Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH TÓM TẮT NỘI DUNG Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP đã chính thức được thông qua
Trang 1Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
TÓM TẮT NỘI DUNG
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã chính thức được thông qua từ ngày 05/10/2015, là hiệp định thương mại của thế
kỷ 21 với các cam kết hội nhập sâu rộng cùng nhiều nội dung chưa từng xuất hiện trong các hiệp định trước đó
TPP là một trong những hạt nhân quan trọng trong chiến lược phát triển, hội nhập của Việt Nam, đem đến cho nước ta cơ hội cải cách thể chế, thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Tuy nhiên song song với cơ hội, những thách thức đặt ra khi gia nhập TPP là vô cùng lớn với tất cả các đối tượng: Chính phủ, Doanh nghiệp và Người dân Bên cạnh đó, hiệp định TPP dự báo cũng tác động mạnh tới nhiều ngành nghề kinh tế của Việt Nam Với tầm quan trọng đặc biệt của TPP, trong báo cáo về hiệp định này, LienVietPostBank Research sẽ cung cấp các thông tin tổng quan, cùng với đó là những đánh giá chuyên sâu về tác động của hiệp định tới kinh tế vĩ
mô nói chung và các ngành kinh tế (bao gồm ngành Ngân hàng, Bất động sản, Xây dựng, Tiêu dùng, Nông nghiệp & Thủy sản, Dệt may & Da giày và Vận tải kho bãi), từ
đó đưa ra những khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành Ngân hàng
Lập Báo cáo:
Lê Thị Xuân / Chuyên viên
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email: xuanlt@lienvietpostbank.com.vn
Vũ Nguyễn Tuấn Anh / Chuyên viên
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email: anhvnt@lienvietpostbank.com.vn
Kiểm soát:
Nguyễn Ngọc Duẩn / Phó Trưởng phòng
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email: duannn@lienvietpostbank.com.vn
Phê duyệt:
Phạm Hải Âu / Phó TGĐ-Giám đốc
Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro
Email: auph@lienvietpostbank.com.vn
Nội dung trọng tâm:
1 Tổng quan về Hiệp định TPP
2 Tác động của Hiệp định tới các yếu tố vĩ mô
của nền kinh tế và ngành Ngân hàng
3 Tác động của Hiệp định tới các ngành kinh
tế của Việt Nam và khuyến nghị cấp tín
dụng đối với ngành Ngân hàng
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP VÀ KHUYẾN NGHỊ CẤP
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÀNH NGÂN HÀNG
Trang 2Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
2
I Tổng quan về Hiệp định đối
tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (TPP)
1 TPP - Khái niệm
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (TPP - Trans-Pacific Strategic
Eco-nomic Partnership Agreement) là một hiệp
định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12
quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 12
thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei,
Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand,
Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và
Nhật Bản
2 TPP - Quá trình đàm phán
Chương I - Tổng quan về TPP
Trang 3Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
3 TPP - Những chuẩn mực của thế kỷ 21
Tiếp cận thị trường toàn diện và công bằng
TPP đưa ra chính sách miễn - giảm các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan với hầu hết
các loại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, tạo ra
cơ hội và những lợi ích mới cho kinh doanh,
người lao động cũng như người tiêu dùng
Theo đó, tại Phụ lục của Chương 2 -
Nguyên tắc đối xử quốc gia và việc tiếp cận
thị trường hàng hóa, các nước đã cam kết
xóa bỏ phần lớn dòng thuế ngay trong năm
đầu hiệu lực, một số có lộ trình dài từ 4 - 17
năm, dành cho Việt Nam
TPP bao gồm các yếu tố mới nhằm đảm bảo
các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển
và các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô có
thể được hưởng lợi từ thương mại Nó bao
gồm các cam kết để giúp doanh nghiệp nhỏ
và vừa hiểu Hiệp định, tận dụng cơ hội của
nó và mang lại những thách thức riêng của
họ với sự quan tâm của các chính phủ TPP
còn bao gồm các cam kết cụ thể về phát
triển và xây dựng năng lực thương mại, để
đảm bảo rằng tất cả các bên có khả năng đáp
ứng các cam kết trong Hiệp định và tận
dụng đầy đủ các lợi ích của nó
Đưa ra cam kết mang tính khu vực
TPP tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất,
chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả và hỗ trợ
mục tiêu của việc tạo ra và hỗ trợ việc làm,
nâng cao đời sống Hiệp định cũng tăng
cường năng lực giám sát, tạo điều kiện hội
nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị
trường trong nước
Ví dụ, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang Chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật
lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP Tòa án đặc biệt này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công ty quốc tế
Giải quyết những thách thức mới một cách toàn diện
Khác với các vòng đàm phán trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đàm phán Hiệp định TPP có phạm vi rộng hơn nhiều Nếu như WTO chỉ đàm phán về thị trường hàng hoá, dịch vụ, một số vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ thì TPP khuyến khích đổi mới, hiệu quả và cạnh tranh bằng cách giải quyết những vấn đề mới một cách toàn diện hơn Những vấn đề này bao gồm: phát triển kinh tế điện tử (Chương 14), vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu (Chương 17), chất lượng sản phẩm và lao động (Chương 19)…
Minh bạch hóa thông tin
Nguyên tắc minh bạch được đặt ra ở hầu hết các chương đàm phán trong hiệp định TPP
và cũng đứng riêng thành 1 chương (Minh bạch hóa và chống tham nhũng), giúp các thành viên giám sát và đẩy nhanh tiến trình hội nhập Điển hình như trong vấn đề hải quan
Chương I - Tổng quan về TPP Chương I - Tổng quan về TPP Chương I - Tổng quan về TPP
Trang 4Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
4
quan, các nước đã nhất trí minh bạch hóa
các quy tắc, thủ tục hải quan và bảo đảm
tính chính trực trong việc quản lý hải quan
Hay trong vấn đề về mua sắm công, các
thành viên đồng ý công bố các thông tin liên
quan kịp thời, sử dụng các mô tả kĩ thuật
khách quan, giúp việc nộp và đối xử với các
nhà thầu một cách công bằng, bình đẳng…
Nền tảng cho hội nhập khu vực
TPP được kỳ vọng tạo ra một nền tảng cho
hội nhập kinh tế khu vực và có thể cho phép
các nền kinh tế khác trong khu vực châu
Á-Thái Bình Dương tham gia Cho đến nay,
Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica,
Indone-sia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác
đang có ý định tham gia vào TPP
Chương 9: Đầu tư Chương 10: Thương mại dịch vụ xuyên biên giới
Chương 11: Dịch vụ tài chính Chương 12: Nhập cảnh tạm thời cho doanh nhân
Chương 13: Viễn thông Chương 14: Thương mại điện tử Chương 15: Mua sắm công Chương 16: Chính sách cạnh tranh Chương 17: Các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị độc quyền
Chương 18: Sở hữu trí tuệ Chương 19: Lao động Chương 20: Vệ sinh môi trường Chương 21: Nâng cao năng lực và hợp tác Chương 22: Tạo thuận lợi trong kinh doanh
và năng lực cạnh tranh Chương 23: Phát triển Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 25: Sự đồng nhất về quy định Chương 26: Sự minh bạch và công tác chống tham nhũng
Chương 27: Các điều khoản về hành chính
và thể chế Chương 28: Giải quyết tranh chấp Chương 29: Trường hợp ngoại lệ Chương 30: Điều khoản thi hành
4 TPP - Các nội dung được đàm phán
Các chương về liên quan trực tiếp đến xuất
nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Chương 2: Nguyên tắc đối xử quốc gia và
việc tiếp cận thị trường hàng hóa
Chương 4: Dệt may
Chương 5: Quản lý Hải quan và thuận lợi
hóa thương mại
Chương 6: Biện pháp phòng vệ thương mại
Chương 8: Rào cản kỹ thuật đối với thương
mại
Các chương liên quan đến các chuẩn mực,
tiêu chuẩn và luật lệ chung
Chương 1: Quy định chung và các định
Trang 5Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000
hành
Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2014, giá trị
GDP theo giá hiện hành của 12 nước thành
viên TPP ước đạt 28.031 tỷ USD, chiếm
36,3% GDP toàn cầu GDP của các nước
tham gia không cân đối khi GDP của Hoa
Kỳ và Nhật Bản chiếm tỷ trọng tới 78,6%,
GDP của các nước khác khá nhỏ, dao động
từ 0,1-6,4% Việt Nam có GDP đạt 186 tỷ
USD, đứng thứ 11, chỉ cao hơn Brunei
Năm 2014, giá trị thương mại xuất nhập
khẩu của khối TPP đạt 11.646 tỷ USD,
chiếm 25,1% tổng thương mại toàn cầu Với
giá trị thương mại đạt 316 tỷ USD, Việt
Nam vượt lên, đứng thứ 8 trong các nước
thành viên Đến nay, Việt Nam đã ký kết
FTA với Brunei, Singapore, Malaysia
(AFTA); với Australia, New Zealand
(ASEAN-Australlia và New Zealand-
AAN-ZFTA); với Nhật Bản (VJEPA); với Chile
(VCFTA); hiện đang đàm phán FTA với
Peru Sự cắt giảm thuế quan của các hiệp
định này tuy không rộng và sâu như TPP
nhưng về cơ bản các loại thuế xuất nhập
khẩu đều đã ở mức khá thấp so với thuế Tối
huệ quốc (MFN) Việt Nam cam kết khi gia
nhập WTO Do đó, tác động của TPP về mở Biểu đồ 2: Giá trị và tỷ trọng thương mại theo giá hiện
hành của 12 nước thành viên TPP (Nguồn: Worldbank)
cửa thị trường giữa Việt Nam và các nước này là không đáng kể Giá trị gia tăng cao nhất Việt Nam có thể khai thác là từ 3 đối tác còn lại gồm Hoa Kỳ, Canada và Mexico
Chương I - Tổng quan về TPP Chương I - Tổng quan về TPP Chương I - Tổng quan về TPP
Trang 6Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
Cải cách thể chế, môi trường kinh doanh,
cơ cấu lại nền kinh tế
Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu
2015-2016 của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF), Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia
có năng lực cạnh tranh thấp nhất trong TPP,
với các yếu tố đang còn ở mức thấp như
Trình độ công nghệ; Giáo dục và đào tạo;
Cơ sở hạ tầng và Thị trường tài chính Các
vấn đề trên đều được đề cập tới trong hiệp
định TPP, đặc biệt trong chương Phát triển
và chương về Dịch vụ tài chính
Vì vậy, TPP sẽ tạo cơ hội, động lực để Việt
Nam thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện
các quy định pháp lý, cải thiện môi trường
5,68 5,61 5,47 5,31 5,25 5,23 5,15 4,58
4,3 4,29 4,21
Tạo thêm việc làm cũng như cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại
Dự báo kinh tế Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài, tạo nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước có cơ hội học hỏi chính sách quản lý hiệu quả và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh
Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
Trang 7Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
Biểu đồ 4: Cơ cấu thị trường xuất - nhập khẩu từ TPP và các nước khác (Nguồn: TCHQ) Thúc đẩy và cơ cấu lại cán cân thương mại
quốc tế
Một trong những mục tiêu lớn nhất khi gia
nhập TPP của Việt Nam là tăng cường lợi
thế xuất khẩu sang các nước thành viên TPP
khi các quốc gia này miễn giảm thuế cho
hàng hoá Việt Nam Hàng rào thuế quan và
hạn ngạch được dỡ bỏ là cơ hội để hàng hoá
xuất khẩu mở rộng và thâm nhập sâu vào
các thị trường trong khối TPP, đặc biệt là
các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Úc,
Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu sang khối
TPP đạt 58,4 tỷ USD, chiếm gần 40% tổng
kim ngạch xuất khẩu, việc ký kết hiệp định
sẽ là bước ngoặt để Việt Nam mở rộng xuất
khẩu tại các thị trường lớn này
Về nhập khẩu, các doanh nghiệp có thể tận
dụng nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước
TPP với chi phí thấp giúp giảm chi phí sản
xuất, tăng khả năng cạnh tranh về giá của
hàng hoá Việt Nam khi tiếp cận thị trường
các nước đối tác, đặc biệt khi phải cạnh
tranh với hàng hoá của Trung Quốc, Ấn Độ,
Peru Xuất khẩu sang các nước
4,3%
8,7%
1,4% 0,3% 0,2%
4,6%
0,3% 0,1% 0,2% 2,8%
Peru Nhập khẩu từ các nước
Thái Lan Năm 2014, quy mô nhập khẩu từ các nước TPP đạt 34 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Với trên 65% số dòng thuế được xoá bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực và gần 98% số dòng thuế sau 10 năm, đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cắt giảm chi phí đầu vào
TPP cũng là cơ hội để Việt Nam cơ cấu lại nền kinh tế, cân bằng quan hệ thương mại với các thị trường trọng điểm Hiện nay, khu vực Đông Á, bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào kinh tế Trung Quốc Việc tham gia TPP có thể giúp Việt Nam khắc phục tình trạng mất cân đối và đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại, dịch vụ với các quốc gia TPP
Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
Trang 8Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
Mexico Singapore Canada Brunei
Chi lê Malaysia Peru Các nước khác
4%
15%
1% 0%
Đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam
Do FDI đóng vai trò trụ cột trong nền kinh
tế, những năm gần đây Việt Nam đã có
nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh, trong đó nổi bật là Luật đầu tư
năm 2014 nhằm đơn giản hoá thủ tục đầu tư
và tạo môi trường bình đẳng hơn cho các
thành phần kinh tế Với tác động từ TPP,
dòng vốn đầu tư dự báo tiếp tục tăng mạnh
vào Việt Nam như đã xảy ra trong giai đoạn
đầu khi mới gia nhập WTO Nhật Bản,
Sin-gapore, Malaysia, Mỹ - các quốc gia thuộc
TPP - đều là các nhà đầu tư hàng đầu hiện
nay tại Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc
các nước này sẽ tiếp tục đầu tư vốn vào Việt
Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ, chi
phí thấp
Bên cạnh đó, dòng vốn FDI dự kiến sẽ tiếp
tục tăng từ các quốc gia thành viên TPP
khác và các quốc gia tuy không thuộc TPP
nhưng có mục đích đầu tư vào Việt Nam để
được hưởng các ưu đãi thứ cấp (như Hàn
Quốc, Trung Quốc vào lĩnh vực dệt may
trong những tháng đầu năm 2015) Năm
2014, thu hút vốn FDI vào Việt Nam đạt
15,5 tỷ USD, trong đó, từ các nước TPP đạt
6,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng gần 30% Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến năm 2014, tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam đạt 252 tỷ USD, trong đó, từ các nước TPP đạt 100 tỷ USD, chiếm 40%
Đối với nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII), dòng vốn này dự báo có xu hướng tăng chậm hơn so với giai đoạn 2007 khi mới gia nhập WTO, do khả năng Fed tăng lãi suất khiến dòng vốn có khả năng đi ra khỏi các thị trường mới nổi trong đó có Việt Nam Tuy nhiên với các cam kết hội nhập, trong
đó có quy định nới room cho các nhà đầu tư ngoại, TPP vẫn là một nhân tố tích cực để thu hút thêm dòng vốn vào thị trường
Thách thức
Đối với người dân
Một bộ phận người lao động có thể phải chịu rủi ro mất việc làm do hàng hóa sản xuất trong nước không có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, dẫn đến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất thậm chí giải thể, phá sản
Bên cạnh đó, tham gia TPP sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn
Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
Trang 9Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
tới thành phố và các khu công nghiệp Sức
ép về việc làm ở các khu đô thị sẽ tăng lên
gây mất cân bằng giữa cung và cầu lao động
dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ tăng
cao
Hơn nữa, nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ
và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn kỹ
thuật thấp cũng có thể bị đào thải bởi đội
ngũ lao động nước ngoài giàu kinh nghiệm
Đối với Doanh nghiệp trong nước
Đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước,
nội dung của TPP bao gồm cả hạn chế vai
trò của khu vực này khi quy định các doanh
nghiệp phải hoạt động dựa theo các nguyên
tắc thị trường và phải công khai minh bạch
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước vẫn chiếm
tỷ trọng lớn và nhận được nhiều ưu đãi tại
Việt Nam trong khi hoạt động không thực
sự hiệu quả Các tiêu chuẩn cao của TPP
buộc khu vực này phải đẩy mạnh cải cách,
tuy nhiên quá trình tái cơ cấu đang diễn ra
khá chậm
Việc cắt giảm thuế quan dẫn đến gia tăng
hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt
Nam với giá cả cạnh tranh, gây áp lực lớn
tới hàng hoá trong nước, nhất là nhóm hàng
được sản xuất bởi đối tượng dễ bị tổn
thương khi hội nhập như nông nghiệp, dẫn
tới thị trường hàng hoá, dịch vụ nội địa bị
các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập và
chiếm lĩnh
Ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, số
lượng các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi
giá trị toàn cầu còn thấp, rất ít doanh nghiệp
được lựa chọn làm đối tác gia công cho các
doanh nghiệp FDI Với yêu cầu cao về xuất
xứ hàng hoá trong TPP, khi công nghiệp phụ trợ kém phát triển, các ngành thế mạnh trong xuất khẩu như dệt may, giày dép, điện tử, sẽ gặp nhiều khó khăn khi khai thác các ưu đãi từ TPP
Các yêu cầu cao về môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ và các ràng buộc trong các quy định liên quan đến xuất xứ hàng hoá, rào cản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ, gia tăng áp lực
và làm phát sinh thêm chi phí hoạt động cho các doanh nghiệp Việt Nam Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với nhiều vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp khi xuất khẩu vào các nước TPP khi các nước này sử dụng các rào cản để bảo hộ sản xuất trong nước
Đối với Chính phủ
Dự báo dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ chảy vào Việt Nam với quy mô lớn khi TPP có hiệu lực, nếu Chính phủ không có các giải pháp điều tiết hợp lý sẽ tiềm ẩn rủi ro mất cân đối vĩ mô (Trong giai đoạn 2006-2011 mức tăng lạm phát thường xuyên ở mức trên
2 con số do sự bùng phát dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO vượt quá năng lực hấp thụ của nền kinh tế, cùng với điều hành kinh tế vĩ mô không được điều chỉnh phù hợp để xử lý các bất ổn)
Về ngân sách, nguồn thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu giảm do thuế suất nhiều mặt hàng giảm về mức 0% Mặc dù tỷ trọng ngày càng giảm nhưng nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu hiện nay vẫn chiếm từ 18-20% tổng nguồn thu ngân sách Trong bối cảnh thâm hụt ngân sách kéo dài dẫn tới nợ công gia tăng, việc nguồn thu từ xuất nhập
Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
Trang 10Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
10
khẩu giảm sẽ ảnh hưởng tới việc cân đối
ngân sách của Chính phủ trong những năm
tới Bên cạnh đó, theo quy định của TPP,
Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị kiện ra
Cơ quan giải quyết tranh chấp của TPP nếu
có những chính sách ưu đãi với các doanh
nghiệp trong nước hoặc đưa ra các luật định
đi ngược với những cam kết tại các chương
trong Hiệp định
Đối với lĩnh vực mua sắm công, đây là lĩnh
vực hoàn toàn mới chỉ quy định trong TPP,
các doanh nghiệp nước ngoài có thể chiếm
lĩnh lĩnh vực này đặc biệt trong các vụ đấu
thầu lớn, trong khi đó khả năng Việt Nam
tiếp cận được với thị trường mua sắm công
của các đối tác TPP là rất khó do hạn chế về
năng lực cạnh tranh
Như vậy, với các rủi ro như trên, khi Việt
Nam tham gia vào TPP đòi hỏi Chính phủ
phải đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là đổi mới
tư duy trong hoạch định chính sách theo
nguyên tắc của kinh tế thị trường, tăng
cường cơ cấu lại và nâng cao năng lực cạnh
tranh cho nền kinh tế
2 Tác động tới ngành ngân hàng
Cơ hội
Thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng
Tham gia TPP thúc đẩy nền kinh tế phát
triển, tạo điều kiện để ngành thương mại,
dịch vụ Việt Nam tăng trưởng mạnh mở ra
cơ hội cho các ngân hàng tài trợ vốn cho các
doanh nghiệp Các dòng vốn đầu tư quốc tế
vào Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong
những năm tới, hỗ trợ quá trình tái cơ cấu
cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Nếu
dòng vốn này chảy vào lĩnh vực bất động
sản là điều kiện thuận lợi để cải thiện tình
trạng nợ xấu của ngành ngân hàng do phần lớn tài sản đảm bảo của các khoản vay hiện nay đều là bất động sản
Nâng cao năng lực cạnh tranh
Gia nhập TPP làm áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng, đây là động lực
để các ngân hàng trong nước có sự chuyển mình mạnh mẽ Thúc đẩy các ngân hàng tích cực cạnh tranh để tồn tại và phát triển không chỉ ở trong nước mà còn mở rộng
hoạt động sang các nước TPP
Khi rào cản tiếp cận thị trường bị xoá bỏ, sự tham gia ngày càng sâu rộng của các ngân hàng lớn từ các nền kinh tế phát triển trong TPP sẽ làm phong phú các sản phẩm tài chính hiện đại, tạo kênh cung ứng vốn, kênh dịch vụ đa dạng, tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước tiếp cận thị trường tài chính quốc tế ở mức cao hơn Hơn nữa, cũng tăng khả năng huy động vốn quốc tế của các ngân hàng nội địa
Cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng
Hiệp định TPP có nhiều cam kết về hạn chế vai trò của khu vực doanh nghiệp Nhà nước Như vậy đối với lĩnh vực ngân hàng, sẽ không có sự phân biệt đối xử giữa các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước với các ngân hàng nội khác và các ngân hàng nước ngoài Nếu Chính phủ có những hành động phân biệt đối xử thì những ngân hàng này có quyền kiện Chính phủ Việt Nam ra các tòa
trọng tài quốc tế
Thách thức
Gia tăng rủi ro khi hội nhập
Hội nhập quốc tế có thể làm gia tăng rủi ro
và tính nhạy cảm của thị trường tài chính
Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam
Trang 11Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH
trong nước đối với các biến động trên thị
trường thế giới Trong bối cảnh năng lực
quản trị điều hành, quản lý rủi ro của ngân
hàng trong nước còn yếu, việc mở cửa thị
trường tài chính khiến các ngân hàng đối
mặt với nhiều rủi ro từ sự lan truyền của các
cú sốc, khủng hoảng tài chính khu vực và
thế giới
Việc gia nhập TPP giúp dòng vốn từ thị
trường nước ngoài chảy mạnh vào Việt
Nam, tuy nhiên nếu tiếp diễn tình trạng
“bong bóng” thị trường chứng khoán và bất
động sản như đã từng xảy ra trong giai đoạn
2007-2011 sẽ khiến các ngân hàng tiếp tục
rơi vào tình trạng khủng hoảng
Mặt khác, thị trường vốn tại Việt Nam chưa
thực sự phát triển, gánh nặng cung ứng vốn
vẫn phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng Nếu
các doanh nghiệp trong nước chịu sức ép hội
nhập và giảm khả năng cạnh tranh sẽ ảnh
hưởng tiêu cực tới các ngân hàng
Cạnh tranh khốc liệt hơn với các ĐCTC
nước ngoài khi không cần lập chi nhánh
TPP cho phép các định chế tài chính nước
ngoài (thuộc các nước thành viên TPP) cung
cấp dịch vụ tài chính ngân hàng cho các
khách hàng tại Việt Nam mà không cần phải
thành lập chi nhánh tại Việt Nam Như vậy,
một trong những lợi thế so sánh quan trọng
của ngân hàng nội so với các ngân hàng
ngoại là hệ thống mạng lưới rộng khắp có
thể không còn phát huy nhiều tác dụng,
trong khi các yếu tố về trình độ quản lý điều
hành, cung ứng sản phẩm dịch vụ hiện đại
vẫn đang là điểm yếu của các ngân hàng
Việt Nam
Áp lực cạnh tranh của các ngân hàng nội
không chỉ đến từ sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng ngoại Lĩnh vực tín dụng, vốn là thế mạnh của các ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên các ngân hàng nội hiện nay rất thiếu nguồn vốn trung dài hạn Với TPP, các định chế tài chính nước ngoài với nguồn vốn trung dài hạn dồi dào và chi phí thấp có nhiều thuận lợi để chiếm lĩnh thị trường
III Tác động của Hiệp định đến các ngành kinh tế của Việt Nam
1 Ngành Bất động sản (BĐS)
Cơ hội
Ngành BĐS được kỳ vọng sẽ có cơ hội phát triển tích cực ở nhiều phân khúc nhờ tăng hoạt động đầu tư cũng như mở rộng giao thương tại Việt Nam
Ở phân khúc BĐS công nghiệp, các nước thành viên TPP sẽ thúc đẩy đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất các mặt hàng đang có nhu cầu nhập khẩu lớn từ Việt Nam như: hàng dệt may; giày dép; điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính; gỗ và sản phẩm gỗ; máy móc thiết bị; dầu thô; phương tiện vận tải và phụ tùng; hàng thủy sản; túi xách, ví; hạt điều
Đây là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh và dự báo cũng sẽ là những mặt hàng đầu tiên các nước này tham gia xây dựng nhà máy, dịch vụ gia tăng để trực tiếp cung cấp sang thị trường nước này Hơn nữa, các nước ngoài hiệp định TPP như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ… cũng sẽ ưu tiên đầu tư tại Việt Nam nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng lợi ích
mà hiệp định TPP mang lại
Khi đó, BĐS công nghiệp, kho bãi sẽ là
Chương II - Tác động của hiệp định TPP đến Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam Chương II - Tác động của TPP đến các yếu tố vĩ mô của Việt Nam