1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu thuốc và các hướng mới trong điều trị bệnh COPD

4 528 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự xuất hiện gần đây của thuốc chủ vận nicotine, chất đối kháng thụ thể cannabis và thuốc chủ vận β2 mới với thời gian tác dụng dài đã cung cấp một phương tiện quan trọng cho chương trìn

Trang 1

Thuốc và các hướng điều trị mới trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

New drugs and targets in the treatment of chronic obstructive

pulmonary disease (COPD)

BS C Duong-Ngo1, TS Dương Qúy Sỹ1, 2

1: Khoa Y - Đại học Paris Descartes, Sorbonne Paris Cité, Pháp

2: Khoa Sinh lý - Thăm dò Chức năng Hô hấp - Tim mạch Bệnh viện Cochin - Paris, Pháp

Tác giả liên hệ: TS Dương Qúy Sỹ Khoa Sinh lý - Thăm dò Chức năng Hô hấp - Tim mạch Bệnh viện Cochin - Paris

Email: sy.duong-quy@cch.aphp.fr

45

VOLUME 2 - NUMBER 3

SUMMARY

Trong những năm gần đây, dù có nhiều tiến bộ trong nhận thức về sinh bệnh học của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), việc điều trị bệnh lý này lại không có nhiều bước phát triển Việc điều trị hiện nay dựa trên các khuyến cáo quốc tế nhằm mục tiêu ngừng hút thuốc lá và sử dụng các thuốc giãn phế quản Sự xuất hiện gần đây của thuốc chủ vận nicotine, chất đối kháng thụ thể cannabis và thuốc chủ vận β2 mới với thời gian tác dụng dài đã cung cấp một phương tiện quan trọng cho chương trình cai thuốc lá và quản lý điều trị bệnh COPD

Trong COPD, vai trò của hiện tượng viêm trong tiến triển của bệnh là rất quan trọng Corticosteroid hít (ICS, inhaled corticosteroids) là cần thiết trong việc điều trị Tuy nhiên, hiện tại ICS được hấp thụ bởi tuần hoàn phổi do đó gây ra một tác dụng toàn thân Do vậy, cần phải có một ICS loại mới có tác dụng thân không đáng kể Ngoài ra, chất ức chế phosphodiesterase 4 (iPDE4) là loại thuốc mới trong điều trị COPD Các iPDE4 có khả năng chống viêm do bởi ức chế hoạt động của một số tế bào viêm Thuốc này giúp cải thiện chức năng hô hấp và giảm tần suất các đợt kịch phát

Các thuốc điều trị bệnh COPD khác như nhóm statin, TNF-  , thuốc đối kháng thụ thể chemokine, chất ức chế IL-6 và IL-18, chất chống oxy hóa cũng như các chất ức chế men protease và chống xơ hóa còn đang được đánh giá

KEYWORDS: COPD, β 2 agonists, tobacco cessation, inhaled corticosteroids, PDE4, statins

In recent years, despite advances in knowledge of the pathophysiology of chronic obstructive pulmonary disease (COPD), treatment of this pathology has not improved enough Current treatment of COPD is based on international recommenda-tions targeting smoking cessation and the use of bronchodilators The recent development of nicotine agonists, cannabi-noid receptor antagonist and new long-acting β 2 agonists provide an important tool for the program of tobacco cessation and treatment of COPD

In COPD, the role of inflammation in progression of the disease is important Inhaled corticosteroids (ICS) is essential in the treatment of patients with COPD However, the current ICS is absorbed by the pulmonary circulation, thus giving a systemic effect So there is a need for new ICS with minimal systemic effect Inhibitors of phosphodiesterase 4 (iPDE4) are new drugs in the treatment of COPD The iPDE4 have a potential anti-inflammatory effect by inhibiting the activity of several cells This treatment improves lung function and reduces the frequency of exacerbations

Other therapeutic targets for COPD such as statins, TNF-  , antagonists of chemokine receptors, inhibitors of 6 and

IL-18, anti-oxidants as well as protease inhibitors and antifibrotic are being evaluated

TÓM TẮT

TỪ KHÓA: COPD, đồng vận β 2 , cai thuốc lá, corticoid hít, PDE4, statin

J Fran Viet Pneu 2011;02(03):45-48

BÀI TỔNG QUAN NGẮN

Journal of French-Vietnamese Association of Pulmonology

2011 JFVP All rights reserved www.afvp.info

Trang 2

J Fran Viet Pneu 2011;02(03):45-48

MỞ ĐẦU

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là một bệnh

hô hấp rất thường gặp với tỷ lệ hiện mắc bệnh đang

gia tăng trên toàn thế giới [1] Trong những năm gần

đây, mặc dù có tiến bộ đáng kể trong sự hiểu biết

sinh lý bệnh của bệnh này, việc điều trị đã không tiến

triển Thật vậy, việc điều trị hiện tại của COPD là dựa

vào những khuyến cáo của GOLD (Global Initiative

for Chronique Obstructive Lung Disease) nhằm vào

việc cai hút thuốc và sử dụng các thuốc giãn phế

quản [1]

Tuy nhiên, trong COPD, vai trò của hiện tượng viêm

trong tiến triển về mức độ nặng của bệnh đã được

chứng minh Quá trình này được đặc trưng bởi sự

thâm nhiễm của tế bào (bạch cầu trung tính, đại thực

bào, nguyên bào sợi) và các hóa chất trung gian gây

tái tạo quá mức đường hô hấp và phá hủy nhu mô

phổi không hồi phục [2] Vì vậy, việc tạo ra một thuốc

điều trị chống viêm mới là cần thiết trong điều trị

bệnh nhân COPD

THUỐC MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ COPD

Thuốc mới trong cai thuốc lá

Sự xuất hiện gần đây của các phân tử như là

varenicline, là chất chủ vận nicotine, và imonabant là

chất đối kháng thụ thể cannabis đã cung cấp một

phương tiện bổ sung cho chương trình cai thuốc lá

[3-5] Tuy nhiên, chiến lược cai thuốc lá không phải luôn

luôn thành công trong việc đạt được mục tiêu của

mình Thuốc mới trong liệu pháp thay thế nicotine

hay không thuộc nicotin, bao gồm chất đối kháng thụ

thể dopamine D3 và vắc xin nicotine đang được đánh

giá [6]

Thuốc giãn phế quản mới

Các thuốc đồng vận β2 hiện đang là thuốc điều trị

chính của COPD Sự xuất hiện gần đây của thuốc

đồng vận β2 giãn phế quản tác dụng kéo dài với hiệu

quả hơn 24 giờ (indécatérole, carmotérole) đã cải

thiện việc điều trị bệnh COPD [7]

Indécatérole là một phân tử đồng vận β2 dạng hít và

thuốc có tác dụng giãn phế quản nhanh sau khi

dùng Ở bệnh nhân COPD, tác dụng giãn phế quản

của indécatérole kéo dài trên 24 giờ Thuốc này được

dung nạp tốt và không có tác dụng phụ đáng kể [8]

Ngoài các thuốc đồng vận β2, các chất đối kháng

muscarinic thuộc loại kháng cholinergic tác dụng kéo

dài như là tiotropium bromide có vai trò quan trọng

trong điều trị COPD [9] Hiệu quả của các phân tử

kháng cholinergic mới dạng hít (aclidinium

bromide, glycopyrolate) đang được đánh giá ở bệnh

nhân COPD và hen [10]

Dạng kết hợp của một thuốc đồng vận β2 và một loại kháng cholinergic có tác dụng giãn phế quản mạnh hơn đã được đưa ra thị trường bởi các công ty dược phẩm Gần đây có sự xuất hiện các phân tử có tác dụng vừa đối kháng muscarinic và vừa có tác dụng đồng vận β2 đang được đánh giá qua các thử nghiệm lâm sàng

Thuốc corticosteroids loại mới

Corticosteroid hít (ICS: inhaled corticosteroids) là thuốc chống viêm đường hô hấp mạnh nhất Tuy nhiên, các dạng khác nhau của ICS lại được hấp thụ bởi tuần hoàn phổi do đó có tác dụng trên toàn thân Cliclésonide là một ICS mới được kích hoạt trong phổi sau khi dùng Thuốc này có tác dụng toàn thân rất ít do thuốc tồn đọng rất lâu trong phổi, có hoạt tính sinh khả dụng thấp khi dùng đường uống và có tính liên kết mạnh với protein lưu hành [11, 12]

Thuốc ức chế men phosphodiesterase (PDE)

PDE4 là một thành phần của siêu nhóm men PDE có tác dụng ức chế hoạt động của AMP vòng (cyclic adenosine monophosphate) và GMP vòng (guanosine monophosphate vòng)

Thuốc ức chế PDE4 là loại thuốc mới trong điều trị COPD [13]

Các thuốc ức chế PDE4 có một khả năng chống viêm đầy tiềm năng do bởi khả năng ức chế hoạt động của nhiều loại tế bào (tế bào lympho T, bạch cầu ái toan, dưỡng bào, tế bào biểu mô và cơ trơn) Một số thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của thuốc ức chế PDE4 (cilomilast, roflumilast) ở bệnh nhân COPD đã được thực hiện Mặc dù có một số tác dụng phụ (buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, đau đầu), roflumilast là thuốc ức chế chọn lọc của PDE4 đã được sử dụng ở một số nước

Ở bệnh nhân COPD, roflumilast dùng đường uống (500μg một lần mỗi ngày) cải thiện chức năng hô hấp, giảm tần số của các đợt kịch phát [14] Thuốc cũng có hiệu quả khi dùng kết hợp với thuốc giãn phế quản

và ICS [15] Thuốc này đang đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị COPD, đặc biệt ở những bệnh nhân vẫn tồn tại triệu chứng mặc dù đã được điều trị tối ưu

Nhóm Statin

Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng thuốc nhóm statin có tác dụng ức chế men HMG-CoA reductase lại có rất nhiều tác dụng Thuốc làm giảm tai biến và tử vong ở bệnh nhân COPD Nhất là thuốc làm giảm tần suất các cơn kịch phát và số lần nhập viện [16, 17] Thuốc cũng có tác dụng làm chậm lại quá trình suy giảm chức năng hô hấp ở những bệnh nhân này

Trang 3

Tuy nhiên cho đến nay, cơ chế chính xác qua đó

thuốc nhóm statin có nhiều tác dụng có lợi trong điều

trị COPD vẫn chưa được làm rõ

Thuốc ức chế TNF-

trong sinh lý bệnh của COPD cho phép các nhà khoa

học có cơ sở để phát triển các thuốc ức chế hóa chất

trung gian này trong điều trị COPD Nhiều nghiên

tìm thấy trong đờm của bệnh nhân COPD, đặc biệt là

trong đợt kịch phát Tuy nhiên, các thử nghiệm điều

trị với thuốc ức chế TNF- (infliximab) không cho

thấy kết quả khích lệ [18]

CÁC HƯỚNG ĐIỀU TRỊ KHÁC

Thuốc đối kháng thụ thể chemokine

Rất nhiều chemokine có liên quan đến sinh bệnh học

của bệnh COPD Tăng nồng độ của các chemokine

CXCL1 (GRO-a), CXCL5 (ENA-78) và CXCL8 (IL-8)

đã được chứng minh trong COPD Các kháng thể ức

chế CXCL8 có vai trò hứa hẹn trong việc làm giảm

khó thở ở COPD [19] Vai trò của các chemokine khác

như CXCL2, CXCL3, CXCL5, CXCL10, CXCL11

trong sinh bệnh học của bệnh COPD đã được chứng

minh Thuốc đối kháng thụ của các chemokine đang

được đánh giá trong thực nghiệm

Các thuốc ức chế các cytokine IL-6 và IL-18

Sự gia tăng nồng độ trong huyết tương và cơ xương

của interleukins IL-6 và IL-18 đã được chứng minh ở

những bệnh nhân COPD [20] Nhưng vai trò tiềm

năng của các chất ức chế IL-6 và IL 18 trong điều trị

COPD chưa được chứng minh

Chất chống oxy hóa

Trong COPD, đặc biệt là trong đợt kịch phát của

COPD, quá trình stress oxy hoá với các gốc tự do của

nó là ROS (reactive oxygen species) có vai trò quan

trọng trong sinh lý bệnh của bệnh [21]

XUNG ĐỘT QUYỀN LỢI

Không có

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 World Health Organisation (WHO) Global Initiative

for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD) http://

www.goldcopd.com Updated 2010

2 Barnes PJ Immunology of asthma and chronic

obstructive pulmonary diseases J Allergy Clin Immunol

2007; 8 (3): 183-92

Ngoài tác dụng có hại của nó trong bệnh sinh của COPD, stress oxy hóa làm giảm đáp ứng với corticosteroid và gây ra hiện tượng đề kháng với steroid

Hiện nay, chất chống oxy hóa có thành phần là glutathione không hiệu quả lắm Vì vậy, sự phát triển các chất chống oxy hóa mới như các chất có cấu trú c tương tự của superoxide dismutase (SOD), hoặc các chất ức chế men NADPH oxidase là cần thiết

Chất ức chế men protease và chống xơ hóa

Vai trò của men protease trong sinh bệnh học của bệnh khí phế thũng đã được chứng minh Các thử nghiệm điều trị với thuốc ức chế protease nội sinh như alpha1-antitrypsin, các elafin, chất ức chế mô MMPs (matrix metalloproteinase) hiện đang được thử nghiệm [22]

Chất chống xơ hóa

TGF-β (transforming growth factor-β) đóng một vai trò khá quan trọng trong quá trình xơ hóa đường dẫn khí nhỏ Hiện tượng này gây ra một sự suy giảm dần chức năng hô hấp và sự thích ứng với hoạt động gắng sức ở bệnh nhân COPD Thuốc ức chế TGF-β đang được nghiên cứu trong thực nghiệm

Thuốc khác

Các hướng điều trị khác đang được đánh giá là thuốc

ức chế yếu tố phiên mã (NF-kB), thuốc ức chế men protein kinase (p38 MAPK), các dẫn xuất của acid retinoic, và tế bào gốc

KẾT LUẬN

Trong COPD, không có thuốc điều trị nào có thể trì hoãn sự tiến triển của bệnh Điều trị thông lệ và thuốc

ức chế phosphodiesterase chỉ cho phép kiểm soát các triệu chứng của bệnh nhân Vì vậy, trong khi chờ hiệu quả của loại thuốc mới, ngừng hút thuốc lá vẫn là cần thiết trong việc quản lý điều trị bệnh nhân COPD

3 Cahill K, Stead LF, Lancaster T Nicotin receptor partial

agonists for smoking cessation Cochrane Database Syst

Rev 2007; CD006103

4 Oncken C, Gonzales D, Nides M, et al Efficacy and safety of the novel selective nicotin acetycholine recep-tor partial agonist, vareniline, for smoking cessation

Arch Intern Med 2006; 166(15): 1571-7

J Fran Viet Pneu 2011;02(03):45-48 VOLUME 2 - NUMBER 3 47

Trang 4

5 Cahill K, Ussher M Canabinoid type 1 receptor

antago-nists (rimonabant) for moking cessation Cochrane

Da-tabase Syst Rev 2007; CD005353

6 Siu EC, Tyndale RE Non-nicotinec therapies for

smok-ing cessation Annu Rev Pharmacol Toxicol 2007; 47:

541-64

7 Matera MG, Cazzola M Ultra-long acting beta

2-adrenoceptor agonist: an emerging therapeutic option

for asthma and COPD Drug 2007; 67(4): 503-15

8 Rennard S, Bantje T, Centanni S, et al A dose-ranging

study of indécatérole in obstructive airway disease,

with a tiotropium comparison Respir Med 2008; 102(7):

1033-1044

9 Koumis T, Samuel S Tiotropium bromide: a new

long-acting bronchodilatator for the treatment of COPD

Clin Ther 2005; 27(4): 377-92

10 Hansel TT, Neighbour H, Erin EM et al Glycopyrolate

causes prolonged bronchoprotection and

bronchodila-tation in patient with asthma.Chest 2005;128: 1974-9

11 Reynolds NA, Scott LJ Ciclesonide Drugs 2004; 64(5):

511-9

12 Pearlman DS, Berger WWE, Kerwin E, et al Once-daily

ciclesonide improves lung function and is well

toler-ated by patients with mild-to-moderate persistent

asthma J Allergy Clin Immunol 2005; 116: 1206-12

13 Giembycz MA Can the anti-inflammatory potential of

PDE4 inhibitors be realized: guarded optimism or

wishful thinking? Br J Pharmacol 2008; 155: 288-90

14 Rennard SI, Calverley PM, Goehring UM,

Bredenbrö-ker D, Martinez FJ Reduction of exacerbations by the

PDE4 inhibitor roflumilast the importance of defining

different subsets of patients with COPD Respir Res

2011; 27:12-18

15 Rabe KF Update on roflumilast, a phosphodiesterase 4 inhibitor for the treatment of chronic obstructive

pul-monary disease Br J Pharmacol 2011; 163(1):53-67

16 Soyseth V, Brekke PH, Smith P, et al Statin use is

asso-ciated with reduced mortality in COPD Eur Respir J

2007; 29:279–83

17 Frost FJ, Petersen H, Tollestrup K, et al Influenza and COPD mortality protection as pleiotropic,

dose-dependent effects of statins Chest 2007; 131:1006–12

18 Rennard SI, Fogarty C, Kelsen S, Long W, Ramsdell J, Allison J, Mahler D, Saadeh C, Siler T, Snell P, Koren-blat P, Smith W, Kaye M, Mandel M, Andrews C, Prabhu R, Donohue JF, Watt R, Lo KH, Schlenker-Herceg R, Barnathan ES, Murray J; COPD Investiga-tors The safety and efficacy of infliximab in moderate

to severe chronic obstructive pulmonary disease Am J

Respir Crit Care Med 2007; 175(9): 926-34

19 Mahler DA, Huang S, Tabrizi M, et al Efficacy and safety of monoclonal antibody reconising interleukin-8

in COPD: a pilot study Chest 2004; 126(3): 926-34

20 Petersen AMW, Penkowa M, Iversen M, et al Elevated level of interleukin-18 in plasma et skeletal muscle in

chonic obstructive pulmonary disease Lung 2007; 185:

161-71

21 Rahman I, Adcock IM Oxidative stress and redox

regulation of lung inflammation in COPD Eur Respir J

2006; 28(1)-219-42

22 Churg A, Wang R, Wang X, et al Effet of an MMP-9/ MMP-12 inhibitor on smoke-induced emphysema and airway remodeling in guinea pigs Thorax 2007; 62(8): 706-13

J Fran Viet Pneu 2011;02(03):45-48

Ngày đăng: 08/05/2017, 08:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w