Qua các cuộc giám sát của Ban kinh tế xã hội Hội đồng Nhân dân Huyện, cũng như kết quả Kiểm tra nội bộ ngành thuế tại Chi cục Thuế huyện Lâm Thao về công tác thu ngân sách cho thấy công
Trang 1NGUYỄN TRỌNG CHUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN LÂM THAO -
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2NGUYỄN TRỌNG CHUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN LÂM THAO -
TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Phương
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Chung
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong và ngoài Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu, phương pháp nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường và tại Chi cục Thuế huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Chi cục thuế, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Chi cục Thống kê huyện Lâm Thao, Chi Cục thuế huyện Phù Ninh, Thị xã Phú Thọ đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Chung
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 5
1.1 Tổng quan lý luận về hộ kinh doanh cá thể 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 5
1.1.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế 6
1.2 Một số khái niệm và những vấn đề chung về thuế 6
1.2.2 Khái niệm bộ thuế 11
1.2.3 Khái niệm về hệ thống thuế 11
1.2.4 Khái niệm về quản lý thuế 14
1.2.5 Khái niệm mã số thuế 15
1.2.6 Những vấn đề chung về thuế 15
1.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 28
1.3.1 Đăng ký thuế và quản lý thông tin người nộp thuế 28
1.3.2 Điều tra doanh số ấn định 30
1.3.3 Xét miễn, giảm thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể 32
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.4 Tính thuế và lập bộ thuế 33
1.3.5 Xử lý tờ khai 35
1.3.6 Xử lý giấy nộp tiền và lập báo cáo thu nộp thuế 36
1.3.7 Kiểm tra và quyết toán thuế 36
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế đối với hộ KDCT 38
1.4.1 Hệ thống chính sách thuế 38
1.4.2 Điều kiện kinh tế 39
1.5 Kinh nghiệm về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở một số địa phương trong nước 40
1.5.1 Kinh nghiệm về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở một số địa phương trong nước 40
doanh cá thể ở một số địa phương trong tỉnh Phú Thọ 43
thuế hộ kinh doanh cá thể tại huyện Lâm Thao 46
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Phương pháp thu thập số liệu 48
2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 48
2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 48
2.2 Phương pháp phân tích 49
2.2.1.Phương pháp xử lý số liệu 49
2.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế 49
2.2.3.Phương pháp so sánh 49
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 49
2.3 Các chỉ tiêu phân tích 49
CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÂM THAO 51
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1 Khái quát về huyện Lâm Thao 51
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 51
3.1.2 Điều kiện kinh tế 53
3.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao 53
3.2.1 Tình hình cơ bản của Chi cục thuế huyện Lâm Thao 53
3.2.2 Kết quả thu NSNN và tình hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2010 - 2012 tại huyện Lâm Thao 57
địa bàn huyện Lâm Thao 58
3.3 Những mặt đạt được 82
3.4 Những mặt còn hạn chế 83
3.5 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tại huyện Lâm Thao 85
CHƯƠNG 4: THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LÂM THAO 89
4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu chủ yế ản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao 89
4.1.1 Quan điểm 89
4.1.2 Định hướng 89
4.1.3 Mục tiêu 90
4.2 Giả ản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao 91
4.2.1 Giải pháp về công tác chỉ đạo điều hành 91
4.2.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý địa bàn, quản lý ĐTNT 94 4.2.3 Giải pháp tiến hành phân loại đối tượng hộ kinh doanh để
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quản lý thu thuế và thu nợ thuế 95
4.2.4 Giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của NNT 97
4.2.5 Giải pháp đẩy mạnh áp dụng CNTT vào công các quản lý thu thuế 98
4.3 Kiến nghị 99
4.3.1 Kiến nghị với Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế 99
4.3.2 Kiến nghị với Cục Thuế tỉnh Phú Thọ 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KDCT : Kinh doanh cá thể
NNT : Người nộp thuế
ĐTNT : Đối tượng nộp thuế
ĐTKD : Đối tượng kinh doanh
GTGT : Giá trị gia tăng
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
KK-KTT : Kê khai -Kế toán thuế
CNTT : Công nghệ thông tin
KBNN : Kho bạc Nhà nước
CSDL : Cơ sở dữ liệu
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Biểu thuế môn bài 19
Bảng 1.2 Biểu thuế suất thuế TNCN lũy tiến từng phần 25
Bảng 1.3 Biểu thuế suất thuế TNCN toàn phần 25
1.4 2010 - 2012 43
1.5 2010 - 2012 46
Bảng 2.1 Danh sách chọn hộ điều tra 48
Bảng 3.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ chi cục thuế Lâm Thao 54
Bảng 3.2 Kết quả thu các năm 2010, 2011, 2012 57
Bảng 3.3 Thống kê cấp mới giấy chứng nhận ĐKKD hộ cá thể 59
Bảng 3.4 Thống kê tình hình cấp mã số thuế 62
Bảng 3.5 Tình hình quản lý hộ 64
Bảng 3.6 Số lượng tờ khai thuế đã tiếp nhận và xử lý 66
Bảng 3.7 Tổng hợp số thuế đã kê khai hộ cá thể 67
Bảng 3.8 Kết quả thu thuế đối với các hộ KDCT 69
Bảng 3.9 Kết quả miễn, giảm thuế đối với các hộ KDCT 71
Bảng 3.10 Tổng hợp nợ thuê các năm 2010 đến 2012 73
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra hộ nghỉ kinh doanh 76
Bảng 3.12 Tổng hợp kết quả điều tra 100 hộ 79
Bảng 4.1 Định hướng đào tạo cán bộ của chi cục đến năm 2015 93
Bảng 4.2 Bảng phân loại đối tượng hộ quản lý thu thuế 95
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, Thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế Thông qua công cụ thuế, Nhà nước không chỉ tăng thu cho ngân sách, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước mà còn sử dụng nó để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, bên cạnh đó thực hiện mục tiêu bình đẳng và bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn cho xã hội đồng thời bảo vệ tài nguyên, môi trường của đất nước
Thời gian qua công tác quản lý thu thuế nói chung và công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách Tuy nhiên, tiềm năng vẫn còn và có thể khai thác thu để đạt ở mức cao hơn Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát thực tế, dây dưa nợ đọng thuế còn nhiều … Tình hình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ cũng nằm trong thực trạng chung đó
Qua các cuộc giám sát của Ban kinh tế xã hội Hội đồng Nhân dân Huyện, cũng như kết quả Kiểm tra nội bộ ngành thuế tại Chi cục Thuế huyện Lâm Thao về công tác thu ngân sách cho thấy công tác quản lý và khai thác nguồn thu còn một số bất cập, trong đó nổi cộm là tình trạng quản lý và lập bộ các hộ kinh doanh cá thể còn sót doanh thu tính thuế, sót hộ Từ đó cần sớm tìm ra giải pháp để nhanh chóng khắc phục
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhận thức được tầm quan trọng do thực tiễn đặt ra, muốn tìm giải pháp quản lý một cách hiệu quả nguồn thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể
trên địa bàn huyện nên em chọn đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể của Chi cục Thuế huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ” làm đề tài bảo vệ luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tình hình quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể huyện Lâm Thao, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp quản lý thu thuế theo Luật quản lý thuế và các Luật thuế hiện hành nhằm chống thất thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể của huyện Lâm Thao
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu về thực trạng quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể, các yếu tố ảnh hưởng, các mối quan hệ tác động đến hiệu quả
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Lâm Thao
* Phạm vi về không gian:
Đề tài được tập trung nghiên cứu trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
* Phạm vi về thời gian:
+ Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế
đối với các hộ kinh doanh cá thể trong 03 năm 2010, 2011 và năm 2012 và kế hoạch đến năm 2015
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu để nghiên cứu, tham khảo quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao trong thời gian tới
Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có ý nghĩa thiết thực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và đối với các địa phương có điều kiện tương tự
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể trên địa bàn huyện Lâm Thao
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1 Tổng quan lý luận về hộ kinh doanh cá thể
1.1.1 Khái niệm
Trước khi có Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh và mới nhất hiện nay là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp thì "Hộ kinh doanh" được gọi là "Hộ kinh doanh cá thể" Tên gọi "Hộ kinh doanh cá thể" được ghi nhận tại Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 Tại Điều 24 - khoản 1 - Nghị định số 109/2004/NĐ-CP thể hiện "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hay một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh" Hiện nay theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP định nghĩa hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Hoạt động mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ
từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu
1.1.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ kinh doanh cá thể có một vai trò hết sức to lớn đó là góp phần tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho
xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh
tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ Thông qua các
hộ kinh doanh cá thể có thể huy động được nguồn vốn lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ kinh doanh cá thể đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội
Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý Chính vì vậy cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả
1.2 Một số khái niệm và những vấn đề chung về thuế
1.2.1 Khái niệm chung về thuế
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản Chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: Quốc phòng - an ninh, chi xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chi cho các vần đề về phúc lợi công cộng, về
sự nghiệp, về xã hội ở hiện tại và lâu dài Để có nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu nói trên, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: Quyên góp của nhân dân; vay của nhân dân và dùng quyền lực của Nhà nước để bắt buộc nhân dân phải đóng góp Hình thức quyên góp và vay của nhân dân thường không ổn định, do đó để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình
đó chính là Thuế Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước
Cho đến nay, trong giới học giả và trong các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế Nhìn chung các quan đểm của các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa (Mác-Ăng Ghen TT.T2-NXB sự thật - Hà nội 1962 Trang 522) Càng về sau này, khái niệm
về thuế càng được bổ sung hoàn thiện hơn Trong cuốn sách từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh là Christopher Pass và Bryan Lower cho rằng " Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản" Một khái niệm khác tương đối hoàn chỉnh về thuế được nêu trong cuốn sách Economics của hai nhà kinh tế Mỹ như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty, các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải tiền phạt mà tòa án tuyên phạt
do hành vi vi pháp luật" (Economics Makkollhell and Bruy-M.1993,-Tr.14- Tiếng nga)
Ở nước ta, cho đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt-Trung tâm từ điển học (1998) thì cho rằng thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, do đó chưa thật sự đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Mặc dù cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ
tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các cá thể, không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thứ hai, Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Thứ ba, Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các
khoản thuế đã được Pháp luật quy định
Qua phân tích các những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quan về
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuế như sau:
"Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội"
(*) Thuế có các đặc điểm sau
- Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước
- Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp
(*) Thuế có các chức năng cơ bản sau
- Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính; đây là chức năng
cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử, đây là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế Thông qua chức năng này các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước và nền kinh tế Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối
và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một
bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhà nước Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trong một chừng mực nhất định, chức
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế
- Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế; trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế Nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô niền kinh tế-xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục, hành chính, luật pháp
và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền
tệ, tín dụng Trong đó thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, mọi tổ chức, cá nhân có quyền kinh doanh bất kỳ ngành nghề, mặt hàng nào mà Nhà nước không cấm, miễn là họ phải đăng ký kinh doanh và hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật Bằng việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thuế suất thấp, có chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế đối với ngành nghề, mặt hàng và địa bàn kinh doanh cụ thể Thông qua đó mà tác động làm thay đổi mối quan
hệ giữa cung và cầu trên thị trường, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành và các vùng lãnh thổ Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh
tế trong nước Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động và hoạt động xuất nhập khẩu nhằm thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối
và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định
1.2.2 Khái niệm bộ thuế
Bộ thuế là một bảng tổng hợp được lập ra để theo dõi và quản lý các
đối tượng nộp thuế Nếu phân loại dựa theo kỳ lập bộ thì Bộ thuế gồm có Bộ thuế tháng và Bộ thuế năm Bộ thuế tháng dùng để quản lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong một tháng và Bộ thuế năm dùng để quản lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong một năm Ngoài ra bộ thuế còn được lập để theo dõi chi tiết cho từng loại thuế như Bộ thuế môn bài, Bộ thuế GTGT, Bộ thuế
TNCN
1.2.3 Khái niệm về hệ thống thuế
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hệ thống thuế chính là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau với cơ chế hoạt động, đối tượng điều chính, phương pháp đánh thuế, mực độ điều tiết
và phương pháp thu nộp khác nhau Các hình thức thuế có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Để đánh giá hệ thống thuế của một quốc gia, người ta thường ít chú ý đến số lượng các loại thuế trong hệ thống thuế đó, mà chủ yếu đánh giá, xem xét đến khía cạnh chất lượng của hệ thống thuế đó Mỗi quốc gia, tuỳ theo điều kiện lịch sử kinh tế, xã hội ở từng thời kỳ cụ thể mà định hướng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình Hệ thống thuế đó phải phản ánh được những mục tiêu của Nhà nước đặt ra Chính vì vậy mà việc tìm ra một tiêu thức chung để đánh giá một hệ thống thuế hiệu quả không phải là một việc dễ dàng Tuy nhiên, nếu xét các yêu cầu chung của sự phát triển kinh tế cũng như đòi hỏi của xã hội, tất yếu phải đặt ra những tiêu thức cần thiết để xây dựng một hệ thống thuế phù hợp, hiệu quả
Trong tác phẩm "Nghiên cứu về bản chất, nguyên nhân giàu có của nhân loại" của tác giả Adam Smith đã chỉ ra bốn nguyên tắc cơ bản để xây dựng một hệ thống thuế hợp lý đó là: Thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư, mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác, thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp thuế; các chi phí để tổ chức thu thuế cần phải thấp nhất
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, các nhà kinh tế học hiện đại đã hoàn chỉnh, bổ sung và khái quát thành những tiêu chuẩn để đánh giá một hệ thống thuế tích cực, hiệu quả Các tiêu chuẩn này đã trở thành kim chỉ nam trong việc xây dựng hệ thống chính sách thuế ở các nước có nền kinh tế thị trường Các tiêu chuẩn đó là:
Thứ nhất là tính công bằng: Công bằng là một đòi hỏi khách quan trong việc phân chia gánh nặng của thuế khóa đối với các tầng lớp dân cư
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong xã hội Có công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế mới khuyến khích được các thành phần kinh tế trong xã hội hăng hái lao động, từ đó mới đảm bảo được các mục tiêu về kinh tế, chính trị của đất nước Tính công bằng của thuế phải được xem xét dựa trên nguyên tắc theo cả chiều ngang và chiều dọc Theo chiều ngang có nghĩa là các đối tượng có điều kiện về mọi mặt như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Tuy nhiên trong thực tiễn, nguyên tắc này khó áp dụng vì rất khó nếu như không muốn nói là không thể chỉ ra được những tiêu thức nào
để xác định hai cá nhân có điều kiện về mọi mặt như nhau Theo chiều dọc
có nghĩa là người nào có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề đó là tiêu thức xác định khả năng
và mức độ nộp thuế cao hơn Vấn đề này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên phổ biến hiện nay người ta dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng
để đánh giá khả năng nộp thuế
Tóm lại, công bằng trong thuế khóa là một đòi hỏi khách quan nhưng việc đánh giá một hệ thống thuế được coi là công bằng không phải là công việc dễ dàng Do đó, công bằng trong thuế khóa vẫn thuộc về nhận thức và quan điểm riêng của mỗi quốc gia
Thứ hai là tính hiệu quả: Tính hiệu quả của thuế được xét dưới hai góc độ: Giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ ngồn lực vốn đã đạt hiệu quả dước tác động của lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuế đối với việc phân bổ nguồn lực chưa đạt được hiệu quả dước tác động của lực lượng thị trường
Tính hiệu quả của thuế thể hiện tổng số thuế thu được là lớn nhất trong khi đó chi phí cho việc tổ chức thu thuế là thấp nhất
Thứ ba là tính chính xác: Một hệ thống thuế chính xác thể hiện rõ sự rõ ràng, minh bạch, tức là phải chỉ rõ ai là người chịu thuế, mức thuế phải nộp và
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thời hạn nộp thuế Một hệ thống thuế rõ ràng, minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tính toán chính xác được hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ thuế Đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm
bỏ vốn đầu tư vào các dự án phát triển sản xuất kinh doanh
Thứ tư là tính thuận tiện: Tính thuận tiện của một hệ thống thuế thể hiện ở sự dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý và khả năng thích ứng một cách dễ dàng với những hoàn cảnh, điều kiện kinh tế thay đổi
Nhà nước ban hành các chính sách thuế, nhưng người thực hiện các chính sách thuế lại là các tầng lớp dân cư trong xã hội Chính vì thế các chính sách thuế càng rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu thì người dân mới có điều kiện hiểu
và thực hiện đúng theo các quy định của các luật thuế Có như vậy thuế mới phát huy được vai trò là công cụ chủ yếu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Từ việc phân tích các tiêu chuẩn nêu trên, để có một hệ thống thuế hiệu quả, tích cực, phù hợp, trong quá trình xây dựng hệ thống thuế, mỗi quốc gia cần vận dụng linh hoạt các tiêu chuẩn trên vào điều kiện cụ thể của đất nước mình
1.2.4 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là việc cơ quan thuế dùng các biện pháp hành chính của mình tuyên truyền, phổ biến, tác động đến ĐTNT để theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân thuộc ĐTNT theo các Luật quy định
hiện hành để tạo nguồn thu cho NSNN
- Cơ quan quản lý thuế bao gồm: Cơ quan Thuế và Hải quan, trong đó: + Cơ quan Thuế gồm: Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế
+ Cơ quan Hải quan gồm: Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan
- Công chức quản lý thuế bao gồm công chức thuế và công chức hải quan
- Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.5 Khái niệm mã số thuế
Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng người nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo qui định của Luật, Pháp lệnh thuế, phí và lệ phí (gọi chung là Pháp luật
về thuế), bao gồm cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu MST để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc MST được cấu trúc là một dãy số được chia thành các
nhóm như sau: N 1 N 2 N 3 N 4 N 5 N 6 N 7 N 8 N 9 N 10 N 11 N 12 N 13. Trong đó: Hai chữ số
đầu N 1 N 2 là số phân khoảng tỉnh cấp mã số thuế được quy định theo danh mục mã phân khoảng tỉnh Bảy chữ số N 3 N 4 N 5 N 6 N 7 N 8 N 9 được đánh theo số
thứ tự từ 0000001 đến 9999999 Chữ số N 10 là chữ số kiểm tra Mười số từ N 1
đến N 10 được cấp cho người nộp thuế độc lập và đơn vị chính Ba chữ số
N 11 N 12 N 13 là các số thứ tự từ 001 đến 999 được đánh theo từng đơn vị trực thuộc, chi nhánh của người nộp thuế độc lập và đơn vị chính
1.2.6 Những vấn đề chung về thuế
1.2.6.1 Nguyên tắc quản lý thuế
Nguyên tắc quản lý thuế được quy định tại Điều 4-Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 cụ thể như sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.2.6.2 Quy định chung về đối tượng nộp thuế
Ðối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước khi có các điều kiện được quy định trong các Luật thuế
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo quy định tại khoản 1- Điều 2 của Luật quản lý thuế, người nộp thuế bao gồm:
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của Pháp luật
- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế
Trong một sắc thuế bao giờ cũng quy định cụ thể chủ thể nào có nghĩa
vụ phải nộp thuế Theo thuật ngữ chuyên ngành về thuế, chủ thể chịu sự điều chỉnh của một sắc thuế thường được gọi là đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp dụng của một chính sách thuế cụ thể Trong thực tế,
có những đối tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, nhưng cũng có những đối tượng nộp thuế, trong cùng một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau
Đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước Người có trách nhiệm nộp thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế Trong nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế cũng chính
là người chịu thuế khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế cho người khác
Ví dụ: Đối với thuế thu nhập cá nhân, tại Điều 2- Luật thuế thu nhập cá
nhân quy định "Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu
nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam"
Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra đánh thuế Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hóa hay tài sản Mỗi một
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, thông thường tên gọi của một sắc thuế bắt nguồn từ đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó
Ví dụ: Đối với thuế giá trị gia tăng, tại Điều 3 - Luật thuế giá trị gia
tăng quy định "Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu
dùng ở Việt nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này"
- Người nộp thuế có các quyền sau
Được hướng dẫn thực hiện việc nộp, cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của người nộp thuế
Được yêu cầu cơ quan thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế, yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Được giữ bí mật thông tin theo quy định của Pháp luật
Được hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật Được ký hợp đồng với các tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế, yêu cầu giải thích, nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế, bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật
Yêu cầu cơ quan quản lý xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình
Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình
Tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác
Người nộp thuế có các nghĩa vụ sau
Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm
Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế
Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế
Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật
Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế, theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền, thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định
1.2.6.3 Các sắc thuế hiện hành đối với các hộ kinh doanh cá thể:
Sau khi thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, nếu không kể các khoản thu về tiền sử dụng đất và thu lệ phí trước bạ, các loại phí, lệ phí, hiện nay hệ thống thuế của nước ta bao gồm 9 sắc thuế, trong đó các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ KDCT gồm:
(*) Thuế môn bài: Trong hệ thống thuế nước ta, thuế môn bài là một
sắc thuế trực thu rất quen thuộc với mọi đối tượng nộp thuế Thuế môn bài là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm Mức thuế được áp dụng theo số
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tuyệt đối căn cứ vào loại hình doanh nghiệp hoặc mức thu nhập 1 tháng
Đối với các hộ kinh doanh cá thể; cán bộ công nhân viên, xã viên hợp tác xã, người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận khoán
tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm xã viên Hợp tác xã, nhóm người lao động nhận khoán nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại kinh doanh riêng rẽ, từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài riêng; Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các công ty Cổ phần, công ty TNHH nhưng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập chỉ nộp một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý chung thì thuế môn bài thu theo từng thành viên Các đối tượng nêu trên có mức thuế môn bài được áp dụng 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng/năm căn cứ vào mức thu nhập tháng của hộ kinh doanh, cụ thể theo biểu dưới đây
Bảng 1.1 Biểu thuế môn bài
(Nguồn: Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính)
(*) Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Thuế GTGT là loại thuế gián thu
đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Đối tượng chịu thuế GTGT là tất cả hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng quy định tại Điều
5 Luật thuế GTGT
Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT
- Thuế suất thuế GTGT
Theo quy định của Luật thuế GTGT, thuế suất thuế GTGT gồm 3 mức: 0%; 5% và 10% Trong đó mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch
vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài, dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh, dịch vụ bưu chính, viễn thông, sản phẩm suất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến quy định tại khoản 23 Điều 5 Luật thuế GTGT
- Phương pháp tính thuế GTGT
Theo quy định hiện nay thuế GTGT được tính theo hai phương pháp đó
là khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
+ Phương pháp khấu trừ: Áp dụng đối với các hộ kinh doanh lớn
chấp hành đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, hạch toán được cả đầu vào, đầu ra
Thuế GTGT phải nộp đối với các hộ kinh doanh áp dụng theo phương pháp này được xác định như sau:
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Trong đó thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT và được xác định như sau:
Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng: Phương pháp
này được thực hiện theo quy định tại Điều 11- Luật thuế GTGT
Đối với các hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng
từ theo quy định: Hàng hoá dịch vụ mua vào và bán ra đều có hoá đơn, chứng
từ hợp lệ thì thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng
-
Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng
Đối với các hộ kinh doanh đã thực hiện chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào thì thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau: Thuế GTGT
phải nộp =
Doanh số bán ra x
Tỷ lệ %
Thuế suất thuế GTGT tương ứng Đối với các hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ Những hộ loại này thường
là những hộ kinh doanh nhỏ, bán lẻ, giá trị hàng hóa thấp và kinh doanh nhiều mặt hàng vụn vặt, hàng bán có thể không có hoá đơn, chứng từ thì nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán thuế quy định tại Điều 38 của Luật quản lý thuế Theo đó, cơ quan thuế căn cứ vào tài liệu kê khai của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, ý kiến của Hội đồng tư vấn
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuế các xã, phường, thị trấn để xác định mức thuế khoán Mức thuế khoán được tính theo năm dương lịch và phải được công khai trong địa bàn xã, phường, thị trấn Trường hợp có thay đổi ngành, nghề, quy mô kinh doanh, người nộp thuế phải khai báo với cơ quan thuế để điều chỉnh mức thuế khoán
(*) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Thuế TNCN là loại thuế trực thu
tính trên phần thu nhập của các cá nhân có thu nhập được quy định tại Điều
3-Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007
- Đối tƣợng nộp thuế TNCN: Là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế
theo quy định tại Điều 3-Luật thuế TNCN phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
- Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm các loại
thu nhập sau: (Trừ thu nhập được miễn thuế theo quy định tại Điều 4- Luật thuế TNCN)
+ Thu nhập từ kinh doanh bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
+ Thu nhập từ tiền lương, tiền công, thù lao, tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý các tổ chức, tiền thưởng trừ tiền thưởng có kèm theo danh hiệu được nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, quốc tế, tiền thưởng
về cải tiến kỹ thuật, phát minh, sáng chế, tiền thưởng về khai báo các hành vi
vi phạm pháp luật; các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trợ cấp trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại,
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội
+ Thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm tiền lãi cho vay; lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ
+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
+ Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
+ Thu nhập từ trúng thưởng như xổ số, khuyến mãi, cá cược, các trò chơi có thưởng
+ Thu nhập từ bản quyền bao gồm chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ
+ Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
+ Thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh
tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
+ Thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
- Thu nhập tính thuế: Thu nhập tính thuế được xác định như sau:
+ Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 10, Điều 11 của Luật thuế TNCN trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ theo quy định tại Điều 19, Điều 20 của Luật thuế TNCN
+ Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quyền thương mại, thừa kế, quà tặng là thu nhập chịu thuế được quy định từ Điều 12 đến Điều 18 của Luật thuế TNCN
- Thuế suất thuế TNCN:
Theo quy định của Luật thuế TNCN, thuế suất thuế TNCN được quy định thành hai biểu thuế đó là biểu thuế lũy tiến từng phần và biểu thuế toàn phần
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.2 Biểu thuế suất thuế TNCN lũy tiến từng phần
Bậc
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
Thuế suất (%)
(Nguồn: Điều 22- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007)
Bảng 1.3 Biểu thuế suất thuế TNCN toàn phần
Phần thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1, Điểu
13 - Luật thuế TNCN
20
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 2,
Điểu 13 - Luật thuế TNCN
0,1
e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản
1, Điểu 14 - Luật thuế TNCN
25
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2,
Điểu 14 - Luật thuế TNCN
2
(Nguồn: Điều 23- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007)
- Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cƣ trú: Căn cứ tính thuế đối với
thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và thuế suất Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ đi các
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khoản được trừ theo quy định như đã trình bày ở phần "thu nhập tính thuế"
+ Đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ nộp thuế theo phương pháp khoán, thì thu nhập chịu thuế thu nhập
cá nhân được xác định theo công thức sau:
Thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế =
Doanh thu ấn định trong kỳ tính thuế x
Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định Doanh thu ấn định được xác định căn cứ vào kê khai của cá nhân kinh doanh, kết quả điều tra của cơ quan thuế, ý kiến tham gia của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn
+ Đối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ, không hạch toán, xác định được chi phí, thì thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được xác định theo công thức sau:
Thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế =
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
x Tỷ lệ thu nhập chịu
thuế ấn định Trong đó doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo sổ
kế toán hóa đơn, chứng từ phù hợp với doanh thu để tính thuế GTGT
+ Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ thì thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được xác định theo công thức sau:
kỳ tính thuế
-
Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ tính thuế
+
Thu nhập chịu thuế khác trong
kỳ tính thuế
- Thuế suất: Thuế suất thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh
doanh, tiền lương, tiền công được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định tại Điều 22- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày
21/11/2007
Riêng đối với các khoản thu nhập khác phải chịu thuế theo quy định thì
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất Thuế suất áp dụng trong các trường hợp này áp dụng theo biểu thuế toàn phần được quy định tại Điều 23-Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007
(*) Thuế tiêu thu đặc biệt (TTĐB): Thuế TTĐB là loại thuế gián thu
đánh vào việc sản xuất, nhập khẩu một số loại hàng hoá và kinh doanh dịch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thu đặc biệt
- Đối tƣợng chịu thuế TTĐB: Đối tượng chịu thuế TTĐB được quy
định tại Điều 2-Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12 cụ thể như sau:
d) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại
có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng
đ) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3
e) Tàu bay, du thuyền
g) Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng
h) Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống
i) Bài lá
k) Vàng mã, hàng mã
2 Dịch vụ bao gồm
a) Kinh doanh vũ trường
b) Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke)
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c) Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự
d) Kinh doanh đặt cược
đ) Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn
e) Kinh doanh xổ số
- Đối tượng không chịu thuế TTĐB: Đối tượng không chịu thuế
TTĐB được quy định tại Điều 3-Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12
- Người nộp thuế TTĐB: Là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu
hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thu đặc biệt
số 27/2008/QH12
1.3 Nội dung công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.3.1 Đăng ký thuế và quản lý thông tin người nộp thuế
Các hộ kinh doanh sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có trách nhiệm liên hệ với cơ quan thuế để làm thủ tục đăng ký thuế Các hộ mới ra kinh doanh lần đầu phải tiến hành kê khai đăng ký thuế để được cấp mã số thuế Các hộ trước đó đã được cấp mã số thuế nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn, sau đó lại ra kinh doanh lại vẫn phải thực hiện đăng ký nộp thuế lại với cơ quan thuế, nhưng không cấp mã số thuế mới Đội thuế có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương và Hội đồng tư vấn thuế của các xã-thị trấn để điều tra số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn mình quản lý để nắm bắt tình hình hoạt động của các hộ kinh doanh Kịp thời cập nhật số hộ mới ra kinh doanh, số hộ nghỉ kinh doanh, số
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hộ di chuyển địa điểm kinh doanh để đốn đốc đăng ký thuế Đối với hộ mới
ra kinh doanh, Đội thuế cấp phát tờ khai đăng ký thuế và hướng dẫn cách kê khai để ĐTNT kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế Đội thuế có trách nhiệm nhận tờ khai đăng ký thuế của các ĐTNT Tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu kê khai và trực tiếp liên hệ với ĐTNT chỉnh sửa tờ khai đăng ký thuế nếu
có lỗi Qua kiểm tra tờ khai đăng ký thuế, nếu phát hiện ĐTNT chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh thì đề nghị ĐTNT lập thủ tục đăng ký kinh doanh hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan xử phạt hành chính Đối với các hộ mới ra kinh doanh lần đầu thì các Đội thuế lập Bảng kê kèm theo tờ khai chuyển về Đội KK-KTT soát xét lại trước khi cấp mã số thuế Đối với các tờ khai đăng ký thuế đã có mã số thuế thì Đội KK-KTT ghi bổ sung sổ danh bạ
để đưa vào danh sách lập bộ thuế Đội KK-KTT của Chi cục thuế căn cứ vào danh sách các ĐTNT được cấp mã số thuế để lập sổ danh bạ thuế theo mẫu quy định Sổ này được cập nhật thường xuyên khi có phát sinh các hộ kinh doanh được cấp mã số thuế và các hộ nghỉ, bỏ kinh doanh Đội KK-KTT có trách nhiệm lưu giữ các tờ khai đăng ký thuế của các ĐTNT theo từng địa bàn
và Đội thuế Đăng ký thuế lưu theo thời gian hoạt động của ĐTNT, chỉ huỷ sau khi ĐTNT nghỉ kinh doanh trên 5 năm Đội KK-KTT chuyển các Giấy chứng nhận đăng ký thuế cùng bảng kê danh sách các đối tượng được cấp mã
số thuế cho các Đội thuế để làm cơ sở thu thuế Đội thuế có trách nhiệm lập
sổ theo dõi việc phát Giấy chứng nhận đăng ký thuế, sau đó tiến hành phát Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho ĐTNT Khi phát giấy chứng nhận cho ĐTNT, cán bộ Đội thuế có trách nhiệm hướng dẫn ĐTNT các thủ tục nộp thuế và việc sử dụng mã số thuế
Thông qua các thủ tục, hồ sơ đăng ký thuế, cơ quan thuế tiến hành thực hiện việc quản lý thông tin về NNT Các thông tin về người nộp thuế được cơ quan thuế cập nhật vào CSDL để phục vụ cho công tác quản lý thu thuế bao gồm
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Tên doanh nghiệp hoặc tên Hộ kinh doanh
+ Loại hình doanh nghiệp
+ Họ và tên Chủ doanh nghiệp, chủ hộ
+ Địa chỉ, số điện thoại, số fax
+ Thời điểm bắt đầu kinh doanh
+ Ngành nghề kinh doanh, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kinh doanh + Mã số thuế
+ Số Tài khoản
+ Tình trạng ngưng, nghỉ kinh doanh
+ Tình hình biến động doanh số
+ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm
+ Tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với ngân sách Nhà nước hàng năm
+ Báo cáo quyết toán thuế hàng năm
1.3.2 Điều tra doanh số ấn định
Qua công tác nắm bắt địa bàn, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
và các thông tin kê khai đăng ký thuế của các ĐTNT, các Đội thuế tiến hành sắp xếp phân loại các hộ kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh, mặt hàng
kinh doanh, quy mô kinh doanh theo phương pháp tính thuế
Đội thuế hướng dẫn các thủ tục kê khai thuế cho các hộ mới ra kinh doanh nộp thuế theo phương pháp ấn định thuế và các hộ kinh doanh sắp hết hạn ổn định thuế (kê khai dự kiến doanh số trung bình hàng tháng cho thời gian ổn định thuế tới)
Thời hạn ổn định thuế cho các hộ nộp thuế theo phương pháp ấn định thuế được quy định thống nhất vào các tháng 6 và tháng 12 của năm Các hộ kinh doanh lớn (có môn bài bậc 1, 2) sẽ ổn định thuế 6 tháng, hộ kinh doanh vừa và nhỏ sẽ ổn định thuế 1 năm Các hộ mới phát sinh kinh doanh trong các tháng khác tháng 6 và tháng 12 thì sẽ được tính thời hạn ổn định thuế lần đầu