1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường

111 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 833,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đặc biệt là quản trị chiến lược để từ đó phân tích đánh giá tình hình phát triển ngành bưu điện các nước, trong nước và ở tỉnh Lâm Đồng, nhằm đưa ra một cách khái quát thực trạng và xu

Trang 1

Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước1 họp tại Trường Đại học Kinh tế, thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, ngày 16/5/1997, (Cách đây đã 20 năm tính đến 2017) - Đạt loại giỏi; được Hội đồng chấm Luận án nhất trí đề nghị cho chuyển tiếp nghiên cứu sinh (Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM nhập vào Đại học Quốc gia Tp.HCM khi Đại học Quốc gia Tp.HCM được thành lập và lấy tên là Trường Đại học Kinh tế, sau một thời gian lại tách ra, trở lại tên gọi cũ như trước đây là Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM)

Xem Bản nhận xét của 2 phản biện và Biên bản chấm Luận án ở các trang cuối cùng Có thể xem Luận án tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế tp Hồ Chí Minh, gõ từ khóa Lê Quang Tường, trên Google khoảng trang thứ 3 là thấy thông tin chi tiết Luận án tại Thư viện của Trường

Sau đây là toàn văn Luận Aùn:

1 Hồi đó Hội đồng chấm Luận án cao học gọi là Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nước Sau này Luận án cao học đổi thành Luận văn thạc sĩ và Hội đồng chấm luận văn không gọi là Hội đồng cấp nhà nước nữa

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ QUANG TƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG

THỜI KỲ 1996 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN ÁN CAO HỌC KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ QUANG TƯỜNG

NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG THỜI KỲ 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 5.02.05

LUẬN ÁN CAO HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PTS NGUYỄN QUANG THU

Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHUƠNG 1

Trang

TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, 7

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN

THẾ GIỚI VÀ BƯU ĐIỆN VIỆT NAM

I.1.TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC LÝ THUYẾT CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH

DOANH

8

I.1.2 Một số nội dung của lý thuyết về thiết lập chiến lược và việc hình

thành những ma trận quan trọng

12

I.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHUYÊN NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN

I.4 MỘT SỐ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN THẾ

I.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN VIỆT NAM

I.5.1 Tình hình phát triển của Ngành Bưu điện Việt Nam trong thời gian qua 27

a Tình hình phát triển thiết bị và công nghệ mạng viễn thông 27

b Tình hình về sản lượng và doanh thu các loại dịch vụ viễn thông 29

I.5.1.2 Về lĩnh vực bưu chính và phát thanh báo chí 30

I.5.1.3 Tình hình về dịch vụ kinh doanh mạng bưu chính và phát hành báo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHÁT

TRIỂN NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG

II.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN LÂM ĐỒNG 33

II.2 MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ-XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG

KINH DOANH Ở ĐỊA PHƯƠNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT

TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU LÂM ĐỒNG

34

II.3 VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI

VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH

37

Trang 5

II.4.THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ

CỦA NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

II.5.1 Tình hình phát triển và sản lượng điện thoại 40 II.5.2 Tình hình sản lượng và doanh thu các loại dịch vụ bưu chính viễn thông

42

II.5.2.1 Tình hình sản luợng và doanh thu các loại dịch vụ viễn thông 43 II.5.2.2 Tình hình sản lượng và doanh thu của mạng bưu chính phát hành

II.6 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ NHÂN SỰ 47

II.10 NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU RÚT RA TỪ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN LÂM ĐỒNG TRONG THỜI KỲ QUA

56

CHƯƠNG 3 58

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

III.2 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM

III 2.1 Về quan điểm

III.3 XÂY DỰNG MA TRẬN TOWS CỦA BƯU ĐIỆN LÂM ĐỒNG, THỜI

III.4 XÂY DỰNG MA TRẬN VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC SPACE CỦA ĐIỆN

III.5 DỰ BÁO MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU TỪ NAY ĐẾN 2010 64

Trang 6

a Bằng phương pháp ngoại suy xu thế 66

- Kết quả dự báo các chỉ tiêu quan trọng của Bưu điện Lâm Đồng

III.6-ĐỊNH HƯỚNGPHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN TỈNH TỪ

NAYĐẾN NĂM 2010

76

77

1 Phát triển mạng bưu chính viễn thông theo hướng hiện đại hóa 81

a Hướng phát triển mạng bưu chính 81

b Định hướng phát triển mạng viễn thông 83

2 Đinh hướng phát triển các loại hình dịch vụ Bưu chính viễn thông 84

a Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ mạng bưu chính 84

b Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ mạng viễn thông 88

3 Nâng cao khả năng phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh quốc phòng

93

III.7.2 Tăng cường đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân viên

III.7.5 Các giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cao hiệu qủa hoạt động kinh doanh

99

III.7.6 Các giải pháp về tổ chức và quản lý 101 III.7.7 Tăng cường việc kiểm soát, phòng chống việc truyền các nội thông tin độc hại, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia

103

KẾT LUẬN 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

Chúng ta đang chuẩn bị hành trang để bước vào thế kỷ 21 là thế kỷ của thông tin; với tư cách ngành Bưu điện là một ngành thông tin liên lạc, là ngành thuộc kết cấu hạ tầng Từ đó đặt ra cho ngành Bưu điện hai vấn đề lớn cần được nghiên cứu giải quyết

Thứ nhất là phát triển nó như thế nào để làm tốt chức năng là ngành kết cấu hạ tầng, đồng thời thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kinh doanh;

Thứ 2 là phát triển nó như thế nào để rút ngắn khoảng cách và bắt kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới khi bước vào thế kỷ thông tin (Yêu cầu của nội dung này là thực hiện hiện đại hóa và nhảy vọt hóa); nhất là ở một tỉnh miền núi như tỉnh Lâm Đồng thì những vấn đề nêu trên được giải quyết như thế nào?

Về phương pháp và nội dung nghiên cứu, Luận án này được thực hiện trên

cơ sở sử dụng tổng hợp các lý thuyết về thống kê, khoa học dự báo, các lý thuyết về bưu chính viễn thông, các lý thuyết về quản trị như: Quản trị sản xuất,

dịch vụ; marketing, tài chính, đặc biệt là quản trị chiến lược để từ đó phân tích

đánh giá tình hình phát triển ngành bưu điện các nước, trong nước và ở tỉnh Lâm Đồng, nhằm đưa ra một cách khái quát thực trạng và xu thế phát triển của ngành Bưu điện thế giới và Bưu điện Việt Nam; phân tích đánh toàn diện về các điều kiện môi trường bên ngoài, hình thành ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, cũng như phân tích toàn diện quá trình hoạt động của ngành Bưu điện Lâm Đồng, đặc biệt là từ khi có chủ trương tăng tốc phát triển ngành Bưu điện đến nay, trên cơ sở đó hình thành ma trận đánh giá các yếu tố bên trong; từ đó hình thành 2 ma trạân chiến lược là ma trận TOWS và ma trận SPACE, dự báo những vấn đề cơ bản của việc phát triển Bưu điện Lâm Đồng từ nay cho đến năm 2010 bằng các phương pháp dự báo khác nhau Trên cơ sở những dự báo và 2 chiến lược TOWS và SPACE hình thành các quan điểm, mục tiêu, phương hướng và

giải pháp thực hiện

Trang 8

CHUƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN THẾ GIỚI VÀ BƯU ĐIỆN VIỆT NAM

I.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH`

I.1.1 Lý thuyết về khoa học dự báo

Dự báo là sự giả định hợp lý về các sự kiện và xu hướng trong tương lai Là sự tiên đoán có cơ sở khoa học mang tính xác suất và tính phương án về sự phát triển của một đối tượng nào đó trong tương lai

Hiện nay, dù có nhiều cách dự báo khác nhau, nhưng chung qui lại người

ta qui ra 2 loại dự báo cơ bản, đó là dự báo chất lượng và dự báo số lượng

** Loại dự báo chất lượng thường được áp dụng khi các dữ liệu không có

sẵn trong quá khứ, hoặc khi các biến số hợp thành được trông đợi sẽ biến đổi rất nhiều trong tương lai Để tiến hành dự báo loại này, người ta có thể dùng các phương pháp cơ bản sau: Khảo sát, phân tích đánh giá những điều kiện, dữ liệu có liên quan đến vấn đề cần dự báo, tiến hành hỏi ý kiến của các nhà quản lý, thảo luận rộng rãi những vấn đề cần dự báo trong tập thể; hỏi ý kiến của các

chuyên gia (Phương pháp chuyên gia)

Phương pháp chuyên gia là phương pháp dự báo dựa trên sơ sở sự hiểu biết kinh nghiệm và trực cảm của chuyên gia, nó bao gồm quá trình thu thập, xử lý ý kiến chuyên gia và đưa ra kết quả cuối cùng Cơ sở khoa học của phương pháp này là chuyên gia là những người am hiểu, trình độ chuyên môn cao; có sự tương đồng nhất định giữa phương pháp chuyên gia với phương pháp Aristic từ kinh nghiệm đến trực giác và từ trực giác đến tổng quát, dựa vào phương pháp toán học tổng hợp các ý kiến của chuyên gia để đưa ra những kết luận cuối cùng

Hình thức trưng cầu ý kiến chuyên gia có thể là bằng phỏng vấn, trưng cầu bằng hội đồng, bằng tấn công não, đồ thị dự báo, phương pháp Delphi Qui mô trưng cầu có thể là một cá nhân hay một tập thể

Phương pháp chuyên gia có 2 phương pháp điển hình, đó là phương pháp Delphi và phương pháp Pattern

Phương pháp Delphi là phương pháp tập thể chuyên gia, hình thức trưng

Trang 9

cầu và mang tính khuyết danh Nội dung của phương pháp này được tiến hành qua nhiền vòng liên tiếp nhau Số vòng nhiều hay ít là do đặc điểm của đối tượng dự báo và mức độ nhất trí của chuyên gia Sau mỗi vòng, nhóm thường trực có nhiệm vụ xử lý ý kiến của chuyên gia; thông qua kết quả, đồng thời yêu cầu các chuyên gia có ý kiến khác với đa số lập luận của mình

Phương pháp Pattern, nội dung của phương pháp này được chia làm 3 giai đoạn: Xây dựng kịch bản, xây dựng cây mục tiêu và đánh giá hệ số quan trọng cho các mục tiêu

Việc xây dựng kịch bản là việc dự báo những vấn đề có tầm bao quát nhất, kết thúc kịch bản phải nêu được những mục tiêu cơ bản được xây dựng trên những bối cảnh đã được dự báo Việc xây dựng cây mục tiêu được phân cấp theo các mức độ từ những vấn đề cơ bản nhất cho đến vấn đề cụ thể Việc đánh giá hệ số quan trọng nhằm đạt được tính thuần nhất của kết quả Đồng thời các thông số đánh giá phải tuân theo những điều kiện logic chuẩn Đối với mục tiêu i thuộc cấp x-1, thì hệ số quan trọng của nó phải tuân theo điều kiện là lớn hơn không và nhỏ hơn một, có nghĩa là mục tiêu nào không quan trọng sẽ được loại ra ngoài Tổng các hệ số tầm quan trọng trong cấp có cùng nhánh xuất phát từ mục tiêu trên phải bằng 1 Đồng thời xác định sự quan trọng của các mục tiêu cụ thể đối với mục tiêu trên nó và đối với mục tiêu chung

** Loại dự báo số lượng: Dự báo số lượng thích hợp với các trường hợp khi các dữ liệu quá khứ có sẵn, và các mối quan hệ của các biến số được nghĩ là không thay đổi lớn trong tương lai

Về kỹ thuật dự báo số lượng, có 3 loại kỹ thuật là mô hình toán kinh tế,

hồi qui và ngoại suy xu thế

Phương pháp ngoại suy xu thế là phương pháp được tiến hành bằng việc

lấy kết luận do quan sát một phần của đối tượng để suy diễn ra các phần khác; bao gồm cả ngoại suy không gian và ngoại suy thời gian Phương pháp ngoại suy là sự chuyển dịch định lượng từ không gian này sang không gian khác, hoặc từ thời gian này sang thời gian khác dựa vào các mô hình được xây dựng từ chuỗi thời gian đã biết Phương pháp này gắn liền với 3 thì thời gian là quá khứ, hiên tại và tương lai Quá khứ và hiện tại đã và đang thống kê lại các

Trang 10

diễn biến của đối tượng nghiên cứu, đây là phần đã biết từ đó ngoại suy ra sự diễn biến trong tương lai Mặt khác để áp dụng phương pháp này thì chuỗi thời gian không có hiện tượng đột biến nào; qui luật của đối tượng trong thời kỳ dự báo giống với thời kỳ quá khứ và hiện tại; chuỗi thời gian đủ dài; vòng dự báo không quá xa

Để tiến hành dự báo, phải thực hiện các bước: Chọn hàm dự báo, xác định các hệ số hồi qui; nội suy chuỗi thời gian, tiến hành dự báo và biện luận kết quả dự báo

Các hàm số đưa vào dự chọn bao gồm:

- Hàm dạng đa thức:

- Hàm dạng logistic:

~y = k/(1 + eao-a1.t ) hoặc ~y= k/(1+e-a1.t )

Sau đó bằng phương pháp đồ thị, tiến hành biểu diễn chuỗi thời gian

trên hệ trục vuông góc so sánh sự phân bố của chuỗi với qui luật phân bố của các dạng hàm với lý thuyết, chọn dạng hàm có phân bố tương tự; hoặc bằng dùng phương pháp phân tích chuỗi thời gian Phương pháp phân tích chuỗi thời gian bao gồm phương pháp sai phân và phương pháp nhịp độ pháp triển Phương pháp sai phân được căn cứ vào vi phân của một hàm xấp xỉ với sai phân của nó Do đó có thể so sánh sai phân chuỗi thời gian với vi phân của

Trang 11

các hàm lý thuyết để chọn hàm thích hợp Nếu sai phân bậc 1 của một chuỗi thời gian xấp xỉ bằng hằng số khác không, thì chọn dạng hàm bậc 1 Nếu sai phân bậc 2 của một hàm số xấp xỉ bằng một hàm số khác không thì chọn dạng hàm bậc 2, nếu sai phân bậc 1 của ln~y xấp xỉ bằng 1 hằng số khác không, thì chọn dạng hàm ~y = Ao +a1.t Phương pháp nhịp độ phát triển được chia thành các nhóm: Hàm có nhịp độ phát triển đều, nhịp độ tăng dần, nhịp độ tăng chậm dần; nhịp độ giảm nhanh dần; nhịp độ tăng giảm hỗn hợp

Đối với những hàm nếu có nhịp độ phát triển đều thì ta sẽ sử dụng dạng hàm mũ:

~y = ao .a1t; ~y = ao.e a1.t ; ~y = e ao +a1.t Nếõn có nhịp độ tăng dần thì chọn dạng hàm số

~y = k+ao a1t Nếu tăng chậm dần thì chọn dạng hàm thuộc đa thức

Nếu giảm nhanh dần, chọn hàm nữa log: ~y = ao + a1 logt Nếu có nhịp độ giảm chậm dần chọn các hàm: Lũy thừa, hyperbol, nửa mũ

Nếu tăng giảm hỗn hợp, chọn các dạng hàm parabol, logistic

Sau khi đã chọn được dạng hàm đưa vào dự báo, ta phải tiến hành xác định các hệ phương trình chuẩn hồi qui sao cho với các tham số ai thì tổng bình phương các sai số giữa các giá trị y trên đường hồi qui lý thuyết và các giá trị

y thực tế có gía trị nhỏ nhất Từ đó xác định các hàm số dự báo theo các hệ số

2 3 1 2

3 2

2 1 0

2 2 1

t y t

a t a t a

t y t

a t a t a

y t

a t a n a

o o

Và hàm số dự báo là: y~ = ao + a1 .t + a2 .t2Hệ phương trình dạng tổng quát của dạng đa thức:

Trang 12

t p

p p

o

p p o

p p o

p p o

t y t

a t

a t a t a

t y t

a t

a t a t a

t y t

a t

a t a t a

y t

a t

a t a n a

2 2

2

1 1

2 2

4 2 3 1 2

1 3

2

2 1

2 2 1

Và hàm số dự báo là: ~y = ao + a1t + a2t2 + + aptpĐối với các hàm không thuộc các dạng hàm trên ta phải chuyển về hệ

đa thức, sau đó xác định các phương trình chuẩn và hệ số dự báo như trên

Sau khi đã xác định được hệ phương trình chuẩn và hàm dự báo có mang thông số ai của hệ phương trình chuẩn, ta tính sai số của các hàm đưa vào dự báo bằng sai số tuyệt đối theo công thức:

1

1 ( ~i)

n y y

Hàm nào có sai số nhỏ nhất ta chọn đưa vào dự báo

Sau đó kiểm tra lại bằng sai số tương đối bằng công thức:

S

y i

is

Nếu kết quả sai số, đủ nhỏ thì hàm đó (~y

i) được chính thức chọn đưa vào làm hàm dự báo

Sau khi đã xác định một hàm số duy nhất đem vào dự báo, ta xác định giá trị dự báo bằng 2 loại dự báo điểm và dự báo khoảng

- Tính giá trị dự báo điểm bằng cách thay giá trị của năm t vào hàm đã chọn

- Tính dự báo khoảng được phân thành 2 loại dạng đa thức và dạng khác

Dạng đa thức được xác định bằng công thức:

(1)

l

l T T T

S l

Trang 13

T'l là chuyển vị của T l Đối với dạng khác mô hình dự báo cũng có dạng tương tự:

( )

y l = ~y (l) + tS(l) Trong đó S(l) được xác định bằng công thức:

))(

)(1(2)

2 1

t l n

S l S

i

I.1.2 Một số nội dung của lý thuyết về thiết lập chiến lược và việc hình thành những ma trận quan trọng

Đây là một lý thuyết quan trọng đối với công tác hoạch định hướng sản

xuất kinh doanh heo cơ chếá thị trường ở các doanh nghiệp Nội dung cơ bản của lý thuyết này đề cập đến các vấn đề về đánh giá các yếu tố bên ngoài, phân tích tình hình nội bộ bên trong của doanh nghiệp, từ đó hình thành nên

các ma trận để làm căn cứ xây dựng các chiến lược kinh doanh

Việc phân tích các yếu tố bên ngoài nhằm tìm kiếm những vận hội, cũng như phát hiện những nguy cơ trong công việc kinh doanh, từ đó chớp lấy những cơ hội cũng như phòng chống để giảm thiểu những mối đe dọa

Các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến doanh nghiệp được chia làm 5 loại cơ bản: Ảnh hưởng về kinh tế; ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, địa lý nhân khẩu; ảnh hưởng về pháp luật và thể chế chính trị; ảnh hưởng công nghệ và ảnh hưởng cạnh tranh

Sự ảnh hưởng kinh tế bao gồm các thay đổi về thị trường chứng khoán, về tình hình lạm phát, sự biến đổi thu nhập bình quân đầu người, xu hướng chi tiêu của người dân, giá trị đồng tiền, sự gia tăng số hộ gia đình, sự biến đổi của lãi suất, các chính sách về thuế khóa

Sự ảnh hưởng các yếu tố về văn hóa, xã hội, nhân khẩn và địa lý có tác động rất lớn đến việc tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Mỗi phong tục tập quán, trình độ văn hóa, cơ cấu nhân khẩu, địa lý khác nhau đều có tác động đến việc tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa dịch vụ khác nhau Khi phân tích phải làm rõ sự ảnh hưởng các yếu tố đó đến sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong tương lai sẽ như thế nào

Trang 14

Các yếu tố vềø chính trị và pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh doanh với doanh nghiệp Một môi trường chính trị ổn định là điều kiện quan trọng để ổn định các chế độ chính sách tác động đến doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ bảo đảm được các dự tính phù hợp với các qui định của pháp luật có liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh, như thuế, bảo vệ môi trường, xuất nhập khẩu, an ninh

Những biến đổi của công nghệ trong tương lai thường được diễn ra Nó vừa là cơ hội đồng thời cũng là nguy cơ của doanh nghiệp Là cơ hội nếu doanh nghiệp dự đoán, nắm bắt và đón đầu được sẽ là một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, tăng thêm sức cạnh tranh đối với doanh nghiệp khác Là nguy cơ nếu như doanh nghiệp không biết được xu thế biến đổi của công nghệ, đầu tư và phát triển những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ lạc hậu, làm cho doanh nghiệp đi vào tình trạng bế tắc

Sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố bên ngoài, công việc tiếp theo là xây dựng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE Ma trận EFE cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin yếu tố môi trường bên ngoài

- Ma trận phân tích các yếu tố bên ngoài EFE

Ma trận này xây dựng qua năm bước:

1- Lập danh mục các yếu tố có vai trò quan trọng về cơ hội cũng như mối đe dọa gồm khoảng từ 10 đến 20 yếu tố;

2- Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến1,0 rất quan trọng cho mỗi yếu tố; tổng số điểm của các nhân tố phải bằng 1,0

3- Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố, trong đó 4 là tốt nhất, 3 là trên trung bình, 2 là trung bình, 1 là yếu

4- Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác định số điểm về tầm quan trọng

5- Cộng tổng số điểm tầm quan trọng, kết qủa cao nhất là 4,0 và thất nhất là 1,0 Tổng số điểm trung bình là 2,5 Nếu số điểm của lớn hơn 2,5 Doanh nghiệp có những điều kiện môi trường thuận lợi Nếu kết qủa nhỏ hơn 2,5 doanh nghiệp đứng trước điều kiện môi trường không thuận lợi

Việc đánh giá tình hình nội bộ doanh nghiệp sẽ tập trung phân tích nhận định các điểm mạnh yếu trong doanh nghiệp, bao gồm những vấn đề về quản trị; marketing; tài chính kế toán; nghiên cứu phát triển Những điểm

Trang 15

mạnh, yếu bên trong và những cơ hội và nguy cơ bên ngoài là những vấn đề cốt lõi khi thiết lập các mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp

Việc phân tích mặt mạnh, yếu trong công tác quản trị xung quanh các vấn đề về hoạch định, tổ chức, thúc đẩy, nhân sự, kiểm soát; trong đó làm rõ thực trạng công tác xác định mục tiêu, dự đoán các yếu tố môi trường bên ngoài, đối thủ cạnh tranh, khách hàng; việc đối phó với những bất trắc có thể xảy ra; tinh thần thái độ hợp tác của cán bộ nhân viên; đánh giá cơ cấu tổ chức, các nguyên tắc qui chế làm việc, chế độ tiền lương tiền thưởng, chế độ bổ nhiệm đề bạt cán bộ; tinh thần quản trị, thái độ làm việc của nhân viên, khả năng phát huy sáng kiến; công tác tuyển dụng, phúc lợi xã hội; tình hình về kiểm tra, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Việc đánh giá mặt mạnh mặt yếu của doanh nghiệp về marketing, bao gồm quá trình thực hiện công tác phân tích khác hàng, mua hàng, hoạch định dịch vụ sản phẩm, định giá, phân phối, nghiên cứu thị trường, phân tích cơ hội, nghĩa vụ doanh nghiệp đối với xã hội

Trong việc đánh giá tình hình tài chính ở doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc phân tích và làm rõ các chỉ tiêu về tài chính, như các chỉ số về khả năng thanh toán, các chỉ số về đòn cân nợ, các chỉ số về hoạt động, các chỉ số về doanh lợi, các chỉ số về mức tăng trưởng

Việc đánh giá tình hình tổ chức sản xuất, chủ yếu làm rõ về cách thức tổ chức qui trình sản xuất, qui trình lao động, công suất máy móc thiết bị, sản lượng, định mức kinh tế kỹ thuật, chất lượng hàng hóa

Khi phân tích tình hình thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển, chủ yếu tập trung đánh giá việc tổ chức phát triển vấn đề nghiên cứu, nguồn cán bộ, tài chính cho nghiên cứu; tình hình thực hiện công tác nghiên cứu bên trong và bên ngoài của tổ chức

Sau khi hoàn thành công việc đánh giá, tiến hành xây dựng ma trận đánh giá các yếu tố hoạt động bên trong của doanh nghiệp (ma trận IFE)

- Ma trận IFE

Ma trận này xây dựng qua 5 bước sau:

1- Liệt kê các yếu tố thành công then chốt, từ 10 đến 20 yếu tố, gồm cả điểm mạnh và yếu

2- Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 đến 1,0 cho mỗi yếu tố

3- Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố sẽ biểu thị yếu tố đó có đại diện

Trang 16

cho điểm yếu lớn nhất, điểm yếu nhỏ nhất, điểm mạnh lớn nhất và điểm mạnh nhỏ nhất

4- Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó để xác định số điểm quan trọng của mỗi yếu tố

5- Cộng tất cả số điểm quan trọng để biết được điểm qua trọng của tổ chức Không kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, số điểm tổng cộng có được phân loại thấp nhất là 1,0 và cao nhất là 4,0, số điểm trung bình là 2,5 Nếu số điểm tổng cộng thấp hơn 2,5 doanh nghiệp yếu về nội bộ, nếu số điểm cao hơn 2,5 doanh nghiệp mạnh về nội bộ

Sau khi phân tích được các cơ hội, nguy cơ của môi trường bên ngoài; điểm mạnh, điểm yếu của nội bộ doanh nghiệp; công việc tiếp theo là giai đoạn kết hợp, tập trung đưa ra chiến lược khả thi bằng cách kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài Kỹ thuật được sử dụng trong giai đoạn này là ma trận các mối nguy cơ - cơ hội - điểm mạnh điểm yếu (ma trận TOWS)

- Ma trận mối nguy cơ- cơ hội - điểm mạnh - điểm yếu (Ma trận

TOWS)

Ma trận này là một công cụ kết hợp quan trọng, giúp cho các nhà chiến lược xây dựng 4 loại chiến lược: Chiến lược điểm mạnh - cơ hội (SO); chiến lược điểm mạnh - điểm yếu (WO), chiến lược điểm mạnh - nguy cơ (ST) và chiến lược điểm yếu nguy cơ (WT) Chiến lược OS sử dụng những điểm mạnh bên trong doanh nghiệp để khai thác và tiếp nhận những cơ hội bên ngoài Chiến lược WO nhằm kiếm tìm những điểm mạnh bên ngoài để san bằng những khuyết điểm bên trong Chiến lược ST sử dụng các điểm mạnh của một công ty, để làm hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố nguy cơ bên ngoài Chiến lược WT là những chiến lược nhằm làm giảm đi những điểm yếu bên trong và tránh những mối đe dọa từ bên ngoài Ma trận TOWS gồm 9 ô 4 ô chứa đựng các yếu tố quan trọng, 4 ô chiến lược, và một ô để trống 4 ô chứa đựng các yếu tố quan trọng gọi là S, W, O và T Sau khi hoàn thành xác định các yếu tố quan trọng cho 4 ô trên, tiến hành xác định 4 ô chiến lược SO,

WO, ST và WT Để lập ma trận TOWS phải qua 8 bước:

1- Liệt kê các cơ hội quan trọng bên ngoài doanh nghiệp

2- Liệt kê các nguy cơ bên ngoài doanh nghiệp

3- Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong doanh nghiệp

4- Liệt kê những điểm yếu bên trong doanh nghiệp

5- Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài, và ghi kết quả của chiến lược SO vào ô giao điểm

6- Kết hợp những điểm yếu bên trong và cơ hội bên ngoài và ghi kết

Trang 17

quả của chiến lược WO vào ô giao điểm

7- Kết hợp những điểm mạnh bên trong với mối đe dọa bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT

8- Kết hợp các điểm yếu bên trong và ghi kết quả chiến lược WT vào ô giao điểm

Từ sự liệt kê và sự kết hợp trên ta có ma trận TOWS như sau:

NHỮNG ĐIỂM MẠNH -S NHỮNG ĐIỂM YẾU - W

- Ma trận vị trí chiến lược và đánh giá hoạt động(SPACE)

Tùy thuộc vào loại hình tổ chức, có rất nhiều biến số có thể nằm trong yếu tố đại diện cho các trục của ma trận SPACE Những yếu tố nằm trên các trục của ma trận là thế mạnh về tài chính (FS); lợi thế cạnh tranh (AC); sự ổn định của môi trường (ES); sức mạnh của ngành (IS)

Các bước xây dựng ma trận SPACE:

1- Chọn một nhóm các biến số cho sức mạnh tài chính (FS), lợi thế cạnh tranh (CA), sự ổn định của môi trường (ES) và sức mạnh của ngành (IS)

2- Ấn định giá trị bằng số từ 1 (xấu nhất) tới 6 (tốt nhất) cho mỗi biến số thuộc khía cạnh FS và IS Ấn định giá trị bằng số từ -1 (tốt nhất) đến -6 (xấu nhất) cho mỗi biến số thuộc khía cạnh ES và CA

3- Tính số điểm trung bình cho FS, IS, ES và CA bằng cách cộng các giá trị đã ấn định cho mỗi biến số của khía cạnh rồi chia chúng cho số biến số thuộc khía cạnh tương ứng

4- Đánh dấu số điểm trung bình của FS, IS, ES và CA trên trục của ma trận SPACE

Trang 18

5- Cộng 2 điểm số của trục X và đánh dấu kết quả trên X Cộng 2 số điểm trên trục Y và đánh dấu kết quả trên Y Đánh dấu giao điểm của 2 điểm mới trên trục XY

6- Vẽ véc-tơ có hướng từ điểm góc của ma trận đến giao điểm mới

-6 -6 ES

I-2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHUYÊN NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

- Bưu điện là phương thức thông tin liên lạc bằng thư từ điện báo, điện

thoại do một cơ quan chuyên trách đảm nhận Là ngành sản xản suất vật chất đặc biệt thuộc kết cấu hạ tầng bao gồm cả bưu chính và viễn thông vừa phục vụ việc quản lý điều hành của nhà nước vừa trực tiếp tham gia vào sản xuất, với tư cách là yếu tố đầu vào quan trọng tạo ra sản phẩm xã hội Trong đó, các khái niệm về thông tin liên lạc được hiểu như sau:

- Thông tin là việc truyền tin cho biết, đó là khái niệm chung nhất chỉ rõ

nhu cầu thông báo, trao đổi, truyền tin cho nhau bằng miệng thư từ hoặc bằng phương pháp khác với sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật

- Liên lạc là sự truyền tin cho nhau để giữ mối quan hệ

- Viễn thông là sự liên lạc giữa hai điểm cách xa nhau, có khoảng cách

thực tế không giới hạn, bằng mọi phương thức

- Bưu chính là việc đảm nhận vận chuyển thư từ, báo chí, kiện hàng

* Các loại dịch vụ của ngành bưu chính viễn thông được hiểu như sau:

- Dịch vụ bưu phẩm là dịch vụ nhận gửi, chuyển phát các thư từ, bưu

Trang 19

thiếp, mẫu hàng quà tặng… trong và ngoài nước (Trọng lượng đến 2 kg nếu sách

thì đến 5kg)

- Dịch vụ bưu kiện là dịch vụ nhận chuyển các kiện hàng bằng đường

hàng không, đường thủy và đường bộ đối với bưu kiên trong nước trọng lượng bưu kiện từ 5 đến 30 kg; đối với việc nhận chuyển, phát bưu kiện từ trong nước

ra nước ngoài và ngược lại thì trọng lượng của bưu kiện từ 1 đến 20 kg

Ngoài dịch vụ bưu phẩm và bưu kiện thông thường, còn có các loại dịch vụ bưu phẩm và bưu kiện trong một số điều kiện đặc biệt với giá cước cao hơn loại thông thường như bưu phẩm có ghi số để đảm bảo an toàn chống thất lạc, bưu phẩm bưu kiện chuyển bằng máy bay, bưu phẩm phát nhanh, phát tận tay, bưu phẩm, bưu kiện lưu ký, bưu phẩm bưu kiện báo phát

- Dịch vụ chuyển tiền, là loại dịch vụ nhận chuyển phát tiền trong nước

và chi trả ngân phiếu từ các nước đã có quan hệ về nhận chuyển tiền với Việt nam

- Dịch vụ EMS là loại dịch vụ chuyển phát nhanh bưu phẩm đạt yêu cầu

về tốc độ chuyển phát có chỉ tiêu thời gian toàn trình được công bố trước đến từng địa chỉ người nhận Thời gian chuyển phát toàn trình từ 24 đến 48 h Bưu phẩm EMS quốc tế thời gian vận chuyển toàn trình từ 2 đến 10 ngày

- Dịch vụ DCN (chuyển phát nhanh) là dịch vụ nhận chuyển phát nhanh

thư từ, tài liệu mẫu hàng đi các tỉnh và thành phố trong nước và nuớc ngoài

- Dịch vụ DHL là dịch vụ giao phát quốc tế nhận chuyển phát các loại tài

liệu thương mại, các mẫu mã hàng hóa đi khắp nơi trên thế giới trong thời gian nhanh nhất bằng phương tiện đặc biệt

- Dịch vụ chuyển tiền nhanh là dịch vụ chuyển tiền trong vòng 24 giờ, kể

từ lúc nhận tiền cho đến khi phát được tiền cho người nhận

- Dịch vụ DMG-DTG (dịch vụ điện hoa) là dịch vụ nhận chuyển và phát

các bức điện đến tay người nhận kèm theo hoa chúc mừng hoa chia buồn hoặc tặng phẩm lưu niệm với nội dung như yêu cầu người gửi viết trên một ấn phẩm có tựa đề”Điện báo đặc biệt”

- Dịch vụ phát hành báo chí là loại dịch vụ mà tại các cơ sở bưu điện có

nhận đặt mua báo chí xuất bản trong nước hoặc thông báo danh mục báo chí nước ngoài mà bưu điện có trách nhiệm phát hành đến tay người nhận

- Dịch vụ điện thoại số là loại dịch vụ mà người gọi từ máy điện thoại

thuê bao hoặc máy điện thoại quay số tới máy người được gọi trong và ngoài nước Cuộc gọi được nối kết qua thiết bị mạng lưới kỹ thuật viễn thông

- Dịch vụ điện thoại tìm người là dịch vụ mà cuộc gọi do người muốn nói

chuyện trực tiếp người cần gọi được chỉ định họ tên và địa chỉ người được gọi

Trang 20

qua đàm thoại viên- Dịch vụ điện thoại giấy mời mà khi người gọi yêu cầu bưu điện không có máy điện thoại đến nói chuyện với mình tại máy điện thoại công cộng có người phục vụ

- Dịch vụ điện thoại thu cước ở người được gọi (Collect-call) là loại dịch

vụ điện thoại chỉ áp dụng đối người gọi đi một số nước có quan hệ với nước ta về vấn đề này

- Dịch vụ điện thoại thấy hình là loại dịch vụ khi người gọi điện thoại sẽ

thấy hình người được gọi

- Dịch vụ thuê kênh thông tin là dịch vụ mà bưu điện cho thuê các kênh

thông tin đảm bảo tốc độ và độ tin cậy cao, dùng để truyền tín hiệu thoại hoặc phi thoại trong và ngoài nước, bao gồm các kênh thoại đường dài, kênh điện báo kênh truyền số liệu

- Dịch vụ điện báo là loại dịch vụ chuyển nhận nội dung bức điện hoàn

toàn tự động Gentex được nối hoàn toàn tự động với các tỉnh, trong nước và quốc tế

- Dịch vụ Facsimile (Fax) là dịch vụ viễn thông dùng để đưa những tin tức

có sản trên giấy (Sơ đồ, biểu mẫu, bản vẽ, hình ảnh ) từ nơi này qua nơi khác thông qua hệ thống viễn thông một cách nhanh chóng mà vẫn giữ được nguyên bản Hình ảnh rõ và trung thựïc và rẽ hơn điện báo

- Dịch vụ telex là dịch vụ dùng để trao đổi thông tin giữa các thuê bao với

nhau thông qua máy điện báo truyền chữ được đấu nối vào tổng đài điện báo

- Dịch vụ truyền số liệu là loại dịch vụ mà khách hàng có yêu cầu liên

lạc giữa các máy tính đấu nối với mạng viễn thông, có thể truyền số liệu đi trong nước và nước ngoài một cách nhanh chóng và chính xác

- Dịch vụ thông tin di động (điện thoại di động) là dịch vụ thông tin vô

tuyến rất thuận lợi cho người gọi điện thoại

- Dịch vụ nhắn tin là một loại dịch vụ tiếp nhận các cuộc nhắn tin theo

yêu cần của khách hàng Để sử dụng loại dịch vụ này, người cần nhắn tin thông qua máy thuê bao yêu cầu trung tâm nhắn tin của bưu điện chuyển lời nhắn đến người nhận có máy nhắn tin

- Dịch vụ 108 là loại dịch vụ mà khách hàng có thể gọi điện thoại số 108

để yêu cầu giải đáp các các dịch vụ về bưu điện, số điện thoại và hướng dẫn sử dụng điện thoại, giải đáp các thông tin vế kinh tế, xã hội đời sống, kể chuyện đọc thơ, ca nhạc qua điện thoại, hướng dẫn du dịch

* Một số khái niệm về kỹ thuật bưu chính viễn thông được hiểu như

sau:

- Hệ thống chuyển mạch là hệ truyền thông tổng đài, người cấp thông

Trang 21

tin và người dùng thông tin chưa được xác định và hệ thống sử dụng có khả năng cung cấp và sử dụng thông tin cùng một thời gian Hệ thống tổng đài đề cập đến quá trình chọn lựa những người đang ở cách xa nhau hoặc giữa các máy đặt cách biệt nhau và sau đó giao tiếp với nhau bằng tiếng nói hoặc bằng các số liệu

- Hệ thống truyền dẫn là hệ thống làm chức năng truyền một tín hiệu từ

một nơi này đến một nơi khác Những phương tiện phát sẽ truyền và phát đi những tín hiệu đầu vào (tín hiệu gốc), để truyền chúng một cách có hiệu qủa qua phương tiện, thiết bị nhận tách ra những tín hiệu gốc trong những tín hiệu nhận được Đồng thời bộ phận lặp lại sẽ xử lý việc bù lại trong quá trình truyền Các phương tiện truyền bao gồm dây đồng, cáp đồng, cáp đồng trục, radio, ống dẫn sóng và cáp sợi quang Hệ thống truyền dẫn gồm các thiết bị phát và nhận, và phương tiện truyền cùng bộ lặp lại giữa chúng Truyền nhận bao gồm việc truyền nhận thuê bao nối liền máy thuê bao với tổng đài và phần truyền dẫn tổng đài nối tổng đài với tổng đài Truyền dẫn gồm truyền bằng cáp, truyền radio, liên lạc vệ tinh, truyền ti vi, liên lạc sợi quang, ống dẫn sóng, liên lạc dưới đất cùng bộ chuyển tiếp phục hồi bộ phận này Sự phát triển kỹ thuật truyền dẫn

đã đưa đến sự phát triển liên lạc thông tin

- Số hóa là thông tin truyền đi được mã hóa dưới dạng số ( nhị phân), nó

có ưu điểm là đảm bảo được chất lượng trong quá trình tuyền tin, không bị nhiễu, hoặc bị biến dạng, và được bảo mật

- Tự động hóa là quá trình thực hiện một dịch vụ viễn thông từ nơi phát

tin đến nơi nhận tin được thực hiện hoàn toàn bằng máy móc, không qua các thao tác trung gian của con người

- Đa dịch vụ là nhiều dịch vụ viễn thông như truyền hình, điện thoại,

truyền số liệu( truyền dữ liệu của maý tính), fax được thực hiện qua một hệ thống thiết bị kỹ thuật viễn thông thích hợp, với thời gian truyền tin nhanh chóng, đảm bảo chất lượng dịch vụ cao Hay nói các khác là một hệ thống kỹ thuật viễn thông có khả năng đảm nhận được các loại hình dịch vụ viễn thông một cách nhanh chóng, có chất lượng cao

I.3 VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN

Ngay từ thời tiền sử nhờ sử dụng thông tin bằng ngôn ngữ cùng với hoạt động lao động con người đã tạo ra bước ngoặc của tiến trình tiến hóa của lịch sự loài người Thông tin bằng ngôn ngữ đã cho con nguời biết các tin tức, kinh nghiệm phục vụ cho đời sống xã hội, sản xuất và đấu tranh được truyền từ đời này sang đời khác, giúp cho loài người cải tạo và phát triển xã hội ngày càng có hiệu quả hơn

Trải qua quá trình phát triển của xã hội loài người, các hình thức và

Trang 22

phương tiện thông tin ngày càng phong phú và đa dạng ngôn ngữ, chữ viết, in ấn, viễn thông và quảng cáo Ngày nay, thời đại tin học cho phép sự kết hợp giữa viễn thông và tin học, các hình thức thông tin trên được kết hợp với nhau, khai thác, xử lý, truyền đi một cách chính xác và nhanh chóng Vì vậy, vai trò ngành Bưu điện ngày càng có tác động sâu rộng và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong lĩnh vực kinh tế, với kỹ thuật viễn thông và tin học ngày càng hiện đại, ngành Bưu điện có tác động không nhỏ đến quá trình hoạt động kinh tế vĩ mô và vi mô

Về vi mô, là phương tiện cung cấp thông tin các yếu tố đầu vào và đầu ra

cho các doanh nghiệp một cách chính xác và kịp thời, các doanh nghiệp có thể khai thác các nguồn thông tin rất đa dạng phong phú, từ nhiều lĩnh vực, từ nhiều nguồn, nhiều nơi giúp cho doanh nghiệp có thể đưa ra nhiều phương án, cách lựa chọn khác nhau và tìm kiếm được quyết định một cách nhanh chóng trong quá trình mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, giá nhân công , lựa chọn các mặt hàng sản xuất kinh doanh, quyết định các loại giá bán và mua của các nơi sở tại và lựa chọn khách hàng thị trường tiêu thụ một cách có hiệu quả; nâng cao khả năng cạnh tranh

Cùng với phương tiện kỹ thuật bưu chính viễn thông ngày càng hiện đại, cung cấp cho các doanh nghiệp những thông tin đa dạng về các loại thị trường tạo điều kiện để mở rộng liên kết trao đổi, hợp tác hoạt động sản xuất kinh doanh trên các thị trường và tổ chức kinh tế trong ngoài nước với doanh nghiệp; gắn doanh nghiệp với khác hàng, khách hàng với doanh nghiệp; giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; giữa doanh nghiệp với các tổ chức khoa học kỹ thuật một cách nhanh chóng kịp thời và hiệu quả

Góp phần giúp doanh nghiệp ngày càng cải tiến cách thức, phương pháp quản lý sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại, chuẩn hóa, phù hợp trình độ khoa học công nghệ và thông lệ quốc tế

Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thêm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Về vĩ mô, ngành Bưu điện càng hiện đại, thì càng có điều kiện cung cấp

cho các nhà quản lý vĩ mô các thông tin về hoạt động của các ngành kinh tế quốc dân, cũng như tình hình kinh tế của các nước trên thế giới một cách kịp thời chính xác; từ đó giúp Nhà nước có chính sách phù hợp trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô với các tình huống như khủng khoảng, lạm phát, thất nghiệp, điều tiết có hiệu quả việc sản xuất kinh doanh một số sản phẩm trọng yếu của nền kinh tế

Trang 23

Là cơ sở và điều kiện cần thiết, tạo môi trường thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước phát triển kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ các ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Về xã hội là phương tiện hữu hiệu để trao đổi thông tin về mọi mặt của

đời sống xã hội của, xóa đi khoảng cách về không gian và thời gian, làm cho con người ngày càng xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn

Giúp con người nâng cao trình độ hiểu biết về văn hóa, khoa học kỹ thuật; thưởng thức văn hóa nghệ thuật

Là tiền đề quan trọng để phát triển giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học: Thể hiện ở khả năng cung cấp các thông tin, các kho tàng tri thức trong và ngoài nước một cách nhanh chóng; là phương tiện để mở các cuộc hội nghị khoa học giáo dục, nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học từ xa; ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cho lĩnh vực y tế, văn hóa, thể dục thể thao

Về an ninh quốc phòng, cung cấp và xử lý thông tin nhanh nhạy, kịp

thời, chính xác tình hình về an ninh quốc phòng trong và ngoài nước để các nhà chỉ huy có những quyết định đúng đắn, trong việc xác định các chiến lược, đường lối và chính sách an ninh quốc phòng

Là một trong những mắt xích quan trọng của các phương tiện chiến tranh hiện đại, hệ thống viễn thông kết hợp với tin học hiện đại có thể là phương tiện để quan sát có hiệu quả về tình hình bố trí và sự đi lại lực lượng quân sự của đối phương; đồng thời cũng là phương tiện điều khiển từ xa các loại vũ khí hiện đại

Cung cấp thông tin quân sự kịp thời cho các quyết định chỉ huy, sự phối hợp thống nhất lực lượng trong chiến tranh

I.4 MỘT SỐ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN THẾ GIỚI

Ngày nay, trên thế giới, ngành bưu chính viễn thông được coi và một trong ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời là một ngành cơ sở hạ tầng ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế, đời sống, xã hội của các nước trên thế giới Việc phát triển mạnh mẽ của ngành này không những diễn ra

ở các nước phát triển mà còn đối với hầu hết các nước kể ở những nước chưa phát triển Ví dụ, lấy Trung Quốc là nước điển hình cho các nước đang phát triển, thì ở Trung Quốc, tốc độ phát triển thông tin liên lạc từ khi cải cách nền kinh tế đến nay luôn có nhịp độ phát triển vượt nhịp độ phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong những năm gần đây tốc độ phát triển của ngành Bưu điện tăng rất nhanh Thu nhập bình quân của ngành bưu điện nước này bình quân hàng năm tăng 48%

Trang 24

Trong sự phát triển ngành bưu điện ở các nước thì mạng viễn thông có tốc phát triển nhanh hơn Trong mạng viễn thông hiện nay có các loại dịch vụ cơ bản sau: dịch vụ điện thoại các loại, điện báo, telex, fax, các loại dịch vụ truyền số liệu (Loại này gắn với việc nối mạng vi tính) Bằng sự kết hợp các kỹ thuật vô tuyến, hữu tuyến, thông tin vệ tinh, mạng viễn thông đã bủa giăng kín cả hành tinh Ở các nước tiên tiến, mạng viễn thông rất hiện đại, công nghệ tiên tiến

Đối với hệ chuyển mạch đã ở trong giai đoạn áp dụng tổng đài chuyển mạch ISND đa dịch vụ Với kỹ thuật tiên tiến này cho phép sử dụng các loại hình dịch vụ viễn thông, như dịch vụ truyền hình ảnh, truyền thoại, dữ liệu Trong truyền dẫn hữu tuyến đã sử dụng đường truyền dẫn bằng cáp quang thay cho dây đồng Kỹ thuật này có ưu điểm dung lượng rất lớn có khả năng đáp ứng việc truyền dẫn mọi loại hình về thông tin, liên lạc như thoại, hình, phát thanh, truyền số liệu Năm 1996, trên khắp thế giới đã phát triển được 6 triệu km đường truyền dẫn cáp quang Các nước tiên tiến như ở Tây Aâu, Bắc Mỹ người

ta đã hình thành đường trục các quang nối các quốc gia với nhau; trong mỗi quốc gia người ta đã phát triển mạng cáp quang nối liền các vùng, miền, địa phương với nhau Ở châu Á người ta cũng đang xây dựng một tuyến truyền dẫn cáp quang xuyên Á dài 8000 km, nối liền các nước Trung quốc Việt Nam, Lào, Singapore, Thái lan và Malaysia Ở Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 22 tuyến đường cáp quang nối thông tất cả các tỉnh, thành, khu trong cả nước (Trừ Tây Tạng) Người ta đã tin học hóa một cách sâu rộng lĩnh vực viễn thông Đặc biệt là nhờ việc phát triển, hiện đại hóa mạnh mẽ mạng viễn thông và mạng máy tính trên toàn thế giới, đồng thời có sự giảm giá đáng kể của máy vi tính (Trong một vài năm tới máy tính có thể giảm gía xuống ngang với giá của một ti vi, dưới 500 USD - máy chuyên dùng NC), người ta ngày càng sử dụng một cách rộng rãi internet Ngày nay trên thế giới có trên 50 triệu cơ sở điện toán Ở Mỹ máy vi tính đã xâm nhập vào 80% văn phòng, và 40% hộ gia đình và cứ 100 người dân đã có 22 người có máy vi tính nối mạng internet Hệ thống này bao gồm các máy vi tính nối với nhau qua đường truyền điện thoại Với internet người ta có thể sử dụng các loại dịch vụ về các loại thư tín, các loại thông tin về thảo luận, truy cập thông tin, điện thoại, quảng cáo, bán hàng từ xa Internet mới được người ta dùng mấy năm gần đây, nhưng nó là một phương tiện tiện lợi, đa dịch vụ và giá rất rẽ Ví dụ truyền một bản báo cáo dài khoảng 50 trang, nếu truyền qua mạng internet mất thời gian đi khắp thế giới mất vài giây, trong khi đó gửi bằng bưu kiện quốc tế thì ít nhất cũng mất vài ngày, nếu gửi bằng Fax thì ít nhất cũng mất vài giờ, và về cước phí thì nếu truyền qua đường internet chỉ

Trang 25

mất vài xu hoặc không tốn phí, nhưng nếu qua phương tiện khác thì tốn kém hơn rất tốn kém, cước phí điện thoại gọi qua Internet cũng rẽ hơn qua phương tiện khác, vì gọi qua phương tiện này, dù gọi đi ở đâu cũng được tính gía nội hạt Internet không những là phương tiện dùng để truyền thông mà có được sử dụng ngày càng hứa hẹn trong việc kinh doanh Ở Mỹ đã xảy xa, sự bùng nổ các dịch vụ về quảng cáo trên internet, trong năm 1995, dịch vụ naỳ là 60 triệu USD và vài năm nữa sẽ vượt một tỷ USD, ở Pháp dịch vụ này từ 50 đến 100 triệu france; bán hàng từ xa trên internet từ 500 đến 1 tỷ USD; trong tương lai các loại hình kinh doanh trên Internet sẽ được phát triển mạnh mẽ và đầy hứa hẹn Hiện nay mạng internet đã được bao phủ trên phạm vi toàn cầu Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Ở các nước phát triển nhất là ở Bắc Mỹ người ta sử dụng rộng rãi internet trong đời sống - xã hội Hiện nay trong tổng số người sử dụng internet thì ở Bắc Mỹ chiếm 68%, châu Âu 23%, châu Á 4% Mức độ phổ cập hóa internet tính trên đầu người cũng nhất cao Ở Phần lan cứ 100 người dân thì có 43,11 máy được nối mạng internet, chỉ tiêu này ở Mỹ là 21, 3; canada 16,62, ở Đức là 5,58

Bảng 1: Số lượng máy tính nối mạng internet trên thế giới đến tháng 1/1996 (Số lượng máy tính nối mạng internet /100 người dân)

Australia Canada New

ZeaLand Thụy

Hà Lan Đan Mạch Singapore Aùo

Máy vi tính nối

mạng internet

trên 100 dân

43.1 33.6 21.82 21.6 18.82 17.25 16.62 15.14 12.96 12.6 10.07 7.74 7.1

Nguồn: Tuần báo quốc tế số 41, từ ngày 9/10 đến 15/10/1996

Nhờ mạng lưới viễn thông đã bủa giăng khắp thế giới với kỹ thuật hiện đại, các loại hình dịch vụ này ngày càng phát triển phong phú với chất lượng cao Từ các loại dịch vụ điện thoại đến nhắn tin, điện tín, fax, tryền số liệu, hình ảnh, truyền hình hội nghị, dữ liệu, đến thư tín điện tử, quảng cáo, bán hàng từ xa từ một nơi nào đó có thể đi đến những nơi trên hành tinh người ta cần Chỉ riêng dịch vụ điện thoại người ta đã phát triển rộng rãi các loại hình từ điện thoại cố định, điện thoại di động, điện thoại có hình, điện thoại gọi bằng mạng internet

Trong các loại dịch vụ viễn thông thì dịch vụ điện thoại là một trong những dịch vụ quan trọng, được mọi người dùng một các thường xuyên và rộng rãi nhất Các nước phát triển hầu hết mọi gia đình đều có thuê bao máy điện thoại, họ cơ bản đã hoàn thành việc phổ cập điện thoại đối với mọi người và đang ngày càng phát triển các loại dịch vụ điện thoại mới có chất lượng cao, như điện thoại internet, điện thoại thấy hình, điện thoại di động Năm 1993, mật độä điện thoại tính trên 100 người dân trên thế giới thì ở châu Aâu là 29, ở

Trang 26

châu Mỹ là 24, châu Á là 4, châu Phi là 1 (Xem bảng 2)

Bảng 2: Mật độ điện thoại bình quân của các châu lục, năm 1993

Nước Dân số(triệu

người) Mật độ điện thoại(máy/100dân)

Ở các nước đang phát triển nói chung mật độ điện thoại còn thấp; nhưng trong thời gian gần đây cũng có tốc độ phát triển điện thoại rất nhanh và cao hơn nước ta Mật độ điện thoại tính trên 100 dân, năm 1993 ở Malaixia 11, Thái Lan 5, Mông Cổ 3, Bắc Triều Tiên 4 Đặc biệt ở Trung Quốc, tuy mật độ điện thoại còn thấp, có 3 máy/100 dân (năm 1993), nhưng dung lượng điện thoại đã lên đến 86,1 triệu máy, với 37,44 triệu hộ gia đình có máy điện thoại, trở thành một trong những nước có số lượng máy điện thoại nhiều nhất thế giới Tổng dung lượng điện thoại đường dài ở Trung Quốc và điện thoại có chuyển tiếp qua bưu điện tăng bình quân hàng năm tương ứng 50,4% và 42,7%.(xem bảng 3)

Bảng 3: Mật độ điện thoại cuối năm 1994 của một số nước châu Á Thái

Bình Dương

TÊN NƯỚC DÂNSỐ

(triệu người)

MẬT ĐỘ

( máy/100 dân )

TÊN NƯỚC DÂNSỐ

(triệu người)

MẬT ĐỘ

(máy/10

0 dân) Australia 17.8 52 Malaixia 18.8 11.2 Ấn Độ 882.5 1 Nhật 123.12 48 Thái Lan 57.2 4.5 Việt Nam 71.8 0.64 Tân Tây Lan 3.4 44.17 Bắc Triều Tiên 22.9 3.7 Srilanca 17.8 0.73 Hàn Quốc 44.6 42.6 Mông Cổ 2.18 3.05 Nê Pan 18.8 0.33 Hồng công 6.06 50.7 Trung Quốc 1171.7 2.63 Mianma 43.5 0.3 Singapore 2.8 41.1 Philipin 68.464 2.3 Afganistan 17.8 0.23 Indonexia 187.2 1.8 Lào 4.6 0.165

Nguồn: APT Year Book

Nhiều nước chỉ tiêu này thấp hơn nước ta, như Nêpan 0,3, Mianma 0,3

Trang 27

Bangladesh ,25

Các nước trong khu vực (ASEAN) có chỉ tiêu về số lượng máy điện thoại

trên đầu người cũng tương đối cao, và cao hơn rất nhiều so với ở nước ta

Bảng 4: Một số chỉ tiêu về điện thoại các nước trong khối ASEAN (số liệu năm 1995)

Nước Dân số

(triệu người)

GDP/Người (USD)

Dân số thành thị (%)

Người/1 điện thoại

Mật độ điện thoại/100 người

Nguồn: Asiaweak tháng 1/1995

Người ta ngày càng có xu hướng sử dụng rộng rãi điện thoại qua mạng internet, điện thoại thấy hình, đặc biệt là điện thoại di dộng Trong 10 kể từ năm

1994, trở về trước mạng điện thoại di động đã đạt được con số 30 triệu máy

trong 70 nước trên thế giới, đến năm 96 con số này vào khoảng 54 triệu máy

Người ta ước tính rằng trên thế giới có khoảng trên một nửa tỷ người dùng điện

thoại có công việc thường phải di chuyển

Thông tin di động không những được sử dụng rộng rãi trong điện thoại mà nó còn được sử dụng để truyền dữ liệu, truyền hình hội nghị, di động, máy nhắn

tin Người ta gọi thông tin di động là một cuộc cách mạng không dây, nó rất tiện

lợi trong công việc, bởi vì con người ngoài vị trí làm việc và sinh hoạt của mình

ở công sở và nhà mình, con người còn sử dụng khá nhiều thời gian cho công

việc và sinh hoạt ở những nơi khác, chính ở những nơi này thông tin di động tỏ

ra rất thuận tiện, mà các loại phương tiện phục vụ thông tin đặt cố định ở một

nơi không thể áp ứng được Hiện nay số máy thuê bao vô tuyến di động để

truyền dữ liệu ở Mỹ là 10 triệu, Anh 2,5 triệu, Đức 1,8 triệu, Pháp 0,9 triệu

Không những thông tin di động phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển mà

cũng phát triển nhanh ở các nước đang và mới phát phát triển Công ty Pyramid

của Mỹ dự báo số lượng thuê bao thông tin di động ở các nước đang phát triển,

vài năm tới sẽ vượt con số 26 triệu máy Và vào những năm này ở các nước Hàn

Quốc, philipin, Indonesia mỗi nước trên một triệu máy này thuê bao

Bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ mạng viễn thông mạng bưu chính thế

Trang 28

giới cũng được ổn định về số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ Nếu mạng viễn thông là vận chuyển các loại thông tin mang tính vô hình phi vật chất, ngược lại mạng bưu chính thì việc vận chuyển các sản phẩm thông tin chứa đựng trong các sản phẩm vật chất và các loại hàng hóa vật chất khác, bao gồm việc chuyển phát các loại hàng hóa cơ bản sau: các loại bưu phẩm, bưu kiện, tiền, các tài liệu thương mại, phát hành báo chí Sự phát triển của nó gắn liền với sự hiện đại của hệ thống giao thông Ngày nay, nói chung các nước đều có hệä thống đường xá và phương tiện giao thông hiện đại, nhất là ở các nước phát triển nên việc vận chuyển bưu phẩm bưu kiện rất thuận tiện và tương đối kịp thời Tùy theo nhu cầu đòi hỏi của khách hàng vềà thời gian và mức độ an toàn mà có các hình thức vận chuyển thích hợp từ đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không, từ vận chuyển bằng phương tiện chuyên dùng đến việc kết hợp với các phương tiện vận chuyển công cộng Nhìn chung thời gian vận chuyển các bưu phẩm, bưu kiện, phát hành báo chí ngày càng rút ngắn lại, và tính an toàn ngày càng được nâng cao Các loại hình dịch vụ từ việc vận chuyển bưu phẩm bưu kiệm đến phát hành báo chí, chuyển tiền trong một nước có thể hoàn thành trong vòng từ 1 đến 2 ngày, từ nước này qua nước khác hoàn thành trong vòng từ 2 đến 10 ngày Trình độ về mạng bưu chính ở các nước tiên tiến hiện nay thực hiện các dịch vụ phát chuyển nhanh

I.5 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

I.5.1 Tình hình phát triển của Ngành Bưu điện Việt Nam I.5.1.1 Về viễn thông

a Tình hình phát triển thiết bị và công nghệ mạng viễn thông

Mạng viễn thông trong nước, giai đoạn kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp (Từ năm 1986 trở về trước), nước ta chưa hình thành mạng quốc gia thống nhất Các mạng nội hạt có kết cấu đa trạm ở các thành phố lớn và có kết cấu đơn trạm ở các tỉnh lỵ, thị trấn; cơ cấu mạng ở nông thôn và các trung tâm mạng đường dài chưa được hình thành Kích thước mạng đường trục nhỏ, độ dự phòng thấp chưa đạt tiêu chuẩn của mạng đường trục Vì cơ cấu mạng chưa thống nhất, nên các chương trình phát thanh của đài Trung ương chỉ có thể truyền đi các nơi bằng việc tiếp âm của các đài địa phương theo phương thức truyền hình ngắn Mạng truyền thanh ở cơ sở thưa thớt, độ phủ sóng thấp Các đài truyền hình chưa nối với nhau bằng mạng đường trục và đường truyền dẫn riêng

Thiết bị truyền dẫn đa số là lạc hậu cũ kỹ, chắp vá gồm nhiều loại: tải

ba, dây trần, sóng ngắn, vi ba anolog kênh cấp đối xứng, cáp đồng trục, thông tin

Trang 29

vệ tinh Các thiết bị chuyển mạch gồm 4.900 thiết bị các loại với tổng dung lượng 240 ngàn số, trong đó số máy lẻ 110 ngàn máy Mạng đường trục bắc nam với hệ thống dây trần cũ kỹ Các thành phố lớn sử dụng thiết bị tổng đài và mạng cáp treo đã có hàng chục năm; ở các tỉnh lỵ chủ yếu sử dụng tổng đài nhân công Việc liên lạc gặp khó khăn không những với quốc tế, liên tỉnh mà cả trong tỉnh

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đến nay, một cuộc cách mạng trong công nghệ viễn thông đã được thực hiện ở nước ta

Kỹ thuật vi ba số và cáp quang đã thay thế dây trần, vi ba anolog Đến nay mạng truyền dẫn cấp 1 đã được trang bị thiết bị hiện đại, là vi ba số và cáp quang băng rộng Các đường truyền chính đã được lắp đặt : Vi ba số 140 Mb/S dài 2048 km, vi ba số 34 Mb/S dài 1873 km, vi ba số 8 Mb/S dài 3306 km; vi ba số 4 Mb/S dài 264 km Đường cáp quang 34 Mb/S Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh 1843 km; cáp quang Hà Nội - Nội Bài 34 b/S : 40 km Mạng cáp quang biển quốc tế 566 Mb/S nối nước ta với Thái Lan và Hồng Công với dung lượng

7000 kênh Nâng cấp cáp quang từ 34 Mb/S lên 2,5 Gb/S Hà Nội - Thành phố Hồ Chí minh : 1843 km Xây dựng đưa và sử dụng mạng vùng cáp quang SDM 2,5 Gb/S cho 2 thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Xây dựng trạm vệ tinh mặt đất tiêu chuẩn A ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Mạng truyền dẫn cáp quang II cũng đã được trang bị thiết bị truyền dẫn số Về chuyển mạch các thành phố lớn đã được trang bị tổng đài điện tử kỹ thuật số AL caldl

100, E 10, EWSD, AXE 103, TDX - 1B và đã mở rộng dung lượng cho các tổng đài tỉnh lỵ và lắp đặt tổng đài mới cho các tỉnh và nhiều huyện, thị xã Nhờ có thiết bị truyền dẫn (vi ba số, cáp quang, vệ tinh) và hệ thống chuyển mạch (các tổng đài điện tử số) hiện đại nên các dịch vụ thông tin từ nội hạt đến đường dài và quốc tế đã được tự động hóa

Đến cuối năm 1995, 100% tỉnh, thành phố và huyện thị đã được trang bị tổng đài điện tử số, 93,53% (474/495) huyện được trang bị thiết bị truyền dẫn số, đã kết nối lại với nhau và liên lạc với nhau tự động

Tình hình phát triển thiết bị và công nghệ mạng viễn thông quốc tế Trước

năm 1986, cả nước có 2 trung tâm liên lạc viễn thông quốc tế ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, phương tiện kỹ thuật lạc hậu, thông tin bằng vô tuyến sóng ngắn, các tổng đài quốc tế sử dụng loại từ thạch, chỉ cung cấp được dịch vụ điện thoại nhân công (từ thạch) và điện báo Từ năm 1980 đến 1985 cả nước mới xây dựng 2 trạm vệ tinh mặt đất Hoa Sen 1 và trạm Hoa Sen 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, dùng để bắt truyền hình từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam đi các nước Từ năm 1986 đến nay trang thiết bị và công nghệ viễn

Trang 30

thông quốc tế mới thực sự phát triển và hiện đại Hàng loạt côâng trình đã được xây dựng và đưa vào sử dụng : trạm vệ tinh mặt đất thuộc hệ intelsat tiêu chuẩn F2 và tiêu chuẩn A tại Thành phố Hồ Chí Minh, trạm Vista tiêu chuẩn A tại Hà Nội và trạm Intelsat tiêu chuẩn B tại Đà Nẵng 3 tổng đài điện thoại quốc tế hiện đại tại 3 thành phố lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Đến đầu năm 1996 cả nước đã có 7 trạm vệ tinh mặt đất thuộc cả hai hệ Intersputuik và Intelsat và các tổng đài quốc tế hiện đại A XE - 103 đã cung cấp các dịch vụ gọi điện thoại tự động quốc tế, Fax, truyền số lưu; đã mở được 2500 kênh quốc tế, có thể kết nối tự động với 600 triệu máy điện thoại thế giới Đến cuối năm 1994 viễn thông nước ta đã hòa mạng trực tiếp với 35 nước trên thế giới, quan hệ viễn thông với 200 nước trên thế giới Hiện nay, ở bất kỳ nơi nào trên nước ta có điện thoại đều có thể liên lạc tự động với nước ngoài một cách nhanh chóng

b Tình hình về sản lượng và doanh thu các loại dịch vụ viễn thông

Về dịch vụ điện thoại, trước năm 1996, bên cạnh kỹ thuật lạc hậu, thì số lượng máy điện thoại thuê bao rất thấp; đến năm 1985 cứ 1000 người dân thì chỉ có 2 người có máy điện thoại; trong khi đó ở cùng thời điểm này các nước chậm tiến nhất như ở châu Phi cũng có mật độ điện thoại khá hơn nước ta rất nhiều; bình quân ở nước này cứ 1000 người dân thì có 15 người có điện thoại

Trong thời kỳ này ở nước ta việc liên lạc điện thoại chủ yếu là ở các cơ quan, và đa số bằng máy từ thạch thủ công; trừ một số thành phố lớn gọi trong nội hạt bằng tổng đài tự động, còn lại phải qua tổng đài nhân công, cắm nút đến máy cơ quan cần gọi Việc liên lạc đường dài hoàn toàn qua tổng đài thủ công và thường phải chờ, có khi mất vài ngày cũng chưa thực hiện cuộc gọi được Chất lượng dịch vụ thấp, do thông tin không được số hóa nên, tiếng bị biến dạng, pha nhiều tạp âm và rất nhỏ, khó nghe, nhiều trường hợp không thực hiện được cuộc gọi do chất lượng truyền âm thanh kém Nhiều cuộc điện thoại đường dài trong và ngoài nước bị huỷ bỏ Năm 1986 có đến 20 ngàn cuộc đàm thoại quốc tế bị hủy bỏ Việc liên lạc bằng điện thoại dùng cho sinh hoạt của người dân rất hạn chế

Từ năm 1986 đến nay, nhờ việc phát triển nhanh chóng của mạng viễn thông và hiện đại hóa kỹ thuật; số lượng máy điện thoạïi thuê bao được tăng mạnh qua các năm; nếu năm 1989 cả nước mới có 113.000 máy điện thoại, cứ

1000 người dân mới có 2 thì đến năm 1993 tăng lên 268.000 máy và cứ 1000 người dân đã có 4 máy điện thoại Cuối năm 1995 có 766.000 máy điện thoại cứ

1000 người dân có 11 máy điện thoại; đến giữa năm 1996 cả nước đã có đến 1 triệu máy điện thoại được thuê bao Mạng lưới điện thoại đã mở đến các vùng

Trang 31

nông thôn và vùng sâu, vùng xa;đến tháng 7 năm 1995 có 5895/10.000 xã có

máy điện thoại

Nhờ mạng lưới điện thoại phát triển rộng khắp ở các nơi trong nước nên lưu lượng thông tin trong cả nước, tăng nhanh qua các năm; năm 1991 sản lượng điện thoại đường dài trong nước mới có 32,21 triệu phút thì đến năm 1994 đã

tăng lên 400 triệu phút và năm 1995 đạt 663 triệu phút

Nhờ mở rộng việc phát triển mạng viễn thông quốc tế nên lưu lượng thông tin quốc tế từ các năm thời kỳ 1991 - 1995 tăng rất nhanh; năm 1991 đạt 19,9 triệu phút đến năm 1993 tăng là 64,42 phút và năm 1995 đạt 210 triệu phút

Các loại dịch vụ mới viễn thông xuất hiện Nếu như điện thoại truyền thông xuất hiện đã từ lâu vào giữa cuối thế kỷ XIX, thì các loại dịch vụ mới viễn thông, mới xuất hiện thời gian qua nhờ vào sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật viễn thông, hiện đại hóa mạng truyền dẫn và chuyển mạch theo kỹ thuật số; nên đã xuất hiện nhiều loại dịch vụ mới, tuy với số lượng mỗi loại hình dịch vụ còn nhỏ bé, nhưng nó sẽ hứa hẹn phát triển tốt ở tương lai gần, do chất lượng phục vụ của mỗi loại hình này cao, tốc độ nhanh và rất tiện dụng Đến tháng 7/1995 ở nước ta có 7 loại dịch vụ đã đi vào hoạt động, đó là: điện thoại di động 10.000 máy, dịch vụ nhắn tin: 40.000 máy; dịch vụ truyền số liệu mạng VIETPAC và DATANOTE với 148 thuê bao; điện thoại thấy hình: 150 máy ở 40 bưu điện tỉnh, thành; Fax 9.000 máy; điện thoại dùng thẻ: 500 máy; điện thoại công cộng: 7.245 máy; dịch vụ 108 đã có ở 38 tỉnh, thành Ngoài ra còn có một số dịch vụ khác như dịch vụ tìm người; điện thoại giấy mời

I.5.1.2 Về lĩnh vực bưu chính và phát thanh báo chí Về phát triển phương tiện và công nghệ bưu chính và phát hành báo chí: Trước năm 1986, mạng lưới bưu chính ở nước ta đã được mở đến tận xã; ở

huyện, thị đã hình thành mạng bưu cục, nhưng mạng vận chuyển vẫn chủ yếu dựa vào phương tiện giao thông công cộng Phương thức khai thác ở tình trạng thô sơ, lạc hậu, ngoài các phương tiện giao thông công cộng, còn dùng các phương tiện thô sơ: Xe đạp, xe ngựa, xe bò và đi bộ

Từ năm 1986 đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực viễn thông; mạng bưu chính, phát hành báo chí cũng có bước phát triển mới: mạng lưới được mở rộng hơn; nhiều loại hình mới ra đời và phát triển; số lượng bưu cục ngày càng được mở thêm Đến cuối năm 1995 có 2.300 bưu cục, bình quân cứ 42.000 người dân có một bưu cục, có 500 kiốt và 1200 đại lý Để nâng cao chất lượng dịch vụ, ngành đã đầu tư lắp đặt các thiết bị hiện đại ở các bưu cục như trang bị thêm máy Stabas đóng dấu thay dán tem, tiêu chuẩn hóa các tem thư và phong bì có keo dán sẵn nâng cao hình thức trang trí ở các bưu cục

Trang 32

nhằm thu hút khách đến sử dụng

Hệ thống vận chuyển thu, bưu phẩm, bưu kiện đã được đầu tư xe vận chuyển chuyên dùng cho 100% đường thư trục chính và 75% đường thu nội tỉnh Đến cuối năm 1994, mạng đường cấp 1 hầu hết được sử dụng xe chuyên dùng với 125 xe, có 39 tuyến đường thu cấp I, trong đó có 30 tuyến xe chuyên ngành,

1 tuyến dùng xe của ngoài ngành, 4 tuyến máy bay, 4 tuyến tàu hỏa Mạng đường cấp II, III sử dụng 318 xe chuyên ngành do các bưu điện tỉnh, thành phố quản lý và được nơi giao nhận vận chuyển với mạng cấp 1 đáp ứng việc rút ngắn thời gian khai thác vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện tới tay người nhận

Đối với mạng đường thư quốc tế, các bưu kiện được đóng thẳng đi 40 nước, lập mạng vi tính nội bộ và quốc tế để theo dõi các gốc hàng đi và đến; trang bị thiết bị thông tin Scaner để ghi chép chi tiết khi phát hành và tự động chuyển vào máy vi tính

I.5.1.3 Tình hình về dịch vụ kinh doanh mạng bưu chính và phát hành báo chí

Trước năm 1986, do trang bị các phương tiện về bưu chính và phát hành báo chí có hạn chế và thô sơ, lạc hậu nên khả năng mở các dịch vụ này bị hạn chế Đến năm 1985, mật độ thư đi chỉ đạt 41 bức thư trên 1000 dân, trong khi đó

ở các nước Đông Âu như Ba Lan vào năm 1984 là 400 lá trên 1000 dân; mật độ tập chí là 873 tờ trên 1000 dân trong khi đó của các nước Đông Âu (Ba Lan) 10.000 tờ trên 1000 dân Các loại hình dịch vụ của các bưu cục: Bằng tem, phong bì, báo và tạp chí; ở bưu cục cấp I có thêm dịch vụ điện báo, chuyển bưu kiện, loại phẩm, chuyển tiền

Từ năm 1986 đến nay, nhờ việc mở rộng mạng lưới bưu chính phát hành báo chí và việc đổi mới trang thiết bị nên bên cạnh việc mở rộng các dịch vụ truyền thống, nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời và phát triển; chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao Các bưu cục ngoài việc dịch vụ truyền thống thì đến nay đã phát triển thêm nhiều loại hình mới: như dịch vụ Fax; dịch vụ chuyển phát nhanh; dịch vụ giao phát quốc tế nhận chuyển, phát các loại tài liệu thương mại, mẫu mã hàng hóa, điện hoa, bưu hoa, bưu phẩm tự báo giá Các dịch vụ truyền thống nhờ đổi mới trang thiết bị nên chất lượng được nâng cao Trước đây chuyển phát bưu phẩm, bưu kiện thời gian bị kéo dài, có khi còn bị thất lạc, nhầm lẫn, thì nay thời gian đã rút ngắn lại, tỷ lệ bưu phẩm, bưu kiện bị thất lạc hầu như không xảy ra Tần suất các chuyến vận chuyển được tăng lên,17 tỉnh có tần suất 1 chuyến trên ngày, 18 tỉnh có tần suất 2 chuyến này Đã đưa các qui định của liên bưu điện quốc tế (UPU) vào sử dụng : như đối với bưu phẩm : ghi sổ, phát riêng, phát tận tay, máy bay, báo nhận, hỏa tốc, bưu ký, khai giá, bưu

Trang 33

phẩm có chứng nhận gởi Đối với bưu kiện: được nhận đến 10 ký, trong và ngoài nước Đồng thời mở dịch vụ nói và chuyển phát nhanh bưu phẩm thu cước người nhận (Collect Lette) ở các nước Pháp, Canada, Mỹ Tần suất dùng chuyển cũng đã tăng lên từ 2 lên 3 đến 4 chuyến tuần đối với những cuộc có lưu lượng lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Đức, Pháp, Mỹ, Canada, Thụy Sĩ Tần suất cũng được tăng từ 2 lần lên 3 đến 4 lần chuyến tuần đối với những nước có lưu lượng lớn như Thái Lan, Aán Độ, Đức, pháp, Mỹ Canada, Thụy Sỹ Tốc độ chuyển tiền truyền thống trước đây (Những năm 1980) bình quân là 2 tháng, nay xuống còn 7 ngày (năm 1995) Năm 1994, doanh số chuyển tiền trong nước là 430 tỷ đồng, chuyển tiền quốc tế là 50 tỷ đồng, dịch vụ chuyển tiền nhanh có doanh số 223 tỷ đồng Dịch vụ phát chuyển nhanh (EMS) có tốc độ tăng nhanh, năm 1993 doanh thu 4 tỷ đồng , năm 1994 tăng lên 11 tỷ đồng; sản lượng dịch vụ năm 1993 là100 ngàn cái, năm 94 tăng lên 400 ngàn cái Mạng lưới dịch vụ EMS đã mở xuống tận bưu điện quận huyện, cách thành phố lớn có lưu lượng dịch vụ cao Hiện nay dịch vụ phát chuyển nhanh bưu phẩm(EMS) đã vươn đến các nuớc châu A,Ù châu Úc, châu ÂU và châu Mỹ; đã liên kết với 23 công ty phát chuyển nhanh quốc tế, như:các ty DHL, Fedex, USS, American Exprex Dịch vụ điện hoa đã được phát rộng rãi và được đưa về tận bưu điện cấp II và cấp III

Việc phát hành báo chí được mở rộng, các loại báo chí phát hành đều tăng Trước đây, (năm1975) có 284 loại báo chí được phát hành qua bưu điện, đến nay (năm 1994) tăng lên 638 loại; số lượng tờ báo phát hành trước đây là

142 tờ tuần nay đã tăng lên 165 tờ tuần Đến tháng 7 năm 1995 có 52/53 tỉnh thành, 380/495 huyện, thị và 5895/9875 xã, phường trong toàn quốc đã có báo đọc trong ngày

Tem thư, phong bì đã được tiêu chuẩn hóa trên toàn mạng và có bước phát triển cả về chủng loại, số lượng và doanh thu Trong năm 1994 đã phát hành 24 loại tem, 16 triệu con tem; 398.000 Block Doanh thu đạt 8,2 tỷ đồng; trong đó tem cước phí là 2,7 tỷ đồng, tem xuất khẩu là 9 triệu đồng, tem chơi trong nước

là 6 tỷ đồng

Trang 34

CHƯƠNG2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG

II.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN BƯU ĐIỆN LÂM ĐỒNG

Từ khi Đảng Cộng sản việt nam thành lập (Năm 1930) đã xuất hiện các phong trào và hình thành các tổ chức hoạt động cách mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ đó đã hình thành và phát triển công tác thông tin liên lạc của Cách mạng Đó là công tác chuyển tài liệu, giấy tờ, công văn bưu phẩm của Đảng cho các tổ chức hoạt động các mạng; tổ chức liên lạc theo các đường dây

bí mật, hoặc công khai trong các vùng giải phóng, căn cứ cách mạng Trước cách mạng tháng Tám, công tác thông tin liên lạc ở tỉnh Lâm Đồng chưa hình thành một tổ chức hoàn chỉnh và hoạt động bí mật Tuy vậy, đó đã góp phần vào việc củng cố phát triển các tổ chức cách mạng trên địa bàn tỉnh

Sau cách mạng tháng Tám, đã hình thành tổ chức thông tin liên lạc Trong giai đoạn đầu của chín năm kháng chiến chống Pháp, tổ chức vẫn còn phân tán, nhưng điều kiện phương tiện hoạt động có tiến bộ hơn trước cách mạng tháng Tám, các cơ quan đầu não của tỉnh, như Tỉnh ủy, Tỉnh đội đã có bộ phận thông tin liên lạc và được trang bị các máy vô tuyến, nhưng nhìn chung phương tiện vẫn còn thiếu thốn và lạc hậu, nên việc thông tin liên lạc thường bị đứt quảng Tuy vậy các tổ chức thông tin liên lạc ngày càng được phát triển rộng khắp, những người làm công tác thông tin liên lạc đã kiên cường vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ

Trong đấu tranh thống nhất đất nước, công tác thông tin được hình thành các bộ phận: mạng lưới đường hành lang, được xây dựng hàng chục trạm nối với nhau, làm nhiệm vụ nối liền mạch máu giao liên, đưa công văn giấy tờ, đưa cán bộ Đã hình thành các tổng đài thông tin vô tuyến quan trọng như Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Cơ quan An ninh tỉnh nhằm liên lạc bằng vô tuyến với các cơ sở cách mạng, các huyện thành ủy, với khu ủy và các đơn vị khác Công tác thông tin liên lạc trong thời kỳ này vô cùng gian khổ vất vã, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn , trang thiết bị thô sơ, nhưng đã đáp ứng được những nhu cầu cơ bản về thông tin liên lạc Đã vận chuyển hàng vạn lượt công văn giấy tờ, tư tín, chuyển phát hàng ngàn bức điện báo, hàng vạn cuộc đàm thoại bảo đảm an toàn, phục vụ kịp thời cho sự lãnh đạo của Đảng và cho các mặt trận, góp phần cùng cả nước kháng chiến thắng lợi

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi tiếp quản cơ sở vật chất và phương tiện bưu chính viễn thông của chế độ cũ để lại toàn tỉnh Lâm Đồng chỉ

Trang 35

có một tổng đài cơ điện 2000 số ở Đà Lạt còn hoạt động 200 số và một tổng đài từ thạch ở Bảo Lộc có 7 máy, với đội ngũ cán bộ được tăng cường từ Miền Bắc vào và cán bộ chiến sĩ làm công tác thông tin ở chiến khu ra khoảng 100 người với trình độ nghiệp vụ hạn chế Đến nay, mạng lưới về bưu chính, viễn thông đã phát triển rộng rộng khắp từ tỉnh đến xã Đã hình thành một mạng lưới viễn thông tương đối hiện đại nối với mạng quốc gia 100% huyện trong tỉnh có tổng đài điện thoại số tự động và 100% đã được hoà mạng viễn thông 50/128 xã có máy điện thoại 100% đường thư cấp 2 và 95% đường thư cấp 3 được cơ giới hóa, 10/11 huyện, thành có báo đọc trong ngày Các dịch vụ mới được phát triển, như dịch vụ chuyển tiền nhanh, dịch vụ 108, nhắn tin, điện thoại di động đã được đưa vào sử dụng

II.2 MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở ĐỊA PHƯƠNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BƯU LÂM ĐỒNG

Về vị trí điạ lý: Lâm Đồng là một tỉnh niền núi phía Nam Tây Nguyên, với

diện tích10.000 km2, dân số 850 ngàn người (Số liệu đầu năm 1997) Vị trí địa lý có quan hệ với các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với hệ thống giao thông Quốc lộ 20, Quốc lộ 27, Quốc lộ 28 và một hệ thống đường sắt từ Đà Lạt đi Tháp Chàm, Sân bay Liên Khương, Cam Ly là những điều kiện thuận lợi cho liên kết các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh với các tỉnh khác và các vùng xung quanh, trong đó có việc quan hệ liên kết các hoạt động về dịch vụ bưu chính viễn thông, như quan hệ thông tin qua điện thoại, vận chuyển thư từ, sách báo bưu phẩm Hệ thống giao thông càng phát triển cho phép ngày càng rút ngắn thời gian vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện phát hành báo chí Tăng sức thu hút các nhà đầu tư vào phát triển kinh tế ở Lâm Đồng làm tăng thu nhập của người tiêu thụ, tăng mức tiêu dùng về dịch vụ bưu chính viễn thông

Về địa hình, là một tỉnh miền núi đất rộng, địa hình phức tạp, đây là

những khó khăn cho việc xây dựng hệ thống điện thoại cáp ở vùng sâu, vùng

xa, vùng nông thôn, cũng như rút ngắn thời gian vận chuyển báo chí

Về dân số, lao động: Hiện nay, dân số Lâm Đồng khoảng 850 ngàn dân

và 450 ngàn lao động, trong đó khoảng 250 ngàn dân sống ở khu vực thành thị Qui mô và tỷ trọng dân số thành thị có tác động tỷ lệ thuận đến việc phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông Qui mô dân số, tỷ trọng dân thành thị lớn, mức thu nhập của dân cư cao sẽ làm tăng nhu cầu tiên dùng về các loại dịch vụ bưu chính viễn thông Nhưng nhìn chung hiện nay, mức thu nhập của dân cư vẫn còn thấp, nhất là vùng sâu vùng xa; nhu cầu tiêu dùng về dịch vụ bưu chính viễn

Trang 36

thông mới chỉ ở mức thấp và dùng các dịch vụ thông thường Tuy vậy, thời gian tới, đến năm 2010 dân số Lâm Đồng khoảng 1,2 triêu trong đó 500 người sống ở thành thị, cùng với việc tăng qui mô dân số, tăng mức độ đô thị hóa, tăng mức thu nhập trong các tầng lớp dân cư và giá dịch vụ về bưu chính viễn thông hạ, sẽ làm mức độ tăng cầu về dịch vụ bưu chính, viễn thông phát triển nhanh

Về kinh tế: Kinh tế Lâm Đồng phát triển sẽ làm tăng nhu cầu dịch vụ bưu

chính viễn thông ngày càng lớn Thể hiện cả việc tăng tiêu dùng về dịch vụ này

ở các bộ phận dân cư và ở các đơn vị kinh tế, ở các cơ quan hành chính Trong những năm gần đây do đầu tư trong và ngoài tỉnh vào Lâm Đồng tăng, làm cho tốc độ phát triển kinh tế nhanh; bình quân hàng năm trên 10% Tuy vậy điểm xuất phát bình quân GDP đầu người mới 250 USD, trong đó ở thành thị 400 USD, nông thôn 174 USD Với điểm xuất phát thấp hiện tại thị trường ở tỉnh thuộc diện đói tiêu dùng về dịch vụ bưu chính viễn thông cùng với việc tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới dự tính đến năm 2010 GDP bình quân đầu người là 2600 USD, thì nhu cầu về tiêu dùng tiêu chính viễn thông sẽ phát triển

mạnh

Về môi trường chính trị và luật pháp: Trong những năm qua cùng với

chính sách chủ trương của Đảng và Nhà nước về tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế, tỉnh đã chú phát triển

cơ sở hạ tầng, trong đó có ngành bưu điện đã phát triển và đi trước một bước so với sự phát triển của các ngành kinh tế khác Nhà nước đã xác định ngành bưu điện là một ngành kinh tế vừa mang tính kinh doanh vừa mang tính công ích Những vùng và những sản phẩm quan trọng nhưng có khăn về kinh doanh, thì sẽ có sự hỗ trợ của Nhà nước Nhà nước giao nhiệm vụ kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông cho một tổng công ty thực hiện, vì vậy sản phẩm dịch vụ về lĩnh vực này mang tính độc quyền cao Đây là mặt thuận lợi để cho ngành bưu điện nói chung và bưu điện tỉnh Lâm Đồng nói riêng phát triển mạnh trong thời tới Đồng thời với sự ổn định về chính trị và chính sách mở cửa của Nhà nước là những thuận lợi gúp cho ngành bưu điện tỉnh phát triển mạnh các quan hệ về bưu chính viễn thông với các nước trong khu vực và trên thế giới Ngành Bưu điện Lâm Đồng đã quan hệ tốt với các cấp ủy đảng, chính quyền và các ban

ngành trong tỉnh; đây cũng là nhân tố giúp ngành hoạt động thuận lợi

Về công nghệ: Công nghệ ngành bưu chính viễn thông là một trong những

ngành công nghệ mũi nhọn Nó gắn liền với tin học, số hóa, công nghệ vệ tinh, công nghệ truyền dẫn, công nghệ điện tử, công nghệ quang học, phần mềm xử lý và lưu trữ thông tin Các loại công nghệ đó được phát triển và đổi mới không ngừng Đây cũng là những cơ hội cũng là những thách thức và nguy cơ Cơ hội

Trang 37

đó là nếu biết quản lý kinh doanh tốt, thì doanh nghiệp sẽ làm ăn có hiệu qủa, thu hồi vốn nhanh, có khả năng đổi mới được công nghệ, khi có công nghệ mới

ra đời, từ đó tăng khả năng kinh doanh mới Bưu điện Lâm Đồng có thuận lợi là một ngành đi sau các nước khác, nên có điều kiện để đi thẳng vào công nghệ hiện đại, và hiện nay đang phát triển theo hướng đó

Thách thức và nguy cơ, đối với ngay cả những thiết bị công nghệ hiện nay được coi là hiện đại, nhưng nếu không có kế hoạch khai thác một cách hợp lý, để thu hồi vốn nhanh, sẵn sàng đón đầu đổi mới công nghệ trong giai đoạn tới, thì trong những chặng đường tiếp theo sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, dẫn đến hao mòn vô hình, làm cho năng lực sản xuất bị giảm sút, doanh nghiệp không có khả năng đổi mới thiết bị, kéo theo các sản phẩm dịch vụ bưu chính viễn thông không phù hợp với tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, dẫn đến năng lực kinh doanh

bị suy thoái

Vấn đề đặt ra cho ngành Bưu điện tỉnh trong thời gian tới là cần xem xét dự báo xu huớng phát triển công nghệ trong các thời kỳ phát triển và chủ động có kế hoạch khai thác, khấu hao, thu hồi vốn các thiết bị hiện có, để đến chu kỳ thay đổi công nghệ mới của thế giới, sẽ có vốn để đổi mới thiết bị, tăng thêm năng lực sản xuất mới

Từ sự phân tích trên, ta có ma trận EFE như sau:

quan trọng

Phân loại Số điểm

quan trọng

2-Thiết bị bưu chính viễn thông đa dạng 0.15 3 0.45

3-Mức sống dân cư có chiều hướng tăng 0.10 3 0.3

4-Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng 0.10 3 0.3

5-Các nhà đầu tư ngày càng đầu tư vào Lâm Đồng 0.10 3 0.3

6-Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng 0.10 2 0.2

7-Mức sống dân cư vùng sâu, xa thấp 0.05 2 0.1

9-Kết cấu hạ tầng vùng sâu, xa thấp kém 0.05 2 0.1

Qua ma trận này ta đã định lượng hóa việc phân tích môi trường bên ngoài tác động đến việc kinh doanh dịch vụ của Bưu điện Lâm Đồng, với tổng số điểm quan trọng là 2,95 lớn hơn điểm trung bình là 2,5 Vì vậy có thể rút ra nhận định là môi trường kinh doanh cũng tương đối thuận lợi đối với doanh nghiệp

II.3 VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH BƯU ĐIỆN TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH

Là một trong những ngành thuộc kết cấu hạ tầng nên vai trò vị trí của ngành bưu điện tỉnh rất quan trọng, nếu các ngành kinh tế khác có thể không

Trang 38

phát triển ở Lâm Đồng, thì ngược lại ngành bưu điện không thể không có và không thể không ưu tiên phát triển

Ngành Bưu điện tỉnh phát triển, với công nghệ hiện đại sẽ tạo tiền đề cho các ngành kinh tế khác phát triển, trước hết là thỏa mãn các dịch vụ về chuyển tải các thông tin cho tất cả các đơn vị, cơ quan, các cá nhân, hộ gia đình cần trao đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đảm bảo kịp thời

Gắn nối, liên kết, tạo mối quan hệ trong kinh tế, trong quan hệ xã hội, trong nghiên cứu khoa học, học tập của các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài

Phát triển ngành bưu điện theo hướng hiện đại, tạo ra các loại hình dịch vụ có chất lượng cao, góp phần tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu

tư trong, ngoài tỉnh và quốc tế vào phát triển kinh tế tại địa bàn tỉnh

Góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lâm Đồng, hiện đại hóa phương tiện làm việc, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế xã hội an ninh quốc phòng, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các đơn vị kinh tế trong tỉnh

Góp phần cải thiện cuộc sống về vật chất và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh

II.4 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ THUẬT NGÀNH BƯU ĐIỆN LÂM ĐỒNG

II.4.1 Mạng truyền dẫn và chuyển mạch

Trước năm 1986, nhìn chung mạng viễn thông tỉnh phát triển chậm, kỹ thuật lạc hậu, toàn tỉnh có 297 km đường dây thông tin hữu tuyến, được xây dựng bằng cột bê tông và cột sắt, gồm 13 kênh liên tỉnh và 14 kênh liên huyện,

113 km đường dây đi bằng cột gỗ, 17 đầu máy tải ba từ 1 đến 12 đường, 44 máy vô tuyến sóng ngắn, 8 đầu máy teletíp, 42 tổng đài các loại, trong đó tự động

820 số, từ thạch 990 số, có 1773 máy điện thoại

Những năm sau 1986 đến năm 1992, là giai đoạn bắt đầu có sự phát triển và đổi mới kỹ thuật; mạng truyền dẫn vẫn khai thác bằng tải ba ít kênh trên các đôi dây trần Mạng cáp chủ yếu tận dụng, mang tính chắp vá, mạng chuyển mạch đã từng bước trang bị các tổng đài cơ điện tử thay thế tổng đài từ thạch, như tổng đài PC 1000 số, tổng đài MSN 70/7 cho các huyện Di Linh, Đơn Dương, Lâm Hà , Đạ Huoai, Lạc Dương

Từ năm 1993 đến nay, là giai đoạn có sự phát triển nhanh về qui mô và đổi mới toàn diện về kỹ thuật, hệ thống truyền dẫn và chuyển mạch có tốc độ phát triển nhanh Các tuyến truyền dẫn liên tỉnh, liên huyện và cấp III đã được viba số hóa và tất cả đều đã được hoà vào mạng quốc gia, mạng cáp truyền dẫn

Trang 39

nội hạt đã được chú ý đầu tư và phát triển nhanh đáp ứng với tốc độ tăng thuê bao máy điện thoại Đến nay toàn tỉnh dung lượng tổng đài điện tử đã được nâng lên 22.000 số, các cấp tổng đài trên mạng đảm bảo chế độ làm việc bình thường.(xem bảng 5)

II.4.2 Mạng điện báo

Trước năm 1992, mạng điện báo thực hiện bằng vô tuyến sóng ngắn liên lạc giữa trung ương và tỉnh, tỉnh với các huyện và một số tỉnh bạn Toàn tỉnh có

44 máy vô tuyến sóng ngắn, 8 đầu máy teletíp Đặt một số tổng đài điện báo ở một số nơi có vị trí về an ninh quốc phòng, và phục vụ việc chống bão lụt

Sau năm 1992, ngoài việc duy trì tốt mạng gentex, mạng telex qua tổng đài điện tử, sau khi đưa mạng viba số vào sử dụng đã chuyển kênh khai thác điện báo lên mạng vi ba số và cáp quang Mạng thông tin hệ mật đã được trang

bị một máy phát Codan, hiện đại khai thác được hai chức năng báo và thoại Tổng đài điện báo T9000 đấu nối qua thiết bị TDM khai thác trên mạng Quốc gia ở Đà Lạt, Đức Trọng, Di Linh và Bảo Lộc Các huyện khác sử dụng qua điện thoại hoặc khai thác vô tuyến điện qua mạng A1 Từ tháng 6 năm 1995, mạng

điện báo đã được đảm bảo khai thác qua Fax cho tất cả các huyện, thị

Bảng 5: Tình hình trang thiết bị mạng viễn thông Bưu điện Lâm Đồng

Tên thiết bị Đơn vị tính Năm 1986 về trước 1986-1991 1992-1996

- Hệ truyền dẫn

đường dây trần liên tỉnh, liên huyện Km 297 297 -

- Số kênh liên tình Kênh 13 13 -

- Số kênh liên huyện Kênh 14 14 -

Hệ chuyển mạch Số 1810 1810 2010

- Tổng đài tự động cơ điện Số 820 1010 1010

- Tổng đài diện tử Số - - 2200

- Tổng đài từ thạch Số 990 800 -

- Viba số Trạm - - 19

- Đường cáp Km 34 120 495

Nguồn: Bưu điện Lâm Đồng

II.4.3 Mạng bưu chính

Trước năm 1986, toàn tỉnh có hai đường thư liên tỉnh Đà Lạt – Tp Hồ Chí

Trang 40

Minh; Đà Lạt - Nha Trang, công suất một ngày một chuyến, kết hợp với đường thư cấp II với các bưu cục dọc quốc lộ 20 Đường thư cấp III từ huyện đến xã từng bước được cũng cố, nhưng phương tiện chủ yếu là đi bộ, đường thư cấp II phương tiện vận chuyển bằng xe khách

Từ năm 1986 đến nay, mạng đường thư cấp I, kết hợp với đường thư cấp II được nâng lên 2 chuyến một ngày; phương tiện vận chuyển bằng xe chuyên dùng; một số tuyến cấp II còn lại vẫn chuyển bằng xe đò, mạng đường thư cấp III đa số được vẫn chuyển bằng xe gắn máy Đến nay toàn tỉnh có 23 bưu cục các loại Phần lớn các bưu cục đã được xây dựng mới hoặc cải tạo, kiên cố khang trang 100% bưu cục 2 được trang bị máy Fax, máy vi tính, cân điện tử Đã đưa công nghệ điện tử, tin học vào quản lý khai thác trong lĩnh vực bưu chính và phát hành báo chí

Bảng 6: Tình hình cơ sở trang thiết bị mạng bưu chính phát hành báo chí Bưu điện Lâm Đồng

Đơnvị tính Trước năm1986 1986-1991 1992-1996

* Tuyến đường thư

-Tuyến đường cấp I Tuyến 2 2 2 -CấpII Tuyến 8 10 11 -CấpIII Tuyến 72 82 128

* Mức độ trang bị cơ giới phương tiện vận chuyển

- Tuyến cấp I % 100 100 100

- Tuyến cấp II % 100 100 100

- Tuyến cấp III % - 50 100

* Số bưu cục Cái 18 18 23

Nguồn: Bưu điện Lâm Đồng

II.5 TÌNH HÌNH SẢN LƯỢNG VÀ DOANH THU CỦA NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG II.5.1 Tình hình phát triển và sản lượng điện thoại

Trước năm1993, máy điện thoại thuê bao chủ yếu tập trung ở các cơ quan, đơn vị thuộâc khu vực nhà nước, số lượng chưa đến 1800 máy, tốc độ thuê bao có nhịp độ tăng không đáng kể

Từ năm 1993 đến nay, nhờ thực hiện chủ trương tăng tốc ngành bưu điện,

Ngày đăng: 06/05/2017, 15:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Mật độ điện thoại cuối năm 1994 của một số nước châu Á Thái  Bỡnh Dửụng - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 3 Mật độ điện thoại cuối năm 1994 của một số nước châu Á Thái Bỡnh Dửụng (Trang 26)
Bảng 2: Mật độ điện thoại bình quân của các châu lục, năm 1993 - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 2 Mật độ điện thoại bình quân của các châu lục, năm 1993 (Trang 26)
Bảng  4:  Một  số  chỉ  tiêu  về  điện  thoại  các  nước  trong  khối  ASEAN                                                            (soỏ lieọu naờm 1995) - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
ng 4: Một số chỉ tiêu về điện thoại các nước trong khối ASEAN (soỏ lieọu naờm 1995) (Trang 27)
Bảng 6: Tình hình cơ sở trang thiết bị mạng bưu chính phát hành báo  chí Bưu điện Lâm Đồng - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 6 Tình hình cơ sở trang thiết bị mạng bưu chính phát hành báo chí Bưu điện Lâm Đồng (Trang 40)
Bảng  7:  Tình  hình  số  luợng  và  mật  độ  điện  thoại  các  tỉnh  trong  cả  nước, năm1995 - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
ng 7: Tình hình số luợng và mật độ điện thoại các tỉnh trong cả nước, năm1995 (Trang 41)
Bảng8: Hình hình phát triển các loại máy viễn thông thuê bao của Bưu  điện Lâm Đồng. (Đơn vị tính: Máy) - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 8 Hình hình phát triển các loại máy viễn thông thuê bao của Bưu điện Lâm Đồng. (Đơn vị tính: Máy) (Trang 42)
Bảng 9: Tình  hình doanh thu của Bưu điện Lâm Đồng thời kỳ 91-95.  (Đơn vị tính: Triệu đồng) - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 9 Tình hình doanh thu của Bưu điện Lâm Đồng thời kỳ 91-95. (Đơn vị tính: Triệu đồng) (Trang 43)
Bảng 10. Tốc độ phát triển liên hoàn của doanh thu - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 10. Tốc độ phát triển liên hoàn của doanh thu (Trang 43)
Bảng 12: Tình hình sản lượng của mạng Bưu chính phát hành báo chí  91-96 của Bưu điện Lâm Đồng - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 12 Tình hình sản lượng của mạng Bưu chính phát hành báo chí 91-96 của Bưu điện Lâm Đồng (Trang 46)
Bảng 16:  Một số chỉ tiêu tài chính thời kỳ 1990 - 1995 của Bưu điện Lâm  Đồng  (Đơn vị tính: Triệu đồng) - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 16 Một số chỉ tiêu tài chính thời kỳ 1990 - 1995 của Bưu điện Lâm Đồng (Đơn vị tính: Triệu đồng) (Trang 54)
Bảng 22: Một số chỉ số tài chính của Bưu điện Lâm Đồng thời kỳ  1990-1996                                                        (ẹụn vũ tớnh: Laàn) - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 22 Một số chỉ số tài chính của Bưu điện Lâm Đồng thời kỳ 1990-1996 (ẹụn vũ tớnh: Laàn) (Trang 54)
Bảng đánh giá điểm số các trục của  ma trận  SPACE như sau: - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
ng đánh giá điểm số các trục của ma trận SPACE như sau: (Trang 63)
Bảng 23: Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu của của ngành Bưu điện  Lâm đồng, từ nay đến năm 2010 - Định hướng phát triển ngành Bưu điện tỉnh Lâm Đồng thời kì 1996 đến năm 2010, Lê Quang Tường
Bảng 23 Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu của của ngành Bưu điện Lâm đồng, từ nay đến năm 2010 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w