•Tổn thương quá phát – phì đại cuốn dưới, làm cho thể tích cuốn dưới to lên gây hẹp hốc mũi và dẫn đến nghẹt mũi.. Hiện tượng viêm mũi kéo dài làm tổn thương các tổ chức liên kết dưới n
Trang 1TỔN THƯƠNG QUÁ PHÁT- PHÌ ĐẠI CUỐN DƯỚI: LÂM SÀNG - CẬN LÂM SÀNG VÀ
HƯỚNG GIẢI QUYẾT HIỆN NAY
CHUYÊN ĐỀ CHỨNG CHỈ VỀ MŨI XOANG
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
• Cuốn dưới là một xương độc lập nằm ở thành
ngoài hốc mũi Là xương cuốn dài nhất, đi từ cửa mũi trước dọc theo sàng mũi đến cửa mũi sau Vì thế cuốn dưới đóng vai trò quan trọng trong tầng thở của hốc mũi, điều hòa sự lưu thông khí qua mũi nhờ vào sự
dãn nở và co hồi của cuốn mũi.
•Tổn thương quá phát – phì đại cuốn dưới, làm cho thể tích cuốn dưới to lên gây hẹp hốc mũi và dẫn đến nghẹt mũi Hiện tượng viêm mũi kéo dài làm tổn
thương các tổ chức liên kết dưới niêm mạc và các vị trí có tổ chức hang trên cuốn dưới có thể ở đầu cuốn, đuôi cuốn hoặc toàn bộ cuốn hay còn gọi là viêm mũi mạn tính quá phát cuốn dưới Thường được gọi chung
là viêm mũi quá phát
Trang 3• Nghẹt mũi là triệu chứng chính, kéo dài gây ra tình trạng khó thở do tắc nghẽn hô hấp, ngủ ngáy, mất ngủ Không khí thở qua mũi hạn chế dẫn đến rối
loạn các chức năng sinh lý như: lọc bụi, làm ẩm,
điều hoà không khí, đối với khứu giác gây giảm hay mất mùi, làm tắc vòi nhĩ gây ra ù tai, nghe kém và thở miệng kéo dài dẫn đến viêm hô hấp dưới Quá phát - phì đại cuốn dưới làm cản trở sự vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang, làm mất cân bằng
áp lực các xoang cạnh mũi, đó cũng là nguyên nhân
cơ học của bệnh lý viêm mũi xoang.
Trang 4Chương I
SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU - SINH LÝ VÀ SINH BỆNH
HỌC VIÊM MŨI QUÁ PHÁT
1 1 GIẢI PHẪU CUỐN DƯỚI
1.1.1 Hình thể, cấu tạo của cuốn dưới
Hình 1.1 Xương cuốn giữa và xương cuốn dưới [8]
Trang 5• Hình thể: Đây là xương cuốn dài nhất, nhưng chiều cao lại
thấp hơn xương cuốn giữa
• Mặt trong xương CD nhìn vào vách ngăn, mặt ngoài nhìn vào thành ngoài hốc mũi, tạo thành khe goi là khe mũi dưới
• Bờ dưới không tiếp giáp với xương nào, bờ trên tiếp khớp ở đầu trước với mõm lên xương hàm, ở đầu sau với mảnh
thẳng xương khẩu cái Ở chỗ tiếp khớp với các xương này
có một mào tiếp rõ rệt, còn ở giữa bờ trên tiếp khớp với
xương hàm bởi một mõm gọi là mõm hàm Mõm này che lấp tất cả phần dưới của lỗ xoang hàm Cuốn dưới đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hoà nhiệt độ, hô hấp
• Kích thước cuốn dưới dài khoảng 3,5 đến 4cm, hình Elip, đầu to phía trước đầu nhỏ phía sau
• Bờ trên dính vào mào xoang dưới của xương hàm trên bởi mấu trước, mào dưới xương khẩu cái bởi 1/4 sau Hướng đi chéo xuống dưới và ra sau, cắt chéo góc diện khe hàm
Trang 6• Cuốn dưới có 3 mấu: mấu hàm hình tam giác, đứng trên
toàn bộ chiều rộng của khe dưới đi xuống thẳng đứng và
che toàn bộ phần khe ở phía dưới của bờ trên cuốn
• Mấu lệ: phát sinh từ tiếp điểm 1/4 trước và 3/4 sau, đi chéo lên trên ra trước về phía bờ dưới xương lệ có hình 4 cạnh, hướng về phía xương lệ Nó bổ sung ở phía trong 1/3 dưới máng lệ của xương hàm để tạo thành ống lệ
• Mấu sàng: xuất phát từ phần giữa không cố định, hướng lên trên về phía mỏm mõc xương sàng Bờ dưới tự do mỏng ở phía trước, dày ở phía sau, cuốn lại ít hay nhiều Đầu cuốn ở cách lỗ lệ 2-3mm, áp trên cành lên xương hàm Chỗ đứng của cuốn cách nền hố mũi khoảng 10mm
• Đuôi cuốn: nhỏ dần về phía sau và đi qua chỗ đỉnh khẩu cái
Ở cửa mũi sau đuôi cuốn lồi, tự do, cách lỗ vòi khoảng
8-10mm
Trang 7• - Mặt trong: ở xa vách ngăn hơn mặt trong cuốn giữa, lồi,
gồ ghề
• Một đường mào trước sau chia khoang mũi thành 2 phần:
• Phần trên gần như nằm ngang làm thành mái thật sự cho khe dưới (hố mũi rộng) Cuốn dưới trông như dẹt, khe dưới là một khe hẹp
• - Phần dưới: nằm trong bình diện đứng dọc, có những mảng mạch, một số biến thành ống
• Cấu tạo: cũng như các thành phần khác của hốc mũi, xương
CD được phủ bởi lớp niêm mạc hô hấp Nhưng ở đây cấu trúc của niêm mạc có đặc điểm là: dầy hơn, có nhiều chế
tiết Niêm mạc kiểu biểu mô có lông chuyển, vùng dưới
niêm mạc rất giàu mạch máu Toàn bộ tổ chức mạch máu
này tạo thành khối cương, Sự phát triển của mạng lưới tĩnh mạch tạo nên độ dày của niêm mạc
Trang 8Hình 1.2 Xương cuốn dưới (mặt ngoài); Xương cuốn dưới (mặt
Trang 9• 1.1.2 Mạch máu và thần kinh của cuốn mũi:
• - Mạch máu: cuốn dưới có một hệ thống mạch máu rất
phong phú, được cung cấp từ hai nguồn là động mạch
sàng và động mạch bướm khẩu cái Ở phía trước, động mạch sàng trước đi vào hốc mũi qua lỗ sàng, đến đầu
CD phân ra các nhánh chạy về phía sau, nối với các
nhánh của động mạch CD từ phía sau ra.
• Động mạch bướm khẩu cái sau khi chui qua ống chân
bướm – khẩu cái, đến trên đuôi CD phân nhánh vào CD, chạy ra phía trước tạo vòng nối với động mạch sàng
trước.
• Đi kèm với động mạch CD là các tĩnh mạch.
Trang 11• - Thần kinh: chi phối cảm giác và giao cảm cho CD:
phần trước (đầu CD) chi phối bởi nhánh mũi trong bên (nhánh của thần kinh mũi trước), phần sau (đuôi CD) là nhánh mũi ngoài sau trước của hạch chân bướm hàm
• Các nhánh thần kinh giao cảm xuất phát từ các sợi giao
cảm của hạch thần kinh sàng khẩu cái Những nhánh
này kết hợp với nhánh thần kinh giao cảm, tạo nên
vùng vận mạch của niêm mạc góp phần làm thay đổi
nhiệt độ, độ ẩm của luồng khí thở.
Trang 12•
Trang 13• 1.2 SINH LÝ MŨI, CUỐN DƯỚI
• 1.2.1 Cấu tạo, sinh lý niêm mạc mũi, cuốn dưới
• 1.2.1.1 Biểu mô cuốn mũi
• Lớp biểu mô nằm trên màng đệm và màng đáy
Trong hốc mũi có nhiều loại biểu mô lát.
• 1 Biểu mô trụ giả lát tầng (niêm mạc hô hấp), được tạo bởi 4 loại tế bào chủ yếu: trụ có lông chuyển, trụ không lông chuyển, tế bào đài và tế bào đáy Đây là kiểu niêm mạc che phủ 2/3 lớp niêm mạc trong mũi.
• 2 Biểu mô lát và chuyển tiếp (trụ giả tầng có vi nhung mao)
• 3 Biểu mô trụ đơn có ít tế bào đài và tuyến nhầy lót bên trong xoang.
Trang 14
Hình b: NM cuốn dưới: 1.Cuốn giữa; 2 Lỗ thông xoang hàm; 3.Vách ngăn; 4.Cuốn dưới 5.Lớp màng nhầy 6 Biểu mô hô hấp lông chuyển 7.Tế bào Becher 8 Tuyến nhầy NM
Trang 16•1.2.1.2 Các tế bào biểu mô
•Các tế bào biểu mô có chức năng bảo vệ đường hô hấp
trên và dưới trực tiếp nhờ hệ thống dẫn lưu nhầy – lông
chuyển do hoạt động của tế bào trụ có và không có lông
chuyển Tỷ lệ tế bào trụ trên tế bào đài vào khoảng 5/1 trên tế bào trụ có lông chuyển có nhiệm vụ cố định tế bào Nguyên sinh chất của tế bào này chứa nhiều ty thể để cung cấp năng lượng cho lông chuyển hoạt động Kích thước lông chuyển là 0,3 µm, đường kính 7 – 10 µm Mỗi tế bào chứa 100 lông
chuyển Một lông chuyển được cấu tạo bởi một vòng nhân, tạo bởi căp ống (Doublet microtubulets) xoay quanh hai ống đơn chính giữa, mỗi cặp ống có 2 cánh sợi nhỏ Tân số quét của
lông chuyển 1000 lần / phút Mỗi chu kì gồm 2 pha: nhanh về phía trước (pha hiệu quả) và pha quét châm về phía sau (pha hồi phục)
Tế bào đài hay tế bào tiết nhầy
Trang 17khoáng chất Mỗi ngày mũi tiết ra một lượng chất nhày khoảng
0,3ml Thành phần hữu cơ chủ yếu là mucin một glycopeptide tiết
ra từ tế bào đài Cũng như nước mắt thành phần điện giải của dịch nhày ưu trương so với huyết tương trong đó albumin là protein
chiếm tuyệt đối đại đa số Ngoài ra còn có IgA, lactoferrin,
lyzozyme và kallikrein được tổng hợp từ các niêm mạc đường hô hấp cũng có trong dịch tiết IgA được tiết ra buổi tối nhiều hơn ban ngày Những thành phần khác tiết ra từ niêm mạc bao gồm:
glycosaminoglycans, antioxidants và chất chống nhiễm khuẩn
Trang 18•1.2.1.4 Các tế bào miễn dịch ở lớp dưới niêm mạc
•Bề dày của lớp mô lympho dưới niêm mạc thay đổi tuỳ vị trí niêm mạc, lớp tế bào đặc biệt quan trọng tại mũi cuốn giữa
Lympho và tương bào hiện diện nhiều nhất Mô bào và tương bào cũng có thể được tìm thấytại đây Trong trường hợp thông thường không có neutrophils trong lớp dưới niêm mạc Tế bào lympho B thường ở dạng clone chưa trưởng thành tuyệt đối và
có trí nhớ miễn dịch, chuỗi J chỉ bị kích hoạt trong mô lympho trong niêm mạc rồi được di chuyển đến các mô bạch huyết qua bạch mạch máu nơi được biệt hoá thành các tế bào lympho
chuyên bài tiết kháng thể IgE đặc hiệu
Trang 19•1.3 CHỨC NĂNG SINH LÝ MŨI- CUỐN DƯỚI
•Do giải phẫu đại thể có những chức năng đặc hiệu, khi
phối hợp với nhau có tác dụng gia tăng khả năng bảo vệ đường
hô hấp dưới Điều hoà kích thước đường thở, lọc bụi, làm ẩm không khí và khứu giác
•1.3.1 Chức năng hô hấp: Theo thuyết tiến hoá và theo
phôi thai, mũi là một cơ quan hô hấp Độ thông thoáng của
mũi được khảo sát bằng nhiều phương pháp qua đó chúng ta biết được về sinh lý mũi
Trang 20Hình 1.7 Các chức năng sinh lý của mũi [2]
Tầng ngửi Da
Lọc Vận chuyển chất nhầy
Trang 21Vùng tiền đình
Vùng trở kháng cao
Vùng trở kháng thấp
Hình 1: Vùng có trở kháng cao trong hốc mũi,
Hình 2: Cắt ngang hốc mũi: A)Vale mũi; B) Đầu xương cuốn mũi dưới
Trang 22mũi Chu kỳ mũi rõ rệt trong tuổi dậy thì và giảm dần ở tuổi trưởng thành Chu kỳ mũi không ảnh hưởng bởi gây mê mũi, tê thanh
quản và thở miệng nhưng không còn nữa khi thanh quản đã bị cắt Chu kỳ mũi hình như chịu sự điều tiết bởi hệ thần kinh trung ương
và có thể các trung tâm thần kinh tự động ngoại vi, hạch bướm
khẩu cái và hạch sao.
Trang 23•1.3.4 Chức năng lọc bụi
•- Không khí mang một khối lượng vật lạ rất lớn
vào trong mũi, có thể dễ dàng tấn công vào phế nang
Để tránh sự tấn công này, chất nhầy tiết ra từ mũi thực hiện nhiệm vụ bắt giữ vật lạ đưa xuống họng nuốt
xuống dạ dày Năm 1953 Proezt cho rằng chức năng chủ yếu của mũi chính là chức năng lọc bụi Hiệu quả của chức năng này phụ thuộc vào kích thước của vật
lạ Trong động tác hô hấp bình thường, chỉ một vài hạt bụi có kích thước hơn 10 µ m có thể xâm nhập vào
đường hô hấp dưới sau khi qua lớp niêm mạc nhầy của mũi Những chất kích thích có đường kính khoảng
1 µ m khó bị bắt giữ bởi niêm mạc mũi
Trang 24•1.3.5 Chức năng điều hoà nhiệt độ không khí hít vào.
•Một chức năng quan trọng khác của mũi là điều hoà nhiệt độ không khí Năm 1956, Ingelstedt nghiên cứu sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm tương đối đã cho thấy hiệu quả của niêm mạc mũi đối với điều hoà
nhiệt độ của không khí hít vào Ở nhiệt độ môi trường
là 23độC và độ ẩm tương đối là 40% trong điều kiện bình thường, luồng không khí sẽ được làm ấm lên 30 độ C và độ ẩm tương đối là 98%.
•
Trang 25•1.3.6 chức năng khứu giác
•- Mầm của hệ thần kinh khứu giác xuất hiện vào tuần lễ thứ tư của thai kỳ Biểu mô khứu giác phủ trên xương cuốn trên và một phần vách ngăn Vùng niêm mạc khứu giác có màu vàng do phosphorlipid Lớp
biểu mô giả tầng chứa các tế bào khứu giác Tế bào
nâng đỡ, tế bào đáy, và các tuyến Bowman Những tế bào tiếp nhận khứu giác lưỡng cực đóng vai trò như một thụ thể ngoại vi và hạch đầu tiên (first order
ganglia) - Mất mùi là một trong những nguyên nhân làm bệnh nhân đến khám tại phòng khám Tai - Mũi - Họng
Trang 26•Tóm lại: Vẫn có thể sống không có mũi, nhưng
người bệnh sẽ bị ảnh hưởng nặng nề đến chức năng
của mũi Không có cơ quan nào có thể đảm nhiệm
nhiều chức năng như thế và cũng không có cơ quan
nào có thể bảo vệ đường hô hấp dưới hiệu quả đến
thế, trong đó CD đóng một vai trò rất quan trọng mà trước hết là bắt đầu từ chức năng thông khí Khi cuốn dưới bị phì đại gây ra nghẹt, tắc mũi sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chức năng và gây ra bệnh lý ở mũi.
Trang 27•1.4 SINH BỆNH HỌC VIÊM MŨI QUÁ PHÁT
•1.4.1 Định nghĩa: viêm mũi quá phát là viêm mũi mạn tính
gây ra phù nề, phì đại, thoái hóa tổ chức liên kết niêm mạc
mũi và các tổ chức hang trên cuốn mũi[6]
•1.4.2 Sinh lý bệnh viêm mũi quá phát
• Cuốn mũi có một cấu tạo rất đặc biệt Lớp ngoài là niêm mạc với tế bào trụ có lông chuyển Lớp giữa là tổ chức cương gồm những xoang mạch Những xoang mạch này có thể tích máu và làm cho cuốn mũi nở phình to ra và thu hẹp hốc mũi Lớp trong là xương mà người ta gọi là xương cuốn mũi
Xương này thường không tham gia quá trình viêm mà chủ yếu
là do niêm mạc và tổ chức đệm dưới niêm mạc [6]
Trang 28•1.4.3 Nguyên nhân viêm mũi quá phát và quá phát
•- Có rối loạn biến đổi về nội tiết
•- Các bệnh toàn thân: suy gan, rối loạn tiêu hóa
•- NARES (chronic nonallergic rhinitis with eosinophila syndrome) [12],[16],[21]
Trang 29Chương II
• LÂM SÀNG – CẬN LÂM SÀNG VIÊM MŨI QUÁ
PHÁT
•1.1 LÂM SÀNG VIÊM MŨI QUÁ PHÁT
•1.1.1.Triệu chứng cơ năng
•- Nghẹt mũi là triệu chứng chính, đầu tiên bệnh nhân bị
nghẹt vào ban đêm khi nằm, nằm nghiêng bên nào nghẹt bên
đó, Về sau nghẹt mũi liên tục kéo dài, thường hay khịt mũi và đằng hắng để khạc ra những cục nhầy khô quánh ở trong họng
- Đau đầu: nhức đầu giai đoạn có thể đau nhẹ thoáng qua, đau nhiều vào buổi sáng, giai đoạn sau có thể đau liên tục kèm
theo khó ngủ về ban đêm
•- Ù tai: thường là ù tai tiếng trầm, ù khi nghẹt mũi, do vòi nhĩ bị tắc
•- Rối loạn khứu giác: mất ngửi hoặc ngửi kém., về sau rối loạn, kéo dài có thể mất ngửi thường xuyên[6]
Trang 30•1.1.2 Triệu chứng thực thể:
•- Khám mũi trước:
•+ Trong giai đoạn đầu thấy niêm mạc đỏ nhẵn, cuốn mũi dưới phình to đến sát vách ngăn và che lấp phần sau của vách ngăn Tiết nhầy ứ đọng ở sàn mũi
• + Giai đoạn hai là lúc quá phát tổ chức liên kết, cuốn mũi không co lại nữa và khi đó phải dùng que trâm thăm dò vách ngăn để phát hiện lệch hình Niêm mạc không còn đỏ nữa mà lại xám nhạt và gồ ghề Vùng thường hay bị quá phát là bờ
dưới cuốn dưới
• Cuốn mũi giữa cũng có thể bị quá phát bệnh tích khu trú chủ yếu ở đầu cuốn mũi giữa Niêm mạc ở cuốn giữa có hình dáng khác: mọng nước, mềm che lấp nghách giữa và khe khứu giác Đôi khi cuốn giữa cũng bị quá phát và có những kén nhỏ trong xương đó là hiện tượng xoang hơi cuốn giữa
Trang 31•- khám mũi sau: sẽ thấy "đuôi vách ngăn" và đuôi cuốn
mũi dưới quá phát Đuôi cuốn mũi dưới quá phát thể hiện bằng khối u tròn, nhẵn, to bằng đầu ngón tay, nằm ở phần dưới và che lấp gần hết cửa mũi sau Nếu bệnh đã lâu ngày, khối u sẽ đổi dạng trở nên tím bầm và lổn nhổn như quả dâu tằm
•Trên nội soi ta thấy:
•+ Cuốn dưới quá phát có thể đầu cuốn, đuôi cuốn hoặc
toàn bộ cuốn, làm hẹp khe dưới và cuốn giữa quá phát làm hẹp khe giữa Đuôi cuốn dưới thoái hóa, phì đại làm hẹp cửa mũi sau
•+ Qua nội soi có thể thấy hình ảnh kèm theo: vẹo, dầy, gai vách ngăn và có điểm tiếp xúc cuốn giữa và cuốn dưới vào
vách ngăn (contact points) làm tắc khe giữa và khe trên, đây là nguyên nhân gây nhức đầu và làm mất khứu giác
•+ Có thể thấy cuốn giữa và cuốn dưới bên đối diện với bên vách ngăn vẹo bị quá phát [14],[20],
Trang 32
Hình 1.11 Hình nội soi quá phát cuốn mũi dưới hai bên
Trang 331.2 CẬN LÂM SÀNG VIÊM MŨI QUÁ PHÁT
•Khảo sát khách quan đường mũi (đo trở kháng mũi)
•Trở kháng mũi chiếm đến 30- 40% trở kháng của toàn bộ đường hô hấp
•Ngày nay, các phương pháp đánh giá khách quan nghẹt mũi bao gồm
•Peak nasal inspiratory flow (PNIF)
•Acoustic rhinometry (AR)
•Rhinomanometry (RM)
•Odiosofl Rhino (RO)
Trang 34•1.2.1.1 Peak Nasal Inspiratory flow
•PNIF là phương pháp đánh giá không xâm nhập, dễ thực hiện, và thường được sử dụng để đánh giá sự thông thoáng
đường mũi Đây là phương pháp đo lường sinh lý đo đạt mức
độ cao nhất không khí được thở ra trong mỗi phút khi bệnh
nhân gắng sức thở ra [36] Dù rằng sự thay đổi áp lực của mỗi bên mũi không được ghi nhận lại, PNIF được cho là có độ
nhạy cảm và tính biến đổi cao do sự cố gắng của đối tượng
được đo và sự hướng dẫn đúng của người thực hiện nghiên
cứu [32],[36] Nếu bệnh nhân gắng sức thì sẽ làm gia tăng tỉ lệ khí lưu thông qua mũi [36] Một điều cần lưu ý là PNIFs thiếu phương pháp đo lường để chỉ ra đâu là vị trí tắc nghẽn thật sự Hơn nữa, các bệnh phổi cũng ảnh hưởng đến kết quả đo lường PNIF do sự gắng sức thở ra
Trang 35Hình 1 Peak Nasal Inspiratory flow
Trang 36•1.2.1.2 Acoustic Rhinometry (AR)
•Năm 1989, Hilberg và cộng sự [33] là những người đầu tiên sử dụng kỹ thuật AR để đánh giá mặt cắt ngang mũi AR
là phương pháp đo đơn giản, không xâm nhập, và khá rẻ Đây
là phương pháp thường dùng nhất để đánh giá cấu trúc mũi
Thể tích mũi (nasal passage volume) cũng có thể tính toán
được dựa trên phương pháp này [37] Phương pháp đo này
thích hợp để đánh giá cấu trúc giải phẫu, tác động của thuốc,
và những thay đổi sau phẫu thuật mang lại bao gồm cả những thay đổi trên các thành phần mạch máu dưới niêm mạc tai vale mũi, thay đổi trên polyp mũi hoặc vẹo vách ngăn [32],[37],
[38]
•Về nguyên thủy, kỹ thuật AR được phát minh để dò các
mỏ dầu, tuy nhiên, kỹ thuật này không được áp dụng mãi cho đến năm 1970, và được dùng lần đầu tiên trong lĩnh vực y
khoa để thực hiện đo lường đường hô hấp [39]
Trang 37Hình 2: Đồ thị AR được đo trước (đường phía dưới) và sau (đường phía trên) khi dung thuốc co mạch Trục X đại diện cho khoảng cách từ cửa mũi và trục Y đại diện cho mặt phẳng cắt ngang (CSA) của mũi Ghi chú gia tăng CSA sau khi dung co mạch, phần lớn tại điểm b và c Điểm a đại diện cho MCA của vale mũi Điểm b đại diện cho CSA của đầu trước cuốn dưới và cuốn giữa, điểm c
Trang 38•AR được đánh giá tính hợp lý của nó so với các phương pháp đo lường giải phẫu khác, đồng thời cũng được một vài nhà nghiên cứu khác thừa nhận [37],[42]
•Tỉ lệ tương quan cao giữa CSA trên AR so với hình ảnh chụp MRI sau khi dung co mạch mũi [37],[43] và dùng CT để đánh giá độ chính xác sự đo lường CSA trên mũi [37] Với sự tiến bộ của kỹ thuật công nghệ, kỹ thuật dùng CT để đánh giá thể tích mũi (CT Volumetry) được cho là kỹ thuật hình ảnh tốt nhất để đánh giá khoang mũi và cấu trúc xoang kế cạnh qua
việc sủ dụng test ảo (phantom test) cho thấy chỉ có sai số 1% ở mỗi lát cắt so với toàn bộ thể tích thực Chính vì lý do đó,
Dastidar và cộng sự [37],[44] đã thực hiện nghiên cứu vào
năm 1999 để so sánh 48 hốc mũi bị nghẹt mũi bằng phương pháp AR/ CTV MCAs và mỗi thể tích được đo lường và so sánh với nhau
Trang 39Kết quả đo lường thể tích được ghi nhận là có sự tương quan mạnh mẽ với (p<.05) tại khoang mũi trước và giữa, nhưng
kém chính xác ở khoang mũi sau Các tác giả khác cũng cho rằng đo lường tại cửa mũi sau là không đáng tin cậy do sự thất thoát âm ở cửa mũi sau [45] Trong nghiên cứu so sánh AR và CTV, kết quả MCAs thật đáng ngạc nhiên là tương quan rất
kém giữa các phương pháp [37]
Hiện nay, gần 2 thập niên trở lại đây kể từ khi kỹ thuật AR này
ra đời, AR vẫn là kỹ thuật phổ biến được sử dụng để đánh giá khoang mũi trong nghiên cứu Kỹ thuật này cũng có vài ứng dụng trong lâm sàng, đặc biệt để đánh giá một cách khách
quan sự cải thiện sau mổ hoặc điều trị steroid đường mũi
Những khó khăn của việc sử dụng AR trong lâm sàng là kỹ
thuật cần phải tiếp tục đánh giá, sự chấp nhận tính hợp lệ, và tính không nhất quán giữa các nơi sử dụng [45]
Trang 40•1.2.1.3 Rhinomanometry (RM)
•RM là phương pháp đánh giá chức năng của đường thở liên
quan đến áp lực và lưu lượng khí trong mũi Từ những đánh giá
trên, chúng ta có thể thu được áp lực trung bình (mean pressure), thể tích trung bình, công để thực hiện = áp lực x lưu lượng (work = pressure x flow), độ trở kháng (áp lực/lưu lượng = pressure/flow) của mỗi lần thở Độ trở kháng của mỗi bên mũi có thể so sánh với bên kia và với toàn bộ trở kháng mũi, cho phép nhà lâm sàng có thể xác định mũi bên nào khiến bệnh nhân than phiền nghẹt mũi nhất Kết quả đồ thị (plot), trục X đại diện cho sự khác biệt về áp lực và trục Y đại diện cho lưu lượng, đồ thị có hình dạng chữ S bẻ cong Phương pháp phổ biến nhất để báo cáo kết quả là lưu lượng khí thở vào Máy đo bao gồm bộ phận biến đổi áp lực (pressure transducer)
để đo lường áp lực cửa mũi sau, bộ phận đo tốc độ
(pneumotachometer) để đánh giá lưu lượng, một cái bịt mũi để
đánh giá áp lực mũi trước và lưu lượng, và một máy tính để chuyển đổi những kết quả đo lường thành tín hiệu kỹ thuật số.