1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại

22 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 915,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa với một số ngành chủ lực về kinh tế trong đó có ngành nông nghiệp. Mặc dù, nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng cho ngành công nghiệp. Số lượng các khu công nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng lên, chiếm dần diện tích đất nông nghiệp. Tuy diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp nhưng sản lượng nông nghiệp không ngừng gia tăng. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn sản lượng lúa niên vụ 20152016 đạt mức 44,94 triệu tấn, sản lượng cafe niên vụ 20152016 đạt 28,7 triệu bao, sản lượng ngô năm 2014 đạt 5,19 triệu tấn. (Nguồn: Cục xúc tiến thương mại, 2016) Cùng với việc gia tăng sản lượng nông nghiệp hàng năm, phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, vở lạc, phân gia súc...cũng theo đó mà tăng lên đáng kể. Một số nơi người nông dân sủa dụng phụ phẩm nông nghiệp làm chất đốt nhưng hiệu quả chưa cao, hoặc đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường sống nghiêm trọng, thậm chí một số nơi chúng không được sử dụng rất lãng phí. Cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp, quy mô sản xuất ngày càng lớn và tập trung, phụ phẫm nông nghiệp ngày càng nhiều, việc nghiên cứu sử dụng chúng phục vụ cho đời sống và công nghiệp càng trở nên cần thiết. Việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp qua thực hiện đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ môi trường, qua đó góp phần hướng tới một nền nông nghiệp xanh và bền vững. Trong khoảng hai thập kỷ qua, không chỉ các nước đang phát triển và tổ chức FAO (Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc) coi việc nghiên cứu chế biến và sử dụng nguồn phụ phẩm như một chiến lược quan trọng, mà ngay cả các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến như các nước Bắc Âu cũng hết sức quan tâm. Đối với Việt Nam, đây thức sự là một hướng đi mới và có triển vọng trong tương lai.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH SÁCH BẢNG ii

DANH SÁCH HÌNH iii

LỜI NÓI ĐẦU iv

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 1

1.1 Khái quát chung về phụ phẩm nông nghiệp 1

1.2 Thực trạng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp hiện nay 2

Chương 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÁI SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 4

2.1 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ vi sinh 4

2.2 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp trong việc tạo nguồn nhiên liệu sạch (Biogas – Ethanol) 6

2.2.1 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp tạo khí sinh học Biogas 6

2.2.2 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp vào sản xuất ethanol 7

2.3 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp vào sản xuất điện 8

2.4 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ 8

2.5 Ứng dụng sản xuất vật liệu xây dựng 10

2.6 Ứng dụng chế tạo tấm panel cách nhiệt 12

2.7 Một số ứng dụng khác 12

2.7.1 Sản xuất bột giấy 12

2.7.2 Ván ép 13

2.7.3 Keo dính 13

2.7.4 Khí hóa để sản xuất năng lượng 13

2.7.5 Chuyển hóa thành rỉ đường và protein men 14

2.7.6 Sản xuất than sạch 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

DANH SÁCH HÌN

Hình 1.1 Nấm trồng từ rơm 3

Hình 1.2 Cây bắp ủ chua 4

Y Hình 2.1 Phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp 6

Hình 2.2 Sản phẩm thủ công từ vỏ dừa 10

Hình 2.3 Thảm xơ dừa Bến Tre 10

Hình 2.4 Dép được đan từ rơm 10

Hình 2.5 Sản phẩm mỹ nghệ được làm từ vỏ trấu 11

Hình 2.6 Gạch không nung từ phụ phẩm nông nghiệp 11

Hình 2.7 Tấm panel cách nhiệt sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp 13

Hình 2.8 Than sạch từ phụ phẩm nông nghiệp 15

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa với một số ngànhchủ lực về kinh tế trong đó có ngành nông nghiệp Mặc dù, nhiều diện tích đất nôngnghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng cho ngành công nghiệp Số lượng các khucông nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng lên, chiếm dần diện tích đất nông nghiệp Tuynhiên sản lượng nông nghiệp không ngừng gia tăng Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn sản lượng lúa niên vụ 2015/2016 đạt mức 44,94 triệu tấn, sảnlượng cà phê niên vụ 2015/2016 đạt 28,7 triệu bao, sản lượng ngô năm 2014 đạt 5,19 triệutấn (Nguồn: Cục xúc tiến thương mại, 2016)

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnh sản phẩmchính còn có phụ phẩm Cùng với việc gia tăng sản lượng nông nghiệp hàng năm, phụphẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, vỏ lạc, cũng tăng lên đáng kể Một số nơi ngườinông dân sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm chất đốt nhưng hiệu quả chưa cao, đốt bỏgây ô nhiễm môi trường Việc nghiên cứu tái sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp đểphục vụ cho đời sống và công nghiệp càng trở nên cần thiết để bảo vệ môi trường, qua đógóp phần hướng tới một nền nông nghiệp xanh và bền vững Trong khoảng hai thập kỷqua, không chỉ các nước đang phát triển và tổ chức FAO (Tổ chức lương thực và nôngnghiệp Liên hợp quốc) coi việc nghiên cứu chế biến và sử dụng nguồn phụ phẩm như mộtchiến lược quan trọng, mà ngay cả các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến như các nướcBắc Âu cũng hết sức quan tâm Đối với Việt Nam, đây thực sự là một hướng đi mới và cótriển vọng trong tương lai

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về phụ phẩm nông nghiệp

Phụ phẩm nông nghiệp phát sinh trong quá trình trồng trọt, chế biến các loại câylương thực, cây ăn trái, hoa quả, thực phẩm

Theo dự báo của tổ chức Lương thực thế giới (FAO), sản lượng ngũ cốc thế giớinăm 2013 có thể đạt mức kỷ lục mới là 1259 triệu tấn, tăng 8,5% so với năm trước và caohơn mức 1167 triệu tấn năm 2011 (Nguồn: Hoàng Ngọc Thuận, Đặng Thanh Long, 2010 Sử dụng rơm rạ cây trồng vụ trước bón cho cây trồng vụ sau trên đất bạc màu Bắc Giang, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tập 8.)

Thành phần chủ yếu của phụ phẩm nông nghiệp là chất hữu cơ và nó là loại phế thảichiếm nhiều nhất trong các chất thải hữu cơ

Kết quả ước tính lượng phụ phẩm từ trồng trọt của Viện Môi trường Nông nghiệp đãcho thấy lượng phụ phẩm này là rất lớn, kết quả này được thể hiện ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam

Tên phụ

phẩm

Diện tích gieo trồng (triệu ha/ năm)

Khối lượng phụ phẩm (triệu tấn chất khô/ năm)

(Nguồn: Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, 2002 Số liệu thống kê 2001, NXB Thống kê)

Những phụ phẩm này thực sự là nguồn nguyên liệu phong phú, chúng có thể được

sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau và có thể tạo thêm giá trị kinh tế, đồng thời gópphần bảo vệ môi trường Tiềm năng sinh khối của một số phụ phẩm nông nghiệp ở nước

ta được trình bày ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Tiềm năng sinh khối của một số nguồn phụ phẩm nông nghiệp

Trang 6

Nguồn sinh khối nông nghiệp Tiềm năng (triệu tấn) Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết viện Môi trường Nông Nghiệp, 2014)

1.2 Thực trạng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp hiện nay

Với lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp, nếu không được xử lý sẽ là nguyên nhân gây

ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn hiện nay Trong khi có thể sử dụng nguồnphụ phẩm này cho sản xuất và đời sống nếu được tái chế sử dụng hợp lý (Minh Trí, 2015 Thu lợi từ tái chế phế, phụ phẩm nông nghiệp, http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1107/40560/thu-loi-tu-tai- che-phe-phu-pham-nong-nghiep, 20/9/2016)

Tại nhiều địa phương trong cả nước như xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng (NamÐịnh), xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh (Ninh Bình) nguồn phụ phẩm từ lúa gạo cụ thể

là rơm rạ đã được tận dụng để trồng nấm rơm

Việc trồng các loại nấm ăn được bằng các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ là mộtquá trình có giá trị gia tăng nhằm chuyển hóa loại nguyên liệu này từ chỗ được coi là phếthải thành thức ăn cho người Trồng nấm được coi là một trong những phương pháp sinhhọc tận dụng nguồn rơm rạ có hiệu quả nhất bởi nguồn đầu mẫu rơm rạ có thể dùng quayvòng lại được Sản lượng trồng nấm tại nước ta liên tục gia tăng trong những năm gầnđây Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc trồng nấm bằng rơm rạ kết hợp với hạt bôngmang lại hiệu quả chuyển hóa sinh học cao nhất, đạt 12,82% (được xác định bằng tỷ lệphần trăm chuyển hóa chất nền thành thân cây nấm trên cơ sở trọng lượng khô) Trồngnấm là một trong những phương pháp thay thế để giảm nhẹ các vấn đề ô nhiễm môitrường liên quan đến các phương pháp xử lý hiện nay như đốt ngoài trời Trồng nấm trênnền rơm rạ còn mang lại những biện pháp khuyến khích kinh tế đối với nghề nông, coinguồn phụ phẩm như một nguồn nguyên liệu có giá trị và có thể phát triển các cơ sở kinhdoanh sử dụng chúng để sản xuất các loại nấm giàu chất dinh dưỡng Với hiệu suấtchuyển hóa sinh học 10% và 90% hàm lượng ẩm ở nấm tươi, một tấn rơm rạ khô có thểcho sản lượng khoảng 1000 kg nấm sò Vì vậy việc trồng nấm có thể trở thành một nghềnông mang lại lợi nhuận cao, có thể tạo ra thực phẩm từ rơm rạ và giúp tái sử dụng loạiphụ phẩm này theo cách thân thiện môi trường

Trang 7

Hình 1.1 Nấm trồng từ rơm

Công việc trồng nấm không quá phức tạp và nặng nhọc Cây nấm phát triển khôngđòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt Nguyên liệu trồng nấm là các phụ phẩm từ nông nghiệp cósẵn như rơm, rạ, bông phế liệu, mùn cưa, lõi ngô, lục bình, bã mía…Vì vậy, hầu hết các

hộ nông dân đều có khả năng tham gia trồng nấm được

Nếu mức đầu tư ban đầu là 1 tấn rơm nguyên liệu không quá 5 triệu đồng thì sau haitháng, người trồng nấm có thể thu hái được 600kg nấm sò (nấm bào ngư) Với mức giábán khoảng 30000 ÷ 40000/kg (giá bán thực tế tại địa phương) thì một tấn rơm nguyênliệu có thể thu lãi gần từ 15 ÷ 20 triệu đồng Đối với những hộ gia đình làm nông nghiệp,nguồn nguyên liệu có sẵn, nếu biết tận dụng thì nguồn thu từ cây nấm khá cao

Ngoài ra, phụ phẩm nông nghiệp có thể được sử dụng như một thành phần thức ănthô nuôi gia súc để đảm bảo một lượng năng lượng trong thời gian ngắn Đặc biệt khiđược ủ chua sẽ tạo nên nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, dự trữ vào mùa đông thiếu thức

ăn xanh Phương pháp này xuất hiện từ rất lâu và được áp dụng phổ biến ở miền bắc nướcta

Các phụ phẩm nông nghiệp thường được sử dụng là rơm rạ, thân cây lạc, ngọn lásắn, bã mía, thân lá ngô…

Ủ chua là biện pháp bảo quản, dự trữ thức ăn thô xanh thông qua quá trình lên menyếm khí Nhờ hệ vi sinh vật lên men, tạo ra acid lactic và một lượng nhất định các acidhữu cơ khác Qua quá trình ủ chua hàm lượng độc tố có trong một số phụ phẩm sẽ giảmđáng kể như HCN có trong lá sắn sẽ bị giảm đi chỉ còn 32 ÷ 34 mg/kg (theo tiêu chuẩnquốc tế giới hạn cho phép không được quá 57 mg/kg) Do vậy khi cho gia súc ăn rất antoàn

Trang 8

Hình 1.2 Cây bắp ủ chua

Tuy nhiên, các phụ phẩm nông nghiệp thường cồng kềnh, ít giá trị dinh dưỡng trựctiếp hơn chính phẩm và do đó giá trị kinh tế hiện tại cũng thường thấp hơn Muốn sử dụngchúng cần thêm phí vận chuyển và các biện pháp kỹ thuật khác Việc cân nhắc chi phí vàlợi ích là rất cần thiết; đôi khi nhờ chế biến mà lợi nhuận thu được từ phụ phẩm lại nhiềuhơn chính phẩm Sự phát triển của xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ có thể giúp conngười sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm nông nghiệp và qua đó làm thay đổi cách nhìnnhận về sản phẩm nông nghiệp

Tuy nhiên, việc tận dụng và tái chế cũng có khá nhiều hạn chế Nguồn phụ phẩm táichế chủ yếu tập trung ở nông thôn, nơi trực tiếp sản xuất ra những phụ phẩm này trongkhi đó nguồn thu mua chủ yếu chủ yếu tập trung ở khu công nghiệp, thành phố hay khuđông dân cư Đặc thù của sản xuất nông nghiệp ở nước ta mang tính nhỏ lẻ, phân tán nênviệc thu gom, phân loại và tái chế còn nhiều khó khăn Các cơ sở sản xuất, chế biến chủyếu tập trung vào dây chuyền sản xuất, ít quan tâm tới các khâu khác Do đó, những cơ sởnày không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn gây ra tình trạng lãng phí Nhiều nơi còn

xử lý bằng biện pháp chôn lấp, đốt bỏ, đổ xuống ao hồ

Trong những năm qua, đã có nhiều nhà khoa học của các trường đại học, học việnnghiên cứu, trung tâm công nghệ sinh học và doanh nghiệp của nhiều bộ, ngành đã thamgia đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào việc tận dụng các phụ phẩmtrong quá trình sản xuất nông sản, thực phẩm để sản xuất phân hữu cơ vi sinh, vật liệu xâydựng, thức ăn chăn nuôi, khí đốt

Trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, việc thu gom, táichế sử dụng lại các nguyên liệu nói chung và phụ phẩm trong quá trình sản xuất, chế biếnnông sản, thực phẩm nói riêng là một biện pháp tiết kiệm hết sức cần thiết, nhất là khi tìnhhình kinh tế đang có nhiều khó khăn như hiện nay Quan trọng hơn khi các phụ phẩmđược tận dụng, tái chế sử dụng lại sẽ góp phần giảm lượng chất thải ra môi trường, làmtrong lành bầu không khí vốn đang bị đe dọa bởi quá dư thừa các chất độc hại

Trang 9

Chương 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÁI SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP

2.1 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ vi sinh

Khi được sử dụng là nguồn nguyên liệu sản xuất phân bón hữu cơ, phụ phẩm nôngnghiệp được phối trộn với một số nguyên liệu khác như phân chuồng, đạm, chế phẩm visinh vật Các phụ phẩm thường dùng là xác bã thực vật như rác rau xanh, thân cây lạc,rơm rạ, vỏ cà phê, thân cây ngô, bẹ ngô…

cơ bón cho cây trồng Dùng bón lót trước khi trồng cây, loại phân này giúp giảm từ

20 ÷ 30% lượng phân hóa học và làm tăng năng suất cây trồng từ 5 ÷ 7%

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc sử dụng phân hữu cơ từ phụ phẩm nôngnghiệp sẽ giúp hạn chế, phòng chống bệnh vàng lá, giúp lúa cứng cây, phát triển cân đối,

đẻ nhánh tập trung nên giảm được tỷ lệ sâu bệnh gây hại Bên cạnh đó, phân hữu cơ từphụ phẩm cũng mang lại kết quả cao trên các cây trồng khác như ngô, khoai, rau màu….Ngoài việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, làm thành phân bón hữu cơ còn

có ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo vệ môi trường do việc đốt đồng Đây là điều kiện đểxây dựng nền sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững

Hình 2.1 Phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp

Trang 10

Hiện nay tại nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ứng dụng công nghệ vi sinh phân hủyphụ phẩm để làm phân bón Chẳng hạn, tại tỉnh Quảng Nam, người dân đã ứng dụng côngnghệ vi sinh phân hủy phụ phẩm để làm phân bón ở Hội An Kết quả sử dụng phân hữu

cơ vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp đã cho thấy cây phát triển tốt hơn so với mẫu đốichứng về mật độ gieo trồng, bộ lá xanh, mượt, cây cao, chắc khoẻ và đặc biệt là đã hạnchế được nấm bệnh cho cây trồng

Tại Hải Dương, huyện Bình Giang đã kết hợp với công ty cổ phần công nghệ sinhhọc Fitohoocmon và Công ty TNHH NAB đã thử nghiệm thành công mô hình xử lý rơm

rạ ủ làm phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất lúa gạo an toàn tại xã Nhân Quyền và

xã Thái Hòa, huyện Bình Giang với 280 tấn rơm rạ xử lý Huyện Bình Giang là huyệntrong điểm sản xuất lúa của tỉnh Hải Dương với diện tích gieo cấy là 12600 ha/năm lượngrơm rạ sau khi thu hoạch là rất lớn Nếu dùng men vi sinh tạo ra nguồn phân ủ thì giảmđược một lượng chi phí lớn đầu vào cho nông dân và cải tạo đất giảm thiểu ô nhiễm môitrường Đồng thời tạo ra một sản phẩm nông nghiệp an toàn cho sức khỏe cộng đồng,hướng tới một thương hiệu gạo an toàn chất lượng Rơm rạ sau thu hoạch được các hộnông dân thu gom tập kết vào một địa điểm thuận lợi cho việc ủ hoặc thu gom về tại cácgia đình Việc dùng men vi sinh xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất lúagạo an toàn đã tận dụng toàn bộ lượng rơm rạ của nông nghiệp sau mỗi vụ thu hoạch lúacùng với chế phẩm sinh học tạo ra nguồn phân ủ bón lót cho cây trồng, cải tạo đất, đảmbảo năng suất cây trồng, tạo ra sản phẩm lúa an toàn ít tồn dư hoặc không còn tồn dư cáchóa chất độc hại trong sản phẩm lúa, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộngđồng

Hàng năm, nông dân đổ xuống đồng ruộng lượng lớn phân hoá học, thuốc bảo vệthực vật làm cho cấu trúc đất bị thay đổi Nếu cứ tiếp tục như vậy, đồng ruộng sẽ mất dần

độ phì nhiêu, môi trường ô nhiễm, sức khoẻ con người bị ảnh hưởng Do vậy, việc sửdụng rơm, rạ làm phân bón hữu cơ có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế, xã hội

2.2 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp trong việc tạo nguồn nhiên liệu sạch (Biogas – Ethanol)

2.2.1 Ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp tạo khí sinh học Biogas

Những phụ phẩm như phân động vật, xác động và thực vật thường bị thối rửa vàchuyển hóa thành các chất khác Quá trình này xảy ra do tác động của rất nhiều vi sinh vậtchủ yếu là vi khuẩn Quá trình phân hủy yếm khí thu được sản phẩm là hỗn hợp khí sinhhọc (Biogas) Thành phần chủ yếu của biogas là khí carbonic và metan có khả năng bốccháy Tiềm năng sinh năng lượng sinh học từ các phụ phẩm nông nghiệp được thể hiện ởbảng 2.1

Trang 11

Bảng 2.1 Tiềm năng sinh năng lượng sinh học của một số phụ phẩm nông nghiệp

(Nguồn: FAO statistical Database, 2000)

Nguyên liệu dùng để sản xuất khí sinh học (biogas) được chia thành hai loại: cónguồn gốc động vật và có nguồn gốc thực vật

- Nguyên liệu có nguồn gốc động vật thường là phân gia súc, gia cầm là phổ biến

Vì đã được xử lý trong bộ máy tiêu hóa nên phân dễ phân hủy và nhanh chóng cho khísinh học Tuy vậy, thời gian phân hủy của phân không dài (khoảng 2 ÷ 3 tháng) và tổnglượng khí thu được từ 1 kg phân cũng không lớn

- Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật bao gồm phụ phẩm cây trồng như rơm rạ, thân

lá ngô, khoai, đậu…Các nguyên liệu này có lớp vỏ cứng nên rất khó phân hủy Để choquá trình phân hủy xãy ra thuận lợi, những nguyên liệu thực vật cần được xử lý trước(chặt, băm nhỏ và ủ sơ bộ hiếu khí) để phá vỡ lớp vỏ cứng, tăng diện tích bề mặt tạo điềukiện thuận lợi cho vi khuẩn tấn công Quá trình phân hủy nguyên liệu thực vật dài hơn sovới nguyên liệu động vật (có thể tới hàng năm) Do vậy nguyên liệu thực vật nên được sửdụng theo cách nạp từng mẻ, mỗi mẻ kéo dài từ 3 ÷ 6 tháng

Đặc tính và sản lượng khí biogas có thể thu được của một số nguyên liệu thường gặpđược thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Đặc tính và sản lượng khí biogas có thể thu được của một số nguyên liệu thường gặp

Ngày đăng: 06/05/2017, 20:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Bảng 1.1 Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam (Trang 5)
Hình 1.1 Nấm trồng từ rơm - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 1.1 Nấm trồng từ rơm (Trang 7)
Hình 1.2 Cây bắp ủ chua - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 1.2 Cây bắp ủ chua (Trang 8)
Hình 2.1 Phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.1 Phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp (Trang 9)
Bảng 2.1 Tiềm năng sinh năng lượng sinh học của một số phụ phẩm nông nghiệp - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Bảng 2.1 Tiềm năng sinh năng lượng sinh học của một số phụ phẩm nông nghiệp (Trang 11)
Hình 2.2 Sản phẩm thủ công từ vỏ dừa - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.2 Sản phẩm thủ công từ vỏ dừa (Trang 14)
Hình 2.4 Dép được đan từ rơm - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.4 Dép được đan từ rơm (Trang 14)
Hình 2.3 Thảm xơ dừa Bến Tre - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.3 Thảm xơ dừa Bến Tre (Trang 14)
Hình 2.5 Sản phẩm mỹ nghệ được làm từ vỏ trấu - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.5 Sản phẩm mỹ nghệ được làm từ vỏ trấu (Trang 15)
Hình 2.6 Gạch không nung từ phụ phẩm nông nghiệp - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.6 Gạch không nung từ phụ phẩm nông nghiệp (Trang 15)
Hình 2.7 Tấm panel cách nhiệt sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.7 Tấm panel cách nhiệt sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp (Trang 17)
Hình 2.8 Than sạch từ phụ phẩm nông nghiệp - phụ phẩm nông nghiệp và giá trị kinh tế mang lại
Hình 2.8 Than sạch từ phụ phẩm nông nghiệp (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w