Nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của dế mèn than tại quảng bình. Vừa nắm rõ được các tập tính, đặc diểm sinh trưởng và chu kì sống của dế mèn. và nhân giống thành công dế mèn từ tự nhiên và xây dựng mô hình chuồng nuôi và phương pháp nuôi phù hợp với thời tiết khí hậu Quảng Bình. Nội dung nghiên cứu của bài báo cáo là nghiên cứu các đặc điểm nghiên cứu sinh thái sinh lý của . Và thử nghiệm ghép đôi để tìm ra tỉ lệ ghép phù hợp nhất. Và theo dõi các nhân tố môi trường có ảnh hưởng tới sinh trưởng của dế.
Trang 1MỞ ĐẦU
I LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Dế mèn đen (Gryllus assimilis) hay còn gọi là dế than, là loại côn trùng
nhỏ bé ăn thực vật dễ gặp trong tự nhiên, là con mồi của sinh vật khác nhưchim, gia cầm, các loại bò sát như rắn mối, tắc kè nên có thể được dùng trongchăn nuôi
Đối với con người thịt dế mèn là một loại thịt giàu protit, lipit, gluxit vàcác khoáng chất canxi, photpho, magiê, sắt các loại axitamin nhưng lại ít chấtbéo, giúp giảm lượng choletoron, nên có giá trị trong việc làm thực phẩm Đặcbiệt đối với trẻ em sẻ giúp phát triển tốt, tránh còi xương, bồi bổ cơ thể, Dếmèn ngâm rượu cũng là một bài thuốc dân gian giúp tăng cường sức khỏe chonam giới [2], [5], [14]
Thịt dế mèn còn được dùng làm vị thuốc trong Đông y vì có vị cay tínhbình, có tác dụng lợi tiểu , giảm mệt mỏi, kém ăn, giảm mỡ máu chứng nhiễmđộc nước tiểu, đại tiện khó, chữa sỏi thận, một số bệnh phù nề [14], [15]
Ở Việt Nam trong những năm gần việc nuôi và chế biến các loài côn trùnglàm thức ăn ngày càng phổ biến Đặc biệt là thịt dế mèn, đã được chế biến thànhcác món đặc sản Nhiều trang trại nuôi dế lớn đã ra đời mang lại hiệu quả kinh tếkhá cao Song khó khăn vẫn là người nông dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm,thiếu tài liệu khoa học
Ở Quảng Bình các mô hình nuôi và nhân giống dế mèn còn khá hạn chế.Mặc dù khí hậu khá thích hợp với việc nuôi dế Đa phần các trang trại với quy
mô nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm nuôi và chưa chủ động được nguồn con giốngnên không có tính ổn định, chỉ nuôi theo thời vụ Vì thế vấn đề này cần đượcquan tâm phát triển
Vì vậy nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Thử nghiệm nhân giống và nuôi
dưỡng dế mèn (Gryllus assimilis) trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”
Trang 2II MỤC TIÊU NGHIÊN CÚU
- Nắm rõ được một số tập tính, đặc điểm sinh trưởng, chu kì sống của Dế
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, hình thái, tập tính của loài Dế than
- Khả năng sinh sản, tỉ lệ ghép đôi của Dế than trong điều kiện nuôi
- Nghiên sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới sự phát triển của dế
- Khả năng sinh trưởng và chu kì phát triển của Dế than trong các điềukiện nuôi khác nhau
IV THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: 10/2014- 4/2015
- Địa điểm: Tỉnh Quảng Bình
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.Tình hình nghiên cứu dế trên thế giới.
Vào Thế kỷ XIX, ở Nga nhà côn trùng học Keppen (1882 – 1883) đã xuấtbản cuốn sách về côn trùng trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc họGryllidae, bộ Cánh thẳng về hình thái, phân loại, các loài thuộc họ này là có đầukiểu hypognathis, cánh trước là cánh da, cánh sau là cánh màng có hình quạt [9],[11] Đến thế kỷ XX, họ Gryllidae đã được nghiên cứu khá đầy đủ Năm 1964,giáo sư V.N Xegolop đã mô tả chi tiết họ dế mèn Gryliidce về cấu tạo các phầnđầu, ngực, bụng và cho biết trên thế giới đã phát hiện được hơn 1000 loài thuộc
họ này trong cuốn “Côn trùng học”[2], [5]
Năm 1890 Vincet Hotlt ở Anh xuất bản tài liệu”Tại sao không ăn côn trùng” đã khuyến khích việc dùng thịt dế làm thực phẩm hàng ngày bổ sung
dinh dưỡng Tiếp theo đó, năm 2006, nhà khoa học thực phẩm Francis O.Orech
và cộng sự đã tiến hành khảo sát nguồn khoáng chất tốt có trong các loại côntrùng là kiến, mối và dế, và đã phát hiện ra loài dế có hàm lượng khoáng chấtcao nhất [5]
Từ những lợi ích của việc dùng dế mèn làm thực phẩm càng ngày càngphát triển các món ăn về dế dinh dưỡng cho con người, trong đó là món dế nằmtrong những món côn trùng nổi tiếng thế giới Ở Lào, Thái Lan món dế là món
ăn giải quyết vấn dề suy dinh dưỡng, vừa là đặc sản Do đó từ lâu Dế mèn đãđược nuôi phổ biến trên thế giới
2 Nghiên cứu về dế mèn ở Việt Nam.
Ở Việt Nam thì việc nghiên cứu về côn trùng đang ngày càng phát triển.Trong số đó, dế mèn là một đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu và đem vàochăn nuôi phổ biến
Nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học đã tiến hành nghiên cứu về đặc tính của
Dế mèn trong đó nổi bật là Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh BắcGiang chủ trì ngày 17/10/2011, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ
Trang 4sở: “Nghiên cứu các thành phần dinh dưỡng của Dế Mèn có lợi cho sức khỏe con người” Theo nghiên cứu này, các loài thuộc họ dế mèn Gryllidae là
nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, cụ thể:
Bảng 1.1 Kết quả phân tích acidamin
Nghề nuôi dế mèn ở nuớc ta mới có khoảng 10 năm trở lại Trong thời giangần đây, nhu cầu về các món ăn từ dế trong các nhà hàng, quán ăn tăng rõ rệt[5], [2] Do đó nghề nuôi dế tuy còn mới nhưng đang được ưa chuộng vì manglại lợi nhuận cao, vì dễ nuôi, ít dịch bệnh, chi phí đầu ban đầu tư lại thấp, thờigian xoay vòng nhanh Hiện nay giá dế mèn bán cho các trại nuôi gia cầm, chim
ăn giá 150.000 -180.000 đồng/kg, còn khi đã sơ chế các quán ăn giá sẻ mua đểchế biến với giá 250.000-300.000đồng/kg
Trang 5Ở nước ta, nghề nuôi dế phát triển mạnh ở các tỉnh thành phía nam, đặcbiệt là thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Tiền Giang Tiêu biểu là trại dế ThanhTùng, Ấp Bến Đò 2, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh[5], [10] Những năm gần đây một số tỉnh phía bắc như Hà Nội, Nam Định cũngphát triển nghề nuôi dế
3 Tình hình nghiên cứu và nuôi dế mèn ở Quảng Bình
Ở tỉnh Quảng Bình thì việc nghiên cứu về dế mèn (Gryllus assimilis) hầu
như chưa được dề cập tới, chưa thấy tài liệu nào trong tỉnh nói đến công tácnghiên cứu, hay hướng dẫn kỹ thuật nuôi đối tượng này
Do đó nghề nuôi dế chỉ mới xuất hiện ở Quảng Bình trong những vài nămtrước đây nhờ du nhập từ các tỉnh phía nam ra Qua điều tra, phỏng vấn chúngtôi được biết một số xã như Văn Hoá, Tiến hoá của huyện Tuyên Hoá, và huyệnMinh Hoá đã có một số hộ nuôi dế Nhưng do những khó khăn gặp phải trongquá trình nuôi: thiếu kỹ thuật nuôi dế mắc các dịch bệnh, nguồn vốn hạn chế,không tìm được đầu ra đảm bảo nên hiệu quả kinh tế thu lại không cao dẫn dếnviệc bỏ nghề
Hiện nay trên địa bàn thành phố Đồng Hới đang có một số hộ gia đình nuôi
dế mèn nhưng với quy mô nhỏ lẽ, kỹ thuật còn sơ sài, hiệu quả kinh tế khôngcao Nguồn con giống được mua từ các tỉnh khác Mục đích nuôi chỉ là bán Dếlàm thức ăn cho các cửa hàng chim cảnh, bán cho quán nhậu còn ít, chưa tìmđược đầu ra và tạo uy tín chất lượng cho con dế tại Quảng Bình Gia đình anhHoàng Thế Lân trú tại nhà số 1 ngõ 24- Đường Đồng Hải – Phường Hải Thành
là một hộ nuôi dế theo mô hình nuôi trong thùng bạt với quy mô trung bình
Trang 6II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU [6], [9], [11]
1 Danh pháp khoa học
Tên khoa học: Gryllus assimilis
Tên địa phương: Dế than
Họ: Dế Mèn
Bộ: Cánh thẳng
Lớp: Côn trùng
Ngành: Chân khớp
Loài Gryllus assimilis phân bố hầu như trên khắp các nước, nhưng tập
trung nhiều nhất ở các nước vùng nhiệt đới và cận xích đạo [7] Dế than cóngưỡng thuận lợi trong khoảng T = 28- 350 C, H = 70 – 80 % [5]
Hình 1.1 Dế mới thu bắt từ môi trường.
2 Đặc điểm hình thái để phân biệt dế than
2.1 Đặc điểm chung
Dế than có toàn thân màu đen tuyền có pha chút vàng ở gốc cánh
Trang 7Hình thái cơ thể dế than có các đặc điểm cấu tạo chung của một cơ thể côntrùng, đó là cơ thể được chia làm 3 phần: đầu, ngực và bụng, ở mỗi phần donhiều đốt phụ hợp thành, cả 3 phần đều có các phần phụ [6], [9], [11]
Hình 1.2 Cấu tạo chung cơ thể côn trùng (Theo Trần Viết Tùng)
Một con dế than trưởng thành thường dài khoảng 4cm và bề ngang khoảng1,2cm Dế đực thường đánh nhau để tranh dành con cái, dế cái “hiền” hơn Dế
là loài côn trùng đẻ trứng, trứng được đẻ trong lòng đất, mỗi lần đẻ nhiều và nởthành đàn
2.2 Đầu và các phần phụ của đầu
Đầu là phần trước của cơ thể, có chức năng quan trọng nơi chứa não bộ vàtập trung của các cơ quan định hướng hoạt động Nguồn gốc, đầu là do các đốtphía trước cơ thể hợp lại thành
Các phần phụ của đầu bao gồm: râu đầu đê định hướng, mắt kép và miệngcủa dế với cơ quan nghiền thức ăn [6], [11]
2.3 Ngực và các phần phụ ngực
Ngực là phần quan trọng rất phát triển, tập trung các cơ quan vận động củadế: ba đôi chân và haiđôi cánh dùng để bò, bay, nhảy …vì thế ngực là phần rất
Trang 8phát triển Về nguồn gốc ngực do các đốt từ mảng lưng, mảng dưới, mảng bụng
và mảng hai bên hợp lại thành
Dế than có các chân rất khỏe này được cấu tạo bởi: đốt chậu, đốt chuyển,
đốt đùi, đốt ống và các đốt bàn chân Nhờ vậy mà dế rất linh hoạt, có thể baycao nhảy xa chạy trốn kẻ thù rất nhanh[6], [7], [9]
Hai đôi cánh của dế là đôi cánh trước và đôi cánh sau do phần da ở góc saumảnh lưng của đốt ngực giữa và đốt ngực sau tạo thành Về cấu tạo khái quát,các cánh này gồm hai lớp da mỏng áp lấy hệ thống mạch cánh bên trong Đôicánh trước dài hẹp, có chất cánh dày, cutin hoá yếu, mạch cánh mờ; đôi cánhsau là cánh màng có cấu tạo chất cánh mỏng có diện tích lớn và rất nhẹ vai tròquan trọng khi bay [6], [7], [11]
2.4 Bụng và các phần phụ bụng
Bụng là cuối của cơ thể kéo dài tới cuối hậu môn, bên trong chứa các cơquan tiêu hoá và sinh sản của dế, có cấu tạo nhiều đốt, nối với nhau bằng mộtmàng mỏng nên có thể co dãn và quay được dễ dàng [6], [7], [9]
Các phần phụ của bụng: lỗ thở, lông đuôi và bộ phận sinh dục ngoài
III ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG BÌNH
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Bình nằm ở vĩ độ từ 16055’12’’ đến 18005’12’’ Bắc và kinh độ
105036’55’’ đến 106059’37’’ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh và ranh giới bằngĐèo Ngang, phía Nam giáp huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, phía Đông giáp biểnĐông với bờ biển dài 116,04 km và có diện tích 20.000 km2 thềm lục địa, phía Tâygiáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào bởi dãy Trường Sơn với 201 km đường biêngiới [8]
Trang 9Quảng Bình chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 cónhiệt độ bình quân 350C, nhiệt độ cao nhất 400C Mùa lạnh từ tháng 10 đếntháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 22 – 250C, nhiệt độ thấp nhất 8 – 100C vàotháng 1, 2 Nhiệt độ thấp làm ảnh hưởng đến thời kỳ lúa trổ bông và nuôi tôm
cá Mùa Hè nhiệt độ cao, mưa ít nên nước mặn ở các cửa sông lấn sâu từ 10 – 15
km với độ mặn 15 – 250/00, thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản mặn, lợ
Số giờ nắng bình quân khoảng 1.700 – 2.000 giờ/năm Các tháng giữa hè
có số giờ nắng hơn 200 giờ/tháng Các tháng giữa mùa Đông xấp xỉ 100giờ/tháng Nhìn chung điều kiện khí hậu, thời tiết ở Quảng Bình ít thuận lợi đốivới sản xuất thủy sản, cả đánh bắt và nuôi trồng
- Mưa [8]
Mùa mưa chính ở Quảng Bình thường trùng với mùa bão Mưa bắt đầu vàocuối tháng 8 và tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 chiếm 60 – 70% lượngmưa cả năm
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 – 3.000 mm Khu vực Roòn, BaĐồn có lượng mưa thấp nhất tỉnh 1.600 – 1.800 mm
Do mưa tập trung vào các tháng 9 – 11 chiếm 70 – 80% tổng lượng mưa cảnăm nên gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, ngư nghiệp
Tiểu mãn thường xuất hiện giữa tháng 5 với tần suất 60 – 70%, thường gâytác hại cho lúa vụ Đông Xuân và nuôi trồng thuỷ sản
- Gió [8]
Gió mùa Tây Nam khô nóng: Thường thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 8, cónăm xuất hiện vào giữa tháng 3 và kết thúc vào giữa tháng 9 Gió mùa Tây Nammang đến không khí khô và nóng làm cho nhiệt độ không khí tăng cao có nơilên đến 400C Do đó, thường gây nên các đợt hạn hán kéo dài, làm cho nước các
ao hồ cạn kiệt, nồng độ muối ở các cửa sông và ven biển tăng cao, ảnh hưởngđến sự sinh trưởng và phát triển của các đối tượng hải sản
Gió mùa Đông Bắc: Thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trung bìnhhàng năm ở Quảng Bình có 1415 đợt gió mùa Đông Bắc Gió mùa Đông Bắcthường kèm theo mưa và hạ thấp nhiệt độ trong nhiều ngày, làm giảm độ mặn và
Trang 10nhiệt độ ở các ao hồ nuôi tôm cá Những đợt gió mùa kéo dài, nhiệt độ thấp gâynguy hại cho các trại sản xuất tôm, cá giống và ảnh hưởng đến tôm, cá nuôi.
2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1 Dân số lao động, việc làm
Dân số Quảng Bình năm 2009 có 847.956 người Trong đó dân số nôngthôn là 719.888 người chiếm gần 85% và dân số thành thị là 128.068 ngườichiếm gần 15% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số toàn tỉnh là 105 người/km2,trong đó tập trung nhiều nhất ở TP Đồng Hới 719 người/km2 Huyện thấp nhất
là Minh Hóa 33 người/km2[8]
Dân cư trên địa bàn toàn tỉnh gồm có 3 dân tộc, trong đó, dân tộc Kinhchiếm gần 98% dân số, hai dân tộc thiểu số là Bru – Vân Kiều (gồm các tộcngười Khùa, Vân Kiều, Ma Coong, Trì), dân tộc Chứt (gồm các tộc người Sách,Mày, Rục, Arem, Mã Liềng) [12]
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế trong tỉnh năm 2009 là452.136 người (đạt tốc độ tăng trưởng 1,4%/năm giai đoạn 2000 – 2009), laođộng trong ngành Thủy sản là 43.150 người [8]
Vấn đề giải quyết việc làm đang được quan tâm nhưng tỉ lệ lao động thiếuviệc làm còn cao, phải vào các tỉnh miền Nam làm việc nhiều lao động nôngnhiệp còn mang tính mùa vụ
2.2 Kinh tế
Quảng Bình là một tỉnh nằm ở vị trí yết hầu của mạch máu giao thôngđường bộ và đường sắt, có đường quốc lộ IA, đường Hồ Chí Minh, đường sắtBắc Nam, ngoài ra còn có đường quốc lộ 12 đến cửa khẩu quốc tế Cha Lo, cócác cảng biển: cảng Nhật Lệ, cảng sông Gianh và cảng Hòn La, sân bay ĐồngHới, di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha Kẻ Bàng…Quảng Bình là nơi giaothoa các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội giữa hai miền Nam – Bắc của đấtnước Với vị trí địa lý đó đã tạo cho tỉnh có một lợi thế đặc biệt trong giao lưutrao đổi hàng hóa Nông – Lâm – Thủy sản, phát triển Nông – Lâm – Thủy sảntheo hướng sản xuất hàng hóa với thị trường rộng lớn [8]
Trang 11Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm (2005 – 2010) đạt 11%(chỉ tiêu 11 – 12%/năm), là giai đoạn có mức tăng trưởng cao nhất từ trước đếnnay, cao hơn 2,44% so với thời kỳ 2001 – 2005 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng nông nghiệp từ 29,7% năm 2005giảm còn 20% năm 2010; công nghiệp – xây dựng từ 32,1% tăng lên 40%; dịch
vụ từ 38,2% tăng lên 40% (chỉ tiêu Đại hội XIV đề ra: Nông, lâm, ngư nghiệp20%, công nghiệp – xây dựng 40%, dịch vụ 40%) Cơ cấu nội bộ từng ngànhkinh tế có bước chuyển biến tích cực GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt5,4 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 14,8 triệu đồng [4]
Trang 12CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Thùng catton kích thước từ 50cm x 50cm x 30 cm trở lên
- Băng dán cuộn loại bản to 5 cm để dán các cạnh dưới đáy thùng catton vàdán gần miệng cả hai loại thùng để dế không thể ra ngoài
- Các loại cành cây phơi khô, lá cây khô để tạo môi trường cho dế leo trèo
- Các loại khay giấy đựng trứng gia cầm
- Khay, đĩa nhựa có chiều cao từ 2-3 cm để dế đẻ trứng
- Bình xịt nước đẻ duy trì độ ẩm cho đất dế đẻ
Trang 13Hình 2.1 Dụng cụ nuôi Hình 2.2 Thức ăn dế
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tham khảo các nghiên cứu về dế than (Gryllus assimilis ) đã công bố.
Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau như: sách báo, internet, tạp chí
trong và ngoài nước liên quan dế than (Gryllus assimilis)
2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2.1 Phương pháp thu thập giống và tạo điều kiện nuôi.
Bằng cách tiến hành dùng vợt bắt côn trùng, lọ nhốt dế và đèn Pin đi soi bắt
dế vào buổi tối không mưa tại các cánh đồng, bãi cỏ rộng ẩm ướt
Khi thu bắt bằng phương pháp này phải hết sức cẩn thận và nhẹ nhàng vàtinh ý mới có thể bắt được dế Trong đó có nhiều loại dế khác nhau ta phải đem
về và tiến hành phân loại
Chọn những cá thể to khỏe có kiểu hình trội như đầu to, ngực rộng, màuđen tuyền, chân và càng to, râu dài, cánh mượt
Sau khi đã có nguồn giống cho dế vào thùng nuôi đã chuẩn bị sẵn, lót cành,
cỏ khô thật nhiều và ổn định môi trường sống cho dế Lúc này cho ăn nhiều cỏtươi và từ từ mới cho dế ăn các loại thức ăn khác
2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc tính sinh sản.
- Phương pháp chọn ghép đôi để đẻ trứng:
Trang 14Sau một thời gian nuôi dế mèn từ tự nhiên đã quen với môi trường nuôi, sinhtrưởng phát triển tốt Ta chọn các con dế trưởng thành cho ghép đôi với nhau.
Tiến hành thử nghiệm các tỉ lệ ghép đôi khác nhau để chọn ra tỉ lệ phù hợp Các ô thí nghiệm với tỉ lệ ghép đôi:
- Phương pháp theo dõi sự phát triển của dế than trong giai đoạn trứng: cântrọng lượng và đo kích thước của trứng dế mỗi ngày cho tới giai đoạn trứng nở,theo dõi sự biến đổi màu sắc trứng
- Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến thời gian trứng nở
và tỷ lệ nở trứng
Đất để ấp trứng là đất cát pha tơi xốp có độ ẩm vừa phải, khi đất khô phảidùng bình xịt thường xuyên để duy trì độ ẩm cho trứng dế phát triển bìnhthường
Tiến hành thí nghiệm với trứng dế trong các khay đất có độ ẩm khác nhau
để thấy mức độ ảnh hưởng của độ ẩm tới thời gian và tỉ lệ trứng nở
Tiến hành thử nghiệm 500 quả trứng dế trong 5 khay đất có độ ẩm khácnhau, mỗi khay 100 quả Đánh dấu 5 khay thí nghiệm lần lượt 1, 2, 3, 4, 5 Tớingày dế nở kiểm tra tỉ lệ trứng nở trong mỗi khay
Ô thí nghiệm 1: Độ ẩm 5%
Ô thí nghiệm 2: Độ ẩm 15%
Trang 15- Quan sát hình thái để thấy được cấu tạo, đặc điểm chung của dế than.Phân biệt được dế đực, dế cái dựa vào kiểu hình.
- Theo dõi sự sinh trưởng của dế thông qua việc đo kích thước, khối lượngcủa Dế than trong từng giai đoạn tuổi của dế Tính số lần lột xác của dế than
2.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi tới sự sinh trưởng
và phát triển của dế than.
Tiến hành nuôi dế trong điều kiện với mật độ nuôi khác nhau để xem mức
độ ảnh hưởng của mật độ quần thể nuôi tới sức tăng trưởng, phát triển và tỉ lệtrưởng thành của dế than Ta làm 4 thùng nuôi thí nghiệm với các mật độ nuôikhác nhau, lượng thức ăn và các điều kiện khác hoàn toàn giống nhau để nuôi dế
từ tuổi từ 3trở đi Ô thí nghiệm là thùng catton 50cm x 50cm x 30 cm
Ô thí nghiệm 1: số lượng được nuôi là 800 dế con tuổi 3
Ô thí nghiệm 2: số lượng được nuôi là 600 dế con tuổi 3
Ô thí nghiệm 3: số lượng được nuôi là 400 dế con tuổi 3
Ô thí nghiệm 4: số lượng được nuôi là 200 dế con tuổi 3
Nuôi các lô thí nghiệm này bằng thành phần dinh dưỡng tốt nhất đến độtuổi thành trùng, ghi nhận số lượng dế vũ hoá thành trùng
3 Phương pháp xử lí số liệu trực quan.
Sau khi thực hành, tiến hành xử lí số liệu thu được trên MicrosoftExcel
Trang 16CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA DẾ THAN
Trong quá trình phát triển dế than trải qua quá trình biến thái không hoàn
toàn để trưởng thành Giữa ấu trùng mới nở và con trưởng thành có kiểu hìnhtương đối giống, chỉ khác về kích thước
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy dế mèn trải qua quá trình biến tháikhông hoàn toàn gồm 3 pha là trứng, sâu non (ấu trùng) và thành trùng như kếtquả nghiên cứu của Nguyễn Viết Tùng, Nguyễn Đức Khiêm
1.Giai đoạn trứng của dế than
1.1 Đặc điểm của trứng dế mèn.
Trứng là pha khởi đầu trong quá trình phát triển cá thể Trứng sau khi đượcthụ tinh trong túi lưu tinh của con mái sẽ được đẻ vào đất bằng ống đẻ trứng,cách thức này được gọi là đẻ kín [7], [10] Trứng của dế than có hình thon dài,chiều dài trung bình 2,2 mm, khi mới đẻ ra có vàng về sau tuỳ theo mức độ pháttriển của phôi thai mà ngả dần về màu trắng đục
Hình 3.1 Trứng dế 1 ngày tuổi
(Chụp dưới kính hiển vi soi nổi độ phóng đại x12)
Cấu tạo của trứng: bên ngoài trứng là lớp vỏ cứng bởi protein và chất sáp
do tế bào vách ống trứng tiết ra Quá trình biến đổi phức tạp xảy ra trong nhân
và nguyên sinh chất, và được phản ánh qua sự biến đổi màu sắc của trứng từmàu vàng đậm chuyển sang màu nhạt rồi trắng đục
1.2. Quá trình phát triển của trứng dế qua các ngày tuổi.
Sau khi đo khối lượng và chiều dài của trứng dế từ lúc mới đẻ cho tới khi
dế con nở ra chúng tôi thu được kết quả như sau: