1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại PGD hà thành ngân hàng TMCP sài gòn thương tín

71 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 516,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những kiến thức tích lũy trong thời gian học tập tại trường và trong thờigian thực tập thực tế tại PGD Hà Thành ngân hàng Sài Gòn Thương tín, em mongmuốn sẽ đóng góp một phần công sứ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với sự phát triển chung của đất nước, ngành ngân hàng Việt Nam đã cónhững bước tiến vượt bậc và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng huyết mạchtrong nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên thời gian qua khi mà sức khỏe của nền kinh tếkhông thực sự tốt với lạm phát tăng cao và tăng trưởng giảm sút cùng với hàng loạtcác vấn đề khác thì ngành ngân hàng cũng bộc lộ hàng loạt những khiếm khuyết sauthời gian phát triển nóng Minh chứng cụ thể chính là mặc dù mức lợi nhuận caonhưng tỉ lệ nợ xấu tăng cao,đi kèm với đó là xuất hiện nhiều vụ vỡ nợ, rất nhiềungân hàng có dấu hiệu mất khả năng thanh khoản Đối với hầu hết các ngân hàngthương mại Việt Nam hiện nay thì tín dụng mà chủ yếu vẫn là các khoản tín dụngdành cho doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơcấu hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cũng là hoạt động mang lại nguồn thu lớnnhất cho ngân hàng Chúng ta có thể nhận ra vai trò quan trọng của tín dụng ngânhàng song đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cho các ngân hàngthương mại Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất làmgiảm thu nhập, gây thiệt hại về tài chính cũng như uy tín của cả ngân hàng cũng nhưdoanh nghiệp và đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay hiện nay Chính vì vậy,

để giải quyết vấn đề làm sao để phân phối vốn hiệu quả và tối thiểu hóa rủi ro đảmbảo nguồn thu cho chính ngân hàng thì chất lượng phân tích tài chính là một chỉ tiêurất quan trọng cần được bảo đảm

Với những kiến thức tích lũy trong thời gian học tập tại trường và trong thờigian thực tập thực tế tại PGD Hà Thành ngân hàng Sài Gòn Thương tín, em mongmuốn sẽ đóng góp một phần công sức để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại

PGD với đề tài : “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại PGD Hà Thành ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín”.

Nội dung chuyên đề tập trung nghiên cứu qui trình, nội dung và các phươngpháp phân tích tài chính doanh nghiệp mà hiện tại PGD đang sử dụng để làm rõnhững vấn đề cần bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng phân tíchtài chính khách hàng nói riêng và chất lượng quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng

Trang 2

Trên cơ sở đó, nội dung chuyên đề có đưa ra những giải pháp và kiến nghị giúpnâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tạiPGD.

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong chuyên đề là phương pháp so sánh

và tổng hợp số liệu thực tế thu thập được trong quá trình thực tập, các số liệu từ cácBáo cáo kết quả kinh doanh và các thông tin có được từ quá trình tiếp xúc, phỏngvấn các cán bộ tín dụng và cán bộ tại các phòng ban tại PGD Ngoài ra, còn sử dụngcác phương pháp khác như phương pháp tỷ số, liên hệ, cân đối…

Cấu trúc chuyên đề thực tập của em gồm 3 chương :

Chương 1 : Tổng quan về công tác phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng

Chương 2 : Thực trạng công tác phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp tại PGD Hà Thành ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín

Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng đối với KH doanh nghiệp tại PGD Hà Thành ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín

Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm và thời gian tìm hiểu thực tế, vì vậy bàiviết của em không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Em rất mong nhận được sựgiúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cùng các anh chịcán bộ tại PGD để bài viết thêm hoàn chỉnh

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI

CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 1.1 Hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng trong ngân hàng

 Khái niệm tín dụng : Tín dụng là một khái niệm của nền kinh tế hàng hóa,

nó phản ánh quan hệ giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lợi tức khi đến hạn thanhtoán

 Khái niệm tín dụng ngân hàng : Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các

tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân

Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trunggian Bởi vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngânhàng vừa là người đi vay đồng thời là người cho vay Với tư cách là người đi vayngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành giấy

tờ có giá để hoạt động vốn trong xã hội Ngược với tư cách là người cho vay, ngânhàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân Tuy nhiên, khi nói đến tíndụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay

Có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - ngân hàng là trung gian tài chínhkinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Vì vậy ngân hàng luôn có đội ngũ chuyên giakinh tế để xem xét các khoản tài trợ tín dụng nhằm đảm bảo rằng nguồn vốn của họ

sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được sử dụng hiệu quả với tỷ lệ rủi ro thấp, đemlại tỷ suất sinh lời cao từ nguồn vốn đó Đồng thời, với sự tư vấn của các chuyên giangân hàng, với những người đi vay sẽ có phương án sử dụng vốn rõ ràng, hiệu quả,

Trang 4

vì vậy đã giảm thiểu rủi ro của việc mất vốn Do đó, nền kinh tế sẽ phát triển nhanhhơn và lành mạnh hơn.

Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận lớn cho ngânhàng Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng thường chiếm trên 60% trong tổng lợinhuận của ngân hàng

Tín dụng ngân hàng còn là công cụ quan trọng của nhà nước để điều tiếtlượng tiền trong lưu thông Nhà nước thông qua công cụ tín dụng ngân hàng điềuchỉnh thu hẹp hay mở rộng tổng cung tiền trong lưu thông, kiềm chế lạm phát, thúcđẩy kinh tế, đảm bảo phát triển của nền kinh tế

1.1.2 Phân loại tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng, phong phú vớinhiều hình thức khác nhau Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì cần thiếttiến hành phân loại tín dụng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùytheo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng Dưới đây là một

số cách phân loại thường gặp:

1.1.2.1 Phân loại theo thời gian:

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gianliên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả nănghoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phân thành:

 Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và thườngđược sử dụng dành cho cho vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm của các doanhnghiệp và cho vay phục vụ sinh hoạt của cá nhân như cho vay tiêu dùng

 Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn trong khoảng 1 năm đến 5năm Loại tín dụng này nhằm tài trợ cho hoạt động mua sắm tài sản cố định, cải tiến

và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồivốn nhanh

 Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm và được sử dụng

để cung cấp cho các doanh nghiệp vào các nhu cầu lớn trong thời gian dài như: xâydựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạtầng, cải tiến dây chuyền công nghệ và mở rộng sản xuất quy mô lớn hơn

Trang 5

1.1.2.2 Căn cứ vào tài sản đảm bảo

Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảmbảo bởi vì đó là tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có đượcnguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó trong trường hợp nguồn thu nợthứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh từ phương án kinh doanh hoặc từ dự ánđầu tư) không có hoặc không đủ Theo cách phân loại này tín dụng được chia theotính chất của tài sản đảm bảo thành tín dụng đảm bảo bằng tài sản hữu hình và tíndụng đảm bảo bằng tài sản vô hình

 Tín dụng đảm bảo bằng tài sản hữu hình: là hình thức tín dụng mà trong đókhách hàng nếu muốn được ngân hàng cấp tín dụng thì phải có tài sản hữu hình đểcầm cố, thế chấp hoặc được bảo lãnh bởi tài sản hữu hình của bên thứ ba được ngânhàng đồng ý

 Tín dụng đảm bảo bằng tài sản vô hình: là hình thức tín dụng mà trong đóngân hàng cho khách hàng vay dựa trên uy tín của khách hàng không cần cầm cố,thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh bằng tài sản của một bên thứ ba Loại tín dụng nàythường được cấp cho những khách hàng lớn có uy tín cao, làm ăn thường xuyên cólãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa Nói chungnguồn trả nợ sẽ được đảm bảo bằng nguồn thu nhập trong tương lai ổn định củakhách hàng

1.1.2.3 Căn cứ vào rủi ro:

Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàncủa các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời vì thế giúp cho ngânhàng trong khâu quản lí tín dụng Theo cách phân loại này, tín dụng gồm:

 Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi đủ cả nợ gốc

và lãi đúng hạn

 Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng mang dấu hiệu không lành mạnh

ví dụ như khách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, khách hàng gặp thiêntai bất ngờ, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…

 Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạnngắn do thu chi dòng tiền của khách hàng chênh lêch tiền chưa về kịp và kháchhàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo hữu hình có giá trị lớn…

Trang 6

 Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn đã lâu, khả năng trả nợ thấp, khách hàngtrì hoãn nhiều lần , chầy ỳ không chịu trả nợ…

1.1.2.4 Căn cứ vào đối tượng tín dụng:

 Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốnlưu động của tổ chức kinh tế như cho dự trữ hàng hóa đối với các doanh nghiệpthương mại, cho dữ trữ nguyên vât liệu cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp sảnxuất… Loại tín dụng này thường được sử dụng để cho vay bù đắp mức vốn lưuđộng thiếu tạm thời, và thường được chia ra làm các loại sau: cho vay dự trữ hànghóa, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu thương phiếu

 Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản

cố định Và thường được đầu tư để mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật,

mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay đốivới các loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn

1.1.2.5 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

 Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng được dành riêngcho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác sử dụng để tiến hành sản xuấthàng hóa và lưu thông hàng hóa

 Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng dành riêng cho cá nhân để đáp ứngnhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ, mua sắm tại các siêu thị hay các địađiểm có liên kết với tổ chức tín dụng, …

Ngoài các cách phân loại trên còn một số cách phân loại khác ví dụ như theongành kinh tế (công, nông nghiêp…) có thể tùy vào mục đích của nhà quản lý ngânhàng

Như vậy, rõ ràng việc phân loại tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việcgiúp cho các nhà quản lý ngân hàng cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn,đảm bảo cơ cấu an toàn và tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng

1.1.3 Quy trình tín dụng chung

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khitiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cấp tín dụng,giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng

Trang 7

Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệtquan trọng đối với một ngân hàng thương mại Về mặt hiệu quả, một quy trình tíndụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi

ro tín dụng Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng làm cơ sở cho việc phânđịnh quyền hành, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng, làm cơ sở

để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn

Tại một ngân hàng thương mại thì quy trình tín dụng căn bản thường gặpgồm các bước sau :

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn: Bước này do CBTD thực hiện ngay sau khi tiếpxúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập đầy đủ cácthông tin bao gồm: năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, khảnăng sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả nợ vay (nợ vay bao gồm vốn vay và lãivay)

Bước 2: Phân tích tín dụng hay còn gọi là thẩm định tín dụng: là xác địnhkhả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàntrả nợ vay

Mục tiêu của bước này là dự báo những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi

ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biệnpháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng Đồng thời phân tích tínhchân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước một,

từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết địnhcấp tín dụng

Phân tích tín dụng gồm 2 phần : thứ nhất là phân tích tài chính hiện thời củadoanh nghiệp dựa trên dữ liệu quá khứ để xác định tình hình hoạt động có hiệu quả ,tài chính doanh nghiệp có lạnh mạnh hay không, doanh nghiệp có thực sự cần vayvốn hay không, … Phần thứ hai là thẩm định tài chính dự án hoặc phương án sảnxuất kinh doanh sắp tới của doanh nghiệp dựa trên dữ liệu ước đoán để xác địnhxem phương án hay dự án có khả thi hay không có thể dựa vào đó để trả nợ vay vàlãi vay hay không Trong nội dung chuyên đề này chúng ta sẽ đi sâu vào phần thứnhất của phân tích tín dụng và vào mảng chủ yếu là tài chính doanh nghiệp

Trang 8

Bước 3: Ra quyết định tín dụng Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết địnhđồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng Khi raquyết định, thường mắc hai sai lầm cơ bản: Đồng ý cho vay với một khách hàngkhông tốt và từ chối cho vay với một khách hàng tốt Cả hai sai lầm đều ảnh hưởngđến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ hai còn ảnh hưởng đến uytín của ngân hàng

Bước 4: Giải ngân Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân tiền chokhách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân: Giải ngân cho doanh nghiệp phải gắn liền sự vận độngtiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích

sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng Ngân hàngđồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinhdoanh của khách hàng

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế củakhách hàng có đúng như mục đích lúc cam kết vay vốn, hiện trạng tài sản đảm bảo,tình hình hoạt đông kinh doanh và hoạt động tài chính của khách hàng, để đảmbảo khả năng thu nợ cho ngân hàng

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Chúng ta có thể thấy được mỗi khâu đều có vai trò quan trọng trong chuỗiquy trình tín dụng khi Ngân hàng làm việc với khách hàng Và đặc điểm đặc biệtquan trọng hơn hết của tín dụng là sinh lời và an toàn Vì thế có thể coi phân tích tíndụng nói chung và phân tích tài chính nói riêng là một khâu quan trọng trong việc raquyết định cấp tín dụng cho một khách hàng của ngân hàng tức là đảm bảo mứcsinh lời cao nhất và an toàn cho việc sinh lời của hoạt động tín dụng

1.2 Phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

1.2.1.1 Khái niệm phân tài chính :

Phân tích tài chính DN trong hoạt động tín dụng là việc xác định những điểmmạnh, điểm yếu hiện tại của một doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng thông qua việc

Trang 9

tính toán, so sánh và phân tích những số liệu, tỷ số khác nhau, sử dụng số liệu từBCTC Từ đó, CBTD cần phải phân tích, tìm ra được các mối liên hệ giữa các dữliệu đã tính toán để có thể đưa ra những kết luận chính xác về tình hình tài chínhcủa khách hàng Phân tích tài chính DN là nội dung cơ bản trong phân tích tín dụng

và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh hưởng tới cácbước sau này Nếu phân tích tài chính doanh nghiệp không được thực hiện một cáchcẩn trọng thì sẽ rất dễ dẫn tới các rủi ro tín dụng

1.2.1.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng

a Phân tích tài chính DN trong hoạt động tín dụng giúp Ngân hàng có quyếtđịnh đúng đắn trong cấp tín dụng :

Phân tích tài chính DN thông qua các BCTC giúp CBTD hiểu rõ và nắmchắc các số liệu từ BCTC của doanh nghiệp CBTD sử dụng công cụ phân tích tàichính như là một phương tiện hỗ trợ để nắm rõ bản chất các số liệu tài chính trongbáo cáo Định hướng của công tác phân tích tài chính DN tín dụng là nhằm đưa ramột cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai, trên cơ sở đó Ngân hàng đưa ra quyếtđịnh có cấp tín dụng cho doanh nghiệp hay không Quyết định này không chỉ liênquan tới vấn đề thu nhập mà còn liên quan tới vấn để bảo toàn vốn của Ngân hàng.Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng, việc phân tích tài chính DN đóng vai tròrất quan trọng bởi vì Ngân hàng dựa chủ yếu vào các báo cáo tài chính trong quákhứ và kế hoạch kinh doanh, sử dụng vốn vay để phân tích và ra quyết định đầu tưcủa mình Quyết định đầu tư đúng đắn của Ngân hàng được thể hiện ở hai điểm:

 Ngân hàng có quyết định đầu tư hay không?

 Chiến lược đầu tư sẽ tiến hành như thế nào?

Đối với một quyết định cấp tín dụng của Ngân hàng, những doanh nghiệp cótình hình tài chính lành mạnh, khả năng sinh lời cao và có triển vọng phát triểntrong tương lai sẽ được ưu tiên

b Phân tích tài chính DN làm tăng khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng :Nguyên tắc của quan hệ tín dụng là sự tin tưởng và hoàn trả, trong đó tính hoàn trả

là quan trọng vì nguồn vốn Ngân hàng đem cho vay là nguồn vốn Ngân hàng cũng

đi vay từ người khác Mục tiêu khi cho vay của Ngân hàng là cho vay một đồng vốn

Trang 10

thì phải thu về được một đồng vốn và lãi Vì vậy khả năng trả nợ của khách hàngluôn là mối quan tâm hàng đầu của Ngân hàng Phân tích tài chính DN sẽ giúp xácđịnh, dự đoán được khả năng thanh toán của doanh nghiệp vay vốn Việc xác địnhkhả năng thanh toán của doanh nghiệp là quan trọng đối với NHTM trong phân tíchcác chỉ tiêu tài chính và được coi là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu cho vay ngắnhạn nói riêng và trong quản lý tín dụng nói chung của Ngân hàng.

c Phân tích tài chính DN làm cơ sở cho việc đánh giá xếp loại tín dụng và cóbiện pháp trích lập, phòng ngừa hợp lý:

Trong bất kỳ hoạt động tín dụng của Ngân hàng đều mang rất nhiều rủi ro vàrủi ro lớn nhất liên quan tới quá trình phân tích và thẩm định của CBTD là rủi ro tíndụng Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng trả lãi hoặc nợgốc hay cả hai Ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề rủi ro tín dụng để ngănngừa rủi ro cho Ngân hàng và có sự chuẩn bị dự phòng xử lí khi có những thất bại,mất mát, thiệt hại không dự tính trước được khi rủi ro xảy ra Và phân tích tài chính

DN sẽ giúp Ngân hàng có cái nhìn tổng quan và có những sự chuẩn bị tốt hơn trongđánh giá, xếp loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

1.2.2 Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính

Để thực hiện phân tích tài chính ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệpcung cấp các báo cáo sau đây:

 Báo cáo tài chính trong 3 năm gần nhất (yêu cầu đầu tiên là phải đầy đủbao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưuchuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính Số liệu thu thập ít nhất trong vòng

3 năm để có được sự so sánh hợp lí cũng như nhận biết được xu thế tăng giảm của

số liệu Bên cạnh đó CBTD có thể thu thập kết luận của đơn vị kiểm toán độc lậphoặc biên bản kiểm tra quyết toán thuế từ cơ quan thuế để tăng thêm phần chính xáccho số liệu

 TH số liệu đã cũ so với thời điểm phân tích trên 4- 6 tháng cần thuyết phụckhách hàng cung cấp báo cáo tài chính giữa kì về: doanh số bán hàng, hàng tồn kho,mức vay ngân hàng, các khoản phải trả,… để xem xét có thay đổi quan trọng nàotrong hoạt động kinh doanh trong báo cáo gần nhất hay không

Trang 11

 Báo cáo chi tiết trong kì gần nhất: Bảng cân đối số phát sinh trong tàikhoản xuất nhập tồn kho, bảng kê các khoản phải thu phải trả, bảng kê tài sản cốđịnh, các tờ khai thuế VAT hàng tháng, hợp đồng kinh tế phát sinh trong kì gần nhấtphục vụ cho phân tích và kiểm tra chéo các thông tin trong các báo cáo tài chính.

 Trong trường hợp mà thông tin thể hiện trên báo cáo tài chính khách hàngcung cấp sai lệch với thực tế hoạt động xác minh bởi quá trình thực tế, Ngân hàng

sẽ thu thập đầy đủ báo cáo chi tiết chứng từ chứng minh hoạt động thực tế đồng thời

tư vấn và yêu cầu khách hàng cung cấp lại báo cáo tài chính phù hợp để làm cơ sởcho phân tích và thẩm định

 Ngoài ra các báo cáo tài chính được gửi đến Ngân hàng phải có xác minhcủa người đại diện theo pháp luật và kế toán trưởng của doanh nghiệp, những ngườichịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp lí của báo cáo tài chính

Bên cạnh đó thì doanh nghiệp cần bổ sung thêm một số tài liệu về lịch sử tíndụng, kế hoạch phương án vay vốn hay các thông tin về các đối tác hiện thời củadoanh nghiệp bao gồm:

 Phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, khả năng vay trả, nguồn trả

 Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, tình hình đã vay

nợ ở các TCTD, các tổ chức, cá nhân khác và các nguồn thu nhập để trả nợ

 Các hợp đồng dân sự thương mại (về hàng hoá xuất nhập khẩu, dịch vụ…)

1.2.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng được mở rộng cho nhiều đốitượng trong xã hội nhưng khách hàng lớn nhất, thường xuyên và quan trọng nhấtvẫn là doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, hoạt động kế toán phải tuân thủtheo những nguyên tắc chung đề ra, các BCTC của doanh nghiệp trình ngân hàngphải tuân theo những quy chuẩn nhất định, đây chính là một thuận lợi lớn trong quátrình phân tích tài chính của ngân hàng Trong phương pháp phân tích khách hàngđược nêu sau đây tập trung chủ yếu nêu các phương pháp phân tích các BCTC củadoanh nghiệp

Phương pháp phân tích tài chính là một hệ thống các công cụ và biện pháp đểtiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bênngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp

Trang 12

và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp qua chất lượng hoạtđộng và mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Dưới đây là

ba phương pháp phân tích tài chính :

1.2.3.1 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tíchhoạt động kinh doanh và thường được thực hiện ở bước khởi đầu của quá trình phântích Việc sử dụng phương pháp so sánh nhằm các mục đích:

 Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt rabằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ kếhoạch

 Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của tài chính doanh nghiệp thông quaviệc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước

 So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của ngành để đánh giátình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt hay xấu so với các doanh nghiệp cùngngành, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp so với ngành và so với nền kinh tế

1.2.3.2 Phương pháp phân tích tỉ số

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tàichính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ phải xác địnhđược các ngưỡng, các định mức nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp trên cơ sở so sánh tỷ lệ của doanh nghiệp với các giá trị của các tỷ lệ thamchiếu Phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ luôn luôn được phốihợp với nhau trong quá trình phân tích

Tuy nhiên dưới góc độ hoạt động tín dụng tại các ngân hàng, người tathường sử dụng kĩ thuật so sánh tương quan ngành tức là các chỉ tiêu tài chính củadoanh nghiệp được so sánh với các doanh nghiệp cùng loại trong ngành, giúp ngânhàng thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh vớicác doanh nghiệp cùng loại trong ngành Tuy vậy, kỹ thuật này khi sử dụng mộtmình có nhược điểm là không thấy được xu hướng tình hình tài chính của doanhnghiệp theo thời gian

Trang 13

1.2.3.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont

Dupont là một phương pháp phân tích tài chính mới và được áp dụng rấthiệu quả trong phân tích tài chính doanh nghiệp hiện nay Với phương pháp này,các nhà phân tích sẽ nhận biết được nguyên nhân dẫn tới các hiện tượng tốt, xấutrong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ sốtổng hợp phản ánh mức sinh lời của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA),thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữ (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số cómối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ

số mới đối với tỷ số tổng hợp Có thể nhìn thấy điều ấy qua các phương trìnhDupont sau đây :

LNST

(1)Trong đó : ROA : Hệ số sinh lời trên tổng tài sản được phân tích theo tỉ sốlợi nhuận trên doanh thu ( ROS ) và tỉ số hiệu suất sử dụng tài sản ( AU )

DT x DT

LNST

=ROS

d R

x TS

DT x

 1

1 (3)Nhìn vào 3 phương trình Dupont này sẽ thấy được nguyên nhân tăng giảmcủa tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỉ suất sinh lời trên vốn chủ là do sự tác độngcủa yếu tố nào, tác động của các yếu tố như lợi nhuận sau thuế, tổng tài sản, doanhthu hay vốn chủ sở hữu Các đẳng thức này sẽ được phân tích rõ hơn ở phần phântích các chỉ số tài chính

Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn giúp cho nhà phân tích pháthiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vốn CSH củadoanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành chỉ cần dựa vào hệthống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont nhà phân tích có thể tìm ranguyên nhân Dùng phương pháp phân tích tài chính Dupont còn có thể giúp cho

Trang 14

doanh nghiệp xác định xu hướng hoạt động trong một thời kỳ để có thể phát hiện ranhững khó khăn và thuận lợi mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lai.

1.2.4 Nội dung phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng

1.2.4.1 Kiểm tra mức độ tin cậy của các thông tin sử dụng

Trước khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp, CBTD phải tiến hànhphân tích mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp Đây

là yếu tố quyết định tới chất lượng phân tích Một báo cáo tài chính sẽ trở nên vônghĩa đối với ngân hàng khi nó được tạo ra với mục đích làm đẹp số liệu và phảnánh không chính xác tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp hoặc trong quátrình tạo ra gặp sai sót do vô ý Bởi vậy ở trong các trường hợp này, công việc trongnhững giai đoạn tiếp theo hầu như không có giá trị

Để tiến hành kiểm tra xem xét mức độ tin cậy của báo cáo tài chính, CBTD

sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của báo cáo tài chính: báo cáo tài chính

đó có giá trị pháp lý không, các số liệu trong các báo cáo tài chính có đảm bảo phùhợp không, chế độ kế toán và phương pháp kế toán áp dụng có tuân thủ đúng quyđịnh của pháp luật không… Đó là quá trình kiểm tra, đánh giá sơ bộ

Sau khi kiểm tra sơ bộ toàn bộ tài liệu được cung cấp, CBTD sẽ tiến hànhkiểm tra một cách cụ thể hơn các báo cáo tài chính Bằng kinh nghiệm, sự hiểu biếtthực tế, độ nhạy và cả một chút nhận xét chủ quan của mình, CBTD sẽ tìm xemtrong báo cáo tài chính đó có chỗ nào mẫu thuẫn, bất hợp lý và những chi tiết khảnghi Vì các báo cáo tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhaunên CBTD sẽ tiến hành đối chiếu so sánh để xem liệu chúng có phù hợp với nhaukhông Sự phù hợp của một báo cáo tài chính không những nằm trong mối quan hệvới các báo cáo tài chính khác mà còn phải phù hợp trong nội dung mỗi báo cáo đó.Trong trường hợp này, CBTD thường kiểm tra tính chính xác của số liệu trong báocáo đó

Để đánh giá mức độ tin cậy của báo cáo tài chính, CBTD không phải chỉdừng lại ở việc kiểm tra về mặt sổ sách của các báo cáo đó mà cần phải liên hệ thực

tế hoạt động của doanh nghiệp đang diễn ra CBTD tiến hành thu thập thêm cácthông tin về doanh nghiệp thông qua tiếp xúc với lãnh đạo doanh nghiệp, xuống cơ

sở sản xuất của doanh nghiệp để quan sát, tiếp xúc với công nhân trong doanh

Trang 15

nghiệp và thu thập thêm nhiều các thông tin từ các đối tượng : bạn hàng, đối thủcạnh tranh ,cơ quan thuế, đơn vị kiểm toán… để có thể đối chiếu và xác minh độchính xác các thông tin mà doanh nghiệp đã cung cấp cho ngân hàng Ngoài ra,CBTD cần phải kiểm tra là số liệu đã được kiểm toán độc lập chưa và có phải domột công ty kiểm toán có uy tín thực hiện không, mặt khác cần tìm hiểu các số liệuđược cơ quan thuế chấp nhận…bằng cách như vậy mới có thể đánh giá được mức

độ tin tưởng của các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp

Như vậy, thông qua việc kiểm tra các báo cáo tài chính và kết hợp các thôngtin mà ngân hàng thu thập được, CBTD có thể đánh giá được mức độ tin cậy củacác báo cáo tài chính Mặc dù vậy, CBTD không phải là chuyên gia trong việc đánhgiá mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính nên ngân hàng thường yêu cầu doanhnghiệp cam kết các báo cáo tài chính mà cung cấp là đúng sự thật và doanh nghiệp

sẽ chịu trách nhiệm về tính chính xác của các báo cáo này Sau khi xác minh, đánhgiá mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính, CBTD sẽ đi vào tiến hành phân tíchcác nội dung trong các báo cáo tài chính đó

1.2.4.2 Phân tích các báo cáo tài chính

a Phân tích các khoản mục trong bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một BCTC mang tính chất tổng hợp mô tả tình trạngtài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Thông thường,bảng cân đối kế toán được trình bày dưới hình thức bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanhnghiệp Nhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loạihình doanh nghiệp, quy mô, cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kếtoán là một tài liệu quan trọng giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năngcân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệpthông qua các chỉ số tài chính tính toán trên số liệu của BCĐKT

Khi phân tích bảng cân đối kế toán việc đầu tiên CBTD sẽ phải làm là đánhgiá khái quát các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và sự biến động củachúng, đồng thời xem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Vì vậy, CBTDcần phải xem xét sự biến động của từng loại tài sản trên tổng tài sản cũng như từngloại tài sản giữa cuối kỳ so với đầu kỳ để đánh giá xem việc phân bổ như vậy có

Trang 16

hợp lý hay không và xu hướng biến động tài sản Và khi phân tích khoản nợ phải trả

và vốn chủ sở hữu, CBTD quan tâm đến việc doanh nghiệp dùng nguồn vốn nào đểtài trợ cho các loại tài sản, việc phân bổ nguồn vốn có hợp lý không và mức độ tựchủ về mặt tài chính của doanh nghiệp như thế nào

Sau khi đã đánh giá tổng quát về tình hình nguồn vốn và tài sản của doanhnghiệp, CBTD sẽ đi sâu vào chi tiết từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán

Nội dung chi tiết các khoản mục tài sản

 Tiền và các khoản tương đương tiền : tiền mặt dùng để chi trả các hóa đơn

và thanh toán các nghĩa vụ nợ Khi tính tỷ trọng với tài sản ngắn hạn, quỹ tiền mặt

và đầu tư chứng khoán thể hiện được phần nào chính sách quản trị của doanhnghiệp Một doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, dè dặt thường nắm giữ nhiều tiềnmặt và chứng khoán ngắn hạn như là công cụ phòng ngừa khi hoạt động kinh doanhkhông thể tiên liệu được Ngân hàng không nên ra quyết định cho vay trên cơ sởlượng tiền mặt lớn vì tiền có thể biến mất khi các vấn đề nảy sinh

Do lượng tiền dự trữ khác nhau qua các ngày nên việc xem xét dự trữ tiềnmặt bình quân, nhân viên tín dụng có thể nhận biết các số liệu thực tế phát sinh.Hơn nữa ngân hàng nên tính toán mức tiền dự trữ tối thiểu ở ngân hàng để đáp ứngyêu cầu số dư hoặc đảm bảo cho dư nợ hiện hữu

 Các khoản phải thu (chủ yếu là tiền bán hàng hóa và dịch vụ chưa thuđược tiền) luôn có khả năng chuyển thành tiền mặt Ngân hàng cần xem xét kỹ cáckhoản này vì đây là nguồn chủ yếu để doanh nghiệp chi trả các khoản vay đến hạn.Khi xem xét CBTD cân tìm hiểu về phương thức tiêu thụ, chính sách thanh toán tiềnhàng, khả năng quản lý và thu hồi nợ của doanh nghiệp, đồng thời cần xác địnhvòng quay các khoản phải thu

 Hàng tồn kho: Rất nhiều món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dự trữ hànghóa, có nghĩa là một phần hàng hóa trong kho được hình thành từ vốn vay của ngânhàng Do đó, CBTD quan tâm tới số lượng, chất lượng, giá cả, mẫu mã, bảo hiểm,rủi ro đối với hàng hóa trong kho Ngoài xem xét trên sổ sách, ngân hàng còn yêucầu người vay mở kho hàng kiểm tra để loại trừ hàng hóa kém, mất phẩm chất,chậm tiêu thụ, phát hiện hàng giả, hàng người khác gửi…

Trang 17

 Tài sản cố định: Bao gồm nhà cửa, sân kho bãi, trang thiết bị, phương tiệnvận chuyển Thông thường, đối với các khoản cho vay ngắn hạn, ngân hàngthường không quan tâm đến các tài sản cố định trên phương diện như một nguồn sửdụng để bán khi trả nợ Tuy nhiên, đối với các khoản tài trợ dài hạn thì tài sản cốđịnh lại có vai trò khá quan trọng Trước hết, tài sản cố định có thể dùng để thế chấptại ngân hàng Ngoài ra CBTD quan tâm đến tài sản cố định còn bởi là nó được tríchkhấu hao hàng năm và quỹ khấu hao này dùng để tái đầu tư hoặc trả các khoản màdoanh nghiệp vay để tài trợ cho các tài sản cố định đó.

Việc phân tích các khoản mục tài sản không thể tách rời thẩm định các khoảnmục nguồn vốn bởi lẽ nguồn vốn là nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp

Phân tích chi tiết các khoản mục nguồn vốn

 Nợ phải trả: là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng của đối tác Xét vềmặt lợi ích thì chi phí sử dụng nó là rất thấp nhưng nếu các khoản phải trả quá lớnthì có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán Đặc biệt, doanh nghiệp có các khoản nợdây dưa kéo dài thì cần xem xét lại uy tín của doanh nghiệp

Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Các khoản nợ ngắn hạndùng để tài trợ cho các tài sản lưu động,khoản mục này thể hiện nhu cầu tiền mặtdoanh nghiệp cần có để trả nợ Nợ dài hạn dùng để tài trợ cho tài sản cố định Mặc

dù, nợ dài hạn không ảnh hưởng mạnh đến khả năng thanh toán của doanh nghiệphiện tại nhưng chúng nói lên các khoản mà doanh nghiệp phải trả trong dài hạn,điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch để trả nợ

Ngoài ra, CBTD còn quan tâm tới tất cả các chủ nợ của doanh nghiệp: Có thể

là các khoản nợ cũ, các khoản nợ ở các ngân hàng khác, nợ nhà cung cấp, nợ ngườilao động hay nợ cơ quan thuế Vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ luônđược xem xét kỹ lưỡng Nếu ngân hàng giành vị trí quan trọng nhất, nó dễ dàng thuđược nợ hơn so với các vị trí khác khi vỡ nợ

 Vốn chủ sở hữu: bao gồm các khoản vốn góp ban đầu, lợi nhuận khôngchia và phần vốn từ phát hành cổ phiếu mới Vốn chủ sở hữu cho thấy mức độ độclập về mặt tài chính của doanh nghiệp và là nhân tố giúp doanh nghiệp giảm thiểurủi ro Vốn chủ sở hữu còn nói lên vị thế của doanh nghiệp, đồng thời đây cũng làyếu tố đảm bảo doanh nghiệp không quá mạo hiểm trong kinh doanh khi sử dụng

Trang 18

tiền vay Vì vậy cho nên nó là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới quyết địnhcho vay của ngân hàng.

a Phân tích các khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh

Để kiểm soát hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động kinh doanh củamột doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét tình hình biến động của các khoản mụctrong báo cáo kết quả kinh doanh của DN đó (BCKQKD) BCKQKD cho biết sựdịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chophép dự đoán tính toán khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai QuaBCKQKD, CBTD có thể đánh giá được là doanh nghiệp đang làm ăn có lãi haythua lỗ, nếu là thua lỗ sẽ không thể trả nợ được ngân hàng và nếu có trả được ngânhàng thì có lẽ chỉ lấy từ vốn chủ sở hữu hoặc vay của đối tượng khác để trả nợ ngânhàng Đây sẽ là một rủi ro rất lớn cho ngân hàng Khi phân tích để đánh giá chínhxác tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, CBTD sẽ yêu cầukhách hàng cung cấp các BCKQKD ít nhất của 2 năm gần nhất Sau khi nhận xéttổng quan sẽ đi vào từng khoản mục quan trọng của bảng báo cáo kết quả kinhdoanh :

 Khoản mục doanh thu

CBTD cần phân tích về quy mô tổng doanh thu, về mức tăng và tốc độ tăngdoanh thu của doanh nghiệp qua các kỳ Qua phân tích doanh thu kết hợp với nhữngphân tích trong phần thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

để rút ra kết luận về kết quả, hạn chế của doanh nghiệp trong việc tiếp cận và mởrộng thị trường tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, cần phân tíchtổng doanh thu của mỗi quý, mỗi tháng để xác định được những thời điểm hoạtđộng mạnh của công ty và so sánh với hoạt động của cùng kỳ năm trước, điều nàyrất quan trọng đặc biệt là đối với những doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo mùa

vụ Với những thay đổi bất thường trong tổng doanh thu của doanh nghiệp đòi hỏiCBTD phải xem xét một cách kỹ lưỡng và giải thích nguyên nhân của sự thay đổibất thường đó

 Khoản mục chi phí

Khi đánh giá chỉ tiêu này, CBTD cần xem xét đâu là những chi phí hợp lýcủa doanh nghiệp và những chi phí đóng góp vào việc tạo ra doanh thu Ngoài ra,

Trang 19

CBTD cần xem xét đâu là các chi phí không được tính vào chi phí hợp lý, cáckhoản chi phí “chìm” mà doanh nghiệp đã không thể hiện trên BCKQKD để cóđược những đánh giá chính xác nhất.

Trong các khoản mục thuộc BCKQKD thì chỉ tiêu lợi nhuận là quan trọngnhất

 Khoản mục lợi nhuận: trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoạt động

vì mục đích lợi nhuân Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng trong phản ánh tìnhhình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là nguồn chủ yếu để doanh nghiệp táiđầu tư và mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình Đồng thời, nó lànguồn để trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, CBTD cần thẩm định xem liệu doanhnghiệp thực sự kinh doanh có lợi nhuận không hay là lợi nhuận đó là do doanhnghiệp cố ý tạo ra trên sổ sách Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp có lãi song vẫnrơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đó là do sự lệch pha giữa doanh thu vàthu, giữa chi phí và chi Doanh thu được hạch toán khi mà người bán chấp nhậnthanh toán, tức là người bán đã mua hàng, song chưa biết là đã trả tiền hay chưa,trong khi đó thu là khoản tiền thực tế doanh nghiệp đã nhận được Tương tự khixem xét chi phí và chi, một khoản chi phí chưa chắc doanh nghiệp đã xuất tiềnngay Qua trường hợp này ta thấy, BCĐKT và BCKQKD chưa thể phản ánh đầy đủtình hình tài chính doanh nghiệp, CBTD còn phải tiến hành thẩm định báo cáo lưuchuyển tiền tệ và phân tích dòng tiền để nhìn nhận toàn diện hơn về tình hình tàichính của doanh nghiệp

b Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các dòng tiền vào racủa doanh nghiệp, được xác định trọng một thời kỳ ngắn (thường là theo tháng vàquý) Nó giải thích sự thay đổi dòng tiền thu chi của doanh nghiệp cho biết khảnăng chi trả của doanh nghiệp Để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cần phải xác địnhhoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ và xuất quỹ Dòng tiền thực xuất quỹ baogồm: dòng tiền xuất quỹ do sản xuất kinh doanh; dòng tiền xuất quỹ do thực hiệnhoạt động đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ do thực hiện hoạt động bất thường.Dòng tiền thực nhập quỹ bao gồm: dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh : từbán hàng hoặc cung cấp dịch vụ; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính;

Trang 20

dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và xuấtquỹ, các nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xácđịnh số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tốithiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả Bởi suy cho cùng khôngphải lượng tiền doanh nghiệp hiện tại hay lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ đảm bảokhả năng chi trả của doanh nghiệp, mà nhân tố quyết định khả năng chi trả củadoanh nghiệp chính là dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai.

c Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính được tạo ra nhằm cung cấp các thông tin vềtình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong báo cáo tài chính Đồng thời, giải thíchthêm một số chỉ tiêu mà trong báo cáo tài chính chưa được trình bày, thể hiện Đây

là một báo cáo khá quan trọng giúp CBTD đánh giá chính xác hơn tình hình tàichính của doanh nghiệp

Để có cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp thì ngoài việcđánh giá các khoản mục trong các báo cáo tài chính sử dụng phương pháp so sánh tuyệtđối các khoản mục theo thời gian, CBTD còn phải sử dụng các tỷ số tài chính

d Phân tích các tỷ số tài chính

Khi phân tích các tỷ số tài chính, CBTD sẽ tính toán các tỷ số này theo thờigian rồi so sánh với nhau để thấy xu hướng biến động ( so sánh ngang ), và so sánhvới trung bình của ngành để thấy vị trí của doanh nghiệp Có 4 nhóm tỷ số màCBTD phải quan tâm:

- Nhóm tỷ số thanh toán: Đây là nhóm tỷ số cho thấy khả năng trả nợ củadoanh nghiệp đối với các khoản nợ ngắn hạn và được rất nhiều nhóm người quantâm như các nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu…Họ luônđặt câu hỏi: liệu rằng hiện nay doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạnkhông Trong nhóm này có các chỉ tiêu đánh giá sau:

 Khả năng thanh toán chung

Khả năng thanh toán chung= TSNH NNH

Trong đó : TSNH : Tài sản ngắn hạn

NNH : Nợ ngắn hạn

Trang 21

Nó cho biết mức độ đảm bảo các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được thểhiện bằng các tài sản mà có thể chuyển thành tiền trong một thời gian tương đươngvới thời gian của các khoản nợ đó Tỷ số này càng lớn, khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Thông thường, tỷ sốnày lớn hơn 1 thì doanh nghiệp được coi là có khả năng đáp ứng nghĩa vụ các khoản

nợ hiện hành Tuy nhiên không phải hệ số này càng lớn càng tốt, vì khi đó có mộtlượng tài sản lưu động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả vì

bộ phận này không vận động, không sinh lời Tính hợp lý của hệ số này phản ánhkhả năng thanh toán hiện thời phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và tình hìnhkinh tế

 Tỷ số thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh= TSNH  NHH HTK

Trong đó : HTK: Hàng tồn kho

Các tài sản lưu động trước khi đưa đi dùng vào mục đích thanh toán cho chủ

nợ đều phải chuyển đổi thành tiền Và trong các loại tài sản lưu động hiện có thì vật

tư hàng hóa tồn kho (các loại vật tư, công cụ, dụng cụ, thành phẩm tồn kho) chưathể chuyển đổi ngay thành tiền và vì thế nó có khả năng thanh toán kém nhất Vìvậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh được coi là thước đo khả năng trả nợ ngay cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ mà không phải dựa vào việc phải báncác loại vật tư hàng hóa

Nếu tỷ số này lớn thì khả năng thanh toán tương đối khả quan Nếu tỷ số nàynhỏ cho thấy doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợngắn hạn Tuy nhiên nếu quá lớn, lại phản ánh tình hình không tốt vì vòng quay vốnchậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn

Hoặc:

Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền/Nợ ngắn hạn

Thông thường, hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất

- Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn: Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷtrọng sử dụng các loại vốn theo xu hướng hợp lý (kết cấu tối ưu) Nhưng kết cấunày luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư của doanh nghiệp Vì vậy nghiên cứu cơ cấu

Trang 22

nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp cho ngân hàng một cái nhìntổng quan về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

 Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu

Hệ số nợ= Nợ phải trả / Tổng tài sản= 1 – Hệ số vốn chủ sở hữu

Hệ vốn chủ sở hữu= Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản= 1 – Hệ số nợ

Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hình thành từvay nợ bên ngoài, còn hệ số vốn chủ sở hữu lại đo lường sự tài trợ của vốn của chủ

sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện nay của doanh nghiệp

Hệ số nợ cao: Đối với một doanh nghiệp đang kinh doanh trong một môitrường thuận lợi, sản phẩm tiêu thụ tốt và ít cạnh tranh thì cơ cấu tài chính này sẽmang lại tỷ suất lợi nhuận cao cho doanh nghiệp do tác động của đòn bẩy tài chính

Và ngược lại, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng kinh doanh khó khăn, thua lỗ thì

cơ cấu nợ cao sẽ đưa doanh nghiệp đến chỗ thua lỗ nhanh hơn

Thông thường, các chủ nợ thích hệ số nợ vừa phải vì tỷ số vay nợ càng thấpthì khoản nợ càng được đảm bảo hoàn trả trong trường hợp doanh nghiệp bị phásản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốnlợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Song, nếu tỷ

số nợ quá cao doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán

Khả năng trả nợ gốc=( Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao ) / Nợ gốc

Tỷ số này đo lường khả năng trả gốc dài hạn của một doanh nghiệp Khingân hàng tiến hành xem xét cấp tín dụng các khoản vay trung, dài hạn thì họ quantâm đặc biệt tới các tỷ số thuộc nhóm này, bởi vì đây là nguồn trả nợ thực sự củadoanh nghiệp

Trang 23

- Nhóm chỉ số về hoạt động: Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sửdụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏvốn vào kinh doanh dưới các tài sản khác nhau.

 Vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luânchuyển trong kỳ Được xác định theo công thức:

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân

Vòng quay hàng tồn kho càng cao thì ngân hàng càng đánh giá tốt về hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì doanh nghiệp quay vòng vốn lưu độngnhanh => sản xuất và tiêu thụ tốt Tuy nhiên phải xem xét trong bối cảnh các doanhnghiệp cùng ngành, đặc thù ngành và diến biến nền kinh tế đến tỉ số này

 Hệ số vòng quay tổng tài sản

Hệ số vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần / Tài sản bình quân

Hệ số vòng quay tổng tài sản cho biết tổng tài sản đã được chuyển đổi baonhiêu lần doanh thu Nếu như tỷ số này thấp tức là vốn đang được sử dụng khônghiệu quả, doanh nghiệp thừa hàng tồn kho hoặc tài sản nhàn rỗi hoặc vay quá nhiềutiền so với nhu cầu thực tế Và ngược lại nếu như tỷ số này cao, hiệu quả sử dụngtài sản cao

 Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu bình quân / Doanh thu thuần

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để doanh nghiệp đó thuđược các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì tỉ số này càngnhỏ và chứng tỏ doanh nghiệp không bị đọng vốn trong khâu thanh toán, và ngượclại, nếu tỷ số này quá cao chứng tỏ doanh nghiệp bị tồn đọng vốn, có thể gặp phảicác khoản nợ khó đòi và chính sách bán hàng chưa phù hợp Tuy nhiên kỳ thu tiềnbình quân cao hay thấp thì chúng ta cũng chưa thể có kết luận chắc chắn, mà cònphải xem xét lại các mục tiêu, chính sách của doanh nghiệp ví dụ như: mục tiêu mởrộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp

- Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi: Các chỉ tiêu này luôn được các CBTDquan tâm bởi đây là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh trong một thời kỳ nhất định, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh vàcòn là một cơ sở quan trọng để CBTD đưa ra các quyết định cung cấp tín dụng

Trang 24

 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu (thuần)

Nó phản ánh một đồng doanh thu có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế trong một kỳ kinh doanh Tỷ số sinh lời càng cao càng tốt

 Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời của tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tài sản

Tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp đểtạo ra lợi nhuận, không phân biệt tài sản này được hình thành trên vốn chủ sở hữuhay vốn vay Tỷ số này càng cao càng thể hiện việc sử dụng và quản lý tài sản củadoanh nghiệp càng hợp lý, hiệu quả Khi thẩm định CBTD nên sử dụng phươngpháp phân tích Dupont mà chúng ta đã đề cập ở mục trên để có thể biết được cácyếu tố cơ bản tác động lên ROA

ROA = LNST/DTT * DTT/TS = PM * AU

ROA trước tiên phụ thuộc vào PM ( viết tắt của chỉ tiêu doanh lợi tiêu thụsản phẩm hay sức sinh lời của doanh thu thể hiện khả năng quản lý chi phí củadoanh nghiệp Khi PM tăng, điều đó thể hiện doanh nghiệp quản lý doanh thu vàquản lý chi phí có hiệu quả

AU (chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản) thể hiện một đồng tài sản củadoanh nghiệp có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, thể hiện khả nănghoạt động của doanh nghiệp thông qua việc tạo ra sản lượng cao và tiêu thụ sảnphẩm nhiều

 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu=Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu

Hay theo đẳng thức Dupont ta có : ROE =

DT x DT LNST

ROE thể hiện khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn doanhnghiệp ROE ngoài việc chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố PM và AU như ROA (phântích ở trên) thì nó còn bị ảnh hưởng bởi EM (chỉ số số nhân vốn chủ sở hữu), phảnánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài của doanh nghiệp Nếu EM tăng, điều đó

Trang 25

chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn từ bên ngoài sử dụng nhiều nợ hơn tức là tác độngcủa đòn bẩy tài chính.

Như vậy, các yếu tố cơ bản mà có tác động tới ROE của một doanh nghiệpthì bao gồm khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài sản vàđòn bẩy tài chính

e Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn

Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn là việc xem xét đánhgiá sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng nó của một doanh nghiệptrong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập BCĐKT ở hai đầu thời kỳ đó.Một trong những công cụ hữu hiệu được CBTD sử dụng là bảng kê nguồn vốn và

sử dụng nguồn vốn Nó giúp cho CBTD xác định rõ các nguồn cung ứng vốn củadoanh nghiệp và doanh nghiệp phân bổ các nguồn vốn đó như thế nào Thông tin

mà bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn cho biết hoạt động của doanhnghiệp đang tiến triển hay gặp khó khăn Thông tin này còn rất hữu ích đối vớingười cho vay, các nhà đầu tư họ muốn biết doanh nghiệp đã làm gì với số vốncủa họ

Để lập được bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn, người tathường tổng hợp tự thay đổi của các khoản mục trong bảng CĐKT giữa hai thờiđiểm là đầu kỳ và cuối kỳ Mỗi một sự thay đổi của từng khoản mục trong bảng cânđối kế toán đều được xếp vào một cột diễn biến nguồn vốn hoặc sử dụng vốn theocách thức sau:

-Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hay các khoản mục bên nguồn vốngiảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn

-Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hay các khoản mục bên nguồn vốntăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn

Như vậy, bằng việc phân tích Bảng kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn,CBTD biết được doanh nghiệp đã thực hiên tài trợ cho các tài sản của mình theochiến lược như thế nào, bằng nguồn vốn nào, và việc phân bổ các nguồn vốn đó cóhợp lý không Thông qua đó phần nào CBTD có thể dự báo tình hình tài chính củadoanh nghiệp trong tương lai để có những quyết định chính xác hơn

Trang 26

1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng

Hiện nay chưa có một hệ thống các chỉ số mang tính chuẩn mực, rõ ràng vàthống nhất để đánh giá chất lượng phân tích tài chính khách hàng của các NHTM.Tuy vậy người ta vẫn thường dùng một số các chỉ tiêu sau đây để xem xét, đánh giáchất lượng phân tích tài chính khách hàng trong cho vay của NHTM

bộ phòng quản lí nợ

•Thời gian phân tích

Thời gian tiến hành phân tích cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng phântích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của Ngân hàng bởi áp lực cạnh tranh giữacác ngân hàng hiện nay là rất lớn, chỉ có các ngân hàng luôn sẵn sàng tạo điều kiệncho doanh nghiệp tiến hành vay vốn mới thu hút được nhiều khách hàng Tuy nhiên,thời gian phân tích nhanh cũng phải gắn liền với chất lượng phân tích tốt thì khoảnvay mới mang lại lợi nhuận cho ngân hàng và ngăn ngừa khả năng mất vốn củaNgân hàng

•Trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật trong phân tích

Nếu ngân hàng ứng dụng công nghệ kĩ thuật hiện đại trong phân tích tàichính doanh nghiệp thì việc phân tích sẽ được tiến hành một cách nhanh chóng và

Trang 27

ngân hàng cũng lựa chọn được các khách hàng tốt, nâng cao chất lượng phân tíchcũng như chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

Tuy nhiên, trong quá trình xem xét đánh giá chất lượng tín dụng nói chungcũng như chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng cần xem xét tínhbiến động của các chỉ tiêu trên một cách đồng thời mới có được cái nhìn đúng đắn.Chất lượng phân tích tài chính khách hàng được thể hiện tốt nếu như tổng dư nợ tíndụng tăng, doanh số cho vay trong kì tăng và tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ giảm Nhưvậy có nghĩa rằng Ngân hàng đã cấp thêm được nhiều khoản vay mới và có chấtlượng tốt, và ngược lại, Ngân hàng đang có thêm những khoản vay kém chất lượng,gây nên rủi ro lớn hơn cho Ngân hàng

1.2.6 Các nhân tố tác động tới chất lượng phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng

1.2.6.1 Nhân tố chủ quan

-Đội ngũ cán bộ: CBTD là người trực tiếp phân tích và thẩm định tình hìnhtài chính doanh nghiệp, vì vậy trình độ và tư cách đạo đức của CBTD ảnh hưởngtrực tiếp tới chất lượng phân tích Các doanh nghiệp xin cấp tín dụng thuộc nhiềuthành phần kinh tế khác nhau, quy mô trình độ quản lí khác nhau, lĩnh vực hoạtđộng khác nhau, do đó nếu CBTD có năng lực chuyên môn tốt, có kiến thức tổngquát về xã hội, khả năng phân tích thị trường tốt thì kết quả phân tích càng chính

Trang 28

xác và đáng tin cậy được Ngoài trình độ và kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và đạođức của CBTD cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tích

-Thông tin và chất lượng thông tin: Thông tin là đầu vào của quá trình phântích Đầu vào không chính xác và đầy đủ thì quá trình phân tích và thẩm định sẽ là

vô nghĩa Thông tin có được từ khách hàng cung cấp, thông tin do ngân hàng lưutrữ, thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng của Nhà nước… nếu các thông tin nàykhông được thu thập đầy đủ thì CBTD sẽ không thể đánh giá chính xác, toàn diệntình hình tài chính của doanh nghiệp dẫn đến quyết định đầu tư sai

-Quy trình phân tích tín dụng của ngân hàng: Quy trình phân tích mà chi tiết,

cụ thể, khoa học, hợp lí sẽ giúp CBTD định hướng được là phải tập trung, nghiêncứu những thông tin gì, coi trọng đánh giá những mặt nào, chi tiết nào Đồng thời,giúp cho CBTD không bỏ sót thông tin, đánh giá toàn diện trên các mặt và tránhlãng phí nguồn lực

-Trang thiết bị, công nghệ ngân hàng: Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và

độ chính xác của kết quả thẩm định tài chính Nếu điều kiện làm việc tốt, trang thiết bịhiện đại sẽ giúp ích việc thu thập thông tin và xử lý thông tin sẽ được tiến hành nhanhchóng và chính xác, các cơ hội đầu tư sẽ được ngân hàng nắm bắt kịp thời

1.2.6.2 Nhân tố khách quan

-Nhân tố thuộc về doanh nghiệp: đó là tất cả các báo cáo tài chính và thôngtin liên quan khác mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng là cơ sở để CBTDthẩm định trước khi quyết định cho vay Do vậy, chất lượng của bộ hồ sơ này ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng thẩm định và phân tích Đã có rất nhiều TH, doanhnghiệp che dấu tình hình tài chính của mình nên đã cung cấp những số liệu đã được

“xử lý làm đẹp” để lừa đảo ngân hàng, nếu CBTD không đánh giá chính xác đượctình hình tài chính doanh nghiệp bằng việc kết hợp kinh nghiệm bản thân và nguồnthông tin khác thì sẽ dẫn đến đánh giá và quyết định sai lầm gây thiệt hại cho ngânhàng

-Môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý và các điều kiện tự nhiênkhác: Bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào của môi trường kinh tế xã hội, môi trườngpháp lý hay điều kiện tự nhiên đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hiệu

Trang 29

quả của hoạt động cho vay Do vậy, CBTD cần phải đánh giá phân tích được sựbiến động của các nhân tố trên như thế nào trong tương lai.

Trang 30

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI PGD HÀ THÀNH NGÂN HÀNG TMCP

SÀI GÒN THƯƠNG TÍN2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín – PGD Hà Thành

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín – PGD Hà Thành

Ngân hàng TMCP Thương Tín Sài Gòn được thành lập vào ngày 03/01/1992theo quyết định số 06/GĐ-UB của ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh và đi vào hoạtđộng theo quyết định 0006/NH-GP của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng TMCP Thương Tín Sài Gòn chính thức đi vào hoạt động từ ngày06/01/1992 trên cơ sở chuyển thể từ ngân hàng Phát triển kinh tế Gò Vấp và sápnhập của 3 hợp tác xã tín dụng Tân Bình – Thành Công – Lữ Gia với số vốn điều lệban đầu là 3 tỷ đồng và hoạt động chủ yếu tại vùng ven TP Hồ Chí Minh

Sau gần 20 năm hoạt động, đến nay, Sacombank đã phát triển lớn mạnh vươnlên dẫn đầu khối ngân hàng TMCP tại Việt Nam về tốc độ tăng trưởng bình quân đạt64%/năm với số vốn điều lệ hiện nay là 10740 tỷ đồng với mạng lưới rộng khắp hơn

300 PGD và PGD tại 45/63 tỉnh thành trong cả nước, 1 PGD tại Lào và 1 PGD tạiCampuchia Tổng số lao động của ngân hàng tính đến năm 2011 là gần 8000 người.Chiến lược phát triển mạng lưới của Sacombank đã và đang thực hiện thành công vàbước đầu phát huy hiệu quả, nhanh chóng tận dụng cơ hội để chiếm lĩnh, mở rộng thịphần, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong tương lai Việc đầu tư xây dựng, phát triển vànâng cấp các PGD ở nước ngoài sẽ khai thác hiệu quả tiềm năng thị trường còn bỏngõ và nâng cao uy tín,thương hiệu của Sacombank trong Khu vực

Sacombank đã được 3 tập đoàn tài chính quốc tế góp vốn cổ phần và chia

sẻ kinh nghiệm quản trị điều hành gồm: Công Ty Tài Chính Quốc Tế- IFC trựcthuộc ngân hàng Thế Giới (WB), tập đoàn tài chính Dragon Financial Holdingsthuộc Anh Quốc và ngân hàng Australia và New Zealand (ANZ) Ngoài 3 cổ đôngnước ngoài và các đối tác chiến lược trong nước, Sacombank là ngân hàng có sốlượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với gần 75.000 cổ đông

Trang 31

Sacombank hiện có hệ thống công ty con hoạt động trong nhiều ngànhnghề khác nhau như: kiều hối (SacomRex), chứng khoán (Sacombank securities),cho thuê tài chính (Sacombankleasing), quản lý nợ và khai thác tài sản (Sacombank-AMC) Ngoài ra, vào năm 2003, Sacombank đã kết hợp cùng Dragon Capital xúctiến thành lập Công ty liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam(VietFund Management, gọi tắt là VFM Và tháng 7/2007 , Sacombank đã góp vốn

cổ phần với tỷ lệ 11% vào Công ty Cổ phần Đầu tư Sài Gòn Thương Tín(SacomInvest)

Sacombank là ngân hàng thương mại duy nhất đạt 2/8 kỷ lục từ ngày thịtrường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động gồm:

-Ngân hàng thương mại đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán viêt nam;

-Ngân hàng TMCP có Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư chứng khoánđầu tiên niêm yết chứng chỉ quỹ trên thị trường chứng khoán Việt nam

Hoạt động của Ngân hàng nói chung, Ngân hàng TMCP Sài Gòn ThươngTín nói riêng đã đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Góp phần vào sự phát triển lớn mạnh hệ thống Sacombank, PGD Hà Thànhđược thành lập ngày 16/10/2009 với địa bàn hoạt động là giáp gianh giữa QuậnHoàn Kiếm, Quận Ba Đình và Quận Tây Hồ Hiện nay PGD có tổng số 40 nhân sự

và hoạt động dưới cơ chế đặc thù do HĐQT quyết định ngày 10/09/2009 theo tờtrình số 44/TT/2009/VPKV ngày 04/08/2009 của VPKV Hà Nội Hầu hết nhân sựcủa PGD đều có tuổi đời còn rất trẻ, kinh nghiệm chưa có nhiều nhưng có quyết tâm

và ý thức làm việc rất tốt Đây là PGD hoạt động dưới cơ chế đặc thù nên quy mô

và cơ cấu của PGD ngang với một PGD cỡ vừa nhưng ko có các PGD trực thuộcnên mạng lưới hoạt động còn hạn chế

- Tên đơn vị: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín –Sacombank PGD Hà Thành

- Địa chỉ: 25-27 Cửa Bắc – Ba Đình – Hà Nội

- Loại hình đơn vị: Ngân hàng Thương mại Cổ phần

- Mô hình tổ chức:

Trang 32

Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PGD đặc thù Hà Thành Ngân hàng

Sacombank

( Nguồn : Phòng Hành chính – Kế toán của PGD Hà Thành )

2.1.2 Đánh giá chung về tình hình hoạt động tại PGD Hà Thành

( Đơn vị:tỉ đồng )

Bảng 2: Tình hình huy động và cho vay tại PGD Hà Thành – Sacombank

Nguồn : Trích báo cáo tổng kết của PGD Hà Thành các năm 2010, 2011

Trang 33

a Tình hình huy động vốn

Về tốc độ huy động vốn: tăng giảm đột biến qua các năm và tốc độ huy độngtrong mỗi năm còn chậm chưa đạt được tiến độ kế hoạch được giao, nguyên nhânchủ yếu là do tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi đối với huy động vốn,khủng hoảng tài chính và sự cạnh tranh gay gắt, rất nhiều thời điểm lãi suất củangân hàng không cạnh tranh được với các ngân hàng bạn trong địa bàn

Về cơ cấu huy động vốn: tập trung chủ yếu vào nguồn vốn ngắn hạn vớicác kỳ hạn ngắn 1- 3 tháng, tỷ trọng nguồn vốn huy động trong những tháng cuốinăm 2011 nằm chủ yếu ở kỳ hạn 01 tháng cho thấy cơ cấu thiếu sự ổn định, bềnvững gây ra rủi ro thanh khoản cao về phía ngân hàng

Về chất lượng nguồn vốn: giá thành huy động vốn cùa PGD cao, đặc biệt đốivới VND, nguyên nhân chủ yếu tỷ trọng nguồn vốn huy động có thỏa thuận lớn dobởi PGD Hà Thành mới thành lập và trong khu vực hoạt động có quá nhiều sự cạnhtranh gay gắt, trong khi đó tỷ trọng lãi suất thấp còn hạn chế Vì thế ở tại một sốthời điểm ,huy động của PGD tăng cao hơn so với các tháng còn lại trong năm songkhông ổn định được do cơ chế lãi suất

b Hoạt động cho vay

Mặc dù đã có sự tăng trưởng trong quy mô qua các năm tuy nhiên nhiềuđiểm tỏ ra chưa có sự ổn định Trong kế hoạch để ổn định cơ cấu nợ vay trong thờigian vừa qua PGD đã tăng cường tiếp thị hệ khách hàng mới có hoạt động xuấtnhập khẩu, hệ khách hàng cá nhân có thu nhập ổn định và có nhu cầu tiêu dùng đểtăng trưởng dư nợ với lãi suất đầu ra cao và từng bước phân tán rủi ro Tuy nhiênvẫn tỏ ra hiệu quả

Về cơ cấu cho vay: dư nợ cho vay đối với 05 khách hàng lớn nhất tại thờiđiểm 31/12/2011 là : 203 tỷ chiếm xấp xỉ 72% tổng dư nợ cho vay, tập trung vàocho ngành nghề đá ốp lát , sắt thép và thực phẩm…; dư nợ vay ngắn hạn với thờihạn ngắn 3 - 6 tháng chiếm tỷ trọng lớn Đây là vẫn là cơ cấu dư nợ tiềm ẩn nhiềurủi ro và rất cần được khắc phục Vậy nên nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả cần phải

rà soát, tiếp tục đẩy mạnh tiếp thị các ngành nghề khác nhằm mở rộng thêm danhmục cho vay tại PGD

Trang 34

c Hoạt động phát triển kinh doanh dịch vụ

Do đặc điểm là một PGD nên còn hạn chế về một số mảng nghiệp vụ hoạtđộng Tuy nhiên, bằng nỗ lực của của toàn thể đội ngũ CBNV tại PGD đã cố gắng tìmmọi giải pháp pháp triển các dịch vụ tại PGD, kết quả đạt được rất đáng khích lệ gópphần không nhỏ vào tổng lợi nhuận đạt được của đơn vị Cụ thể từng mảng dịch vụ:

Về hoạt động TTQT: việc thực hiện thanh toán trực tiếp với Hội sở đã tạođiều kiện để đẩy mạnh hoạt động TTQT trong thời gian qua và hoạt động thanh toánquốc tế ở khu vực rất có tiềm năng Tuy nhiên kết quả doanh số của PGD còn khákhiêm tốn Tổng doanh số TTQT thực hiện trong năm 2011 là: 32 triệu USD (kể cảbằng ngoại tệ khác quy ra USD), tăng 2 triệu USD so với năm 2010, với tốc độ tăng4.2% Tổng thu dịch vụ về thanh toán quốc tế là 1.600 triệu đồng, tăng 266 % Tuynhiên hiện tại PGD đã phát sinh đủ các nghiệp vụ TTQT từ L/C, TTR, chuyển tiền

du học…

Các dịch vụ khác tại PGD cũng từng bước đẩy mạnh phát triển: Do ảnhhưởng tình hình tài chính – tiền tệ còn nhiều bất ổn, cạnh tranh ngày càng gay gắt

đã làm ảnh hưởng đến việc tiếp thị và lôi kéo khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh

và các dịch vụ khác tại NH dẫn đến kết quả đạt được chưa theo tiến độ Doanh sốbảo lãnh đến hết 31.12.2011 là 27.500 triệu đồng, thu từ hoạt động bảo lãnh là 245triệu đồng, từ dịch vụ chuyển tiền trong nước là 521 triệu đồng, từ dịch vụ ngân quỹ

là 109 triệu đồng, thu từ dịch vụ thẻ và dịch vụ khác 610 triệu đồng Trong đó, mặc

dù định mức thanh khoản cho PGD rất thấp VND bình quân có 8 tỷ đồng/thángsong doanh số thu chi qua quỹ trong năm đạt thu 6.882 triệu đồng, chi 6.886 triệuđồng cho thấy PGD đã rất nỗ lực cố gắng phục vụ tốt khách hàng có những giaodịch lớn, mặc dù với 03 nhân sự quỹ vừa phục vụ tại quầy vừa phục vụ tận nơi chokhách hàng đồng thời còn đảm nhiệm cả công tác thu tiền tại DN

-> Tổng thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ trong năm 2011 đạt 21.691triệu đồng đạt 111% KH2011

Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối là 6.951 triệu đồng, đạt 116%KH2011 Đây là chỉ tiêu đáng khích lệ của PGD Tuy nhiên do hệ khách hàng của

CN chưa thực sự ổn định nên chỉ tiêu này vẫn mang tính chất thời điểm, chưa thểhiện được sự bền vững

Trang 35

Đối với chỉ tiêu thẻ, PGD đã hoàn thành suất sắc 100% kế hoạch được giao,trong đó thẻ Debit là 101% và thẻ Credit là 100% Ngoài ra, PGD cũng quán triệtchủ trương đưa sản phẩm thẻ Prepaid đến với đối tượng khách hàng VIP,

d Kết quả kinh doanh

100%56%12%32%

Chi phí hoạt động

- Chi điều hành

- Chi nộp thuế lệ phí

73826795

9,412138

46%

Lãi trước thuế thu nhập

doanh nghiệp

Bảng 3: Báo cáo kết quả kinh doanh PGD Hà Thành năm 2010, 2011

( Nguồn : Trích báo cáo tổng kết năm 2010, 2011 của PGD Hà Thành )

Quy mô doanh thu tăng nhanh ( từ 13 tỉ năm 2010 lên 21 tỉ năm 2011 tỉ tăng55% ) nhưng cơ cấu thu còn chưa ổn định và phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tíndụng cần tăng mạnh bên nguồn thu từ các hoạt động khách đặc biệt là hoạt độngdịch vụ và cơ cấu lại đối tượng khách hàng cho vay ổn định và an toàn hơn

Quy mô lãi: với một PGD đặc thù mới thành lập từ 10/2009 như Hà Thànhthì quy mô lãi trước thuế là 11 tỉ tăng trưởng 95% là một kết quả đáng ghi nhận vàkhích lệ Hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn có thể lí giải bởi chất lượng của dịch

vụ sản phẩm, giảm thiểu rủi ro, sự tăng lên của các khoản thu an toàn như thu dịch

vụ, thu kinh doanh ngoại hối

Ngày đăng: 06/05/2017, 08:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – PGS.TS. Lưu Thị Hương (chủ biên ) - NXB Giáo dục Khác
2. Giáo trình Ngân hàng Thương mại – TS. Phan Thị Thu Hà – NXB Thống kê Hà Nội Khác
3. Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – GS. TS. Lê Văn Tư – NXB Tài chính 4. Báo cáo tổng kết của PGD Hà Thành năm 2009, 2010, 2011 Khác
5. Một số số liệu từ Phòng Kế toán – Hành chính Khác
6. Giáo trình nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Sacombank Khác
7. www.sacombank.com, www.vneconomy.com, www.saga.com 8. Một số văn bản luật có liên quan Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w