol, ibuprofen
và tạp C của ibuprofen, vì vậy để kiểm tra chất lượng
các phòng thí nghiệm phải áp dụng 2 hay 3 quy trình định lượng riêng biệt, gây tốn kém thời gian và chỉ phí Trên thế giới, có nhiều công bố về định lượng đồng thời paracetamol và ibuprofen bằng phương phap HPLC [4], [B8] nhưng chưa có nghiên cứu nào về định lượng đồng thời paracetamol, ibuprofen và tap
€C của ibuprofen bằng HPLC được công bố Do đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu phát
triển phương pháp và thẩm định việc định lượng
đồng thời 3 chất trên bằng phương pháp UPLC với việc sử dụng 2 bước sóng trên đầu dò DAD, đồng thời ứng dụng quy trình đã xây dựng trong xác định hàm lượng paracetamol, ibuprofen và tạp C của một
số chế phẩm trên thị trường
Nguyên liệu và phương phúp nghiên cứu
Nguyên liệu Viên nén Lopenca chứa 325 mg paracetamol
và 200 mg ibuprofen của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang
| 15
Trang 15Nghién ctu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 15-20
Dung môi, hóa chất
Các chất chuẩn paracetamol QT009 150414, hàm
lượng 99,84% và ibuprofen QT026 091113, hàm
lượng 99,76% của Viện Kiểm nghiệm Thuốc Tp Hồ
Chí Minh Tạp C của ibuprofen (tạp C) hàm lượng
99,4% của Sigma Aldrich, Mỹ Methanol (MeOH),
acetonitril (MeCN), Triethylamin (TEA) loại HPLC của
Khảo sát về thành phần pha động, tỷ lệ dung
môi, tốc độ dòng, chúng tôi xây dựng chương trình
sắc ký như sau: cột UPLC BEH C› (2,1 x 100 mm,
1,7 um); tốc độ dòng: 0,2 ml/phút; bước sóng 230 nm
cho paracetamol và ibuprofen; bước sóng 254 nm
cho tạp C Thể tích tiêm mẫu 10 HÌ Pha động là hỗn
hợp kênh A: MeOH; Kênh B: nước (TEA 0,01%, pH 7)
với chương trình gradient:
Bang 1: chương trình gradient pha động
Cân chính xác khoảng 325 mg chuẩn đối chiếu
paracetamol, 200 mg ibuprofen và 0,5 ml tạp chuẩn
€C của ibuprofen (1000 hg/ml), vào bình định mức
1000 ml Hòa tan và pha loãng đến vạch bằng pha
động Hút chính xác 10 ml hỗn hợp chuẩn vào bình
định mức 100 ml, pha loãng đến vạch bằng pha
động Lọc qua màng lọc 0,45 um Hỗn hợp mẫu
chuẩn có nồng độ: paracetamol 32,5 g/ml,
ibuprofen 20 Hg/m|, tạp chuẩn C 0,05 hg/ml tương
ứng giới hạn cho phép trong viên của tạp C là 0,25%
trong 1 viên [10]
Dung dịch thử
Xác định khối lượng trung bình của 20 viên nén
Lopenca Nghiền mịn Cân chính xác một lượng bột
thuốc tương ứng 1 viên, cho vào bình định mức 100
mi, thêm 0,5 ml tạp chuẩn C {1000 jig/ml) va them
khoảng 20 ml pha động Siêu âm trong 15 phút, để
nguội về nhiệt độ phòng, bổ sung pha động vừa đủ
100 ml, loc bd 20 ml dịch lọc đầu Hút chính xác 1 ml
BÀI NGHIÊN cuuẾ
dịch lọc, pha loãng bằng pha động vừa đủ 100 mÌ đến vạch, lắc đều, lọc qua màng lọc 0,45 pm Thẩm định quy trình
Xác định độ phù hợp của hệ thống, tính đặc hiệu, tính tuyến tính, độ chính xác và độ đúng của phương pháp khi thêm 80-120% mẫu chuẩn vào mẫu thử theo hướng dẫn của ICH Q2A [6]
Kết quả nghiên cứu
Khảo sát và lựa chọn điều kiện sắc ký
Quét phổ hấp thụ UV trong khoảng 200 - 400 nm tại thời gian lưu của píc paracetamol, ibuprofen va tap
€ trên sắc ký đồ để lựa chọn bước sóng mà tại đó tin hiệu các pic chính là cao nhất và đường nền ít bị nhiễu nhất, Kết quả cho thấy, tại bước sóng 230 nm đường nền ít bị nhiễu bởi pic dung môi và tín hiệu của 2 pic paracetamol và ibuprofen đều tốt, tuy nhiên tín hiệu pic tạp C của ibuprofen chưa đắp ứng cho định lượng tạp chất vì quy trình phân tích đồng thời hoạt chất chính và tạp chất liên quan có mức giới hạn cho phép trong viên không quá 0,25% tương ứng 0,5 mg trong viên [10] Tại bước sóng 254 nm, tín hiệu pic tạp C rất lớn (đạt yêu cầu cho phân tích tạp chất) nhưng tín hiệu của pic ibuprofen rất thấp Ở bước sóng 230 nm kếthợp 254nm hinh dang pic paracetamol, ibuprofen
va tap C cân đối; píc tách tốt (Rs > 1,5), tín hiệu tạp C
là cao nhất Do đó chọn bước sóng 230 nm kết hợp
254 nm dé phan tich 3 chất
Thực hiện sắc ký hỗn hợp 3 chất với hệ pha động
gồm 2 thành phần MeCN và dung dich amoni acetat
5 mM; MeCN: dung dịch acid acetic 0,25M với tỷ lệ thay đổi của MeCN từ 50- 80% (AC = 5%), tốc độ dòng
0,2 ml/phút Kết quả cho thấy với 2 hệ dung môi này
pic paracetamol va ibuprofen không đổi xứng và pic tạp C lưu giữ khá lâu trong cột (trên 30 phút)
Thay đổi hệ pha động gồm 2 thành phần MeOH
và dụng dịch acid phosphoric 0,1M với tỷ lệ thay đổi của MeOH từ 50 - 80% (AC = 5%), tốc độ dòng 0,2 ml/phút Kết quả cho thấy với hệ dung môi này cả 3 pic đều tách nhau tốt (Rs ~ 1,7) tuy pic paracetamol
và ibuprofen còn kéo đuôi Nếu sử dụng điều kiện này để định lượng đồng thời với tạp C của ibuprofen (0,5 mg trong viên tương ứng giới hạn cho phép trong viên không quá 0,25%), nồng độ của ibuprofen lớn gấp 400 lần nồng độ tạp trong viên, sẽ có hiện tượng che phủ pic khi pic tạp (minor peak) có thời gian lưu gần pic chính (major peak), do dé điều kiện này cũng không được chọn
| 16
Trang 16Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tap 8, $61, trang 15-20
Từ kết quả trên cho thấy với tỷ lệ pha động lựa
chọn ban đầu theo cách rửa giải đẳng dòng không
phù hợp để tách tốt 3 chất trên Vì vậy chương
trình rửa giải gradient tiếp tục được khảo sát, ảnh
hưởng của nồng độ TEA (từ 0,01 đến 0,04%) và pH
{khoảng pH từ 5-8) cũng được khảo sát TEA là một
base hữu cơ được thêm vào pha động có tác dụng
cạnh tranh tương tác với PARA va IBU trén pha tinh,
hạn chế liên kết hydro của chất phân tích với pha
tĩnh, giúp các phân tử của cùng một chất được rửa
giải cùng lúc (pic không bị kéo đuôi) Ở nồng độ
0,01% Rs cua pic ibuprofen va tap C > 7, dat yéu
cầu và hình dang 3 pic déu dat (0,8< As< 1,5)
Trong môi trường acid (pH<7) không xuất hiện pic
ibuprofen khi tiến hành phân tích trên 30 phút, Ở
điều kiện pH=8, pic ibuprofen không tách ra pic
BÀI NGHIÊN CỨU
dung môi và hình dạng pic đạt yêu cầu, cả 3 pic đều đạt các thông số sắc ký, đường nền ít nhiễu nhất Do đó, pH phù hợp để tách đồng thời 3 chất
là pH trung tính bằng 7
Như vậy đã lựa chọn được điều kiện sắc ký thích hợp định lượng đồng thời paracetamol, ibuprofen và tạp C của ibuprofen trong chế phẩm bằng phương pháp UPLC/DAD như đã trình bày trong phần phương pháp nghiên cứu Với điều kiện này thời gian lưu của paracetamol, ibuprofen và tạp C lần lượt là 5,44; 6,99 và 7,B7 phút, phù hợp cho quy trình phân tích thường quy với thời gian < 10 phút (hình 1)
dung môi pH=7, pic ibuprofen tách ra khói _ trình bày trong bảng 2
=— Name: HH CHUAN S0ppm 0,07 TEA PH 7
lbtank injection Rane 1722.87.55 Ta 3.161¢+006 HG
PARACETAMOL ‘5.44 1219.44.74
26126.28 5.34)
© "do Trrrrtrrttrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrk tỏ 2ö 2 T5 510 So x
[Sample Name: PA-IBU-TAPC MAU THU- Diode Array
~ wwueRoreN 7.07 p | 7900 7960
26550.07 ES 5.16 sóc (3) coo io 2o 30 áo So eo 0 BOO 1
Hinh 1 Sac ky d6 cia mau chudn va mau thử ở điều kiện sắc ký tối ưu (1) Hỗn hợp chuẩn 3 chất ở nồng độ 50 ag/ml, (2) Hỗn hợp chuẩn tương ng nồng độ/viên (PARA 32,5ug/mi; IBU 20 ug/ml; tạp C 0,05 ug/ml hay 0,25% trong viên), (3) Hỗn
hợp mẫu thử tương ứng nồng độ viên
Trang 17Nghiên iu dược & Thơng tìn thuốc 2017, Tập 8, Số 1, trang 15-20
Các pic cĩ trong mẫu thử cĩ thời gian lưu tương
ứng với các pic cĩ trong mẫu chuẩn, khi thêm một
lượng chuẩn của ba chất phân tích vào mẫu thử thì
cĩ sự tăng lên về chiều cao và diện tích đỉnh ở các
pic cĩ thời gian lưu tương ứng với các pic cĩ trong
mẫu chuẩn Sắc ký đồ của mẫu pha động và dung
mơi pha mẫu khơng xuất hiện pic cĩ thời gian lưu
trùng với thời gian lưu pic cia ba chấttrong hỗn hợp
dung dịch chuẩn Điều đĩ chứng tơ quy trình phân
tích đúng chất là paracetamol, ibuprofen va tap C
Tính tuyến tính
Tính tuyến tính của ba chất được xây dựng trên
khoảng rộng, kết quả được trình bày ở bảng 3
BÀI NGHIÊN au
Bằng 3, Kết quả khảo sát tính tuyến tỉnh của PARA,
IBU va tap C
Paracetamol 560 y = 2672,1x-6084,7 0/9995
Trong khoang néng dé khao sát của mỗi chất, cĩ
sự tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa nồng độ và
diện tích pic đáp ứng với hệ số tương quan xấp xỉ bằng 1 (r > 0,999)
Giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng của tạp C Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) được xác định tại nồng độ mà ở đĩ tỷ lệ chiều cao của pic chất phân tích so với độ nhiễu đường nền là 2-3 và 10 lần Nồng độ LOD của tạp C là 0,03 à/ml, nồng độ LOQ của tạp C là 0,05 Hg/ml Giá trị LOD và LOQ thấp chứng tỏ phương pháp cĩ độ nhạy cao, cĩ thể sử dụng để định lượng tạp chất ở nồng
độ giới hạn của tạp trong dược phẩm
Trang 18Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tap 8, $6 1, trang 15-20
Độ chính xác
Tiến hành phân tích 6 mẫu độc lập, thực hiện 3
ngày liên tiếp Kết quả được trình bày ở bảng 4
Bằng 4, Kết quả khảo sát độ chính xác trung gian của PARA,
thất phân tíh Ngàyi Ngày? Ngày3 Trngbìh - RSD% _— Wiuthit Paracetamol (mgbiên) — (mghiên) Ibuprofen a ¢(mg/vién
Kết qua cho thấy độ lặp lại hàm lượng của mẫu {es 600101 3 "mm
thứ trong 3 ngày liên tiếp có RSD < 2% phương pháp —— ”
Độ đúng của phương pháp được xác định bằng " 6 321232408 192,0423,54 - phương pháp thêm chuẩn, xác định giá trị phần trăm ——————————————————————————— tìm lại Cho lượng chuẩn tương ứng 80%, 100%, ciggyc | RR BBR
120% của nồng độ định lượng vào mẫu thử, xứ lý lê6806S - ° 317214423 139/01256
mẫu như đã trình bày trong phương pháp nghiên 9
cứu, ở mỗi mức nồng độ được thực hiện độc lập 3
mẫu riêng biệt Kết quả được trình bày ở bảng 5,
Bảng 5 Kết quả khảo sát độ đúng của phương pháp (n=3)
Paracetamol Ibuprofen Tape
Micnôngiộ Ty timiai 06) RSD (96) tìm lại) RSD (%) tim lai (6) RSD (%) we We
80% 101,69 121 16118 067 9/67 205
1009 9853 110 IƠ4 122 10867 327
120% 9864 042 10/13 001 T017 2,61
Trung bình 99,61 176 (18158 1/03 1025 0334
Tỷ lệ tìm lại ở các mức của paracetamol và
ibuprofen đều nằm trong khoảng 98-102% véi RSD
đều < 2% Riêng tạp C của ibuprofen có hàm lượng
nhỏ trong công thức (giới hạn cho phép < 0,25%
trong viên) tương ứng nồng độ 0,05 Hø/ml trong
dung dịch định lượng nên tỷ lệ tìm lại trung bình đạt
102,5% cho thấy phương pháp định lượng tạp vẫn
đạt yêu cầu về độ đúng theo ICH (92-105%)
Ứng dụng định lượng
Ứng dụng quy trình đã xây dựng và thẩm định
vào định lượng 3 chất trong viên nén Lopenca và 9
mẫu chế phẩm trên thị trường, trong đó thuốc của
cùng công ty và cùng lô sản xuất được mua ở 3 nhà
thuốc khác nhau Mỗi mẫu thuốc được tiến hành
25 19632+248 - 7: giá trị trung bình + SD (n=3)
*®% Không phát hiện
Bàn luận Trên thế giới, đã có một số nghiền cứu sử dụng HPLC để định lượng các đồng thời 2 chất chính
paracetamol va ibuprofen [4], [8] điều kiện sắc ký sử dụng thường dùng các hệ đệm phosphat Các hệ đệm vô cơ này nếu sử dụng thường xuyên và không
rửa hệ thống sắc ký đúng quy cách sẽ gây đóng muối
làm hư hỏng thiết bị, gây sai lệch kết quả phân tích
So với nghiên cứu của Detlef Wilhelm [9] năm 2010, thực hiện định lượng đồng thời ibuprofen và 5 tap của nó bằng phương pháp HPLC sử dụng hệ pha động hỗn hợp acetonitril và acid phosphoric với chương trình gradient pha động, bước sóng phát
hiện 214 nm, tách đồng thời 6 pic với tổng thời gian
phân tích là 40 phút Nghiên cứu của chúng tôi có
ưu điểm là thời gian phân tích ngắn hơn (<10 phút)
Quy trình định lượng đồng thời 2 chất
paracetamol, ibuprofen và tạp chất liên quan C của ibuprofen bằng phương pháp UPLC được công bố lần đầu tiên Nghiên cứu sử dụng pha tĩnh là cột C¡;
và pha động là hỗn hợp methanol và triethylamin
0,01% trong nước Đây là các điều kiện phân tích sắc
ký lỏng rất cơ bản và có thể dễ dàng áp dụng Chế
độ gradient đã được nghiên cửu nhằm tách được đồng thời chất và tạp chất đồng thời đưa điều kiện
| 19
Trang 19Nghiên cứu dược & Thông tìn thuốc 2017, Tập 8, $61, trang 15-20
pha động về trạng thái ban đầu để phân tích các
mẫu tiếp theo Kết quả xây dựng phương pháp cho
thấy, các chỉ tiêu thẩm định đáp ứng tiêu chuẩn của
ICH với thời gian phân tích ngắn (10 phút), có giá trị
LOD của tạp C (0,03ùg/m)) và LOQ (0,05ug/ml) bằng
với giới hạn cho phép của tạp C theo quy định của
Dược điển Mỹ, do đó phương pháp có thể ứng dụng
kiểm tra giới hạn tạp C trong chế phẩm
Quy trình phân tích đã được sử dụng định lượng
paracetamol, ibuprofen va tap C của ibuprofen trong
viên nén Lopenca và 9 mẫu chế phẩm trên thị
trường Kết quả định lượng paracetamol, ibuprofen
trong chế phẩm theo quy định Dược điển Việt Nam
IV cho thấy viên nén Lopenca và 9 mẫu chế phẩm
đều đạt hàm lượng ghỉ trên nhãn Kiểm tra giới hạn
tap C của ibuprofen theo quy định Dược Điển Mỹ
BÀI NGHIÊN cuuẾ ˆ
(USP 36) trong viên Lopenca và 9 mẫu chế phẩm cho thấy các chế phẩm này đều đạt yêu cầu về giới hạn đối với chỉ tiêu tạp C (< 0,25%), [10]
Kết luận
Bằng phương pháp UPLC với việc sử dụng 2 bước sóng trên đầu dò DAD, đã xây dựng được qui trình định lượng đồng thời paracetamol, ibuprofen và tap
€ của ibuprofen Phương pháp có tính đặc hiệu, đúng và chính xác, đã ứng dụng quy trình để định lượng 9 mẫu chế phẩm trên thị trường chứng tỏ phương pháp có tính khả thi cao Phương pháp này
có thể triển khai để đồng thời định lượng
paracetamol, ibuprofen và xác định giới hạn tạp C
của ibuprofen trong kiểm nghiệm các chế phẩm
chứa hai hoạt chất paracetamol, ibuprofen lưu hành trên thị trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hội đồng Dược điển (2009), Dược điển Việt Nam IV, Nhà xuất bản Y hoc, tr 841-842
AOAC (2012), Guidelines for Standard Method Performance Requirements
British Pharmacopoeia (2013), pp 3128 - 3135, 4548 - 4552
2
3
4, Boyka G Tsvetkova, Ivanka P Pencheva, Alexander B, Zlaykov, Plamen T Peikov (2012),“Development and
validation of RP-HPLC method for simultaneous determination of paracetamol and ibuprofen in fixed dose combinations’, int J Pharm Sci Rev Res., 16(1), pp.13-16
Higgins J.D., Gilmore T.P, Martellucci $.A., Bruce R.D (2001), “Analytical Profiles of Drug Substances and Excipients’, vol 27, Academic Press, New York,
ICH (2005), Validation of analytical procedures: Text and Methodology Q2{R1)
Sarowar J., Jahirul |., Begum r., Kayesh r,, and Rahman A (2014), “A study of method development, validation, and forced degradation for simultaneous quanlitification of paracetamol and ibuprofen in pharmaceutical dosage form by RP-HPLC method", Analytical Chemistry Insights, pp.75-81
Samson D,, Israel K., Chaitanya K., Gowri D S., Vijayalakashmi A (2013), “Method development and validation for simultaneous determination a multiple drug dosage from of paracetamol, ophenedrine, ibuprofen by RP-HPLC” Journal of Global in Pharmaceutical Sciences, pp 1153-1162
Wilhelm D (2010), “Development and validation of an HPLC method to analyze ibuprofen and impurities according to the European Pharmacopoeia’, Agilent Technologies inc
10 United States Pharmacopoeia USP38, ban online
(Ngày gửi đăng: 17/10/2016 - Ngày duyệt đăng: 24/3/2017)
Trang 20Nghiên cứu dược & Thông tin thuốc 2017, Tập 8, Số 1,trang 21-25
= dl
BÀI NGHIÊN CỨU Š-
Tổng hợp va thi tác dụng ức chế enzym
glutaminyl cyclase của một số dán chốt
pyrimidin cua N-(5-methyl-1H-imidazol-
1-yl) propyl-N’-(3-methoxy-4-alky-
loxyphenyl}thiouren
Trần Phương Thảo", Trần Thị Thu Hiền?
"Trường Đại học Dược Hà Nội, ?Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam
SUMMARY
Glutaminyl cyclase (QC) is an important target for the design of anti-Alzheimer agents 1-(3,4-Dimethoxyphenyl)-3- (3-(5-methyl-1H-imidazol-1-y))propyl)thiourea is an established QC inhibitor in this study, a series of new N-(5-methyl- 1H-imidazol-1-yl)propyl-N’-(3-methoxy-4-alkyloxyphenyl)thiourea incorporating pyrimidine ring were designed,
synthesized and evaluated for QC inhibition The compounds were obtained via 5 or 6 steps with well-known reactions
Three of four compounds synthesized showed higher potency (ICso values of 18.4-21.3 {4M) compared to compound 7 UCs0 value of 29.2 uM )
Từ khóa: N-(5-methyl-1H-imidazol-1-yl)propyl, pyrimidin, thiourea, tie ché glutaminyl cyclase
Đặt vấn đẻ
Glutaminyl cyclase (EC 2.5.2.3, QC) la mot enzym
xúc tác cho quá trình đóng vòng nội phân tử các
glutaminyl đẩu gắn với nitơ thành acid
pyroglutamic Các nhà khoa học đã chứng minh
rằng ức chể enzym QC sẽ ngăn cản quá trình tạo ra
các acid pyroglutamic, làm giảm sự tạo thành các
xơ và các đám xơ rối - nghỉ phạm gây nên sự hủy
hoại tế bào và tổn hại mô trong não bị bệnh
Alzheimer [21, [5], [8]
Hiện nay, chất 1 (hình 1) do các nhà khoa học
thuộc Công ty Probiodrug (Đức) tìm ra, được chọn
là một chất dẫn đường trong nghiên cứu và phát
triển các chất ức chế QC hướng điều trị bệnh
Alzheimer Dựa trên cấu trúc của cơ chất (H-Gln-
Phe-Arg-NH;) và chất dẫn đường 1, cấu trúc của các
chất ức chế QC được chia làm ba phần: phần A,
chứa 5-methylimidazol liên kết với kẽm; phần B có
chứa liên két cho hydro; phan C có cấu trúc thân dầu (hình 1) [3]
Các nghiên cứu đã cho thấy hợp chất của
pyrimidin cé vai trò quan trọng trong phát triển thuốc mới điều trị nhiều loại bệnh như lao, nhiễm khuẩn, nhiễm nẩm, nhiễm virus, ung thư, [9]
Tiếp tục hướng nghiên cứu thay thể nhóm 4-methoxyphenyl ở phan C trong cẩu trúc của chất dẫn đường † bằng các mạch dài hơn nhằm tầng tính
ky nước cho các chất tạo thành [1], kết hợp với phổ tác dụng sinh học rộng đã được biết đến của pyrimidin; nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là tổng hợp được 4 dẫn chất N-(5-methyl-1H- imidazol-1-yl)propyl-N’-(3-methoxy-4-
alkyloxyphenyl) thiourea mới với cầu nối alkyl ở phần
€ gồm 3 hoặc 4 carbon có gắn nhân pyrimidin (hình 1) và thử tác dụng ức chế enzyme QC của các chất
tổng hợp được
| 21