LỜI CẢM ƠN Qua thời gian thực tập tại địa bàn xã Hương Phong và xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế kết hợp với kiến thức đã học trên ghế nhàtrường, đến nay tôi đã hoàn t
Trang 1Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Tôn Thất Chất
Sinh viên thực hiện : Lý Thị Thơm
Lớp : Cao Đẳng Nuôi Trồng Thủy Sản 47
Bộ môn : Nuôi Trồng Thủy Sản
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập tại địa bàn xã Hương Phong và xã Hải Dương, thị
xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế kết hợp với kiến thức đã học trên ghế nhàtrường, đến nay tôi đã hoàn thành báo cáo tốt nghiệp cuối khóa của mình với
đề tài: “ Điều tra và so sánh tình hình nuôi xen ghép các đối tượng thủy sản cógiá trị kinh tế cao trên địa bàn xã Hương Phong và xã Hải Dương, thị xãHương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ”
Để hoàn thành báo cáo này ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi xin chânthành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế, cácthầy cô trong khoa Thủy sản cũng như các thầy cô trong trường đã tận tìnhgiảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức rất quan trọng và bổ ích trongsuốt 3 năm vừa qua Đó không chỉ là những kiến thức cần thiết cho đợt thựctập cuối khóa này mà còn là hành trang giúp tôi vững bước vào đời
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, các bác nuôi xen ghép tại xãHương Phong và xã hải Dương đã quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, chia sẽ kinhnghiệm cho tôi trong quá trình thực tập tại địa phương
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tôn Thất chất,giảng viên khoa Thủy sản đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn,quan tâm giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện báo cáo này
Và qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn đối với giađình và lời cảm ơn chân thành đến bạn bè đã luôn ủng hộ, chia sẽ, động viêntinh thần cho tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành báo cáo này
Huế, tháng 6 năm 2016Sinh viên: Lý Thị Thơm
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước xã Hương Phong
Bảng 4.2 Tổng diện tích NTTS của 2 xã giai đoạn 2012-2015
Bảng 4.3 Diễn biến sản lượng NTTS của 2 xã Hương Phong và Hải Dươnggiai đoạn 2012 – 2015
Bảng 4.4 Số lao động tham gia NTTS
Bảng 4.5 Độ tuổi các hộ được phỏng vấn
Bảng 4.6 Trình độ học vấn các hộ được phỏng vấn
Bảng 4.7 Số năm kinh nghiệm các hộ được phỏng vấn
Bảng 4.8 Số lần tham gia tập huấn NTTS
Bảng 4.9 Mức độ áp dụng kỹ thuật từ các lớp tập huấn của các hộ nuôiBảng 4.10 Tình hình sở hữu về ao nuôi
Bảng 4.11 Nghề nghiệp thu nhập chính các hộ được phỏng vấn
Bảng 4.12 Tín dụng và vay vốn
Bảng 4.13 Các thông số kỹ thuật về tình hình cải tạo ao
Bảng 4.14 Các chỉ tiêu của chất lượng nước
Bảng 4.15 Đối tượng, mật độ và kích cỡ thả giống
Bảng 4.16 Biện pháp quản lý ao nuôi của ngư dân 2 xã
Bảng 4.17 Các bệnh thường gặp và cách chữa trị
Bảng 4.18 Số hộ mắc bệnh
Bảng 4.19 Biện pháp thu hoạch
Bảng 4.20 Hoạch toán kinh tế của 2 xã
Bảng 4.21 Hiệu quả kinh tế của vụ nuôi
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ vị trí địa lý xã Hương Phong – thị xã Hương Hình 4.2.Bản đồ vị trí địa lý xã Hải Dương – thị xã Hương Trà Hình 4.3 Hình thái tôm Sú
Hình 4.4 Hình thái cua Xanh
Hình 4.5 Hình thái cá Kình
Hình 4.6 Hình thái cá Dìa
Hình 4.7 Hình thái cá Đối Mục
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 4.1 Tổng diện tích NTTS của 2 xã giai đoạn 2012-2015Bản đồ 4.2 Sản lượng NTTS xã Hương Phong giai đoạn 2012-2015Bản đồ 4.3 Sản lượng NTTS xã Hải Dương giai đoạn 2012-2015Bản đồ 4.4 Số nhân khẩu tham gia NTTS
Bản đồ 4.5 Cơ cấu độ tuổi các hộ tham gia NTTS
Bản đồ 4.6 Cơ cấu trình độ học vấn các hộ dân tham gia NTTSBản đồ 4.7 Số năm kinh nghiệm các hộ dân tham gia NTTS
Bản đồ 4.8 Số lần tham gia tập huấn NTTS
Bản đồ 4.9 Mức độ áp dụng kỹ thuật NTTS
Bản đồ 4.10 Tình hình sở hữu ao nuôi
Biểu đồ 4.11 Nghề nghiệp thu nhập chính các hộ được phỏng vấnBiểu đồ 4.12 Tình hình vay vốn các hộ được phỏng vấn
Bản đồ 4.13 Chất lượng nguồn nước sử dụng
Bản đồ 4.14 Tỷ lệ các đối tượng nuôi xen ghép trong ao
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Cộng tác viên : ctv
DO : Oxy hòa tan
BOD : Nhu cầu oxy sinh hóa
COD : Nhu cầu oxy hóa học
Trang 7PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, ngành NTTS
đã có những bước phát triển nhảy vọt, tạo ra giá trị kinh tế cao với kimngạch xuất khẩu hàng năm đạt hơn 1 tỷ USD, phát triển NTTS đã vàđang được coi như một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiếnlược phát triển kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho đại đa số ngườidân ven biển,tăng hiệu quả thu nhập đem lại một nguồn ngoại tệ lớn chođất nước
Thị xã Hương Trà có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển nuôi trồngthủy, hải sản Trước đây, do nuôi độc canh tôm sú nên nhiều hộ lâm vàotình cảnh nợ nần chồng chất vì tôm chết hàng loạt Nhờ chuyển dịch cơcấu đối tượng nuôi nên ngành nuôi trồng thủy sản tại địa phương đã
có những dấu hiệu đáng mừng Năm 2010, người dân làm quen với
mô hình nuôi xen canh tôm, cua, cá và bước đầu thu được hiệu quảkinh tế cao, nhờ đó những khoảng nợ từ việc nuôi tôm được trang trải
và nhiều hộ vươn lên thành hộ khá giả, mô hình này tập trung chủ yếu
ở 2 xã là Hương Phong và Hải Dương [9]
Là 2 xã có địa hình được bao bọc bởi hệ thống sông và phá nên rấtthuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản Việc đa dạng hóa nhiềuđối tượng nuôi để tăng bền vững, hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu quảkinh tế, đồng thời cải tạo môi trường Đây là biện pháp đem lại hiệu quảnhất trong việc giảm rủi ro độc canh đối tượng nuôi
Trước những chuyển đổi về hình thức nuôi tại địa phương, được
sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm, khoa Thủy Sản và thầy giáo
hướng dẫn, vì vậy tôi xin thực hiện đề tài: "Điều tra và so sánh tình
hình nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế tại
xã Hương Phong và xã Hải Dương- thị xã Hương Trà-Tỉnh Thừa Thiên Huế".
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nhằm phục vụ chohọc tập và công tác sau này
- Nắm bắt được tình hình nuôi xen ghép các đối tượng thủy sản cógiá trị ở xã Hương Phong và Hải Dương -thị xã Hương Trà- tỉnh ThừaThiên Huế
- Biết được giá trị kinh tế mà mô hình nuôi xen ghép mang lại
Trang 8- So sánh được hiệu quả kinh tế của 2 xã từ mô hình nuôi xenghép.
- Hiểu được những thuận lợi cũng như khó khăn trong mô hìnhnuôi xen ghép và góp phần đề xuất các biện pháp giải quyết những khókhăn đó
- Thông qua điều tra nắm bắt được tình hình nuôi xen ghép, góp phần
quảng bá, nhân rộng mô hình nuôi xen ghép ở nhiều địa phương khác có điềukiện sinh thái tương tự ở Thừa Thiên Huế
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi xen ghép trên thế giới.
Nuôi xen ghép một số đối tượng khác nhau trong cùng một ao đã đượcnghiên cứu và thực hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt trong lĩnhvực nuôi trồng thủy sản nước ngọt Đi đầu trong lĩnh vực này là Trung Quốc,các nhà nghiên cứu và nuôi trồng thủy sản cho biết kết hợp nuôi nhiều loài cákhác nhau trong cùng một ao và phát triển nguyên lý chọn đối tượng cho việcnuôi ghép là: i) không có mâu thuẩn đối kháng về môi trường sống và ii) không
có mâu thuẩn đối kháng về tập tính dinh dưỡng Trên cơ sở đó họ đã đưa 5 - 7loài cá khác nhau như cá chép, cá rô phi, cá Wuchang, cá trắm, cá mè trắng và
cá mè hoa vào trong cùng một ao (Zhong lin, 1991) Kết quả mô hình này là
đã tận dụng được các tầng nước khác nhau làm tăng hiệu quả sử dụng khốinước Quan trọng hơn là sự tương hỗ của các đối tượng nuôi trong dinh dưỡng,tận dụng tối đa lượng thức ăn đưa vào Cụ thể cá trắm cỏ ăn một lượng cỏ rấtlớn nếu nuôi riêng đối tượng này sẽ thải ra một lượng lớn phân vào ao gây ônhiễm môi trường Khi nuôi ghép phân thải của cá trắm cỏ là thức ăn trực tiếcho cá rô phi, cá trôi và cá mè Bên cạnh đó, phân thải có tác dụng như vệcphân chuồng khi phân giải thành các muối dinh dưỡng sẽ kích thích cho thựcvật phù du phát triển, là loại thức ăn chính cho cá mè trắng Cá chép có tập tính
ăn đào bới nền đáy giúp cho việc khoáng hóa các chất dinh dưỡng vào nước vàđồng thời tạo điều kiện cho các chất khí độc thoát ra ngoài dễ dàng (Zhong lin,1991) Ở nước ta hiện nay các mô hình nuôi ghép này đã và đang được áp dụnghầu hết các tỉnh thành phố trong toàn quốc và cho kết quả tốt [7]
Năm 1957, Prugnin (1957) đã nuôi kết hợp những loài sinh vật phù duvới những loài cá ăn tạp ở Ấn Độ Mô hình này đã được sản xuất ở Mỹ và châu
Âu Yashouv A (1968, 1971) đã nêu ra những hậu quả về môi trường của môhình nuôi này và đưa cá chép, cá mè vào trong ao nuôi (Vương Dĩ Khang,
1958, Ngư loại phân loại học) Gần đây Trung Quốc đã đưa ra một số mô hìnhnuôi mới Chen và ctv, 1995 đã nghiên cứu và phân loại về mức độ cao thấp,môi trường nuôi và năng suất giữa các mô hình truyền thống và hình thức nuôimới này Yang và ctv, 1994 cho rằng với hình thức nuôi như trên, sản lượngtăng 19kg đối với cá ăn lọc và 15kg đối với cá ăn tạp trong một ao có diện tích
Trang 10Theo Lin’s (1994), nuôi xen ghép là sự kết hợp các loài vào ao nuôi cáchép [22] Những năm gần đây, việc nuôi nhiều loài cá khác nhau đã mang lạihiệu quả đáng kể về môi trường sinh thái, tài nguyên, kinh tế Cơ sở của việcnuôi ghép là các loài này có cùng điều kiện môi trường sống và không cạnhtranh thức ăn [7] Hình thức nuôi này bắt đầu từ những hình thức nuôi truyềnthống Trong 40 năm trở lại đây, Yashous A (1985) đã nghiên cứu và bổ sungđối tượng cá rô phi vào trong ao nuôi cá chép, đã làm tăng sản lượng đáng kể.
Nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn có lịch sử phát triển muộn hơn
so với nghề nuôi cá nước ngọt Tuy nhiên do giá trị kinh tế cao của các đốitượng nuôi và một tiềm năng lớn để phát triển nền nuôi trồng thủy sản lợ, mặn
đã phát triển mạnh và trở thành ngành đưa lại nguồn thu nhập chính cho ngườidân ven biển
Ngày nay, sản xuất thủy sản đang thường xuyên đối mặt với tình trạng ônhiễm môi trường ngày càng gia tăng do chính hoạt động của nuôi trồng thủysản gây ra Nhiều quốc gia đã khuyến cáo việc sử dụng quá mức các hóa chấttrong nuôi trồng và chế biến thủy sản, lạm dụng kỹ thuật, đầu tư thâm canh quácao là nguyên nhân chủ yếu làm phá vỡ sự cân bằng nhiều vùng sinh thái venbiển Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi trongphòng và trị cho các đối tượng nuôi thủy sản đã gây ra các tình trạng khángthuốc trên diện rộng Kết quả là dư lượng thuốc kháng sinh tồn đọng trong sảnphẩm nuôi quá mức cho phép gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái vàsức khỏe người tiêu dùng [25]
Trước tình hình như vậy, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đầu tưnghiên cứu theo một số hướng khác nhau Cụ thể: Nghiên cứu sử dụng chếphẩm sinh học khác nhau để cải thiện chất lượng nước Thực tế hiện nay trênthị trường có bán rất nhiều các chế phẩm khác nhau đang được người dân sửdụng do hãng thức ăn và thuốc sản xuất như: EM, BZT, SUPER VS, PhFIXER, SUPER BIOTIC, Bên cạnh đó nhiều cơ sở sản xuất lớn đã xây dựng
hệ thống ao hồ tuần hoàn có xử lý thông qua hình thức lọc sinh học để hạn chế
sự tích tụ các muối dinh dưỡng, sử dụng khí Ozôn để khử các khí độc, nuôighép các đối tượng khác nhau trong ao nuôi tôm để hạn chế các chất độc hại.Một hướng nghiên cứu khác nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước lànuôi nhiều đối tượng trong cùng một ao, từ đó làm tăng tính bền vững trongnghề nuôi thủy sản nước lợ - mặn Trên cơ sở các hoạt động thực tế của việcnuôi ghép một số nghiên cứu điển hình được các nhà khoa học tổng hợp vàtrình bày trong các tài liệu như:
- Joseph, KO, (1982) đã nghiên cứu kết hợp nuôi cá măng sữa, cá đối và
tôm nước lợ Penaeus indicus và Penaeus monodon trong ao nuôi Mô hình này
làm sản lượng tăng 2,986kg so với mô hình nuôi đơn Hu và ctv (1995) đã tiến
Trang 11hành nuôi tôm và hàu trong ao nuôi tôm ở Trung Quốc, sản lượng tôm tăng lên30% và sản lượng hàu tăng lên 20,3% [19].
- Ở Hawaii, việc nuôi xen ghép đã được thực hiện trong vài năm trở lạiđây Wyban (1982) đã xây dựng môi trường nuôi ở nước lợ, kết hợp cá đối, cámăng sữa, cá rô phi đỏ, cá hồi [19] Bwathondi và ctv, (1985) với mô hình nuôimột vài loài cá và hàu bằng hệ thống nuôi giàn bè
- Ở Đài Loan nhóm nghiên cứu của Lo – Chai Chen (1990) khi tiến hành
so sánh hàm lượng vật chất hữu cơ và vô cơ trong ao nuôi ghép cá măng
(Chanos channos), cá đối (Mugil cephalus), tôm sú (Penaeus monodon) và rong câu (Gracillaria sp) với ao nuôi chuyên tôm sú Kết quả cho thấy ở ao
nuôi ghép thì hàm lượng vật chất hữu cơ và vô cơ lơ lững thấp hơn so với aonuôi chuyên tôm sú có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05)
- Sử dụng các hình thức nuôi giàn cho các đối tượng rong biển và vẹmxanh ở vùng ven biển nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước [22]
- Trồng rong câu (Gracillaria spp) trong ao nước thải tôm sú (Penaeus monodon) ở Brazil Kết quả phân tích ANOVA cho thấy tốc độ tăng trưởng
tương đối của rong câu là khác nhau (P<0,05) [23]
- Nuôi hỗn hợp các loài động thực vật thủy sinh trong cùng một ao (JohnsLucas, 2003) Sử dụng hình thức nuôi giàn cho các đối tượng rong biển và vẹmxanh ở vùng ven biển nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước [22]
- Nuôi hỗn hợp nhiều đối tượng khác nhau trong ao nuôi tôm để làm tăngtính bền vững và ổn định cho người nuôi tại các trại nuôi tôm ở Mexico [24]
Nhìn chung các kết quả nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng việc nuôihỗn hợp nhiều đối tượng trong cùng một ao đã làm giảm mức độ rủi ro trongsản xuất, chất lượng môi trường nước được cải thiện theo hướng tốt hơn Chấtlượng sản phẩm của vật nuôi an toàn hơn do việc giảm thiểu sử dụng chấtkháng sinh và chế phẩm sinh học Chính vì vậy mà hình thức nuôi hỗn hợp nàyngày càng được áp dụng ở nhiều nước có nghề nuôi thủy sản ở nước lợ - mặnphát triển
2.2 Tình hình nuôi xen ghép tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm đã có từ lâu với hình thức nuôi quảng canh truyềnthống, nguồn giống và thức ăn hoàn toàn tự nhiên, nhưng nghề nuôi lúc nàychưa phát triển, sản xuất chỉ nhằm tiêu thụ gia đình và địa phương Nghề nuôichỉ phát triển mạnh vào cuối những năm của thập kỷ 80 khi sản phẩm tômđược xuất khẩu ra thị trường thế giới Cùng với sự phát triển của nghề nuôitôm, hình thức nuôi quảng canh cải tiến cũng được hình thành Tuy nhiên, sauđợt dịch bệnh tôm vào năm 1994-1995, hình thức nuôi quảng canh cải tiếnđược thay thế hoàn toàn cho hình thức nuôi quảng canh truyền thống khôngmang lại hiệu quả
Nuôi xen ghép các đối tượng trong cùng một ao ở nước ta xuất hiện khá sớm.Ban đầu hình thức này được áp dụng cho các đối tượng nước ngọt như các mô
Trang 12hình: nuôi xen ghép cá chép – cá mè – cá trắm cỏ, mô hình lúa cá kết hợp Nhìn chung những mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với môhình nuôi đơn.
Ở Việt Nam nghề nuôi tôm nói riêng và nuôi các đối tượng thủy sản lợ mặn nói chung đã phát triển mạnh Diện tích nuôi trồng thủy sản trong nhữngnăm qua tăng nhanh, tăng 6,3%/năm giai đoạn 1998 – 2004 Nhờ đó sản lượngthủy sản nuôi trong những năm qua tăng bình quân 13,6%/năm, năm 2014 tănghơn 2,15 lần so với năm 1998 [17]
-Trước áp lực của dịch bênh bùng phát trong việc nuôi tôm làm chongười sản xuất bị thua lỗ nghiêm trọng trong nhiều năm Vì vậy, nghề nuôitrồng thủy sản nước lợ, mặn đã có sự thay đổi và điều chính đáng kể từ việcnuôi chuyên tôm với mật độ cao, chủ động sử dụng thức ăn công nghiệp sangnuôi với mật đọ thưa hơn và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên Nhiều đốitượng nuôi mới đã được người sản xuất đưa vào nuôi kết hợp với tôm sú nhằmtạo cho hoạt động sản xuất ngày một ổn định hơn Trên cơ sở nhu cầu của thực
tế nhiều nghiên cứu khác nhau theo hướng nuôi hỗn hợp nhiều đối tượng khácnhau đã được thực hiện ở nhiều vùng [26] Cụ thể:
- Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv (2003) đã chỉ rarằng, tốc độ tăng trưởng của tôm sú trong ao nuôi kết hợp với hải sâm không
có sự sai khác (P>0,05), nhưng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường(mật độ vi khuẩn gây bệnh, mật độ nấm) ở ao nuôi hải sâm thấp hơn rõ rệt so
với ao đối chứng (P<0,05) Khi tiến hành nuôi hải sâm (Honothuria scabra)
kết hợp trong ao nuôi tôm sú nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước nhờvào khả năng ăn lọc của hải sâm [16]
- Các nhóm nghiên cứu của Thái Ngọc Chiến (2004), Hoàng Thủy (2004),Nguyễn Thị Xuân Thu (2003) đã có những nghiên cứu về nuôi hỗn hợp cá –rong biển – động vật thân mềm trong cùng một ao, kết quả cho thấy các đốitượng nuôi ghép có tốc độ tăng trưởng tốt và làm tăng hiệu quả trên một đơn vịdiện tích mặt nước [3]
- Nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước trong ao nuôi tôm sú thâmcanh, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thức Tuấn (2007) đã xây dựng mô hình:
“Nuôi hàu cửa sông trong ao nuôi tôm sú thâm canh” Kết quả khi so sánh tốc
độ tăng trưởng của tôm và hàu trong ao nuôi ghép tương đương với sự pháttriển của chúng trong những ao đối chứng, nhưng lại có hiệu quả kinh tế caohơn do giảm chi phí ao nuôi [17]
- Đề tài khoa học cấp nhà nước “ Nghiên cứu công nghệ và xây dựng môhình nuôi kết hợp nhiều đối tượng hải sản trên biển đạt hiệu quả kinh tế caotheo hướng bền vững” ( Thái Ngọc Chiến và ctv, 2005) Kết quả đã xây dựngthành công 5 mô hình: Nuôi cá mú lồng kết hợp với rong sụn, vẹm xanh và bàongư; nuôi tôm hùm lồng kết hợp với rong sụn, vẹm xanh và bào ngư; nuôi tômhùm kết hợp với cá chẽm, hải sâm, rong biển và vẹm xanh; nuôi tổng hợp ốchương với hải sâm, rong biển và vẹm xanh; nuôi ốc hương với tôm hùm, hảisâm, rong biển và vẹm xanh [4]
Trang 132.3 Tình hình nuôi xen ghép ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển thuộc miền Trung Việt Nam, vớimột hệ thống đầm phá Tam Giang rộng lớn được xem là đầm phá lớn nhấtChâu Á về diện tích mặt nước và đa dạng về sinh vật thủy sinh
Trung tâm khuyến ngư tỉnh Thừa Thiên Huế đã thực hiện mô hình nuôi
cá dìa, tôm sú và rong câu (2005) tại xã Phú An – Phú Vang Kết quả cho thấycác đối tượng nuôi đều sinh trưởng tốt Trung tâm khuyến ngư tiếp tục thựchiện mô hình nuôi kết hợp cá dìa, rong câu, cá đối, rô phi và trìa tại xã Phú Hải– Phú Vang [12] [18]
Nghiên cứu về đầm phá của dự án IMOLA trong giai đoạn 2 của năm
2007 - 2008 dự án đã tiến hành xây dựng một số mô hình nuôi kết hợp (lợ,ngọt) trên các xã trực thuộc vùng đầm phá Kết quả của mô hình nuôi thửnghiệm của IMOLA đã được triển khai mang lại một số kết quả khả quan vềtốc độ tăng trưởng của đối tượng nuôi, và cũng như hiệu quả cải tạo môitrường ao nuôi như:
- Kết quả nghiên cứu của Tôn Thất Chất và CTV (2008) về đánh giáhiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình nuôi ghép tôm sú, tôm rằn, cá rôphi, cá kình và cá dìa tại Hương Phong – Hương Trà – Thừa Thiên Huế Kếtquả cho thấy rằng các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp cho đốitượng nuôi, kích cỡ tôm trong ao nuôi ghép 11,4g/con lớn hơn ao nuôi đơn tômrằn 10,7 g/con, tốc độ tăng trưởng của tôm rằn trong ao nuôi ghép phát triểntương đối nhanh Hiệu quả mô hình nuôi ghép mang lại lợi nhuận kinh tế caohơn ao nuôi đơn [2]
Năm 2004, Tôn Thất Chất và ctv đã tiến hành cho sinh sản thành cônggiống tôm rằn, một loài bản địa được người dân nuôi đơn và nuôi ghép trong
ao với các đối tượng khác và đã đạt được nhiều hiệu quả Tiếp nối thành côngnày, vào năm 2008, mô hình nuôi ghép tôm rằn, tôm sú, cá rô phi và mô hìnhnuôi ghép tôm rằn, cá dìa, cá kình tại Hương Phong (Hương Trà) và thị trấnThuận An (Phú Vang) đã được Tôn Thất Chất và ctv thử nghiệm, đã thu đượckết quả cao, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống (67% đối với tôm rằn, 71% đốivới tôm sú và 82% đối với cá rô phi) của các đối tượng nuôi trong mô hình gầntương đương với các mô hình nuôi đơn tôm rằn, tôm sú và cá rô phi Đối với cádìa, sau 4 tháng nuôi khối lượng đạt 105,55g/con– 17,34cm/con và cá kình đạt25,3g/con – 11,78cm/con [1]
- Với nghiên cứu về mô hình nuôi ghép tôm sú (Penaeus monodon) và cá đối (Mugil cephalus) trong ao cao triều tại xã Lộc Bình – Thuận An – Thừa
Trang 14Thiên Huế, cho thấy tỷ lệ tăng trưởng của tôm sú trong mô hình nuôi ghép khácao hơn trong mô hình nuôi chuyên tôm (P<0,05), cá đối đạt tốc độ tăng trưởng
(P<0,05) [13]
- Thử nghiệm nuôi các đối tượng cá hồng và cá chẽm ở xã Lộc Trì – PhúLộc – Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng: Mô hình nuôi cá chẽm và cá hồng đỏthường có khả năng chịu đựng với sự thay đổi môi trường, tốc độ tăng trưởngnhanh nhưng vốn đầu tư của mô hình này cao, đặc biệt là thức ăn [10]
- Nghiên cứu của Lê Văn Dân (2008) với việc nuôi kết hợp trong lồng cá
mú, cá kình và cá hồng ở Lộc Bình – Phú Lộc – Thừa Thiên Huế Nghiên cứu
đã cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá mú trong mô hình nuôi đơn và nuôi ghép
có tốc độ tăng trưởng khá nhanh; việc nuôi đơn cá hồng ở lồng nên áp dụng,nếu nuôi ghép thì phải chọn đối tượng thích hợp với môi trường ngọt hóa vàsống chung cá hồng theo hướng có lợi [5]
- Đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường của nuôi ghép tôm
sú và cá dìa trong ao nuôi tôm xã Lộc Điền – Phú Lộc – Thừa Thiên Huế (TrầnQuang Khánh Vân, 2010) Nghiên cứu cho rằng: Các yếu tố môi trường trong
ao nuôi thuận lợi cho tôm cá sinh trưởng và phát triển; cá dìa nuôi trong ao tôm
tăng trưởng của ao nuôi đơn và nuôi ghép khá tốt và không có sự khác biệt(P>0,05) [7]
Những nghiên cứu của Nguyễn Phi Nam và ctv (2007) về:
- Mô hình nuôi ghép tôm sú – cá dìa – cá kình tại xã Quảng An, huyệnQuảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Hàm lượng các chỉ số đánh giá chất lượng
tăng dần theo thời gian nuôi và đạt giá trị cao nhất vào cuối vụ nuôi Hàm
chuyên tôm luôn cao hơn các ao nuôi xen ghép (P<0,05) [10]
- Kết quả nghiên cứu về mô hình nuôi ghép tôm sú – cá dìa, kình – rongcâu tại khu vực đầm Sam Chuồn (xã Phú An và Phú Tân – Phú Vang – Thừa
Trang 15Thiên Huế) đã chứng tỏ các yếu tố môi trường biến động trong ngưỡng chịuđựng của các đối tượng nuôi Tăng trọng của cá phụ thuộc vào mật độ thả
Chlorophyl-a có sự sai khác nhau rõ rệt, và ở các ao nuôi ghép thì hàm lượngcác chất này luôn thấp hơn so với ao nuôi chuyên tôm [10]
- Nghiên cứu mô hình nuôi tôm sú – cá dìa, kình – rong câu tại khu vựcđầm Sam Chuồn (xã Phú An và Phú Tân – Phú Vang – Thừa Thiên Huế) chothấy rằng các yếu tố trong các ao nuôi nằm trong ngưỡng chịu đựng của tôm và
cá Trọng lượng thu hoạch của tôm giữa ao nuôi ghép và ao nuôi chuyên canhtôm không có sự sai khác về mặt thống kê (P>0,05) Giữa ao nuôi chuyên canh
Hơn nữa, Sở Thủy Sản cùng xây dựng nhiều mô hình nuôi ghép những đốitượng có khả năng cải thiện môi trường trong ao nuôi tôm như: Mô hình nuôi
cá dìa kết hợp với rong câu, cá chỉ vàng tại xã Vinh Quang, huyện Phú Lộc;nuôi cá kình kết hợp với tôm sú tại xã Vinh Hưng, huyện Phú Lộc Kết quảcũng bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình và đưa ra những nhận xét
so sánh với ao nuôi chuyên tôm sú [15]
Kết quả nuôi xen ghép ở Quảng Điền, Hương Trà, vùng hạ triều của PhúVang đã mở ra khả năng: nghề nuôi thủy sản mặc dầu qua nhiều bước thăngtrầm nhưng không bao giờ mai một vì người dân đã tìm ra cách nuôi hợp lý đó
là lấy con tôm sú làm chính, ghép với các đối tượng cá dìa, nâu, kình, cua,v.v đã cho kết quả khả quan như: Quảng An, Quảng Công, Quảng Ngạnhuyện Quảng Điền; Hải Dương, Hương Phong huyện Hương Trà; Thuận An,Phú Mỹ, Phú An huyện Phú Vang [21]
Trang 16PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài động vật thủy sản được nuôi xen ghép trên địa bàn xã HươngPhong và xã Hải Dương - thị xã Hương Trà-tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 14/03/2016 đến ngày 22/05/2016
Địa điểm nghiên cứu: Xã Hương Phong và xã Hải Dương -thị xã Hương
Trà-tỉnh Thừa Thiên Huế
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên của 2 xã Hương Phong và Hải Dương
- Điều kiện kinh tế-xã hội của 2 xã Hương Phong và Hải Dương
+ Dân số (Tổng số dân, mật độ dân số, số lao động, tỷ lệ nam nữ, trình độvăn hóa, )
+ Tình hình sử dụng đất đai
+ Cơ sở hạ tầng
- Hoạt động NTTS tại 2 xã nghiên cứu
+ Sự suy giảm diện tích và hậu quả của việc nuôi tôm chuyên canh
+ Sự xuất hiện và phát triển hình thức nuôi xen ghép
- Điều tra và so sánh tình hình nuôi xen ghép các đối tượng thủy sản có giá trịtrên địa bàn xã Hương Phong và Hải Dương-thị xã Hương Trà-tỉnh Thừa ThiênHuế
+ Tín dụng và vay vốn
+ Tình hình dịch bệnh
+ Sản lượng
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
Trang 17- Điều tra những thuận lợi và khó khăn về mô hình nuôi xen ghép của 2 xã + Thuận lợi.
+ Khó khăn
- Kết luận và đề xuất ý kiến
- Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Thu thập thông tin thứ cấp
- Số liệu thứ cấp được lấy từ các tài liệu lưu trữ, tạp chí khoa học - công nghệ,sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng
- Kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan chức năng,chính quyền địaphương, chi cục nuôi trồng thủy sản, phòng Nông Nghiệp Huyện, cán bộ xã
3.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp
- Trực tiếp phỏng vấn các hộ tham gia mô hình nuôi xen ghép bằng cácbảng hỏi điều tra được thiết kế sẵn
3.4.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra
- Chọn hộ dân có hộ khẩu tại địa bàn 2 xã có tham gia mô hình nuôi xen
ghép thủy sản đảm bảo tính đại diện cho tổng số mẫu
3.4.4 Phương pháp tổ chức thực hiện điều tra
- Điều tra thí điểm: Xây dựng bộ bảng hỏi điều tra với hơn 30 tiêu chí
điều tra Dùng bảng hỏi để điều tra thí điểm ngẫu nhiên một số hộ nuôi trồngthủy sản trong danh sách được cung cấp lấy mẫu đối chiếu với mục tiêu và nộidung nghiên cứu Trên cở sở đó, điều chỉnh bảng hỏi điều tra để tiến hành điềutra chính thức
- Điều tra chính thức: Chọn ngẫu nhiên số hộ nuôi trồng thủy sản trong 2
xã để điều tra
- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng hộ, chọn hộ ngẫu nhiên (hộ có
tham gia NTTS) bằng bảng hỏi hoàn chỉnh
- Số phiếu điều tra: 60 phiếu (30 phiếu/xã).
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 18Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học thông thường.
Số liệu được phân tích bằng các công thức toán học và phần mềm MicrosoftExcel 2010
Trang 19PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu 4.1.1 Xã Hương Phong
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Hương Phong là một xã ven đầm phá thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh ThừaThiên Huế cách thành phố Huế khoảng 12km về phía Đông Bắc Xã HươngPhong nằm cuối nguồn của sông Bồ và sông Hương, xung quanh được bao bọcbởi sông nước và đầm phá Phía Bắc giáp với xã Hải Dương (ngăn cách bởiphá), phía nam giáp với xã Hương Vinh thị xã Hương Trà (ngăn cách bởi cầuThanh Phước) và xã Phú Mậu huyện Phú Vang ( ngăn cách bởi sông Hương),phía Tây giáp với xã Quảng Thành (ngăn cách bởi sông Bồ), phía Đông giápvới thị trấn Thuận An (ngăn cách bới sông Hương)
(Nguồn: Niên giám xã Hương Phong)
Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lý xã Hương Phong – thị xã Hương Trà – tỉnh
Thừa Thiên Huế
Tổng diện tích tự nhiên là 1569 ha, xã nằm vị trí đặc biệt, hai mặt giápsông, một mặt giáp phá Tam Giang thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, khaithác và nuôi trồng thủy sản
Trang 20- Địa hình
Hương Phong là một xã có địa hình thấp trũng, độ cao so với mặt nướcbiển từ 1-1,5m Trong xã thì thôn Thanh Phước có địa hình cao hơn so với cácthôn khác Tuy nhiên mỗi khi có lũ lụt đỗ về thì thôn Thanh Phước là cửa ngõcủa Hương Phong nên chịu ảnh hưởng nhiều hơn so với các thôn còn lại, đồngthời kéo theo sạt lỡ đất Thôn Vân Quật Thượng và Thuận Hòa có địa hìnhthấp hơn so với các thôn khác nên mỗi khi có bão kèm theo lũ lụt thì hai thônnày bị ảnh hưởng nhiều hơn
- Khí hậu và thủy văn
Xã Hương Phong nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung nằm trongkhu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu chuyển tiếphai miền Bắc – Nam nên mỗi năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Nhiệt độ: Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình
thấp nhất là 21,6°C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 30,1°C Đây là thời giannước mặn xâm nhập vào đồng ruộng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 nămsau, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào mùa này là 19,9°C, nhiệt độ trung bìnhcao nhất là 27,8°C
Mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 469,9mm Tuy nhiên lượng mưa
phân bố không đồng đều trong năm Lượng mưa cao nhất vào tháng 9:510,4mm và thấp nhất vào tháng 6: 13,1mm
Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm là 85%, trong đó tháng có độ ẩm cao nhất
là tháng 1: 92%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7: 71%
4.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Trang 21Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước xã Hương Phong
(Nguồn: Thống kê xã Hương Phong, 2015)
Căn cứ vào bảng hiện trạng sử dụng đất đai và mặt nước cho thấy, diệntích đất tự nhiên tương đối lớn (1569 ha), trong đó: diện tích đất dành cho sảnxuất nông nghiệp là 32,25%, với tỷ lệ đất bình quân 0,67 ha Đây là một xã cónền nông nghiệp lúa nước phát triển mạnh, có hệ thống kênh mương, thủy lợihoạt động tốt, đất đai màu mỡ nên năng suất, hiệu quả mang lại trong sản xuấtnông nghiệp là tương đối cao và ổn định Diện tích mặt nước KTTS là lớn nhấtvới tỷ lệ tương ứng là 33,92%, diện tích này không lớn lắm so với các xã khácven đầm phá Tam Giang nhưng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của
xã, nguồn lợi và là nguồn kinh tế quan trọng của ngư dân
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ cấu các loại đấtnông nghiệp của xã, chỉ là 0,2%, nhưng lại có giá trị kinh tế và giá trị sinh họcrất cao Đặc biệt, có rừng ngập mặn Rú Chá, một nguồn lợi quí giá cho việcphát triển KT-XH và chuyển đổi kinh tế cho người dân, một tiềm năng pháttriển du lịch sinh thái của vùng
- Sản xuất nông nghiệp
Trước những khó khăn đó, Đảng ủy, chính quyền địa phương đã lãnh,chỉ đạo BQT HTX NN và bà con nhân dân khắc phục các khó khăn, động viênnhân dân cấy hết diện tích, chăm sóc tốt cây lúa nên hai vụ sản xuất năm naynăng xuất, sản lượng vượt so với kế hoạch đề ra
* Tổng diện tích gieo cấy năm 2015: 1.006,5ha, đạt 100,75% kế hoạch
* Năng suất bình quân: 66,50 tạ/ ha.
* Sản lượng: 6.692,6 tấn, đạt 121, 68% kế hoạch.
Trong đó:
Trang 22Vụ Đông xuân
* Diện tích gieo cấy: 507,25ha.
* Năng suất bình quân: 66,31 tạ/ ha.
* Sản lượng: 3.363,9 tấn.
Vụ Hè thu
* Diện tích gieo cấy: 499,25ha.
* Năng suất bình quân: 66,67 tạ/ ha.
* Sản lượng: 3.328,7 tấn.
Về sản xuất giống lúa xác nhận: Tăng cường công tác chỉ đạo các HTX
NN về công tác sản xuất giống lúa xác nhận; HTX.NN Thanh Phước tiếp tụclàm tốt công tác sản xuất giống lúa, giống sản xuất ra được xã viên tin dùngvới tỷ lệ cao, các HTX còn lại đã có chuyển biến trong công tác điều hành sảnxuất; giống sản xuất ra đảm bảo chất lượng, từng bước tạo được niềm tin trong
bà con xã viên
Diện tích sản xuất: 5,7 ha, trong đó: HTX Vân An 2,5 ha, Thuận Hòa 1,5
ha, Thanh Phước 1,7 ha; sản lượng 21,6 tấn, trong đó: HTX Vân An 9 tấn,Thuận Hòa 1,2 tấn, Thanh Phước 11,4 tấn
Tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận trên 98%
Cơ giới hóa trong nông nghiệp bước đầu đáp ứng nhu cầu sản xuất, giảmsức lao động cho nhân dân, giảm chi phí sản xuất Hiện toàn xã có 8 trạm bơm điện tưới tiêu, 5 trạm bơm điện nhỏ của người dân, 59 máy bơm dầu, phục vụtưới tiêu cho trên 95% diện tích, có 06 máy gặt đập liên hợp 02 máy sấy lúa
Về công tác điều hành quản lý HTX.NN: Các HTX đã tiến hành đại hội
xã viên, tổng kết công tác kinh doanh dịch vụ, kiện toàn bộ máy HTX Bướcđầu củng cố kiện toàn, một số HTX đã có nhiều tiến bộ trong khâu điều hànhsản xuất, thực hiện có kết quả trên một số lĩnh vực và đã tiến hành chuyển đổicác HTX sản xuất nông nghiệp theo Luật năm 2012
+ Chăn nuôi
Tăng cường công tác phòng, chống dịch; tuyên truyền, vận động ngườidân làm tốt công tác tiêm phòng dịch, đảm bảo vệ sinh môi trường nuôi nêntrên địa bàn xã chưa xảy ra dịch bệnh phức tạp Đã tiêm phòng dịch cho đàngia súc trên 90%, tiêm phòng dại chó 85%, xã hội hóa tiêm vắcxin trên đàn giacầm – Dân tự tiêm, thú y giám sát
Năm 2015, phối hợp với Phòng Kinh tế Thị xã đã triển khai, hướng dẫn,
hỗ trợ cho 10 hộ dân chăn nuôi gia cầm bằng đệm lót sinh học theo Chươngtrình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới có kết quả
* Đàn lợn: 3.248 con, đạt 65,68 % kế hoạch.
Trong đó: + Lợn nái: 66 con
* Đàn trâu, bò: 502 con, đạt 119,52% kế hoạch.
* Đàn Dê: 85 con
Trang 23* Đàn gia cầm ước khoản 110.000 con, đạt 78,56% kế hoạch
Trong chăn nuôi việc xử lý môi trường ở một số hộ dân chưa đảm bảo,làm cho môi trường bị ô nhiễm, dễ xảy ra dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏengười dân trong khu vực chăn nuôi
+ Nuôi trồng thuỷ sản
Chỉ đạo các HTX NTTS tuyên truyền, vận động nhân dân đầu tư cải tạo
ao hồ, chuẩn bị tốt con giống, thả nuôi theo mô hình nuôi xen ghép, đúng lịchthời vụ nên vụ nuôi năm nay mặc dù có ảnh hưởng của thời tiết làm tôm, cáchết rãi rác nhưng năng xuất sản lượng đạt chỉ tiêu kế hoạch Năng xuất bìnhquân 400 – 450 tạ/ ha tôm cá các loại, các hộ lãi từ 05 – 20 triệu ước khoảng60%, lãi từ 20 – 50 triệu trở lên khoảng 40%, không có hộ thua lỗ
Tổng số hộ nuôi 170 hộ
Tổng diện tích nuôi: 201,2 ha, giảm 11,6 ha so với kế hoạch
Tôm giống thả: 980 vạn con
* Đánh bắt tự nhiên sông đầm tự nhiên 482,4 tấn, đạt 147,82% kế hoạch.
Duy trì và mở rộng mô hình nuôi ếch giống, ếch thương phẩm ; hiện naytoàn xã có 24 hộ tham gia nuôi ếch, giống thả 72.000 con Thu hoạch 10 tấnếch thương phẩm
Về công tác sản xuất kinh doanh các HTX NTTS : Các HTX đã tiếnhành đại hội tổng kết công tác sản xuất kinh doanh ; củng cố, kiện toàn bộ máyHTX ; tuy vậy, do nguồn vốn điều lệ còn hạn chế, nguồn nhân lực chưa đượcphát huy nên hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của 2 HTX Đông Tiến vàThuận Thành còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu Tuy hằng năm UBND xã đánhgiá được tình trạng hạn chế của các HTX NTTS những vẫn chưa tìm đượchướng đi mới có hiệu quả, phù hợp với tình hình địa phương
- Kinh doanh dịch vụ
Duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ở Cồn Tè và 456 cơ sở kinhdoanh dịch vụ ở các chợ, khu vực dân cư nhằm cung cấp các vật tư thiết yếucho sản xuất và tiêu dùng tại chổ cho nhân dân Tuy nhiên, tình hình kinhdoanh dịch vụ ở Cồn Tè có bước giảm sút, lượng khách giảm nhiều so với các
Trang 24năm trước, nguyên nhân do chưa có quy hoạch, thiếu đầu tư, giá cả chưa có sựquản lý thống nhất.
Công tác lập quy hoạch khu vực Cồn Tè – Rú Chá vẫn chưa triển khaiđược, nên chưa khai thác hiệu quả tiềm năng của khu vực này Các hộ kinhdoanh dịch vụ trên địa bàn xã vẫn còn nhỏ lẽ, chưa được đầu tư mạnh để mởrộng quy mô, hình thức kinh doanh, nâng cao giá trị sản xuất ngành dịch vụ
- Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Phát triển các loại hình ngành nghề thu hút được nhiều lao động thamgia ; nhiều cơ sở được đầu tư mở rộng, cải tiến máy móc thiết bị và đã huyđộng được các nguồn lực vào sản xuất như : Mộc dân dụng, may mặc, sản xuấtnhang, đúc bờ lô, xây dựng, khai thác cát sạn…, từ đó góp phần nâng cao thunhập cho người dân Đã phối hợp tổ chức các lớp đào tạo nghề, hỗ trợ pháttriển các ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, giải quyết việclàm cho lao động Trong năm, đã phối hợp với Công ty đan Phước Hiệp Thành
mở một lớp đan ghế nhựa tại Thuận Hòa, giải quyết việc làm, thu nhập chomột số lao động tại địa phương
Trong năm, đã đề xuất cấp trên quan tâm đầu tư hỗ trợ 30 triệu đồng cho
cơ sở sản xuất Mộc mỹ nghệ ở Thanh Phước trang bị thêm máy móc thiết bị
Công tác khuyến công, hỗ trợ kỹ thuật, vốn đầu tư mở rộng sản xuất đãđược triển khai nhưng ít có cơ sở tham gia, một phần là do chủ cơ sở chưamạnh dạng mở rộng cơ sở
4.1.1.2.2 Điều kiện xã hội
- Công tác xã hội
Đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân được nâng lên rõ rệt Cáchình thức sinh hoạt văn hóa được tổ chức phong phú, tiện nghi sinh hoạt, nhàcửa được đầu tư, xây dựng ngày một khang trang
Phối hợp Mặt trận, các ban ngành đoàn thể xã thăm viếng, tặng quà cácgia đình chính sách, có công cách mạng, gia đình neo đơn trong dịp tết, lúc ốmđau, qua đời Cấp phát kịp thời, đúng quy định các chế độ chính sách cho cácđối tượng có công, hưởng tuất, hộ nghèo… Đang tiến hành làm bổ sung 27 hồ
sơ thờ cúng liệt sỹ, 05 hồ sơ truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.Trong năm, đã phối hợp xây dựng 01 nhà đại đoàn kết cho người dân
Tổng số đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí 444 đốitượng; 250 đối tượng thuộc diện hưởng mức, hệ số trợ cấp theo Nghị định136/2013/ NĐ – CP Công tác làm thẻ bảo hiểm y tế cho con liệt sĩ chậm, docác hồ sơ thủ tục cung cấp chưa đầy đủ và còn phải điều chỉnh sai sót tên tuổi,ngày tháng năm sinh của thân nhân liệt sĩ
Hộ nghèo xã đến cuối năm 2015 còn 122 hộ, chiếm tỷ lệ 5%
- Công tác văn hoá thông tin - TDTT
Trang 25Tổ chức tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước và địa phương thông qua các hình thức hội họp, đài phát thanhgóp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật Tuy nhiên, công táctuyên truyền vận động vẫn còn hạn chế như: Việc tuyên truyền còn chưa khoahọc, nội dung tuyên truyền chưa phong phú
Hiện nay, có 5/6 làng tiếp tục được công nhận giữ vững danh hiệu làngvăn hóa Các làng văn hóa tổ chức tốt các ngày lễ hội truyền thống của làng;việc duy trì thực hiện quy ước của một số làng có hiệu quả, chất lượng Tuyvậy, xử lý vi phạm quy ước văn hóa một số làng làm chưa nghiêm, sinh hoạtcâu lạc bộ gia đình văn hóa không thường xuyên, có nơi không sinh hoạt
- Công tác y tế - dân số
Thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân,chương trình tiêm chủng mở rộng, công tác khám và chữa bệnh tại trạm y tế xãluôn được quan tâm Đã chủ động trong công tác phòng chống dịch sốt xuấthuyết, tay chân miệng, cúm gia cầm…, vệ sinh môi trường được tăng cường,năm qua trên địa bàn chưa có dịch bệnh xảy ra
Tổ chức khám và điều trị bệnh cho 12.794 trường hợp, trong đó khámBHYT học sinh 929 trường hợp, khám trẻ em dưới 06 tuổi 1.267 trường hợp,chuyển viện 2.692 trường hợp Khám quản lý sức khỏe cho 1.715 học sinh
Tỷ lệ suy dinh dưỡng: 70 cháu, tỷ lệ 8,7% giảm 1,2 % so năm trước
Tổ chức chiến dịch truyền thông dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản,khám phụ khoa, đặc vòng tránh thai cho phụ nữ có chồng tại trạm, đẩy mạnhcông tác tuyên truyền chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Tỷ lệ số người sử dụng các BPTT là 73,8 %, tăng 0,2% so với nămtrước
Tỷ lệ phát triển dân số: 0,98%, giảm 0,02% so năm trước
Số người sinh con thứ 3 trở lên 27/151 người, tỷ lệ 17,8 %, giảm 1,7%
so với năm trước
Trang 26Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%, tốt nghiệp THCSđạt 100%; học sinh giỏi, tiên tiến 944 em đạt 63,61% tổng số học sinh tiểu học
và THCS
Trong năm học 2014 -2015, theo chủ trương của cấp trên đã sát nhậptrường tiểu học Thanh Phước vào trường tiểu học Vân An và lấy tên chính củatrường là trường tiểu học Vân An Cơ sở vật chất, thiết bị được quan tâm đầu
tư, hướng đến xây dựng các trường đạt chuẩn Quốc gia theo lộ trình, hiện nay
đã có 02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, đạt tỷ lệ 40%
tỷ lệ 1,43 %; mặc dù nhà trường cùng ban ngành đoàn thể, chính quyền địaphương đã tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhưng không có em nàotrở lại lớp
Năm học 2015- 2016 đã huy động số lượng học sinh trong độ tuổi đếntrường 1.777 học sinh
ha, 1739 hộ, 8199 khẩu, được thành lập 6 thôn, hơn 70% dân cư trong xã làmnghề đánh cá bắt biển và nuôi trồng thuỷ sản, 10% dân cư làm nông nghiệp và20% làm dịch vụ, ngành nghề khác
Trang 27(Nguồn: Niên giám xã Hải Dương)
Hình 4.2: Bản đồ vị trí địa lý xã Hải Dương – thị xã Hương Trà – tỉnh
Thừa Thiên Huế
- Địa hình
Hải Dương có địa hình khá bằng phẳng, với độ dốc < 1% và cao trìnhbiến thiên từ 0-2,5 mét so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8-1,5 mét Nhìnchung, địa hình toàn xaî thấp dần từ Tây Bắc sang Đông Nam nhưng khônglớn, tuy nhiên có những khu vực địa hình trũng hay gò cao
- Khí hậu, thuỷ văn
Hải Dương cũng như các xã đồng bằng khác của tỉnh Thừa Thiên Huếđều chịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnhhưởng khí hậu đại dương, vì vậy những đặc trưng chủ yếu về khí hậu thời tiếtlà:
+ Nhiệt độ: Hầu hết các xã trong huyện đều có nhiệt độ trung bình năm
+ Mưa: Do là địa hình đồng bằng ven biển nên có lượng mưa thấp, số
ngày mưa ngắn hơn so với vùng miền núi của tỉnh, lượng mưa trung bình nămkhoảng 2.555 mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 nămsau Đỉnh mưa dịch chuyển trong 4 tháng từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng
11 có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới 30 % lượng mưa cả năm Số ngày mưatrung bình 165 ngày
+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình 83 %; Độ ẩm thấp nhất 26 %.
Trang 28+ Gió: Tốc độ gió trung bình năm 1,8 m/s; Hướng gió chính: Mùa
đông thổi theo hướng Tây Bắc, Đông Bắc; mùa hè theo hướng Đông, hướngNam và hướng Đông Bắc
chỉ có sông Hương chảy qua địa bàn xã
Bên cạnh hệ thống sông thì xã có hệ đầm phá Tam Giang rộng trên 100ha
4.1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.2.1 Điều kiện kinh tế
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Cơ sở hạ tầng giao thông thời gian qua phát triển mạnh, phá thế côlập ở các vùng trũng và ven biển Đã nâng cấp, nhựa hoá và xây dựng mới cáctrục đường như: Quốc lộ 49B, các tuyến đường giao thông liên xã, liên thôn,
+ Hệ thống cầu cảng như Cảng cá và cầu Ca Cút, đã và đang pháthuy lợi thế, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội
+ Hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng được ưu tiên đầu tư, đặc biệtthông qua chương trình dồn điền đổi thửa đã từng bước phát huy tác dụng phục
vụ sản xuất nông nghiệp, NTTS, môi trường môi sinh
+ Tình hình thực hiện công tác đô thị hoá đã có nhiều khởi sắc, kết cấu
hạ tầng ngày càng được cải thiện, các loại hình dịch vụ phát triển và ngày càngđược nâng cao Với hệ thống đường, nước, lưới điện
- Dân số
Xã có 6 thôn phân theo địa giới hành chính như sau:
+ Thôn Vĩnh Trị: 1422 người
+ Thôn Thai Dương Thượng Đông: 829 người
+ Thôn Thai Dương Thượng Tây: 1389 người
+ Thôn Thai Dương Hạ Bắc: 1874 người
+ Thôn Thai Dương Hạ Trung: 1345 người
Trang 29+ Thôn Thai Dương Hạ Nam: 1340 người
- Giáo dục – y tế
+ Các hoạt động giáo dục- đào tạo có nhiều chuyển biến, tập trung ưu
tiên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, ứngdụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học, chống tiêu cực trongthi cử và bệnh thành tích trong giáo dục Nhờ vậy, chất lượng dạy và học ở cáccấp học có chuyển biến: Năm học 2010- 2012, đỗ tốt nghiệp Tiểu học đạt99,1%, tăng 1,1 %; đỗ tốt nghiệp THCS đạt 96,56%, tăng 2,56%; đỗ tốtnghiệp THPT đạt 72,45%, tăng 10,8% so với năm học trước Thi học sinh giỏicấp tỉnh đạt giải khuyến khích Thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh đạt 1 giải nhì
Năm học 2010-2012, đã huy động đến trường 1465 học sinh Trong đó: Tiểu học có 695 h/sinh đạt 100%; Trung học cơ sở có 598 h/sinh, đạt 97%,Mẫu giáo có 178 cháu, đạt 62% Đầu tư 2 tỷ đồng để xây dựng thêm 4 phònghọc, chống xuống cấp 4 phòng học, xây dựng mới và sửa chữa 4 công trìnhnhà vệ sinh và mua sắm trang thiết bị ở các trường học
+ Công tác y tế, dân số duy trì hoạt động ổn định: Chỉ đạo Trạm Y tế
các xã, duy trì hoạt động nền nếp, điều chỉnh điều trị Thực hiện tốt các dự án,chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống các bệnh xã hội, các chính sáchbảo hiểm y tế cho các đối tượng, khám và chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới
6 tuổi Làm tốt công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh, không để lây landiện rộng Triển khai tổng điều tra dân số và nhà ở Thực hiện 3 đợt chiến dịchtruyền thông lồng ghép chăm sóc sức khoẻ sinh sản-kế hoạch hoá gia đình, có71,8% số người trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng biện pháp tránh thai, tỷ lệ sinhcon thứ 3 giảm xuống còn 25,35%, giảm 1,71% so với năm ngoái
4.2 Đánh giá hiện trạng NTTS của 2 xã Hương Phong và Hải Dương
4.2.1 Hoạt động NTTS tại vùng nghiên cứu
4.2.1.1 Sự suy giảm diện tích và hiệu quả của việc nuôi tôm chuyên canh
NTTS ở hai xã được xem là hoạt động sản xuất chính và đóng góp lớnvào tổng thu ngân sách của địa phương Ở đây hoạt động NTTS mà cụ thể lànuôi chuyên canh tôm có lịch sử phát triển từ rất lâu Theo các tài liệu thống kêthì hình thức nuôi này xuất hiện trên địa bàn hai xã từ những năm 1986, thế kỷ
XX và không ngừng phát triển, nhất là giai đoạn từ 1999-2006 Trong số cácloài thủy sản, tôm Sú được chọn làm loài nuôi chính vì phù hợp với điều kiệnnước lợ vùng đầm phá và mạng lại giá trị kinh tế cao
Những năm đầu thí điểm với sự tăng trưởng chậm trong diện tích nuôitôm Ngành nuôi tôm đã nở rộ ở hai địa phương này vào những năm 1998,1999với hơn 90% số hộ trong xã tham gia NTTS và thực sự đã làm thay đổi bộ mặtcủa vùng nông thôn nơi đây Sau trận lũ lịch sử 1999, môi trường đầm phá đượctrong sạch hơn, độ măn thích hợp hơn, thuận lợi cho việc NTTS mà đặc biệt là
Trang 30nuôi chuyên tôm Kết quả là 3 năm 1999,2000,2001, hơn 90% số hộ nuôi trồng
có lãi (trung bình 40-50 triệu đồng/hộ/năm)
Chính vì thế mà trong những năm tiếp theo, diện tích nuôi tôm khôngngừng tăng lên Tuy nhiên diện tích nuôi trồng đó lại tăng lên một cách ồ ạt,không chú ý đến qui hoạch dẫn đến tình trạng xây dựng ao hồ với mật độ caotrong khi điều kiện hạ tầng phục vụ nghề nuôi tôm (đê, hồ xử lý, hệ thống dẫnnước, ) chưa đáp ứng đầy đủ Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
ô nhiễm môi trường nuôi và môi trường đầm phá Mặt khác với tâm lý nóngvội, cách làm mang tính tự phát theo phong trào thiếu quản lý, kiểm soát Các
hộ nuôi không tuan thủ theo yêu cầu kỹ thuật, theo qui hoạch làm cho tình hìnhdịch bệnh ngày càng lan rộng, vùng đầm phá lâm vào tình trạng ô nhiễmnghiêm trọng Đặc biệt là giai đoạn 2003-2006
Trong những năm này tình hình dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều Cụthể các bệnh như đốm trắng, đầu vàng, đóng rêu, vẫn mang phát triển rấtmạnh Trong đó, bệnh đốm trắng là bệnh nguy hiểm và có khả năng lay lanmạnh nhất Đến năm 2006, gần 80% số ao nuôi chuyên tôm trên địa bàn hai xã
bị nhiễm bệnh đốm trắng dẫn đến thua lỗ trầm trọng Chính điều này đã làmgiảm năng suất nuôi tôm trong hai xã Dịch bệnh phát triển nhiều, chi phí nuôi
và khắc phục dịch bệnh quá lớn khiến không ít người dân ở đây buộc phải thayđổi loài nuôi khác với giá trị thấp hơn hoặc bỏ ao hồ để chuyển sang các ngànhnghề khác như: trồng lúa, chăn nuôi và các ngành nghề phi nông nghiệp khác
4.2.1.2 Sự xuất hiện và phát triển hình thức nuôi xen ghép
Năm 2006, thời điểm mà tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp vànghhieem trọng, các hộ NTTS không còn khả năng đầu tư và bắt đầu nợ nầnchồng chất, nhiều hộ không thể tiếp tục sản xuất Cũng trong thời gian đó, cùngvới sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ: NAV, IMOLA, IDRC và chínhquyền địa phương, các chi hội nghề cá được thành lập nhằm hỗ trợ cho ngườidân NTTS Lần đầu tiên người dân hai xã biết đến hình thức nuôi thủy sản xenghép Hình thức này không những giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường màcòn góp phần cải tạo môi trường do ít sử dụng các chất hóa học và thức ăn côngnghiệp hơn so với nuôi chuyên tôm
Tại đây được sự hỗ trợ của các tổ chức NAV: các hộ dân đã được tậphuấn kỹ thuật và phát triển mô hình nuôi xen ghép Đến năm 2010, hầu như cácdiện tích ao hồ đã được phục hồi sử dụng cho NTTS Qua 5 năm thí điểm vàthực hiện mô hình nuôi xen ghép đã có sự chuyển biến rõ rệt Diện tích nuôichuyên canh tôm sú giảm kèm theo đó là diện tích nuôi xen ghép tăng Năngsuất nuôi trồng cũng đã được cải thiện So với các hộ nuôi chuyên tôm, các hộnuôi xen ghé thu nhập năng suất cao hơn nhờ cá Kình và Cua thu được khi thảnuôi cùng với tôm Chính nguồn thu nhập từ các sản phẩm này giúp họ thu lãi
và giảm tỷ lệ lỗ trong thời gian vừa qua
4.2.2 Diện tích NTTS từ năm 2012 đến năm 2015
Trang 31Bảng 4.2 Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản tại 2 xã Hương Phong và Hải
Dương
Năm Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)
Qua biểu đồ cho thấy diện tích NTTS của 2 xã đang có sự chênh lệchkhá lớn: diện tích xã Hương Phong là 201.2 ha (năm 2015) gấp xấp xỉ 3 lần sovới diện tích xã Hải Dương là 75.2 ha Diện tích NTTS của 2 tăng giảm khôngđều qua các năm và có xu hướng giảm trong những năm gần đây Cụ thể: từnăm 2012 đến 2013 diện tích NTTS xã Hương Phong tăng mạnh từ 209 lên227.7 ha, trong khi đó xã Hải Dương giảm mạnh từ 78.2ha xuống còn 56.9 ha
Qua điều tra, người dân cho biết từ năm 2009 đến nay với sự quản lýchặt chẽ của chình quyền địa phương đã không còn hiện trạng lấn chiếm diệntích mặt nước trái phép như trước năm 2009 nữa Đây cũng là một trongnhững lý do giải thích cho vấn đề diện tích NTTS của 2 xã không tăng ồ ạtnhững năm gần đây
0 50 100 150 200 250 300
Biểu đồ 4.1 Tổng diện tích NTTS của 2 xã giai đoạn 2012-2015
Theo kết quả điều tra thì đa số diện tích nuôi trồng thủy sản của xã lànuôi trong ao đất Diện tích ao nuôi tùy thuộc vào diện tích NTTS của từng
chắc Tuy nhiên, ở một số hộ dân bờ ao còn bị thẩm lậu vì đất ao nuôi ở đây
Trang 32là đất cát pha bùn nên nước dễ bị thẩm lậu.
4.2.4 Qui mô sản xuất
Quy mô sản xuất tại 2 xã vẫn là sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình, vốnđầu tư thấp Phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến , số ao nuôi từ 1-
2 ao/hộ Nhìn chung diện tích ao nuôi của các hộ ở xã Hương Phong dao động
triều Những ao thấp triều thường có diện tích tương đối lớn khoảng
ao ở vùng nuôi thấp triều Đối với xã Hải Dương thì diện tích ở các vùng triều
có sự khác biệt, ao nuôi thấp triều diện tích nhỏ đa số các ao có diện tích trung
ao có diện tích nuôi lớn thì rất khó trong việc chăm sóc Đây là do phát triểnNTTS không có quy hoạch, mang tính tự phát Điều này dẫn đến khả năng đầu
tư của người dân vào các ao có diện tích lớn như vậy thấp hơn những ao khác,
và chính lí do đó đã không phát huy hết hiệu quả việc nuôi trồng trên đơn vịdiện tích mặt nước
4.2.5 Sản lượng NTTS giai đoạn 2012-2015
Bảng 4.3 Diễn biến sản lượng NTTS của 2 xã Hương Phong và Hải
Dương giai đoạn 2012 – 2015 ĐVT: Tấn.
(Nguồn: Báo cáo ngành từ 2012 -2015)
Đến giai đoạn thu hoạch, tất cả các hộ đều thu hoạch bằng lừ, hoặc xiếtsau đó tháo cạn để bán cho thương lái các chợ hay bán cho đông lạnh, qua điềutra thì tỷ lệ thu bán cho thương lái nhỏ để tiêu thụ ở các chợ là chủ yếu Hiệnnay nhu cầu của thị trường nội địa đối với tôm sú được đánh giá là không lớn
do sự cạnh tranh của tôm thẻ chân trắng và các loài tôm khác
Đối với nuôi cá thì thông thường người ta nuôi trong khoảng 5-6 thángnuôi, năng suất 4-5con/kg, đa số đều thu tỉa và bán cho thương lái nhỏ ở cácchợ
Trang 332012 2013 2014 2015 0
20 40 60 80 100
27.6
59.2
96.1
Tôm sú Cua, cá các loại
40
Tôm sú Cua, cá các loại
Biểu đồ 4.3 Sản lượng NTTS xã Hải Dương giai đoạn 2012-2015
4.3 Đặc điểm lao động tham gia nuôi trồng thủy sản
4.3.1 Số nhân khẩu tham gia NTTS
Bảng 4.4 Số lao động tham gia NTTS
Tổng số nhân khẩu
Số nhân khẩu tham gia NTTS
Số nhân khẩu không tham gia NTTS
( Kết quả điều tra)Qua điều tra cho thấy số nhân khẩu trong mỗi gia đình tham gia vào hoạt động NTTS là khá cao, bình quân có khoảng gần 30% số nhân khẩu trongmỗi gia đình tham gia vào quá trình nuôi Điều này chứng tỏ NTTS là một
Trang 34ngành nghề quan trọng đem lại nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình
Hương Phong Hải Dương 0
20 40 60 80 100 120
Trang 35Theo kết quả điều tra, lựclượng lao động trẻ ở xã Hương Phongtham gia NTTS ngày càng nhiều vàcao hơn so với xã Hải Dương Đây làmột thế mạnh và là nguồn lực của xãHương Phong giúp phát triển ngànhthủy sản trong tương lai Độ tuổi các
hộ tham gia NTTS có sự chênh lệchrất lớn, số lao động có độ tuổi từ 45-
60 chiếm tỷ lệ cao nhất, xã HươngPhong (73.3%), xã Hải Dương (70%) Trong khi đó lao động trẻ chiếm tỷ lệ rấtthấp 16.7% ở xã Hương Phong và 6.7 % ở xã Hải Dương Đó là một khó khăncho việc tiếp thu kỹ thuật Người tham gia NTTS tham gia các lớp tập huấn về
kỹ thuật NTTS và rất ít hoặc không biết áp dụng kỹ thuật đó như thế nào màchủ yếu người tham gia NTTS dựa vào kinh nghiệm lâu năm của họ nên hiệuquả sản xuất chưa cao, nhiều hộ bị thua lỗ Đồng thời tính sáng tạo và mạnhdạn đàu tư trong sản xuất cũng hạn chế so với lao động trẻ Như vậy, để thuậnlợi cho việc phát triển nghề NTTS, việc tổ chức các buổi tập huấn đào tạo kỹthuật, trình diễn mô hình cho các hộ dân cũng là một vấn đề cần được lưu ý,đồng thời vận động người dân xây dựng tính cộng đồng cao hơn để người nuôi
có thể áp dụng được các biện pháp kỹ thuật hiện hành nhằm nâng cao kết quảNTTS
Đồ thị 4.5 Cơ cấu độ tuổi các hộ tham gia NTTS
Với xu hướng hiện nay của tỉnh là thanh niên trẻ tham gia ngàycàng nhiều hơn vào hoạt động NTTS, đây vừa là điểm mạnh vừa là điểmyếu Điểm mạnh là thanh niên trẻ năng động, nhiệt tình, tiếp thu kỹ thuậtnuôi tốt Điểm yếu là thế hệ thanh niên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trongNTTS, do đó sẽ gặp một số khó khăn trong quá trình nuôi
>60 16.7
73.3
10
Độ tuổi các hộ NTTS xã Hương Phong
<45 45-60
>60
Trang 36Dương Trình độ học vấn ở 2 xã chủ yếu là cấp 1 và cấp 2, trong đó xãHương Phong chiếm 50% (Cấp 1), 30% (Cấp 2), xã Hải Dương chiếm 46.7%(Cấp 1), 33.3% (Cấp 2) Số hộ dân không học chiếm tỷ lệ rất thấp, xã HươngPhong chiếm 6.7%, xã Hải Dương 13.3% Đa số các hộ dân ở 2 xã đều đượchọc chữ cho nên việc tiếp thu kiến thức, kỹ thuật, nắm bắt thông tin thịtrường nuôi thủy sản ít gặp khó khăn, trở ngại
Đồ thị 4.6 Cơ cấu trình độ học vấn
các hộ dân tham gia NTTS
4.3.4 Số năm kinh nghiệm NTTS
Bảng 4.7 Số năm kinh nghiệm các hộ
Mặc khác điển hình của nghề NTTS là tay nghề, kinh nghiệm và trình
độ kỹ thuật do vậy người nuôi của 2 xã sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong khâuquản lý, xử lý kỹ thuật và các vấn đề cần thiết trong quá trình nuôi Phầnlớn người nuôi phải tự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua cán bộ khuyến ngư,tập huấn và bạn bè cùng làm nghề nuôi trồng thủy sản vì thế hiệu quả sản xuấtchưa cao Như vậy, việc tổ chức các khóa tập huấn nhằm phổ biển những kinhnghiệm nuôi giúp ích cho người nuôi và nâng cao được hiệu quả sản xuất, thulại lợi nhuận cao là việc làm cần thiết
50 30
13.3
Trình độ học vấn xã Hương Phong
Không học Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3