Việc nghiên cứu nền tảng pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai của các nhà nước phong kiến không những có ý nghĩa khẳng định những giá trị to lớn về lịch sử - xã hội của chúng mà còn đ
Trang 1QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA CÁC NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN VIỆT NAM
Việt Nam cho đến chục năm gần đây vẫn là một nước nông nghiệp Việt Nam ở thời phong kiến và Pháp thuộc còn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu Kinh tế nông nghiệp thời kỳ này chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và là nguồn thu ngân sách chính của nhà nước Vì vậy, hoạt động quản
lý đất đai được các nhà nước phong kiến Việt Nam đặc biệt coi trọng và đã được tiến hành từ rất sớm Việc nghiên cứu nền tảng pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai của các nhà nước phong kiến không những có ý nghĩa khẳng định những giá trị to lớn về lịch sử - xã hội của chúng mà còn đem lại những bài học quý giá trong lĩnh vực xây dựng pháp luật đất đai và quản lý đất đai trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ta hiện nay
Bài viết này chủ yếu đề cập đến những nền tảng pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai của các Nhà nước Hậu Lê, Nguyễn và sơ bộ về xã hội và tình hình pháp luật có liên quan đến ruộng đất thời kỳ đầu của các nhà nước phong kiến Việt Nam
1 Sơ lược về xã hội và pháp luật có liên quan đến ruộng đất trước thời Hậu Lê (trước 1428)
Nhà nước đầu tiên của nước ta là nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc-
mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chúng tương đồng với hình thái các liên minh
bộ lạc - ra đời sớm hơn điều kiện chín muồi của sự phân hóa xã hội và phân công lao động vì bên cạnh chức năng thống trị, bóc lột, nhà nước sơ khai còn phải đảm đương hai chức năng công cộng là xây dựng các công trình thuỷ lợi và tổ chức chiến đấu chống ngoại xâm
Hùng Vương - sau đó An Dương Vương tiếp nối - là người đứng đầu nhà nước sơ khai Giúp việc Hùng Vương, An Dương Vương là các Lạc Hầu, Lạc Tướng cai quản các bộ (bộ lạc) Cơ sở xã hội của Văn Lang - Âu Lạc là các Công
xã nông thôn: kẻ, chạ, chiềng do Bồ chính (già làng) cai quản Kẻ, Chạ, Chiềng xuất hiện khi có quan hệ hoạt động sản xuất nông nghiệp và đối với người Việt
cổ là từ khi trồng lúa nước Nhiều thị tộc phải sống quần cư để sản xuất với những công cụ thô sơ, có những công việc cần đến sức của nhiều người; khai phá đất, đắp đất, đắp bờ, đào mương, đắp đê, chống lũ, lụt Ruộng lúa nước là cơ sở sản xuất của làng xóm và làng xóm là hình thức quần cư để khai thác và mở rộng ruộng lúa nước
Như vậy, thời kỳ của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, ruộng đất thuộc sở hữu chung của cả công xã Tập thể công xã trực tiếp quản lý, tổ chức sản xuất, phân chia sản phẩm và nộp thuế cho các Lạc Hầu, Lạc Tướng theo thể chế cống nạp (Tributoure)
Không có tài liệu nào nói về pháp luật của Văn Lang - Âu Lạc nhưng căn
cứ vào lời của Mã Viện - Viên tướng được phái sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của
1 Bộ môn Địa chính, ĐHKHTN - ĐHQG HN
Trang 2Hai Bà Trưng - tâu với vua Hán Quang Vũ “Luật Việt khác với luật Hán hơn 10 điều” thì chắc là Văn Lang và Âu Lạc đã có luật, song có lẽ đúng hơn là một thứ luật tập tục hay tập quán nhưng chắc chắn phải là chung cho cả đất nước chứ không có tính địa phương [3]
Sau sự kiện Hán Vũ Đế tiêu diệt quốc gia Nam Việt của họ Triệu (năm
111 TCN) nước ta trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc, chịu sự áp bức bóc lột nặng
nề của phong kiến Trung Quốc
Năm 905 Khúc Thừa Dụ đã lãnh đạo nhân dân Châu Giao nổi dậy, chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội) đuổi quân nhà Đường về nước, tự xưng là Tiết Độ
Sứ Tuy vẫn mang danh hiệu một quan chức của triều đình nhà Đường nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ ở nước ta và kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn một ngàn năm của phong kiến phương Bắc, mở
ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc
Tuy nhiên, với thời gian tồn tại ngắn ngủi của chính quyền họ Khúc (905 - 923), chính quyền tiếp sau của họ Dương (Dương Đình Nghệ, 931 - 938), họ Ngô (Ngô Quyền khởi đầu, 939 - 959), không có điều kiện tổ chức bộ máy nhà nước quy mô và không ban hành được các văn bản pháp lý cơ bản ngoài sự kiện Khúc Hạo đã cho sửa lại chế độ điền tô, thuế má nặng nề đời Đường, ra lệnh "Bình quân thuế ruộng, xoá bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, khai quê quán, giao cho quản giáp trông coi” [6]
Các nhà nước tự chủ non trẻ của họ Khúc - Dương - Ngô, tuy là bản địa có những chính sách khoan sức dân, bớt thuế, khuyến khích nông nghiệp nhưng không tránh khỏi là một bộ máy cai trị Sự phân hóa đẳng cấp diễn ra mạnh mẽ
và đã thấy xuất hiện những quan lại, quí tộc địa chủ có những đặc quyền đặc lợi
Nhà Đinh và Tiền Lê (968 - 1009) trên cơ sở giữ nguyên chế độ ruộng đất công ở các làng xã, bắt đầu thực hiện một số chính sách đất đai nhằm khẳng định quyền sở hữu tối cao của nhà nước, đảm bảo lợi ích kinh tế cho các quan tướng cao cấp nhưng vẫn giữ được sự thống nhất, ngăn chặn được xu thế cát cứ địa phương, củng cố quyền lực chuyên chế của nhà vua và đặt nền móng ban đầu cho chính sách đất đai của các triều đại kế tiếp sau này Việc xuất hiện loại ruộng
"Tịch điền" là dấu hiệu biểu hiện sự tập trung quyền sở hữu ruộng đất tối cao vào trong tay nhà nước tuy chưa dẫn đến sự biến đổi lớn về sở hữu ruộng đất nói chung Lễ cày ruộng tịch điền là một việc làm trọng nông nghiệp, thân dân và có tác dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp
Tuy vậy, tình hình pháp luật của Nhà Đinh - Tiền Lê hầu như không có tài liệu nào đề cập đến ngoài một số dòng sử liệu ít ỏi nói về hình phạt nặng nề thời
kỳ này như Nhà Đinh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, quy định ai có tội sẽ bị bỏ vào vạc nấu hay cho hổ ăn thịt Lê Hoàn quy định luật lệ khá hà khắc như sứ nhà Tống (990) mô tả: quan lại tả hữu có lỗi nhỏ cũng bị giết hoặc đánh
từ 100 đến 200 roi Lê Long Đĩnh còn dùng hình khắc nghiệt hơn: thiêu người, xẻo thịt cho đến chết, giam tù vào thuỷ lao, róc mía trên đầu sư…[6]
Nhà Lý thay thế Nhà Tiền Lê (1010) đã quyết định rời đô về Thăng Long
để thích ứng với yêu cầu phát triển mới của một quốc gia thống nhất Năm 1054 nhà Lý đổi quốc hiệu là ĐẠI VIỆT để thể hiện tầm vóc của một quốc gia đang
Trang 3trên đà phát triển thịnh vượng
Thời Nhà Lý đã phổ biến câu tục ngữ "Đất vua, chùa làng", là sự thể hiện
cụ thể của quan niệm sở hữu phong kiến về ruộng đất và sức lao động từ phương Bắc truyền sang (Dưới gầm trời này không đâu không phải là đất của vua, người dân sống trên đất này không ai là không phải bề tôi của vua) Tư tưởng này đã ăn sâu vào giai cấp thống trị phong kiến và từng bước được cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật và các chính sách ruộng đất của nhà nước
Lý Phật Mã đã cho soạn thảo và thi hành bộ luật thành văn có tên “Hình Thư” vào năm 1043, gồm 3 quyển Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại “Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biến thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo”.[6]
Rất tiếc, bộ Hình thư Nhà Lý đã thất truyền do Giặc Minh tiêu huỷ trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1407 nên không rõ những chế định của nó bao quát được những lĩnh vực nào trong quan hệ ruộng đất và sở hữu ruộng đất thời bấy giờ Tuy vậy những văn bản luật lệ khác còn lưu giữ được, đã phản ánh được nhiều nội dung của các chính sách ruộng đất của Nhà Lý
Bên cạnh quỹ ruộng cơ bản của đất nước là bộ phận ruộng công làng xã đã tồn tại từ thời công xã nông thôn, Nhà Lý đã phát triển thêm loại hình thuộc quỹ đất sở hữu trực tiếp của nhà nước gồm Sơn Lăng, Tịch điền, Quốc khố, Đồn điền, đồng thời lần đầu tiên xác lập và bảo hộ cho hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân (Thác đao điền)
Luật qui định có 2 hình thức mua bán ruộng tư là "điền mại", bán nhưng còn chuộc lại được còn "đoạn mại" hay "tuyệt mại" là bán đứt không được chuộc Năm 1135 tháng 6 "xuống chiếu rằng, những người đã bán ruộng ao, không được trả tăng tiền lên mà chuộc lại, ai làm trái thì phải tội" ([6], T1, trang 308)
Năm 1142 tháng 12 "xuống chiếu rằng, những người cầm độ ruộng đất thục trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại Việc tranh chấp ruộng đất thì trong vòng 5 năm hay 10 năm còn được tâu kiện, ai có ruộng đất bỏ hoang bị người khác cày cấy, trồng trọt trong vòng 1 năm thì được kiện mà nhận, quá hạn
ấy thì cấm, làm trái thì xử phạt 80 trượng Nếu tranh nhau ruộng ao mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội
đồ, đem ruộng ao ấy trả cho người chết hay bị thương" ([6], T1, trang 314)
Cuối năm 1142, lại xuống chiếu rằng "những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế thì không được chuộc lại nữa, ai làm trái thì bị phạt
80 trượng"
Các năm sau, Nhà Lý tiếp tục ban hành nhiều văn bản ngăn cấm các nhà quyền thế không được cậy thế lực mà mua bán hay ngăn trở các vận động của quan hệ đất đai của dân thường Năm 1143 tháng 9 xuống chiếu rằng "các nhà
Trang 4quyền thế ngoài đầm ao của mình, không được ngăn cấm sằng bậy, làm trái thì
có tội" Năm sau qui định "những người tranh nhau ruộng ao, của cải không được nhờ cậy nhà quyền thế, làm trái đánh 80 trượng, xử tội đồ" ([6], T1, trang 315)
Các chính sách và văn bản pháp luật khá đa dạng về ruộng đất đã chứng tỏ
số lượng ruộng tư và quan hệ mua bán ruộng tư đã bắt đầu phát triển mạnh và pháp luật Nhà Lý đã phải hạn chế bớt thế lực quan lại, quí tộc để đảm bảo sự phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và đời sống nông dân lớp dưới nói riêng
Nhà Trần tiếp nối Nhà Lý năm 1226, một mặt vẫn giữ nguyên quyền chi phối của làng xã đối với quỹ đất công làng xã, mặt khác đã thực hiện một số chính sách đất đai theo hướng khuyến khích và bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, nhất là sở hữu tư nhân lớn của quí tộc Nhà Trần, dẫn đến việc hình thành chế độ điền trang, thái ấp có quy mô tích tụ ruộng đất tư hữu lớn nhất trong các nhà nước phong kiến Việt Nam [2]
Nhà Trần đã xây dựng được 5 bộ luật quan trọng, trong đó có bộ “Hình thư”, cũng gọi là “Hình luật thư” gồm 1 quyển do Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn theo chỉ định của vua Trần Dụ Tông (1341)
Bốn bộ kia là: “Quốc triều thường lễ” 10 quyển (1230); “Quốc triều thông chế” 20 quyển (1230); “Hoàng triều đại điển” 10 quyển (1341) và “Năm công văn cách thức” 1 quyển (1290)
Giống như luật Nhà Lý, các bộ luật Nhà Trần cũng đã bị giặc Minh tiêu huỷ khi xâm lược nước ta Tuy đã thất truyền song một số nội dung cơ bản của luật đã được sử sách ghi lại qua các chiếu chỉ, quy định của nhà vua và triều đình thì vẫn còn
Năm 1237, mùa xuân, Trần Thái Tông xuống chiếu rằng "khi làm giấy về chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền bạc thì người làm chứng in dấu tay
ở 3 dòng trước, người bán in dấu tay ở 4 dòng sau" ([6], T2, trang 15)
Năm 1248, việc đo đạc ruộng đất để nhà nước đền bù thiệt hại cho nông dân bị mất đất, khi chính quyền tổ chức đắp đê, chiếu chỉ của vua quy định "đặt chức Hà đê chánh phó sứ để quản đốc Chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền"
Năm 1254 ban bố chính sách bán ruộng công làm ruộng tư "tháng 6 bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền [bấy giờ gọi mẫu là diện], cho phép nhân dân mua làm ruộng tư"
Năm 1266, "cho Vương Hầu, Công Chúa, Phò Mã, Cung Tần triệu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang" ([6], T2, trang 21, 25, 36)
Trên cơ sở tích luỹ ruộng đất lớn của quý tộc Trần mà các Vương Hầu, quí tộc Trần đã thiết lập nên chế độ điền trang tư hữu, bắt đầu từ năm 1266 và kéo dài đến năm 1397 mới chấm dứt (131 năm) Trong điền trang, quan hệ lãnh chúa
- nông nô chuyển dần thành quan hệ địa chủ - tá điền Chế độ điền trang này đã phát huy tác dụng tích cực của nó về kinh tế, xã hội, quân sự trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Tuy nhiên sang tới những năm 30 - 40
Trang 5của thế kỷ XIV, khi mất mùa đói kém liên tục xảy ra, nông dân nghèo phải bán ruộng đất, bán mình làm nô tỳ cho các chủ điền trang thì chế độ điền trang lại gây trở ngại cho các chính sách kinh tế - xã hội của nhà Trần Do đó, vua Trần đã phải hạn chế bớt sự phát triển của điền trang mà trước hết là huỷ bỏ phép "cắt chân bãi bồi" ([6], T2, trang 154)
Năm 1292, tháng 3 vua xuống chiếu "phàm văn tự bán đứt hoặc cầm đợ thì phải làm 2 bản giống nhau mỗi bên cầm 1 bản" Điều này chứng tỏ thời kỳ này việc tranh chấp quyền sở hữu ruộng đất đã phát sinh phức tạp, ngay từ tính chất xác thực của văn tự Năm 1320, vua quy định "những người tranh nhau ruộng đất, nếu khám xét thấy không phải của mình mà cố tranh bậy thì bị truy tố, tính giá trị tiền ruộng, bắt đền gấp đôi Nếu làm văn khế giả thì bị chặt một đốt ngón tay bên trái" Năm 1323 lại xuống chiếu rằng "khi tranh ruộng mà ruộng có lúa thì chia làm 2 phần, bồi thường cho người cày 1 phần còn 1 phần lưu lại"
Qua một số luật lệ trên có thể thấy, pháp luật nhà Trần về ruộng đất đã bao quát được nhiều quan hệ phức tạp về quyền sở hữu ruộng đất, về quan hệ ruộng đất, về hợp đồng có liên quan đến ruộng đất mà đặc trưng cơ bản là khuyến khích phát triển sở hữu tư nhân lớn của quý tộc, hạn chế quỹ đất công làng xã [2]
Hồ Quý Ly cướp ngôi của Nhà Trần năm 1400, vương triều mới đã thực hiện nhiều cải cách táo bạo về chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự, làm cho cơ sở của chính quyền quân chủ chuyên chế được củng cố một bước quan trọng Ông là nhà cải cách và là một nhân cách lớn trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Chính sách ruộng đất của Nhà Hồ là trọng tâm của đường lối cải cách kinh
tế -xã hội của Hồ Quý Ly Mục tiêu của Hồ Quý Ly là xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất mà theo chế độ này, các quý tộc Trần là những người có quyền lực, được hưởng lợi nhiều nhất và thay thế nó bằng việc tăng cường chế độ
sở hữu của Nhà nước đối với ruộng đất nhằm phục hồi và củng cố sức mạnh của chính quyền chuyên chế trung ương [2]
Ngay từ năm 1397, dưới sự chi phối của Hồ Quý Ly, Nhà Trần ở thời kỳ suy vong đã phải ban hành chính sách "Hạn danh điền": "Đại Vương và Trưởng Công Chúa thì số ruộng không hạn chế, đến thứ dân thì số ruộng là 10 mẫu Người nào có nhiều ruộng, nếu có tội thì cho tuỳ ý được lấy ruộng để chuộc tội,
bị biếm chức hay mất chức cũng được làm như vậy, số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước" ([6], T2, trang 193)
Năm 1401, Nhà Hồ ban hành qui định Hạn chế gia nô (Hạn nô) tức là hạn chế lực lượng lao động chủ yếu và cũng là lực lượng tham gia quân đội chủ yếu trong các điền trang của quí tộc Trần: "Hán Thương lập phép hạn chế gia nô, chiếu theo phẩm cấp được có số lượng khác nhau, còn thừa phải dâng lên, mỗi tên được trả 5 quan tiền, người nào đáng được có gia nô phải xuất trình chúc thư
ba đời" ([6], T2, trang 201)
Để đảm bảo việc thực hiện chính sách “Hạn điền”, để nắm chặt quĩ đất và tận thu thuế ruộng, Nhà Hồ đã tiến hành lần đầu tiên việc đo đạc, thành lập sổ ruộng đất có qui mô và sự tập trung lớn nhất từ trước cho đến thời điểm này, trên phạm vi toàn quốc Năm 1398 "ra lệnh cho những người có ruộng phải khai báo
số mẫu ruộng lại ra lệnh cho dân phải nêu rõ họ tên, cắm ở trên ruộng Quan lộ,
Trang 6phủ, châu, huyện cùng khám xét, đo đạc, lập thành sổ sách, 5 năm mới xong Ruộng nào không có giấy khai báo hay cam kết thì lấy làm quan điền" ([6], T2, trang 195)
Có thể nói, tuy chưa có những thành tựu lớn về pháp luật nhưng trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của mình, triều Nhà Hồ đã rất quan tâm đến việc xây dựng pháp luật Ngoài phép ‘Hạn nô”, “Hạn điền”, như đã nêu trên Năm 1401, Hồ Hán Thương cũng đã ban hành “Đại Ngu quan chế hình luật”, các quy định trừng trị tội làm bạc giả, tàng trữ tiền đồng, hành nghề mê tín, dị đoan…
Rất đáng căm giận là tất cả những sổ sách ruộng đất cùng các văn bản pháp luật, hành chính, chiếu chỉ… của Nhà Hồ đã bị giặc Minh tiêu huỷ trong cuộc xâm lược năm 1407, nên ngày nay chúng ta không biết được nội dung và giá trị cụ thể của nó trong hoạt động quản lý đất đai của nhà nước ĐẠI NGU non trẻ nhưng đầy đổi mới này
2 Nền tảng pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai của nhà Hậu Lê
Thời Hậu Lê kéo dài hơn 360 năm, gồm 2 thời kỳ có đặc trưng khác nhau
là Lê Sơ (1428 - 1527) và Lê Mạt (Vua Lê, Chúa Trịnh hay cục diện Đàng Trong
- Đàng Ngoài 1533 - 1788) Thời gian từ 1527 đến 1592 là thời kỳ gián đoạn do
họ Mạc nắm quyền ở Thăng Long Tuy nhiên, những thành tựu cơ bản về tổ chức nhà nước và pháp luật đều tập trung trong thời Lê Sơ
Bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Sơ là một hệ thống chính quyền chặt chẽ, hiệu quả, vừa chi phối tới tận địa phương làng xã đồng thời vừa tập trung được quyền lực tối cao vào tay nhà vua Đây là thời kỳ phát triển thịnh trị của nhà nước Trung ương tập quyền Trong gần 100 năm tồn tại, Nhà Lê Sơ đã làm được nhiều việc cho đất nước, trong đó quan trọng nhất là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề ruộng đất một cách cơ bản, mở mang đất đai, mang lại nhiều quyền lợi cho nông dân
Ngay từ năm 1428, khi mới lên ngôi, Lê Lợi đã chỉ thị cho các phủ, huyện, trấn, lộ khám xét các chằm bãi, ruộng đất, mỏ vàng, bạc, những sản vật núi rừng trong hạt, các loại thuế ngạch cũ cùng ruộng đất đã sung công của các nhà thế gia
và những người tuyệt tự và ruộng đất của những người đào ngũ, hạn đến trung tuần tháng 2 năm Kỷ Dậu [1429] trình lên Sổ hộ tịch năm Mậu Thân và sổ ruộng đất năm Kỷ Dậu đã được làm xong vào tháng 4 năm Quý Sửu [1433]
Việc làm sổ ruộng đất tức sổ địa bạ giúp Nhà Lê nắm chắc được ngay từ đầu tình hình cụ thể các loại ruộng đất và số lượng ruộng đất trong cả nước, từ đó, giúp cho việc hoạch định các chính sách đất đai được cụ thể, sát thực và hiệu quả
Pháp luật về ruộng đất được thể hiện qua các chiếu chỉ, các luật lệ, các qui định của nhà nước ban hành trong nhiều đời vua Nhà Lê Tuy nhiên văn bản có giá trị pháp lý cao nhất và quan trọng nhất của Nhà Lê là bộ "Quốc triều hình luật" thường được gọi là "Luật Hồng Đức", ban hành năm 1483 Luật gồm 6 quyển 722 điều [10] Bộ Quốc triều hình luật không chỉ là đỉnh cao của thành tựu pháp luật của các triều đại phong kiến trước đó mà còn đối với cả bộ luật của Nhà Nguyễn sau này
Những qui định về ruộng đất nằm trong quyển III, Chương Điền sản Khi
Trang 7mới ban hành, luật có 32 điều, sau 4 lần bổ sung Chương Điền sản đã tăng lên 59 điều Dưới đây là một số nội dung cụ thể [10]:
- Pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt chế độ ruộng đất công Trong tổng số 59 điều của Chương Điền sản, đã có tới 10 điều qui định về bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất công [4] Điều đầu tiên của chương (342) đã qui định "Bán ruộng đất công cấp cho thì bị xử 60 trượng, biếm 2 tư Những người làm chứng, những người viết văn tự đều bị xử tội (nhẹ hơn một bậc) Điều 342 còn qui định "Đem cầm ruộng công thì bị xử phạt 60 trượng và bắt chuộc lại" Nếu chiếm ruộng đất công quá hạn định từ 1 mẫu thì xử phạt 80 trượng, 10 mẫu thì biếm 1 tư và tiền hoa lợi từ đất chiếm dụng phải nộp vào làm của công (Điều 343)
Luật qui định xử phạt nặng việc ẩn lậu ruộng đất công "Giấu ruộng đất, ao
hồ, đầm của công (không nộp thuế) từ 1 mẫu trở lên thì xử tội biếm, 10 mẫu trở lên xử tội đồ, 50 mẫu trở lên thì xử tội lưu… và phải bồi thường gấp 3 lần tiền thuế, nộp vào kho Thưởng cho người tố cáo (Điều 345)
Luật cũng xử nghiêm khắc các trường hợp trốn thuế Điều 346 qui định
“cày cấy ruộng đất công mà quá kỳ không nộp thóc thì xử phạt 80 trượng và phải trưng thu gấp đôi số thóc, nộp vào kho, quá nữa thì lấy lại ruộng
- Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất Điều 354 qui định
"Người nào tranh giành nhà, đất thì phải biếm 2 tư Nếu đã có chúc thư mà còn
cố tranh giành thì cũng xử biếm như thế và phải tước mất cả phần của mình nữa"
Để ngăn chặn quan lại dựa vào quyền thế chiếm đoạt ruộng đất tư, Điều
370 qui định "Các nhà quyền quí chiếm đoạt ruộng đất, đầm ao của lương dân, từ
1 mẫu trở lên thì xử tội phạt, từ 5 mẫu trở lên thì xử tội biếm Quan tam phẩm trở xuống thì xử tội tăng thêm 2 bậc và phải bồi thường như luật định "
Luật cũng qui định "Tá điền cấy nhờ ruộng ở nhà của người khác mà dở mặt tranh làm của mình thì phải phạt 60 trượng, biếm 2 tư" (Điều 356) Điều 357 qui định "Nếu xâm chiếm bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ mốc giới của người khác hay
tự mình lại lập ra mốc giới thì xử biếm 2 tư"
Ngoài ra luật còn xử phạt hàng loạt các hành vi vi phạm quyền sở hữu tư nhân như bán trộm ruộng đất của bố mẹ khi bố mẹ còn sống (Điều 378), xâm phạm, lấn chiếm giới hạn, tre gỗ trên đất lăng mộ người khác (Điều 358), cấy trộm ruộng người khác, táng trộm vào ruộng người khác (Điều 359), đang tranh biện mà gặt cướp lúa (Điều 360), cấy rẽ ruộng mà gặt trước (Điều 361)
- Luật qui định cụ thể việc mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, cầm cố đất đai Nhà Lê qui định mọi chuyển dịch quyền sở hữu đất đai đều phải làm văn tự
và các văn tự giao dịch này đều phải tuân thủ đúng pháp luật Điều 366 cho biết
"Những người làm chúc thư, văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng chúc thư văn khế ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được"
Việc mua bán, chuyển nhượng đất đai là hoàn toàn tự nguyện Pháp luật cấm mọi hình thức ép buộc bất bình đẳng Điều 355 qui định: "Người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm 2 tư và cho lấy lại tiền mua"
Trang 8Việc để thừa kế và nhận thừa kế cũng được qui định cụ thể Có 2 hình thức thừa kế: theo luật và theo di chúc Theo luật thì con trai, con gái, con nuôi, con đẻ đều có quyền hưởng thừa kế song phần lớn, nhỏ có khác nhau
Luật cũng qui định việc phân chia điền sản giữa 2 vợ chồng khi chồng hoặc vợ chết, có con và chưa có con (Điều 374), có con nhưng con chết (Điều 376), luật bảo vệ quyền lợi của con khi mẹ tái giá (Điều 377)
Về cầm cố ruộng đất: "Những ruộng đất đã cầm cố mà chưa đưa tiền chuộc trả cho chủ cầm mà đem bán đứt cho người khác thì phải phạt 50 roi biếm
1 tư, truy hồi tiền, trả cho người chủ cầm" (Điều 383) "Những ruộng đất cầm mà chủ ruộng xin chuộc, người cầm không cho chuộc hay là không muốn chuộc mà bắt phải chuộc thì đều phải phạt 80 trượng" (Điều 384) Luật cũng qui định về thời hạn chuộc (Điều 384)
- Luật qui định trách nhiệm của quan lại trong việc quản lý đất đai Điều
347 qui định "Cứ 4 năm làm lại sổ ruộng đất một lần, nếu đo ruộng hay cấp ruộng không đúng thời vụ hay không đúng lệ cấp ruộng thì các quan lộ, huyện,
xã đều phải tội phạt, biếm tuỳ theo tội trạng nặng, nhẹ Nếu không phải là ruộng hoang mà bỏ lâu ngày không chia, thành bỏ hoang thì phải bồi thường tiền hoa màu ruộng Nếu lấy tiền hoa màu làm của mình thì phải bồi thêm gấp đôi, nộp vào kho nhà nước" Luật còn qui định "Những ruộng công có chỗ bỏ hoang
mà quan trông coi không tâu để chia cho người cày ruộng khai khẩn thì xử tội biếm hay phạt " (Điều 350)
Ngoài “Quốc Triều hình luật”, Nhà nước Lê Sơ còn ban hành một số bộ luật quy định và điều chỉnh một số lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế - xã hội, trong
số đó quan trọng nhất đối với hoạt động quản lý đất đai là “Luật quân điền” do
Bộ Hộ soạn thảo Lần đầu tiên trong lịch sử các nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà Hậu Lê buộc các làng xã phải chia ruộng đất thuộc quĩ đất công làng xã - vốn trước đây được sử dụng, phân chia tuỳ thuộc từng làng xã - nay phải theo qui chế của nhà nước, chia theo thứ bậc, khẩu phần khác nhau từ quan lại, thứ dân cho đến đàn bà goá, người tàn tật Chính sách này thể hiện xu hướng quốc hữu hóa ruộng đất công làng xã rất mạnh trên cơ sở một nhà nước mạnh Nhà nước trở thành đồng sở hữu chủ với làng xã Đồng thời đây lại là một chính sách thân dân, người dân được pháp luật nhà nước đảm bảo và thừa nhận quyền chiếm hữu
tư nhân đối với ruộng đất trong từng thời hạn nhất định
Thời Lê Mạt (1533 - 1788) là thời kỳ nhà nước trung ương tập quyền suy thoái, đất nước bị chia cắt và nội chiến xảy ra liên miên, các nhà nước cát cứ chủ yếu dựa vào các bộ luật từ thời Lê Sơ để quản lý đất nước tuy cũng có những quy định sửa đổi, bổ sung cho thích hợp với tình thế mới
3 Nền tảng pháp lý trong hoạt động quản lý đất đai của nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn cai quản đất nước Việt Nam thống nhất năm 1802, liền một dải từ Mục Nam Quan đến Cà Mau, đồng thời cũng sở hữu luôn cả sự suy sụp của nền kinh tế và những bất ổn định cho xã hội nói chung và cho vương triều nhà Nguyễn nói riêng, trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Vì vậy, công việc ưu tiên hàng đầu của các vua Nguyễn là hoạch định các chính sách đất đai, tăng cường quản lý ruộng đất nhằm phục hồi sản xuất nông nghiệp, ổn định
Trang 9cuộc sống của nông dân mà việc làm trước hết là điều tra và đo đạc lại toàn bộ quĩ đất đai cả nước, lấy đó làm cơ sở để tiến hành các công việc cấp bách khác
Năm 1803, Vua Gia Long sai Lê Quang Định, Thượng thư Bộ Hộ “coi sắp đặt điền thổ” chung cho cả nước Địa bạ được đo đạc và thành lập từng bước, đi
từ Bắc Thành vào Trung Bộ và cuối cùng là Nam Bộ Phải mất thời gian là 31 năm từ Gia Long năm thứ 4 (1805) đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836) khắp cõi đất Việt Nam mới ghi chép được đầy đủ từng mảnh ruộng, sở đất, con đường, khu rừng, núi, sông vào sổ địa bạ của mỗi làng, từ thành thị đến vùng biên cương [1]
Theo tác giả Nguyễn Đình Đầu, địa bạ là một quyển sổ ghi chép và mô tả thật rõ ràng từ tổng quát đến chi tiết địa phận của làng thuộc hệ thống hành chính nào, vị trí đông tây nam bắc, tổng số ruộng đất thực canh cũng như hoang nhàn,
kể cả ao hồ rừng núi, ghi chép từng loại hạng ruộng đất, mỗi sở điền hay thổ, rộng bao nhiêu, trồng trọt gì, vị trí đông tây nam bắc thế nào, thuộc quyền sở hữu của ai, công điền công thổ, quan điền, quan thổ hay ruộng tư
Điền bạ là quyển sổ để khai báo và đóng thuế của làng Hàng năm, phải căn cứ vào sổ địa bạ và biểu thuế của triều đình ban hành để lập điền bạ Từ khi lập địa bạ đến khi lập điền bạ tất nhiên đã có những thay đổi về chủ sử dụng, cây trồng, diện tích Mỗi năm lập điền bạ một lần để nộp thuế, căn cứ thêm vào
những thay đổi đó gọi là tiểu tu điền bạ, 5 năm sửa đổi kỹ hơn cùng với việc đo khám lại gọi là đại tu điền bạ [1]
Công trình đo đạc, thành lập địa bạ qui mô trên toàn quốc thống nhất của Nhà Nguyễn là công trình to lớn và có ý nghĩa nhất trong lịch sử quản lý đất đai thời phong kiến ở Việt Nam Nó đóng góp rất quan trọng cho nhà nước trong việc hoạch định pháp luật, các chính sách đất đai, quản lý đất đai và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XIX
Pháp luật đất đai của Nhà Nguyễn gồm rất nhiều loại văn bản, qui định, chiếu chỉ, luật lệ khác nhau nhưng đều lấy nền cơ bản là bộ "Hoàng Việt Luật Lệ" thường được gọi là "Bộ luật Gia Long" được ban hành vào năm 1815 Luật gồm 22 quyển, 398 điều được chia thành 6 loại điều khoản, tương đương với công việc của 6 bộ trong bộ máy hành chính của nhà nước Nguyễn (Danh Lệ, Lại Luật, Hộ Luật, Lễ Luật, Binh Luật và Công Luật) [8]
Pháp luật đất đai nằm trong Hộ Luật có 14 điều, tập trung bảo vệ chế độ
sở hữu ruộng đất, đảm bảo việc thu thuế, chống ẩn lậu thuế Luật Hồng Đức có tới 59 điều khoản quy định về quan hệ dân sự đối với ruộng đất, nhưng Luật Gia Long chỉ có 14 điều Đây là điểm không được đánh giá cao của Luật Gia Long so với Luật Hồng Đức vì đã không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng chủ yếu liên quan đến ruộng đất
14 điều quy định trong Hộ Luật nhằm bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất công, ruộng đất tư và trách nhiệm của quan lại sở tại Lệnh cấm năm 1803 nêu rõ
"theo lệnh cũ thì công điền, công thổ, cho dân gian quân cấp, đem bán ruộng là
có tội" "nếu xã thôn nào trái lệnh cấm, quen thói cũ mua bán ruộng với nhau, việc phát giác ra thì người mua nhầm bị mất tiền gốc, người làm văn khế, người
Trang 10cùng đứng tên trong văn khế và những người làm chứng đều bị tội nặng, ruộng đất đem bán trong văn khế truy trả dân" Trong hơn một nửa thế kỷ, nhà Nguyễn
đã đưa ra 24 qui định để mở rộng sở hữu công làng xã bằng nguồn ruộng đất vốn thuộc quyền quản lý trực tiếp của nhà nước chuyển sang hoặc bằng biện pháp khai hoang và trong một số trường hợp là tước đoạt một bộ phận ruộng tư sung làm công điền [7]
Điều 84 luật Gia Long qui định: phàm dối gạt, dấu điền lương, làm thất thoát thuế ở làng một mẫu đến 5 mẫu phạt 40 roi, mỗi 5 mẫu tội thêm một bậc, mút tội là 100 trượng Nếu chiếm quá nhiều ruộng, cày bừa không xuể, bỏ hoang
từ 3 đến 10 mẫu phạt 30 roi, mỗi 10 mẫu tăng thêm 1 bậc tội, mút tội là 80 trượng, số ruộng ấy nhập quan
Gia sản của công thần chỉ trừ thuế phần "quân điền" không phải nộp còn tài sản ruộng đất do mua bán, khai hoang, tự có thì phải đóng thuế Nếu giấu 1 đến 3 mẫu phạt 60 trượng, mỗi mẫu tăng thêm 1 bậc, mút tội là 100 trượng, đồ 3 năm (Điều 86)
Ruộng đất tư và tài sản liên quan đến ruộng đất tư được nhà nước tôn trọng và bảo vệ
Luật cấm bán trộm ruộng của người khác, cấm tranh giành, đổi trộm ruộng của người khác: đem bán trộm ruộng đất của người khác, đem bán đất mình cày cấy không nổi đổi cho người khác mà mạo nhận ruộng đất của người khác là của mình thì ruộng một mẫu, nhà một gian trở xuống phạt 50 roi Mỗi 5 mẫu ruộng, 3 gian nhà thì thêm một bậc tội, mút tội là 80 trượng, đồ 2 năm
Nếu cưỡng chiếm của quan dân về chỗ làm ăn trong núi, biển, hồ, vườn trà, bãi lau, không kể mẫu số, đều phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm
Điều 91 qui định: cố ý phá hư, bỏ bê đồ dùng của người ta và chặt phá những loại cây trồng tỉa, kể tang vật là những vật bỏ bê, phá hư ấy, xử tội ăn trộm (chiếu ăn trộm định tội) miễn xâm chữ, mút tội là 100 trượng, lưu xa 3000 dặm
Điều 92 qui định: phàm tự nhiên lấy ăn những dưa, trái trồng trong vườn ruộng của người khác thì buộc tội theo tang vật Tính những món đã lấy ăn, giá
từ 1 lạng bạc trở xuống phạt 10 roi, hai lạng phạt 20 roi, tính lạng tăng tội Mút tội là 60 trượng đồ 1 năm Ngắt bỏ, làm hư thối thì tội cũng vậy
Pháp luật qui định việc mua bán, cầm cố, thừa kế ruộng đất Các chuyển dịch quyền sở hữu ruộng đất do mua bán, cầm cố, thừa kế thì pháp luật cho tuỳ thuộc vào ý muốn của các chủ sở hữu Tuy nhiên pháp luật Nhà Nguyễn cấm làm một số việc sau:
- Cấm quan lại đương nhiệm không được mua sắm ruộng vườn ở nơi làm quan Nếu vi phạm phạt 50 roi, giải nhiệm, ruộng sung vào quan điền (Điều 88)
- Cấm bán nhiều lần (đã bán tạm rồi, lại bán lần nữa cho người khác) sẽ khép vào tội ăn trộm, truy thu tiền trả cho người mua sau Nếu ruộng bán tạm, đến hạn chủ cầm không cho chuộc lại thì phạt (chủ cầm) 40 roi (Điều 89)
- Cấm con cháu không được chia gia sản khi ông, bà cha mẹ còn sống Nếu
vi phạm phạt 100 trượng Đang để tang mà chia gia sản phạt 80 trượng (Điều 82)