Ngoài lời mở đầu, luận văn gồm có 3 chương: CHƯƠNG I: Tổng quan về thẩm định tài chính dự án CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay trung và dài hạn tại
Trang 1DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN 7
1.1 Hoạt động đầu tư 7
1.1.1 Hoạt động đầu tư 7
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản 7
1.2 Thẩm định dự án đầu tư và sự cần thiết phải thẩm định 9
1.2.1 Thẩm định dự án đầu tư 9
1.2.2 Sự cần thiết 9
1.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư 11
1.3.1 Các phương án thực hiện 11
1.3.1.1 Phương pháp giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value) 12
1.3.1.2 Phương pháp tỷ suất nội hoàn nội bộ IRR (Internal Rate of Return) 14
1.3.1.3 Phương pháp thời gian hoàn vốn (Pay-out or Pay-back period-PP) 16
1.3.1.4 Phương pháp tỷ số lợi ích – chi phí (Benefit-Cost Ratio - BCR) 17
1.3.1.5 Phương pháp theo tiêu chuẩn điểm hoà vốn (H) : 18
1.3.1.6 Phương pháp quyền chọn thực – Real options 22
1.3.2 Các bước thực hiện 24
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng 27
1.3.3.1 Các tiêu chuẩn thẩm định : 27
1.3.3.2 Nhân tố con người : 31
1.3.3.3 Một số nhân tố cơ bản khác : 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SỞ GIAO DỊCH VCB 34
2.1 Khái quát về sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng 34
2.1.2 Sơ đồ tổ chức, cơ cấu chức năng của các phòng ban 35
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức 35
Trang 22.1.2.2 Cơ cấu, chức năng các phòng ban 36
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 42
2.1.3.2.1 Cho vay trực tiếp nền kinh tế 42
2.1.3.2.2 Tiền gửi tại hội sở chính 43
2.2 Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay trung và dài hạn .43 2.2.1 Công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch VCB 43
2.2.2 Quy trình tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và tái thẩm định 44
2.2.3 Thực trạng chung công tác thẩm định tài chính dự án 46
2.3 Thực tế thẩm định tài chính trong cho vay trung và dài hạn tại SGD VCB 47
2.3.1 Thẩm định hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp và dự án 47
2.3.2 Thẩm định chi tiết doanh nghiệp 48
2.3.2.1 Khái quát về doanh nghiệp vay vốn 48
2.3.2.2 Tình hình tài chính và hoạt động SXKD của doanh nghiệp 49
2.3.3 Thẩm định dự án 52
2.3.3.1 Giới thiệu về dự án 52
2.3.3.2 Sự cần thiết đầu tư dự án 54
2.3.3.3 Thẩm định phương diện tài chính của dự án 54
2.3.3.3.1 Tổng vốn đầu tư và phương án nguồn vốn 54
2.3.3.3.2 Phương pháp và cơ sở tính toán 58
2.3.3.3.3 Kết quả tính toán 60
2.3.3.4 Phân tích rủi ro dự án 61
2.3.3.4.1 Phân tích độ nhậy 61
2.3.3.4.2 Phân tích mô phỏng theo Crystal Ball 64
2.3.3.5 Kết luận của cán bộ phòng đầu tư dự án 65
2.3.3.5.1 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đầu tư dự án 65
2.3.3.5.2 Kết luận của tổ thẩm định 67
2.4 Đánh giá hoạt động thẩm định tài chính tại SGD VCB 70
2.4.1 Những thành tựu đạt được 70
Trang 32.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 72
2.4.2.1 Hạn chế 72
2.4.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 74
2.4.2.2.1 Nguyên nhân chủ quan 75
2.4.2.2.2 Nguyên nhân khách quan 75
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SỞ GIAO DỊCH VCB 76
3.1 Phương hướng hoạt động của Sở giao dịch trong lĩnh vực cho vay, đầu tư 76
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định tại Sở giao dịch VCB 78
3.2.1 Giải pháp về phương pháp thẩm định 78
3.2.2 Giải pháp về con người 82
3.2.3 Giải pháp về tổ chức điều hành 84
3.2.4 Giải pháp về trang thiết bị kỹ thuật và thông tin 85
3.2.5 Tăng cường mối quan hệ với khách hàng và các cơ quan chuyên môn liên quan 87 3.3 Kiến nghị 87
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 87
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà Nước 89
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của SGD năm 2008-2010 40
Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn: 40
Bảng 2.3.Hoạt động cho vay trực tiếp nền kinh tế của SGD NHNTVN 42 Bảng 2.4 tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng trong năm 2011 - 2010 43
Trang 4Bảng 2.5.Hoạt động cho vay trực tiếp nền kinh tế của SGD NHNTVN 46
Bảng 2.6: Danh sách cổ đông sáng lập 49
Bảng 2.7 Khái quát tình hình tài chính công ty xi măng Bỉm Sơn 50
Bảng 2.8 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh 52
Bảng 2.9 Một số dự án và suất vốn đầu tư 55
Bảng 2.10 Phương án nguồn vốn dự án 58
Bảng 2.11 Các chỉ tiêu tài chính cơ bản 61
Bảng 2.12 Phân tích tác động của thay đổi tổng mức đầu tư 62
Bảng 2.13 Phân tích tác động của giảm sản lượng 62
Bảng 2.14 Phân tích tác động của giảm giá bán 62
Bảng 2.15 Phân tích tác động của tăng chi phí nguyên vật liệu 62
Bảng 2.16 Phân tích tác động đồng thời của giảm giá bán và tăng chi phí nguyên vật liệu 63
Bảng 2.17 Phân tích NPV mô phỏng theo Crystal Ball 64
Bảng 2.18 Phân tích IRR mô phỏng theo Crystal Ball 64
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
SGD: Sở giao dịch
NHTW: Ngân hàng trung ương
VCB: Vietcombank
NHNT TW: Ngân hàng ngoại thương trung ương
Trang 5NHNT VN: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
NH: Ngân hàng
NHNN: Ngân hàng nhà nước
ĐVCNT: Đơn vị chấp nhận thẻ
HSC: Hội sở chính
NPV: Net Present Value
IRR: Internal Rate of Return
Trang 6việc tăng trưởng huy động vốn và cho vay, SGD đã làm tốt công tác quản lý nợ, thuhồi các khoản nở khó đòi, mở rộng các thị trường mới để tìm kiếm các khách hàngtiềm năng Việc kinh doanh có hiệu quả trong một năm đầy biến động như năm vừaqua đã cho thấy những cố gắng vượt bậc của cán bộ nhân viên Sở giao dịch Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam.
Trong điều kiện thị trường tín dụng đang gặp khó khăn, ngân hàng nhà nướcđang thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, việc huy độngvốn cũng như cho vay đang gặp rất nhiều khó khăn, việc các ngân hàng cạnh tranhtrong việc tìm kiếm khách hàng ngày một khốc liệt Các ngân hàng muốn cải thiệntình hình cho vay trong điều kiện nhiều rủi ro cần quan tâm hơn nữa tới hiệu quảthẩm định tài chính của khách hàng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vay vốn
trung và dài hạn Trong bối cảnh đó, đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính dự án trong cho vay trung và dài hạn tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” được em lựa chọn nghiên cứu Em xin cảm
ơn thầy giáo đã Trần Minh Tuấn đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành chuyên
đề của mình
Ngoài lời mở đầu, luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG I: Tổng quan về thẩm định tài chính dự án
CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính dự án trong cho vay trung và dài hạn tại Sở giao dịch Vietcombank
CHƯƠNG III: Giải pháp nâng hiệu quả thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn tại Sở giao dịch VCB
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN 1.1 Hoạt động đầu tư
1.1.1 Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư (hay còn gọi là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lựcgồm có tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và một số tài sản vật chất khácnhằm mục đích tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất
kỹ thuật của nền kinh tế nói chung và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ củangành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng Trong hoạt động đầu tư bao gồm đầu tưtrực tiếp và gián tiếp
Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn mà trong đó người đầu tưkhông trực tiếp tham gia điều hành và quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra
Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động bỏ vốn mà trong đó người bỏ vốn trựctiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra Đầu tư trực tiếp chia ra thành 2loại đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển Trong đó:
- Đầu tư chuyển dịch: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó
việc bỏ vốn nhằm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổphiếu, trái phiếu …)
- Đầu tư phát triển: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm gia tăng giá trị tài sản Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất
mở rộng Nó tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ănviệc làm Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản,tạo ra những năng lực sản xuất , phục vụ mới bao gồm: xây dựng các côngtrình mới, các hoạt động dịch vụ mới, cải tạo mở rộng cải thiện đời sốngngười lao động
Có thể nói đầu tư phát triển đó là một quá trình có thời gian kéo dài trongnhiều năm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tưkhá lớn và vốn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư(viết tắt làDAĐT) Các thành quả của loại đầu tư này cần được sử dụng trong nhiều năm, đủ
để các lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra Chỉ có nhưvậy thì công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản
Việc phân tích các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư là cần thiết đểhiểu có thể hiểu rõ hơn về hoạt động đầu tư Nhìn chung, hoạt động đầu tư cónhững đặc trưng cơ bản sau:
Là hoạt động bỏ vốn nên Quyết định đầu tư thường và trước hết là Quyết định tài chính.
Trang 8Vốn được hiểu là các nguồn lực sinh lời, vốn được thể hiện bằng nhiều hìnhthức khác nhau nhưng có thể sử dụng một thước đo chung đó là gía trị (được thểhiện qua đơn vị tiền tệ) Vì hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên Quyết địnhđầu tư thường xuyên được xem xét từ phương diện tài chính (phải bỏ bao nhiêuvốn, lời lãi bao nhiêu ) Trên thực tế hoạt động đầu tư, các Quyết định chi tiêu,thường được cân nhắc bởi sự hạn chế của ngân sách và cũng luôn được xem xét từkhía cạnh tài chính nói trên Việc xem xét, đánh giá các dự án đầu tư của người raQuyết định đầu tư hay của nhà tài trợ trước hết cũng trên khía cạnh tài chính Một
số dự án chỉ có thể thực hiện nếu có tính khả thi về mặt tài chính
Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác,đầu tư luôn là hoạt động có tính chất lâu dài, bởi vì các hoạt động đầu tư thườngluôn có số lượng vốn bỏ ra rất lớn do đó để thu hút đủ vốn đầu tư và sinh lời thì cầnphải có một khoảng thời gian nhất định Đây là đặc trưng có ảnh hưởng lớn đếnhoạt động đầu tư
Do tính chất lâu dài nên sự trù liệu ban đầu đều là dự tính, chịu một xác suấtbiến đổi nhất định do nhiều yếu tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệtrọng tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá quá trình thẩm định dự án
Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.
Đầu tư về phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại đánh đổi lấylợi ích trong tương lai (vốn để đầu tư không phải là nguồn lực để dành) Vì vậy luôn
có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai Rõ ràng nhàđầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu trong tươnglai lớn hơn lợi ích hiện tại mà họ tạm thời phải hi sinh
Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.
Hoạt động đầu tư là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro bởi vì kết quả của hoạt độngđầu tư là không thể dự tính một cách khách quan tại thời điểm Quyết định đầu tư,Quyết định đầu tư phần nào mang tính chủ quan của nhà đầu tư và không thể lườnghết những thay đổi của môi trường tác động vào dự án trong tương lai (thay đổi vềthị trường, về sản phẩm đầu vào, đầu ra, lạm phát ) Vì vậy, chấp nhận rủi ro như
là bản năng của nhà đầu tư Tuy nhiên nhận thức rõ ràng điều này nhà đầu tư cũng
có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro xảy ra
là thấp nhất
Thông qua những đặc trưng của hoạt động đầu tư giúp nhà đầu tư có đựơccái nhìn bao quát về mọi khía cạnh của dự án Từ đó giúp cho quá trình phân tích,đánh giá dự án một cách cặn kẽ và chính xác Đồng thời tìm ra phương pháp, biệnpháp nhằm hạn chế rủi ro bởi các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự
Trang 91.2 Thẩm định dự án đầu tư và sự cần thiết phải thẩm định
1.2.1 Thẩm định dự án đầu tư
Đối với mỗi DAĐT, từ khi lập xong đến khi thực hiện phải được thẩm địnhqua nhiều cấp: Nhà nước, nhà đầu tư, nhà đồng tài trợ… Đứng dưới mỗi giác độ, cónhững định nghĩa khác nhau về thẩm định Nhưng hiểu một cách chung nhất thì: “Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan và toàndiện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành, khai thác và tínhsinh lợi của công cuộc đầu tư”
Cụ thể theo cách phân chia các giai đoạn của chu trình DAĐT, ta thấy ở cuốiBước 1 có khâu “Thẩm định và ra quyết định đầu tư” Đây là bước mà chủ đầu tư phảitrình hồ sơ nghiên cứu khả thi lên các cơ quan có thẩm quyền để xem xét quyết định vàcấp giấy phép đầu tư và cấp vốn cho hoạt động đầu tư
Dưới góc độ là người cho vay vốn, các Ngân hàng thương mại (viết tắt làNHTM) khi nhận được bản luận chứng kinh tế kỹ thuật sẽ tiến hành thẩm định theocác chỉ tiêu và ra quyết định là có cho vay hay không cho vay Sau đó là đi đến
“đàm phán và ký kết hợp đồng” Như vậy có thể hiểu thẩm định DAĐT trong Ngânhàng là thẩm định trước đầu tư hay thẩm định tín dụng Nó được đánh giá là côngtác quan trọng nhất
1.2.2 Sự cần thiết
+ Đối với nền kinh tế : Xét trên phương diện vĩ mô để đảm bảo được tính
thống nhất trong hoạt động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, tạo ra một tốc độ tăngtrưởng mạnh mẽ, đồng thời tránh được những thiệt hại và rủi ro không đáng có thìcần phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư cơ bản Thẩmđịnh DAĐT chính là một công cụ hay nói cách khác đó là một phương thức hữuhiệu giúp nhà nước có thể thực hiện được chức năng quản lý vĩ mô của mình Côngtác thẩm định sẽ được tiến hành thông qua một số cơ quan chức năng thay mặt nhànước để thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư như: Bộ kế hoạch đầu tư,
Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính, Bộ khoa học công nghệ và môi trường…cũng như cácUBND tỉnh, thành phố, các bộ quản lý ngành khác Qua việc phân tích DAĐT mộtcách hết sức toàn diện, khoa học và sâu sắc, các cơ quan chức năng này sẽ có đượcnhững kết luận chính xác và rất cần thiết để tham mưu cho nhà nước trong việchoạch định chủ trương đầu tư, định hướng đầu tư và ra quyết định đầu tư đối với dự
án Trong thực tế, để tạo điều kiện cho các cơ quan thẩm định dự án, các DAĐTđược chia ra làm một số loại cụ thể Trên cơ sở phân loại này, các sự phân cấp tráchnhiệm trong khâu thẩm định và xét duyệt Các DAĐT phải đảm bảo tính chính xác
và được nhanh chóng phê duyệt Hiện nay, các công tác quản lý đầu tư trên lãnh thổViệt nam được thực hiện theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, ban hành và kèmtheo Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ban hành 08/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ– Nghị định số 12/2000/NĐ - CP ban hành 05/05/2000 Theo những Nghị định này,
Trang 10các ngân hàng đã cụ thể hoá chức năng của mình nhằm nâng cao hiệu quả về quản
lý phân cấp đầu tư
+ Đối với NHTM: Cũng như các doanh nghiệp khác, trong cơ chế thị trường
hoạt động của NHTM phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quantrong đó có quy luật cạnh tranh Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn dẫnđến kết quả một người thắng và nhiều kẻ thất bại và cạnh tranh là một quá trình diễn
ra liên tục Các doanh nghiệp luôn phải cố gắng để là người chiến thắng NHTMtrong nền kinh tế luôn phải đương đầu với áp lực của cạnh tranh, khả năng xảy rarủi ro Rủi ro có thể xảy ra bất cứ loại hình hoạt động này của ngân hàng như rủi rotín dụng, thanh toán, chuyển hoán vốn, lãi suất, hối đoái…Trong đó rủi ro về tíndụng, đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn là rủi ro mà hậu quả của nó có thể tácđộng nặng nề đến các hoạt động kinh doanh khác thậm chí đe doạ sự tồn tại củangân hàng
Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng xảy ra khi xuất hiện các biến
cố làm cho bên đối tác (khách hàng) không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mìnhđối với ngân hàng vào thời điểm báo hạn Các khoản nợ đến hạn nhưng khách hàngkhông có khả năng trả nợ ngân hàng sẽ thuộc về một trong hai trường hợp: kháchhàng sẽ trả nợ ngân hàng nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm báo hạn, như vậyngân hàng sẽ gặp phải rủi ro đọng vốn, hoặc khách hàng hoàn toàn không thể trả nợcho ngân hàng được, trường hợp này ngân hàng gặp rủi ro mất vốn
Như vậy rõ ràng trong nền kinh tế thị trường, thẩm định dự án là vô cùng quantrọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Thực tiễn hoạt động của các NHTMViệt Nam một số năm vừa qua cho thấy bên cạnh một số DAĐT có hiệu quả đemlại lợi ích to lớn cho chủ đầu tư và nền kinh tế, còn rất nhiều dự án do chưa đượcquan tâm đúng mức đến công tác thẩm định trước khi tài trợ đã gây ra tình trạngkhông thu hồi được vốn nợ quá hạn kéo dài thậm chí có những dự án bị phá sảnhoàn toàn Điều này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động ngân hàng, đồng thờilàm cho uy tín của một số NHTM bị giảm sút nghiêm trọng Như vậy, khi đi vàonền kinh tế thị trường với đặc điểm cố hữu của nó là đầy biến động và rủi ro thì yêucầu nhất thiết đối với các NHTM là phải tiến hành thẩm định các DAĐT một cáchđầy đủ và toàn diện trước khi tài trợ vốn Qua phân tích trên, đối với các NHTM,thẩm định dự án có ý nghĩa sau đây:
- Ra các quyết định bỏ vốn đầu tư đúng đắn, có cơ sở đảm bảo hiệu quảcủa vốn đầu tư
- Phát hiện và bổ sung thêm các giải pháp nâng cao tính khả thi cho việc triểnkhai thực hiện dự án, hạn chế giảm bớt yếu tố rủi ro
- Tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đối tượng và tiếtkiệm vốn trong quá trình thực hiện
Trang 11- Có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư của dự áncũng như khả năng hoàn vốn, trả nợ của dự án và chủ đầu tư.
- Rút kinh nghiệm và đưa ra bài học để thực hiện các dự án được tốt hơn
- Tư vấn cho chủ đầu tư để hoàn thiện nội dung của dự án
1.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
1.3.1 Các phương án thực hiện
Từ trước đến nay các nhà đầu tư đã sử dụng một trong các phương pháp sau:
- Giá trị hiện tài ròng (NPV)
- Tỷ suất nội hoàn (IRR)
- Thời gian hoàn vốn (PP)
- Điểm hoà vốn
- Tỷ số lợi ích - chi phí (BCR)
Để sử dụng các phương pháp trên ta cần hiểu rõ các khái niệm sau:
Giá trị thời gian của tiền:
Tiền có giá trị thời gian không giống nhau ở các thời điểm khác nhau Mộtđồng tiền có được ở hiện tại được coi là có giá trị cao hơn cùng một đồng tiền đónhận được trong tương lai để đầu tư có lãi hay tiêu dùng trong khoảng thời giangiữa hiện tại và tương lai Do đó, người ta sẵn sàng đi vay để có thể sử dụng đượcvốn, còn người cho vay đòi hỏi phải được trả lãi
PV: giá trị hiện tại (vốn ban đầu)
FV: giá trị tương lai (số tiền thu được)
Trang 12hệ số chiết khấu và nó phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu một thông số biểu hiện sựgiảm giá trị của dòng tiền theo thời gian.
x: năm được chọn làm mốc quy đổi (thường = 0)
1.3.1.1 Phương pháp giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiệntại của các luồng tiền kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của các chi phí của
dự án đầu tư
Có thể biểu diễn bằng phương trình sau
Trong đó:
B1,B2 Bn: luồng thu nhập của các thời kỳ
C1, C2 Cn: luồng chi phí của các thời kỳ
t: năm thứ t của dự án
r: tỷ lệ chiết khấu
Co vốn đầu tư
n: thời gian hoạt động của dự án
Xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu của từng dự án đầu tư là một việc làmkhông đơn giản có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp rủi
ro Rõ ràng là khi mức rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh nghiệp vàchính sách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án, thì tỷ lệ chiết khấu thích hợpbằng với chi phí trung bình của vốn (WACC)
Ở công thức trên tỷ lệ chiết khấu là r không thay đổi trong suốt thời gian dự
án Tuy nhiên điều này không nhất thiết phải như vậy Giả sử vốn vào thời điểmhiện này là rất khan hiếm so với trước đây Trong những tình huống như vậy, ta sẽthấy rằng chi phí của vốn vào thời điểm hiện tại sẽ cao một cách bất bình thường vànhư vậy tỷ lệ chiết khấu theo thời gian sẽ giảm dần trong lúc cung và cầu của vốn
NPV
1 (1 )
)(
Trang 13trở về mức bình thường Ngược lại, nếu hiện tại có nhiều tiền vốn, chúng ta dự kiếnchi phí của vốn và tỷ lệ chiết khấu sẽ xuống thấp hơn mức trung bình dài hạn trongtrường hợp này, chúng ta có lẽ dự kiến tỷ lệ chiết khấu sẽ tăng lên trong khi cungcầu vốn dần quay trở về xu hướng dài hạn.
Nếu có lí do để tin rằng tỉ lệ chiết khấu thay đổi một cách có thể dự đoán trước được thì giá trị hiện tại ròng của một dự án tính như sau:
1+r1 (1+r1)(1+r2) (1+r1)(1+r2) (1+rn)trong đó: r1,r2,r3 rn : là tỷ lệ chiết khấu các năm tương ứng
Nguyên tắc sử dụng phương pháp NPV làm tiêu chuẩn đầu tư.
Trong trường hợp dự án đầu tư cần đánh giá độc lập so với các dự án khácthì chấp thuận hay bác bỏ dự án đó tuỳ thuộc vào giá trị của NPV Có 3 khả năng cóthể xảy ra:
NPV > 0 chấp thuận dự án
NPV < 0 loại bỏ dự án
NPV = 0 doanh nghiệp sẽ không thiên vị trong việc chấp thuận hayloại bỏ dự án mà tuỳ theo sự cần thiết của nó đối với doanh nghiệp mà ra Quyếtđịnh
Trong trường hợp dự án đầu tư bị hạn chế bởi ngân sách, nguồn tài trợ.Trong giới hạn một ngân sách đã được ấn định cần lựa chọn trong số các dự án hiện
có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá giá trị hiện tại ròng
NPV = NPV1 + NPV2 + = Max giới hạn ngân sách
NPV: giá trị hiện tại ròng tối đa của nhóm dự án lựa chon
NPV1, NPV2 giá trị hiện tại ròng của dự án 1, dự án 2
Trong trường hợp lựa chọn một trong sốdự án loại trừ nhau Trong tìnhhuống không bị giới hạn bới ngân sách, nhưng ta phải lựa chọn một dự án trong sốcác dự án loại trừ nhau, ta luôn chọn dự án sinh ra giá trị hiện tại ròng lớn nhất:Max ( NPV1, NPV2 NPVn)
Ưu điểm của phương pháp NPV:
- NPV đo lường trực tiếp phần lợi nhuận mà dự án đóng góp vào tài sảncủa chủ đầu tư
- Sử dụng chi phí cơ hội về sử dụng vốn làm tỷ lệ chiết khấu
- NPV giả định rằng những khoản thu nhập tạm thời được tái đầu tư với tỷ
lệ tối đa hoá lợi nhuận của chủ đầu tư
Trang 14- Quyết định chấp thuận hay từ chối và xếp hạng dự án phù hợp với mụctiêu tối đa hoá lợi nhuận cuả chủ đầu tư.
Nhược điểm của phương pháp NPV:
- Không thể so sánh được các dự án nếu thời gian của chúng khác nhau
- Phụ thuộc vào cách lựa chọn r – tỷ lệ chiết khấu
- NPV chỉ cho thấy giá trị tuyệt đối của lợi nhuận mà không cho thấy tỷ lệphát sinh của dự án, do đó sẽ có thể bỏ qua những dự án có tỷ lệ sinh lờicao
- Tất cả các khoản tiền này lại xảy ra trong suốt các kỳ
1.3.1.2 Phương pháp tỷ suất nội hoàn nội bộ IRR (Internal Rate of Return)
Phương pháp tỷ suất nội hoàn nội bộ (IRR) là phương pháp xếp hạng các dự
án đầu tư sử dụng tỷ lệ lãi suất đối với một khoản đầu tư tài sản Trong đó tỉ lệ lãisuất này được tính bằng cách tìm một tỷ lệ chiết khấu mà nó làm cân bằng giá trịhiện tại của những luồng tiền tương lai và chi phí đầu tư
Về phương diện tính toán IRR của một dự án là tỷ lệ chiết khấu mà tại đóNPV = 0
Ta có phương trình dùng để tính toán IRR
Trong đó
IRR: tỷ suất nội hoàn (cần xác định)
Co : vốn đầu tư ban đầu
Bt thu nhập trong năm t
Ct : chi phí trong năm tn: thời gian phân tích dự án
Việc giải phương trình trên theo một phương pháp toán học nào đó là hết sứckhó khăn (trường hợp n lớn) nhiều khi là không thực hiện được, để xác định IRRmột cách tương đối chính xác ta có thể sử dụng phương pháp nội suy, kết quả nhưsau:
2 1
1 1
2 1
NPVr NPVr
NPVr x
r r r
Trang 15- NPVr1, NPVr2 < 0 và NPVr1, NPVr2 rất gần 0.
Nguyên tắc sử dụng IRR làm tiêu chuẩn đầu tư:
-Trường hợp các dự án đầu tư là độc lập về mặt kinh tế, quy tắc áp dụng đểcác Quyết định đầu tư như sau:
IRR > chi phí cơ hội của vốn chấp nhận dự án
IRR < chi phí cơ hội của vốn bác bỏ dự án
IRR = chi phí cơ hội của vốn tuỳ theo những yêu cầu khác đối với
dự án, chủ dự án có thể chấp nhận hay bác bỏ
-Trường hợp các dự án loại trừ nhau thì chúng ta chọn dự án có IRR caonhất Tuy nhiên nếu IRR cao nhất nhỏ hơn tỷ lệ sinh lời cần thiết của dự án (hay chiphí cơ hội của vốn) thì không dự án nào trong các dự án đó không được chấp nhận
- Đo lường bằng tỉ lệ phần trăm, nên dễ dàng so sánh với chi phí sử dụngvốn, nó chỉ rõ tỷ lệ lãi vay tối đa mà dự án có thể chịu đựng được Không cóphương pháp nào khác để cung cấp thông tin quan trọng như vậy và đây chính là ưuđiểm rất quan trọng của tiêu chuẩn IRR
- Tỷ suất nội hoàn là một tiêu chuẩn hay được sử dụng để mô tả tính hấp dẫncủa dự án đầu tư, vì đó là một tiêu chuẩn hữu ích để tổng kết tính doanh lợi của dự
án Quyết định chấp thuận hay từ chối của cổ đông
- Trong một số trường hợp, nó cho phép tránh được nhữngkhó khăn khi phảixác định trước lãi suất thích hợp
Nhược điểm của phương pháp IRR:
- Việc áp dụng tiêu chuẩn này có thể không chắc chắn nếu tại các khoản cânbằng thu chi thực âm đáng kể trong giai đoạn vận hành của dự án, tứcl à đầu tư thaythế lớn hơn
- Tỷ suất này sẽ không còn tin cậy khi dùng để lựa chọn dự án mang tính loạitrừ nhau với các khoản đầu tư có quy mô khác nhau, có đời hữu dụng khác nhau
- Không đo lường trực tiếp ảnh hưởng của một dự án đối với lợi nhuận của
cổ đông
- Dễ tạo ra sự ngộ nhận rằng thu nhập của dự án có thể được tái đầu tư với
tỷ lệ sinh lời bằng IRR
- Xếp hạng dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá thu nhập của cổđông
1.3.1.3 Phương pháp thời gian hoàn vốn (Pay-out or Pay-back period-PP)
Trang 16Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu
tư ban đầu
Có hai cách để áp dụng chỉ tiêu này, đó là thời gian hoàn vốn không chiếtkhấu và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Theo phương pháp này, nếu rút ngắn được thời gian thu hồi vốn sẽ tốt hơncho một dự án đầu tư Mặt khác, các nhà quản trị còn sử dụng thời gian hoàn vốn đểđánh giá các dự án đầu tư bằng cách thiết lập chi tiêu thời gian hoàn vốn cần thiết
và thời gian hoàn vốn tối đa có thể chấp nhận được của dự án Những dự án có thờigian hoàn vốn dài hơn thời gian cho phép tối đa sẽ bị loại bỏ và những dự án có thờigian hoàn vốn ngắn hơn chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tối đa sẽ được chấp nhận
+ Quy tắc thời gian hoàn vốn đã được sử dụng rộng rãi trong việc Quyết định đầu tư bởi :
- Dễ áp dụng và khuyến khích đầu tư vào các dự án có thời gian hoànvốn nhanh
- Nếu sử dụng hợp lý, nó có thể tạo ra một hình ảnh ban đầu về dự án
+ Tuy nhiên, phương pháp này còn có nhiều nhược điểm.
- Phần thu nhập ngoài thời gian hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn màkhông được tính trong dự án Do đó không biết chính xác về doanh lợi của dự ánđầu tư
- Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xemxét, đánh giá
- Không đo lường được tác động trực tiếp của dự án đối với thu nhậpcủa cổ đông
- Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuậncủa chủ sở hữu
- Yếu tố thời gian của tiền tệ không được đề cập đến trong quá trìnhtính toán (đối với thời gian hoàn vốn không chiết khấu)
+ Chi phí chưa được
bù đắp đầu nămLuồng tiền thu đượctrong năm
Trang 171.3.1.4 Phương pháp tỷ số lợi ích – chi phí (Benefit-Cost Ratio - BCR)
Tỷ số lợi ích – chi phí được tính bằng cách đem chia giá trị hiện tại của cáckhoản thu nhập cho giá trị hiện taị của các chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốnlàm tỷ lệ chiết khấu
Trong đó :
Bt : Thu nhập trong năm t
Ct : Chi phí trong năm t
N : Thời gian hoạt động của dự án
R : Tỷ lệ chiết khấu (chi phí cơ hội)
+ Nguyên tắc sử dụng tỷ số lợi ích – chi phí : Dùng tỷ số này để xếp hạng các
dự án đầu tư là quy tắc được nhiều nhà phân tích đầu tư áp dụng rộng rãi nhất Một
dự án chấp nhận được nếu tỷ số lợi ích – chi phí lớn hơn 1 (Phản ánh chi phí bỏ ratrong năm nhỏ hơn thu nhập thu được trong năm đó) Và trong việc lựa chọn các dự
án loại trừ lẫn nhau, quy tắc là chọn dự án nào có tỷ số lợi ích – chi phí lớn nhất
+ Nhược điểm khi áp dụng phương pháp tỷ số lợi ích - chi phí :
- Tiêu chuẩn này có thể làm ta xếp hạng sai các dự án nếu các dự án nàykhác nhau về quy mô, các dự án loại trừ nhau
- Tỷ số này rất nhạy cảm với các định nghĩa về chi phí trên phương diện kếtoán Trong cách tính BCR nêu trên, ta quan niệm lợi ích là toàn bộ các nguồn thugia tăng của dự án, còn chi phí đầu tư là tổng của chi phí sản xuất gia tăng, chi phívận hành và bảo dưỡng, chi phí đẩu tư hay chi phí đầu tư thay thế (nếu có) Việcxếp hạng hai dự án có thể trái ngược nhau tuỳ theo cách người ta xử lý chi phí hiệnthời (Current Cost)
1.3.1.5 Phương pháp theo tiêu chuẩn điểm hoà vốn (H) :
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu bằng chi phí bỏ ra Phân tíchđiểm hoà vốn được tiến hành nhằm xác định mức sản lượng sản xuất hoặc mứcdoanh thu thấp nhất mà tại đó dự án có thể vận hành không gây nguy hiểm tới khảnăng tồn tại về mặt tài chính của no Ngoài ra, phân tích điểm hoà vốn còn giúp choviệc xem xét về mức giá cả mà dự án có thể chấp nhận được (tức là dự án không bị
lỗ, có đủ tiền mặt để hoạt động và có khả năng trả nợ)
Trang 18
Phân tích điểm hoà vốn là sự phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa chi phí bấtbiến, chi phí khả biến và lợi nhuận sẽ đạt được.
Điểm hoà vốn theo quan điểm của nhà doanh nghiệp là điểm mà tại đó mứcsản lượng hoặc mức doanh thu đảm bảo cho dự án không bị lỗ trong năm hoạt độngbình thường
Trong đó : TVC : Tổng chi phí biến đổi trong năm của dự án
TFC : Tổng chi phí cố định trong năm của dự án bao gồm
cả lãi vay
TR : Tổng doanh thu dự kiến trong năm của dự án
Sản lượng tiêu thụ ở điểm hoà vốn :
Trong đó :
Qo : Sản lượng ở điểm hoà vốn
P : Giá bán một đơn vị sản phẩm
VC : Biến phí trên một đơn vị sản phẩm
Q : Sản lượng dự kiến sản xuất và tiêu thụ hàng năm
Doanh thu ở điểm hoà vốn :
Trong đó :
TRo : Tổng doanh thu ở điểm hoà vốn
TR : Tổng doanh thu dự kiến trong năm của dự án
TFC : Tổng chi phí cố định trong năm của dự án bao gồm cả lãi vay
P : Giá bán trên một đơn vị sản phẩm
VC : Biến phí trên một đơn vị sản phẩm
Đánh giá mức hoạt động của dự án ở điểm hoà vốn ở chỉ tiêu :
TVC - TR
TFC
H hoµ vèn iÓm
TR H Q hay VC -
P
TFC
TR H TR hay P
VC - 1
TFC
thuÇn thu Doanh
hoµ vèn thu
Doanh
Trang 19Các dự án có điểm hoà vốn càng thấp càng tốt vì điểm hoà vốn càng thấp thìkhả năng thu lợi nhuận càng cao, rủi ro thua lỗ càng thấp Việc phân tích hoà vốnđược tiến hành cho từng dự án Điểm hoà vốn khác nhau giữa các ngành khác nhau.
+ Nhược điểm của phương pháp này :
Điểm hoà vốn chỉ nói lên mối quan hệ giữa khối lượng tiêu thụ dự kiến vàlợi nhuận cần đạt được ở mức giá nhất định Tuy nhiên, sản phẩm của dự án có thểbán theo nhiều giá khác nhau và điểm hoà vốn cũng khác nhau Mặt khác, thườngthì một dự án có nhiều sản phẩm sẽ có nhiều giá bán khác nhau Vì vậy, việc xácđịnh điểm hoà vốn trong những trường hợp nêu trên là rát khó và trở nên phức tạp.Ngoài ra, trong quá trình phát triển dự án, khi phải tăng sản lượng thì cần đầu tưthêm vốn cố định để mua sắm mới máy móc, thiết bị, công nghệ và vốn lưu động.Trong trường hợp đó, định phí và biến phí cũng thay đổi dẫn tới việc phân tích điểmhoà vốn sẽ phức tạp và tính chính xác không cao
Tóm lại, khi thẩm định dự án đầu tư thông thường người ta áp dụng kết hợptheo nhiều phương pháp để đánh giá một cách chính xác hiệu quả tài chính của một
dự án đầu tư Tuy nhiên, việc lựa chọn dự án có hiệu quả có thể gặp khó khăn trongtrường hợp lựa chọn những phương án loại trừ mà các phương án đánh giá khácnhau cho những kết quả mâu thuẫn Khi đó, tuỳ theo mục tiêu của chủ đầu tư mà raQuyết định lựa chọn những phương án thích hợp (chẳng hạn, khi phải lựa chọn giữahai phương án loại trừ nhau thì phương pháp NPV và IRR có thể cho hai kết quảtrái ngược nhau)
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế vốn đầu tư cần phải tiến hành phântích khả năng thanh toán và cơ cấu vốn nhằm xem xét đánh giá khả năng thanh toáncủa dự án
+ Phân tích khả năng thanh toán :
Trong quá trình đầu tư, việc thiếu hụt hoặc dư thừa tiền mặt cũng như một cơcấu vốn không hợp lý sẽ làm cho việc sử dụng vốn đầu tư thiếu hiệu quả Nếu nhưđánh giá hiệu quả vốn đầu tư chỉ chú trọng và các nguồn lực thực sự được sử dụngtrong dự án và do đó không tính tới các khoản thu, chi có ảnh hưởng tới bảng cânđối tiền mặt trong dự án thì phân tích khả năng thanh toán có nhiệm vụ đánh giátình trạng tiền mặt trong suốt quá trình hạot động của dự án, nó tính đến tất cả cáckhoản thu, chi bằng tiền (thu tiền bán sản phẩm, chi trả nợ, trả cổ tức ) của dự án.Trong bảng phân tích khả năng thanh toán có 3 phân fchính : Dòng tiền vào, dòngtiền ra, tình trạng tiền mặt
Dòng tiền vào : Bao gồm tất cả những khoản thu bằng tiền mặt của dự án(bán các sản phẩm, dịch vụ ) Lưu ý là không phải toàn bộ giá trị sản lượng của dự
án là các nguồn thu bằng tiền mặt Bởi vậy, khi tính dòng tiền vào ta cần trừ đi phầnsản lượng của dự án không được đem bán ngoài thị trường
Trang 20Dòng tiền ra : Bao gồm tất cả các khoản chi bằng tiền mặt của dự án như chimua nguyên vật liệu, trả lương công nhân, thanh toán các khoản nợ và lãi cho cáckhoản vay, trả chậm
Tình trạng tiền mặt :
Tình trạng tiền mặt của dự án có thể là dư thừa hay thiếu hụt tại một thờiđiểm nào đó và được xác định trên cơ sở tổng các nguồn thu bàng tiền mặt trừ đitổng các khoản chi bằn tiền mặt tại thời điểm đó Tình trạng tiền mặt được xem làtốt nếu đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản nợ banưg tiền mạt và có mộtkhoản dự trữ nhất định, trong trường hợp thâm hụt ngân quỹ thì cần phải bù đắpbằng các khoản vay
Sau khi đã đưa hết tất cả các khoản thuộc giao dịch tài chính vào đánh giá dự
án, người đánh giá có thể xem xét liệu :
- Vốn cổ phần và vốn vay dài hạn có đáp ứng đủ không ?
- Các khoản thiếu hụt tiền mặt có được giới hạn ở mức có thể trang trải vaytín dụng ngân hàng ngắn hạn, hoặc có thể trừ đi bằng cách điều chỉnh lại một sốkhoản thu hoặc khoản chi hay không ?
- Các điều kiện vay vốn dài hạn có thích hợp không ?
- Lãi cổ phần như chủ đầu tư dự tính có thích hợp hay không ?
- Phân tích khả năng thanh toán của dự án thường được thực hiện trong từngnăm của dự án
+ Phân tích cơ cấu vốn :
Đới với một dự án đầu tư, để có thể vạn hành bình thường thì nguồn tài trợcho dự án cần phải được đảm bảo : Có nhiều nguồn vốn để có thể được huy độngnhằm tài trợ cho dự án, chẳng hạn như vốn cổ phần, vốn vay ngắn hạn, dài hạn Đối với một dự án, thì tỷ lệ các nguồn vốn huy động phải được xác định sao chohiệu quả sử dụng vốn là cao nhất, đem lại lợi nhuận lớn nhất, đó chính là cơ cấu vốntối ưu Chẳng hạn, nếu như sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cốđịnh sẽ gây khó khăn cho việ cân đối tiền mặt của dự án bởi vì phải trả các khoảntiền gốc lớn và sớm hơn trong khi các khoản thu của dự án thường nhỏ trong thờigian đầu hoạt động, phải trải dài quan các năm thì dự án mới bù đắp đủ vốn đầu tư
Vì vậy, cơ cấu vốn có liên quan chặt chẽ tới khả năng sinh lời của dự án
Việc giải quyết nhu cầu vốn của dự án không những giải quyết khả năngthanh toán trong tương lai mà còn cả các bảng cân đối trong tương lai của nó Bởivậy, trong quá trình đánh giá dự án, cơ cấu vốn do chủ đầu tư trình sẽ được xem xétmột cách chặt chẽ trên cơ sở xét đoán khả năng đứng vững về mặt tài chính trongtương lai của dự án Sự kết hợp giữa vốn cổ phần và vốn vay sẽ Quyết định tỷ lệ nợ
về vốn của chủ dự án
Trang 21Tiêu chuẩn thường dùng để đánh giá cơ cấu vốn là :
Tỷ lệ này được tính trên cơ sở so sánh các khoản nợ dài hạn với vốn tự cócủa chủ dự án
sẽ đẩy dự án vào tình trạng có khả năng mất khả năng thanh toán, nghĩa là rủi ro rấtcao
Tuy nhiên, chúng ta không nên máy móc khi xác định cơ cấu vốn hợp lý Cơcấu vốn cần được xác định trên cơ sở cân nhắc tới mức doanh lợi và khả năng thanhtoán của dự án Một dự án có mức thu nhập cao và khả năng thanh toán tốt có thểchấp nhận một tỷ lệ nợ vốn chủ sở hữu cao hơn mức bình thường
1.3.1.6 Phương pháp quyền chọn thực – Real options
Quyền chọn liên quan đến thời điểm đầu tư
Giả sử một doanh nghiệp A đang cân nhắc dự án đầu tư xây dựng một nhàmáy lắp ráp xe ôtô Để đơn giản, giả định rằng việc đầu tư có thể tiến hành ngayhôm nay hoặc có thể trì hoãn đến thời điểm một năm sau đó nhưng không thể muộnhơn Chi phí xây dựng nhà máy ước tính là 18 triệu USD, và giả thiết rằng chi phínày không thay đổi cho dù đầu tư bây giờ hay một năm sau đó Một vấn đề có ảnhhưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp A là: hiện tại, các nhà chức trách địaphương đang xem xét giảm thuế nhập khẩu ôtô nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ đangngày càng gia tăng Nếu quyết định giảm thuế được thông qua, nhu cầu đối với xeôtô do doanh nghiệp A lắp ráp sẽ rất thấp và dòng thu nhập trong năm thứ nhất chỉ
là 1,6 triệu USD 1, giá trị hiện tại ở thời điểm cuối năm thứ nhất của các dòng thunhập sau đó của dự án là 16 triệu USD Tuy nhiên, nếu các nhà chức trách vẫn giữnguyên mức thuế như cũ (hoặc giảm không đáng kể), nhu cầu đối với xe ôtô củadoanh nghiệp A sẽ khá cao Trong trường hợp này, dòng thu nhập trong năm thứnhất sẽ là 2,5 triệu USD và giá trị hiện tại ở thời điểm cuối năm thứ nhất của các
1
h u) së chñ (Vèn cã tù Vèn
nî lÖ Tû
e
C
D
Rd
Trang 22dòng thu nhập sau đó là 25 triệu USD Dựa trên ước tính khả năng nhu cầu cao,thấp đối với xe ôtô lắp ráp, các nhà quản trị doanh nghiệp A thông thường sẽ giảibài toán đầu tư này bằng cách tính toán chỉ tiêu NPV của dự án Giả sử giá trị hiệntại của dòng thu nhập kỳ vọng của dự án là 20 triệu USD, khi đó NPV = 20 - 18 = 2triệu USD Dựa vào giá trị NPV > 0, doanh nghiệp A sẽ quyết định đầu tư ngay bâygiờ Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp A tiến hành đầu tư hôm nay, kết quả mà nó nhậnđược có thể không như mong muốn bởi vì sự không chắc chắn của nhu cầu trongtương lai đối với xe lắp ráp Nếu mức thuế nhập khẩu ôtô giảm đáng kể sau mộtnăm, nhu cầu xe lắp ráp sẽ thấp, và như vậy dự án đầu tư của doanh nghiệp A sẽthất bại về mặt tài chính Trong tình huống phải đối mặt với sự không chắc chắnnhư vậy, tại sao doanh nghiệp A không trì hoãn việc đầu tư cho đến khi đã biết mứcthuế mới được áp dụng cho ôtô nhập khẩu Tình huống trên minh họa một quyềnchọn thực, và là một quyền chọn mua trên tài sản thực, mà doanh nghiệp A đangnắm giữ liên quan đến việc lựa chọn thời điểm đầu tư Doanh nghiệp A có thể tiếnhành đầu tư hôm nay hoặc có thể trì hoãn việc đầu tư, tùy thuộc vào giá trị củaquyền chọn thực được tính toán hôm nay Tính không ổn định của giá trị tài sảnthực càng lớn2, quyền chọn thực sẽ càng có giá trị3 Trong trường hợp đó việc duytrì quyền chọn thay vì đầu tư ngay hôm nay có thể là một quyết định đúng đắn.
+ Quyền chọn đối với việc mở rộng dự án
Một ví dụ khác có thể minh họa cho loại quyền chọn này Một doanh nghiệp
B đang xem xét dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất xe gắn máy Đặc điểm củaloại xe này là nó sử dụng một loại nhiên liệu khác thay thế cho xăng, nhằm gópphần giảm bớt ô nhiễm môi trường Ngoài ra, ưu điểm đáng chú ý nhất là khả năngtiết kiệm chi phí nhiên liệu đáng kể so với các loại xe gắn máy dùng xăng thôngthường Tuy nhiên, bởi vì loại nhiên liệu được sử dụng cho xe gắn máy này trái vớithói quen sử dụng của người tiêu dùng, cũng như những khó khăn mà người tiêudùng có thể gặp phải khi họ phải tìm trạm cung cấp để nạp nhiên liệu, nhu cầu đốivới loại xe này có tính không chắc chắn khá cao Sự chấp nhận của người tiêu dùng,
và nhu cầu đối với loại xe gắn máy này chỉ có thể biết được tương đối chính xác saukhi doanh nghiệp này sản xuất và đưa vào thị trường loại xe đó Do vậy, các nhàquản trị của doanh nghiệp này dự định tiến hành đầu tư theo hai giai đoạn, thay vìđầu tư với quy mô lớn ngay bây giờ Trong giai đoạn một, doanh nghiệp chỉ đầu tưsản xuất một số lượng xe gắn máy vừa đủ để thăm dò thị trường Đây là giai đoạnkhá quan trọng và nó quyết định đến việc mở rộng sản xuất ở quy mô lớn sau đócủa doanh nghiệp Nếu giai đoạn một thành công, doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu tưgiai đoạn hai để mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên, đánh giá theo phương pháptruyền thống của doanh nghiệp lại cho thấy cả hai dự án đầu tư trong hai giai đoạnđều có NPV < 0 Dựa trên các chỉ tiêu NPV này, một số ý kiến trong ban lãnh đạocủa doanh nghiệp cho rằng không nên tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy Kết quả
2
Trang 23này xuất phát từ hạn chế của phương pháp đánh giá dựa vào NPV NPV của dự ánđầu tư trong giai đoạn một đã không tính đến giá trị của việc điều chỉnh dự án, nếunhư việc thăm dò thị trường trong giai đoạn một cho kết quả tốt đẹp Mặc dù NPVcủa dự án đầu tư trong giai đoạn một có giá trị âm, đầu tư giai đoạn này sẽ tạo ra cơhội để tiến hành đầu tư ở giai đoạn hai sau đó Đây là một quyền chọn thực để mởrộng đầu tư của doanh nghiệp Do vậy, giá trị của dự án ở giai đoạn một không chỉbao gồm NPV của riêng nó, mà còn bao gồm cả giá trị của quyền chọn thực này.Ngay cả trong trường hợp NPV của dự án đầu tư trong giai đoạn hai có giá trị âm,giá trị của quyền chọn thực này sẽ không có giá trị âm Cụ thể, theo quy tắc NPV,dòng thu nhập kỳ vọng ở mỗi mốc thời gian trong tương lai được xác định bằng vớigiá trị kỳ vọng của tất cả những tình huống có thể4, bao gồm cả những tình huốngtốt và những tình huống xấu nhất Cách xác định dòng thu nhập kỳ vọng như thế rõràng sẽ làm giảm đi giá trị của dự án Ngược lại, theo cách tiếp cận quyền chọnthực, dòng thu nhập trong những tình huống xấu của dự án đầu tư mở rộng sẽ khôngảnh hưởng đến quyết định hôm nay của doanh nghiệp, vấn đề mà quy tắc NPVkhông thể khắc phục được Cân nhắc những tình huống xảy ra khi kết thúc giai đoạnthăm dò thị trường: nếu sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng nhiệt liệtchào đón, doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất để tận dụng ngay cơ hội kinhdoanh này Tuy nhiên, nếu nhu cầu đối với loại xe gắn máy này vẫn thấp, doanhnghiệp chỉ đơn giản không đầu tư thêm Đánh giá dự án theo cách tiếp cận quyềnchọn thực có thể thay đổi hoàn toàn quyết định của doanh nghiệp trong ví dụ vừanêu trên.
+ Quyền chọn đối với việc từ bỏ dự án đầu tư
Khả năng để mở rộng dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với doanhnghiệp Khi quá trình đầu tư đang diễn ra khá thuận lợi, nếu việc mở rộng được tiếnhành càng nhanh, doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội để kiếm thêm lợi nhuận Tuynhiên, nếu như quá trình đầu tư lại diễn ra theo chiều hướng xấu và dòng thu nhậpcủa dự án là khá thấp so với dự tính ban đầu, trong tình huống này quyền chọn để từ
bỏ dự án sẽ là hữu ích đối với doanh nghiệp Xem xét tình huống sau đây: giả sửmột doanh nghiệp C đang dự định xây dựng một nhà máy sản xuất bia nhằm đápứng nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng ở địa phương Tuy nhiên, do áp lực cạnhtranh từ nhiều sản phẩm bia khác hiện đã có mặt trên thị trường, nhu cầu đối vớiloại bia mà doanh nghiệp C sản xuất có tính không chắc chắn cao Dựa trên chi phíđầu tư và dòng thu nhập kỳ vọng của dự án, phương pháp đánh giá truyền thống chothấy rằng NPV của dự án có giá trị âm Dự án này nên bị loại bỏ nếu dựa vào chỉtiêu NPV này Giả sử có một doanh nghiệp khác ở địa phương đề nghị với doanhnghiệp C rằng họ có thể mua lại nhà máy bia ở bất kỳ một thời điểm nào đó trongtương lai với một giá được ấn định trước, tùy thuộc vào quyết định của doanhnghiệp C Trong trường hợp này, đây là một quyền chọn thực để từ bỏ dự án củadoanh nghiệp Tính không ổn định của dòng thu nhập của dự án càng lớn, quyền
4
Trang 24chọn thực này càng có giá trị Giá trị của dự án sẽ thay đổi nếu như việc đánh giá dự
án có tính đến giá trị của quyền chọn thực để từ bỏ dự án nếu như kết quả đầu tưkhông như mong muốn, thay vì chỉ dựa vào NPV
1.3.2 Các bước thực hiện
Thẩm định nhu cầu tổng vốn đầu tư:
Dưới giác độ của một dự án, vốn đầu tư là tổng số tiền được chi tiêu để hình thànhnên các tài sản cố định và tài sản lưu động cần thiết Những tài sản này sẽ được sử dụngtrong việc tạo ra doanh thu, chi phí, thu nhập suốt vòng đời hữu ích của dự án Thẩm địnhvốn đầu tư là việc phân tích và xác định nhu cầu vốn đầu tư cần thiết dành cho một dự án Đặc điểm của các dự án là thường yêu cầu một lượng vốn lớn và sử dụng trong mộtthời gian dài Tổng vốn đầu tư nay trước khi trình Ngân hàng thì đã được xác định và đãđược nhiều cấp, ngành xem xét, phê duyệt Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn cần phải thẩm địnhlại trược khi cho vay, bởi vì: Sai lầm trong việc xác định nhu cầu vốn đầu tư của dự án cóthể dẫn tới tình trạng lãng phí vốn lớn, gây khó khăn trong hoạt động đầu tư cũng như hoạtđộng vận hành kết quả đầu tư sau nay, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với chủ đầutư
Do đó việc xác định hợp lý tối đa tổng mức vốn đầu tư của một dự án là cần thiệt đốivới ngân hàng Ngân hàng sẽ thẩm định chi tiết tổng vốn đầu tư được hình thành như thếnào:
Vốn đầu tư vào tài sản cố định:
Đây là hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định Vốn đầu tưvào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư cho dự án Các tài sản
cố định được đầu tư có thể là tài sản cố định hữu hình hoặc tài sản cố định vô hình
Cụ thể là:
- Chi phí xây lắp: Chi phí khảo sát, thiết kế, xây dựng luận chứng kinh tế - kỹ thuật,chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất, chi phí đền bù, chi phí cần thiết và hợp lý ch các thủtục pháp lý như đăng ký kinh doanh, thuế trước bạ, lệ phí chứng từ,
- Chi phí máy móc thiết bị công nghệ, hệ thống dây chuyền và các thiết bị bán lẻ:Giá mua thiết bị, chi phí bảo quản, vận hành, vận chuyển
- Chi phí dự phòng
- Chi phí khác: Chi phí này phát sinh trong quá trình thực hiện dự án không liên quantrực tiếp đến việc tạo ra hay vận hành các tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động:
Đây là vốn đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để thực hiện dự án.Nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động phụ thuộc vào đặc điểm của từng dự án Bao gồm tàisản lưu động trong sản xuất ( Nguyên liệu, vật liệu, và sản phẩm dở dang) và tài sản
Trang 25trong quá trình lưu thông (Vốn băng tiền,vốn trong thanh toán, sản phẩm hàng hoá chờ tiêuthụ ).
Thẩm định phương án tài trợ dự án đầu tư:
Các phương án tài trợ cho dự án đầu tư thông thường bao gồm các nguồn chính là:Vốn tự có của chủ đầu tư, vốn vay NHTM, vốn vay quỹ hỗ trợ phát triển, vốn do Ngânsách cấp, lesing, nguồn vốn khác Nhiệm vụ thẩm định các nguồn vốn tài trợ cho dự án là
để xem xét về số lượng, thời gian, tỷ trọng các nguồn trong tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn cóhợp lý và tối ưu Mặt khác, cơ cấu nguồn vốn sẽ chi hpối việc xác định dòng tiền phù hợpcũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu hợp lý để xác định NPV của dự án
Trong quá trình thẩm định các nguồn tài trợ cho dự án, Ngân hàng phải xem xét cơ
sở pháp lý và cơ sở thưc tế của các nguồn vốn để có thể khẳng định chắc chắn rằng cácnguồn đó là có thực Trong thực tế có đơn vị vốn tự có thực tế không đủ hoặc không cótham gia vào dự án, nên đã đẩy vốn đầu tư lên mức nhu cầu cao hơn thực tế cần thiết đểvay tín dụng bù đắp, nếu không xem xét kỹ thì vô tình ngân hàng đã tham gia 100% nhucầu vốn đầu tư Ngân hàng phải đánh giá nhu cầu vốn và mức cân đối vốn từ các nguồn tàitrợ trong các giai đoạn thực hiện dự án Từ đó, xây dựng một trình tự cho vay sao cho tiến
độ bỏ vốn phù hợp với tiến độ thi công xây lắp và việc điều hành vốn của Ngân hàng
Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án:
Hiệu quả tài chính dự án đầu tư được đánh giá thông qua các phương pháp phân tíchtài chính trên cơ sở dòng tiền của dự án Dòng tiền của một dự án được hiểu là các khoảnchi và thu được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suất chu kỳ của
dự án Khi lấy toàn bộ khoản tiền thu được trừ đi khoản tiền chi ra thì chúng ta sẽ xác địnhđược dòng tiền ròng tại các mốc thời gian khác nhau Quá trình xác định dòng tiền rònghàng năm dựa trên lợi nhuận sau thuế, khấu hao, lãi vay và những khoản mục điều chỉnhkhác khi có sự khác biệt trong cơ cấu đầu tư tài trợ cho dự án Nếu sai lầm trong việc xácđịnh các dòng tiền có thể dãn đến tính toán và thẩm định hiệu quả tài chính dự án không có
ý nghĩa thực tế nữa Do đó đứng trên góc độ là Ngân hàng khi xác định dòng tiền còn lưu ýmột số vấn đề sau:
Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án: Như đã phân tích ở trên, cơ cấu vốn tài trợ cho dự
án có ảnh hưởng đến việc xác định dòng tiền hoạt động mỗi năm của dự án Một dự án cóthể đựơc tài trợ bằng nhiều nguồn khác nhau, do đó dòng tiền sẽ được điều chỉnh để phùhợp với mỗi phương thức tài trợ
Lãi suất chiết khấu được được lựa chọn là thực hay danh nghĩa: Lãi suất thực làlãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát dự kiến Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu hay danhnghĩa không thành vấn đề miễn là đảm bảo nguyên tắc nhất quán: Lãi suất chiết khấu thực
áp dụng đối với dòng tiền thực, lãi suất chiết khấu danh nghĩa áp dụng đối với dòng tiềndanh nghĩa
Trang 26 Lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao
sẽ ảnh hưởng đến độ lớn của lợi nhuận sau thuế và chi phí khấu hao và từ đó ảnh hưởngtới quy mô dòng tiền mỗi năm
Rủi ro: Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, chúng ta cần phải xem xét vàphân tích cẩn trọng rủi ro đối với dự án Rủi ro bao gồm rất nhiều loại và chúng đều tácđộng tới kết quả của việc xác định dòng tiền dự tính cho dự án
Những ưu đãi đầu tư của chính phủ
Thuế thu nhập doang nghiệp
Các phương pháp tính toán tài chính được sử dụng trong thẩm định hiệu quả tàichính bao gồm 1 số phương pháp tính sau:
- Phương pháp giá trị hiện tại ròng (NPV)
- Phương pháp tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
- Chỉ số doanh lợi (PI)
- Thời gian hoàn vốn (PP)
Cho dù áp dụng phương pháp nào để thẩm định tài chính dự án thì nguyên tắc giá trịthời gian của tiền phải được áp dụng Đồng tiến có giá trị về mặt thời gian, một đồng tiềnngày hôm nay có giá trị hơn một đồng tiền ngày mai, bởi lẽ một đồng tiền hôm nay nếu đểngày mai thì ngoài tiền gốc ra còn có tiền lãi do nó sinh ra, còn một đồng ngày mai nguyênvẹn một đồng mà thôi
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng
Thẩm định dự án đầu tư là ở ngân hàng thương mại có thể ví như “công cụsản xuất” của một người lao động Sản phẩm tạo ra tốt, một mặt chịu ảnh hưởng củachất lượng công cụ sản xuất, một mặt chịu ảnh hưởng của chính tay nghề của người
sử dụng công cụ Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính
dự án đầu tư sẽ được xem xét dưới hai góc độ chính sau :
ra đúng như dự đoán
Như vậy, những phương pháp đánh giá hiệu quả dự án sẽ khó loại trừ những
“tính bất định của nhiều nhân tố ảnh hưởng đến dự án đầu tư.”
Trang 27Mỗi bến số cơ bản đưa vào các tiêu chuẩn tính toán hiệu quả tài chính dự ánđâu tư như NPV, IRR là nguồn gốc bất định có tầm quan trọng lớn hoặc nhỏ Một
số biến số là nguồn gốc chung của tính bất định trong việc đánh giá các dự án đầu
tư gồm : số vốn đầu tư, chi phí vận hành, doanh thu, Mỗi biến số bao gồm số lượng
và giá cả Têm vào đó, thời gian là yếu tố chủ chốt trong kết hoạch đầu tư nên việcthực hiện một dự án có thể đi ngược lại sự đánh giá chính dự án này
Yếu tố bất định : Tính bất định thường xảy ra bởi không thể đoán trước
được các biến số khác nhau và ở cả mức độ hiệu quả và chi phí một cách chính xácnhư chúng sẽ xảy ra Có nhiều yếu tố ảnh không chắc chắn làm ảnh hưởng đến kếtquả của dự án, nhưng quan trọng nhất là :
+ Lạm phát : Được hiểu là giá cả phần lớn các khoản mục đầu vào hoặc đầu
ra theo thời gian và gây sự thay đổi về tương quan giá cả Mức tăng chính xác củagiá cả luôn luôn không thể nhận biết được Giá cả còn lên xuống do nguyên nhâncủa luật cung cầu, sở thích của người tiêu dùng
Rõ ràng các biến số tài chính từ các bảng tài chính được đưa ra trong dự án làyếu tố đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp của các tiêu chuẩn thẩm định (NPV,IRR nêu trên) như : các thu nhập, các loại chi phí Các yếu tố này thường liên quan đếngiá cả Vì vậy, việc xác định giá cả của các yếu tố trong chi phí hay trong doanh thucủa dự án sẽ có ảnh hưởng đến kết quả dự án
Nếu các giá cả được cung cấp trong dự án là “giá cố định” – giá cố định làgiá không thay đổi theo thời gian – và nếu các giá cố định được sử dụng trong suốtthời gian dự án xảy ra, như thế người lập dự án sẽ đơn giản hoá việc xây dựng cácbản tóm tắt tài chính của một dự án nhưng nó cũng loại ra khỏi sự phân tích cácthông tin kinh tế và tài chính có thể ảnh hưởng đến thành quả trong tương lai của dựán
Nếu các giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong thời gian hoạt độngcủa dự án được điều chỉnh theo một diễn biến mà nhà thẩm định giả định cho cácthời kỳ tương lai thì đó là “giá thực” – là giá có thể thay đổi trong tương lai Giáthực được dự đoán trong mức cung cầu sẵn có, và các yếu tố ngoại lai có thể tácđộng lên chi phí sản xuất của nó Sử dụng giá này sẽ giúp cho việc xây dựng cácbiến số của bảng tài chính của dự án sẽ tin cậy hơn, chính xác hơn, giúp cho nângcao chất lượng các tiêu chuẩn thẩm định
Việc lựa chọn sử dụng loại giá nào sẽ có ảnh hưuởng tích cực khác nhau đếnhiệu quả thẩm định tài chính dự án Việc sử dụng giá cố định sẽ bỏ qua tác động củalạm phát Sử dụng giá thực phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối củagiá trong tương lai, phần nào đó lại dự đoán được tác động của lạm phát
Việc đề cập đến yếu tố lạm phát là khó song nếu có dự tính về nó thì việcthực hiện dự án trên thực tế sẽ giảm bớt khó khăn Sở dĩ như vậy vì, một trongnhững yếu tố đầu vào của việc xem xét các tiêu chuẩn thẩm định là tài trợ đầu tư
Trang 28Rõ ràng là lạm phát có tác động đến tài trợ đầu tư Và khi ước tính tổng số tài trợcho một dự án đầu tư , giả sử loại bỏ những khoản chi phí vượt quá gây nên bởi việcước tính sai số lượng vật liệu cần thiết hay các thay đổi trong giá thực của vật liệu
đó thì khoản chi phí gia tăng thêm nữa có thể là do lạm phát mặt bằng giá cả chung.Nếu dự án cần một khoản vay để tài trợ cho các kinh phí trong tương lai thì phảinhận ra rằng số lượng tài trợ cần thiết sẽ chịu ảnh hưởng của tổng số lạm phát giá cảxảy ra trong suốt thời gian xây dựng Như vậy, nếu điều kiện này được dự kiến vàogiai đoạn thẩm định, dự án có thể trôi qua khủng hoảng về tính thanh toán hay mấtkhả năng thanh toán nợ do tài trợ không đầy đủ
Lạm phát thay đổi điều kiện tài chính thuần thực của một dự án theo mộtcách khác, đó là qua ảnh hưởng của lạm phát lên lãi suất danh nghĩa Các bên chovay tăng lãi suất danh nghĩa trên các khoản họ cho vay để bù đắp cho những khoảnmất mát dự đoán và giá trị thực của khoản vay do lạm phát gây nên Khi tỷ lệ lạmphát gia tưng, lãi suất danh nghĩa sẽ được gia tăng để đảm gảo giá trị quy đổi củacác khoản thanh toán tiền laĩ và tiền vốn về thời điểm khi cho vay sẽ không giảmxuống thấp hơn giá trị ban đầu của khoản vay Lạm phát làm giảm giá trị trongtương lại của các khoản tiền vay lẫn các khoản thanh toãn lãi suất thực Vì vậy, cácnhà ngân hàng khi thẩm định phải xem xét liệu dự án có chịu được mức lãi suất dựtính này hay không ? Điều này thật quan trọng cho việc đánh giá khả năng bền vữngcủa dự án, vì lãi suất danh nghĩa tăng sẽ làm giảm chi phí xuất quỹ tăng cao hơntrong suốt những năm đầu của thời hạn hoàn trả có thể tạo ra những vấn đề khókhăn về thanh toán chó dự án nếu nó không tạo ra đủ các luồng thu được nhập quỹtrong kỳ
Trong việc đánh giá một dự án, nhiều chuyên gia thẩm định cho rằng việc cốgắng tối đa để dự báo “chính xác” tỷ lệ lạm phát là không cần thiết Điều thiết yếu
là nhà thẩm định nên đưa ra các giả thiết liên quan đến việc tài trợ và hoạt động của
dự án sao cho phù hợp vơi stỷ lệ lạm phát được giả thiết
+ Những thay đổi trong công nghệ : Chất và lượng của đầu vào và đầu radùng để đanh giá dự án được dự tính theo những tri thức hiện thời Tuy nhiên dokhoa học kỹ thuật ngày càng phát triển theo hướng ngày càng hiện đãi dẫn đến sự rađời những công nghệ mới có thể làm thay đổi những dự tính trước đó
+ Công suất dự tính dùng trong khi đánh giá dự án có thể không bao giờ đạtđược điều đó, đến lượt nó sẽ ảnh hường đến chi phí vận hành cũng như doanh thu
Vì có khi dự án chỉ đạt được NPV dương tại một công suất tới hạn nào đó Nếucông suất thực tế không đạt được mức đó thì dự án trở thành không có hiệu quả
+ Người ta thấy rằng : Vốn đầu tư cần thiết cho vốn cố đinh và vốn lưu độngthường bị tính toán, dự đoán hụt và thời gian thi công xây dựng, thời gian chạy thửthường dài hơn đáng kể so với dự định Điều này ảnh hưởng đến vốn đầu tư, chi phívận hành và cả thu nhập
Trang 29+ Xác định lãi suất chiết khấu thích hợp : Thay đổi trong lãi xuất có ảnhhưởng lớn đến giá trị hiện tại của các khoản thu nhập và chi phí Dự án thường phảichị các khoản chi phí lớn trong những năm đầu, khi vốn đầu tư được thực hiện vàcác khoản thu nhập chỉ xuất hiện trong những năm sau, khi dự án thực sự đi vàohoạt động Bởi vậy, khi lãi suất tăng, giá trị hiện tại của dòng thu nhập sẽ giảmnhanh hơn giá trị hiện tại của chi phí và do đó giá tại hiện tại ròng của dự án sẽgiảm xuống Ki lãi suất này vượt qua một mức nào đó, giá trị hiện tại sẽ chuyển từdương sang âm.
Như vậy, giá trị hiện tại ròng không phải là một tiêu chuẩn tốt, nếu khôngxác định được một lãi suất thích hợp Việc xác định lãi xuất thích hợp là một vấn đềkhó khăn Trong phân tích tài chính, việc xác định lãi suất thường được lựa chọncăn cứ vào chi phí cơ hội của vốn, tức là chi phí thực sự cho dự án Vì hầu hết các
dự án đều lấy kinh phí từ các nguồn khác nhau như vốn cổ phẩn, vốn vay ngânhàng, vốn ngân sách nên lãi suất sẽ là mức bình quân của chi phí từ các nguồnvốn khác nhau, tức là :
Trong đó :
r : Lãi suất chiết khẩu
ri : Lãi suất nguồn thứ i
ki : Số vốn đầu tư nguồn thứ i
Song thông thường các dòng thu nhập và chi phí cần được chiết khấu ở mộtmức không đồi
+ Một lưu ý đối với tỷ suất nội hoàn : tỷ suất nội hoàn chỉ tồn tại khi trongdòng thu nhập ròng của dựa án có ít nhất một giá trị âm Khi thu nhập thuần trongtất cả các năm đều dương thì dù lãi suất lớn thế nào thì giá trị hiện tại ròng vẫndương Vấn đề thứ hai và quan trọng hơn cả là có thể xảy ra tình huống không phải
có một mà là có nhiều tỷ suất nội hoàn, gây khó khăn cho việc đánh giá dự án.Trong trường hợp này có thể sảy ra khi dự án có những thu nhập ròng âm đủ lớnvào các năm sau thời kỳ đầu tư ban đầu, tức là những năm sau khi dòng thu nhập đãtrở thành dương Điều này liên quan lớn đến những khoản đầu tư thay thế lớn, hoặcnhững biến cố bất thường diễn ra sau thời kỳ đần tư ban đầu
Với những lý do nêu trên mà vấn đề đặt ra là chúng ta không chỉ xác địnhtính hợp lý của một dự án từ khía cạnh phận tích hiệu quả vốn đầu tư và khả năngtài chính của dự án mà phải phân tích độ nhạy cảm của dự án
+ Phân tích độ nhạy cảm : Cho biết giá trị của các tiêu chuẩn hiệu quả thayđổi ra sao khi có sự thay đổi giá trị của bất kỳ yếu tố nào (giá bán đơn vị, chi phíđơn vị ) Nó có thể được biểu thị như là sự thay đổi tuyệt đối dưới dạng tiêu chuẩn
k
r k
r
Trang 30hiệu quả theo một biến số hoặc một loạt biến số Dự án nhạy cảm với các yếu tố bấtđịnh và cần dự tính chính xác các biến mà tử số ước tính của chúng có thể có nhữngsai sót đáng để ý Việc phân tích độ nhạy cảm được minh hoạ dựa trên cơ sở củaphương pháp giá trị hiện tại ròng (NPV).
Trong thực tiễn, không cần phải phân tích sự thay đổi của một hến số có thể
mà người ta chỉ hướng việc phân tích vào các biến cốt lõi ảnh hưởng nhiều nhất đến
dự án hoặc vì chúng là những thông số lớn hoặc có khả năng thay đổi đáng kể xungquanh trị số khả thi nhất
Người ta có thể trắc nghiệm độ nhạy của giá trị hiện tại ròng (NPV) của dự
án giả định theo các phương án và trị số vốn đầu tư, giá cả đầu vào hay giá cả sảnphẩm của dự án hay tỷ lệ chiết khấu, công suất huy động thực tế khác nhau Việcphân tích, kiểm tra trên cơ sở giả thiết nhiều phương án chứng minh độ nhạy rõ ràngcủa dự án đối với các điều kiện bất định
Bất kỳ chỉ tiêu hiệu quả nào đều có thể được tính bằng cách dùng cácphương án “bi quan” hoặc “lạc quan” Phân tích độ nhạy cho phép hiểu tốt hơn biến
số có tính chất sống còn đối với việc đánh giá dự án Việc phân tích như vậy sẽ cóích cho nhứng người có trách nhiệm quản lý dự án sau này Nó làm rõ các “khoảngtới hạn” đòi hỏi sự quan tâm quản lý sát sao nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh của
dự án
+ Các bước của việc phân tích độ nhạy dự án :
- Xác định các biến then chốt dự kiến sẽ có tầm quan trọng lớn, có ảnhhưởng lớn tới sức sống của dự án
- Xác định khoảng dao động có thể của các biến then chốt
- Tính các giá trị khác nhau dễ xảy ra nhất cho từng biến với khoảng daođộng đã có
- Kết hợp các giá trị khác nhau của các biến hợp lý để đưa ra kết luận
Phân tích độ nhạy là công cụ đơn giản, thích hợp cho việc kiểm tra độ nhạycủa dự án đối với các thay đổi của biến này hay biến khác Mặc dù phân tích độnhạy của dự án cũng có những hạn chế của nó như phạm vi thay đổi của mỗ biếnthường có xác suất xuất hiện khác nhau Hoặc những kết quả về phân tích độ nhạykhông đem lại cho người ra Quyết định một giải pháp rõ ràng đối với vấn đề lựachọn dự án Song các nhà nghiên cứu lý thuyết và thực hành nhận thấy rằng nó làmột công cụ hữu ích, nó đem lại cho người phân tích ý tưởng về một số điều khôngchắc chắn và hiệu quả của việc phân tích này sẽ cao khi được bổ trợ những hìnhthức phân tích thích hợp khác tuỷ vào điều kiện thực tế của từng dự án
Tóm lại, việc lựa chọn các tiêu chuẩn phân tích tài chính phù hợp với điềukiện của mỗi dự án là cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả, vừa kết hợp được các mặt
Trang 31mạnh của các chi tiêu và vừa phù hợp với tình hình thực tế của mỗi ngành, lĩnh vựchoạt động của dự án và của mỗi quốc gia cũng như điều kiện cụ thể của ngân hàng.
1.3.3.2 Nhân tố con người :
Con người là chủ thể vừa là đối tượng của mọi hoạt động của con người Conngười là nhân tố trung tâm và Quyết định đối với sự phát triển xã hội nói chung Do
đó, nhân tố con người có ảnh hưởng Quyết định đến chất lượng thẩm định tài chính
dự án đầu tư Khoa hoạc kỹ thuật dù phát triển mạnh mẽ đến đâu, nó chứng tỏ sứcmạnh to lớn như thế nào cũng không thể loại bỏ con người ra khỏi “quá trình sảnxuất xã hội” ở đây, con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện các hoạtđộng thẩm định dự án đầu tư là kết quả của việc đánh giá, xem xét dự án theo nhìnnhận chủ quan của người thẩm định trên cơ sở khoa học và các tiêu chuẩn htẩmđịnh khác nhau Vì vậy, hiệu quả của hoạt động thẩm định phụ thuộc vào chấtlượng của nhân tố con người -biểu hiện qua sự hiểu biết, kinh nghiệm, năng lực vàtính kỷ luật và phẩm chất đạo đức của người thẩm định Sự hiểu biết là toàn bộnhững kiến thức khoa học - kinh tế - xã hội mà người thẩm định có được qua đàotạo hay tự bồi dưỡng kiến thức Kinh nghiệm là những gì được tích luỹ qua hoạtđộng thực tiễn Năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở các trithức tích luỹ Các chuyên gia phân tích dự án có thể tăng rất nhanh hiệu quả làmviệc của mình do kết quả của qúa trình tích luỹ kinh nghiệm Tính kỷ luật cao, phẩmchất đạo đức tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định Ngược lại,người thẩm định không có tính kỷ luật, đạo đức tốt sẽ phá huỷ hết công sức củachính mình và của người lập dự án, hoặc họ sẽ làm dự án không thực hiện đượchoặc dự án có rủi ro cao trong quá trình thực hiện
Con người là nhân tố trung tâm, chi phối đến các nhân tố ảnh hưởng đến chấtlượng thẩm định dự án đầu tư Lấy thông tin gì, kiểm định chất lượng ra sao hoàntoàn là do người thẩm định Quyết định, áp dụng kỹ thuật phân tích, phưong phápđánh giá nào là do trình độ, sự lựa chọn và được tiến hành bởi người thẩm định
Giả sử phương pháp phân tích “tinh vi” nhất được áp dụng cũng có thể dẫnđến các kết luận sai lầm nếu chất lượng, số lượng của các thông tin đưa vào khôngcao, không đầy đủ Hay các đánh giá của các chuyên gia kỳ cựu cũng chỉ là mang
Trang 32tính chủ quan, không phản ánh toàn diện hiệu quả thật của dự án nếu như không cócác thông tin liên quan để so sánh, đối chiếu.
Vậy đối với chuyên gia thẩm định nói riêng và đối với ngân hàng nói chungviệc thu thập, xử lý, phân tích, lưu trữ thông tin là cần được quan tâm Thiết lậpđược một hệ thống cung cấp thông tin tố sẽ trợ giúp cho khả năng đảm bảo thôngtin và chất lượng thông tin đối với công tác thẩm định tài chính dự án và để nângcáo chất lượng của công tác này
Tổ chức , điều hành :
Việc phân công, sắp xếp cán bộ thẩm định theo trách nhiệm và quyền hạn cókhoa óc trong các hoạt dộng tác nghiệp sẽ tránh được sự chồng chéo không cầnthiết, tận dụng được mặt mạnh và hạn chế được mặt yếu của mỗi cánhân Trên cơ sở
đó, giảm bới chi phí tiến hành thẩm định, cũng như rút ngắn thời gian tiến hànhthẩm định
Tổ chức thẩm định hợp lý, khoa học sẽ phát huy được sức mạnh của cá nhân,tập thể và trang thiết bị, khai thác được các nguồn lực phục vụ cho hoạt động thẩmđịnh tài chính dự án đầu tư Từ đó sẽ nâng cao chất lượng của công tác thẩm định Khoa học, công nghệ và thiết bị, kỹ thuật :
Thời kỳ tin học hoá phát triển, tin học, công nghệ thông tin được ứng dụngtrong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Công nghệ thông tin được ứng dụngtrong ngành ngân hàng làm tăng khả năng thu nhập, lưu trữ và xử lý thông tin mộtcách đầy đủ và nhanh chóng Thông qua đó thông tin đầu vào và đầu ra của việcthẩm định dự án được cung cấp một cách đầy đủ và có hiệu quả
Các kỹ thuật thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng được sự trợ giúp của cácchương trình phần mềm trên vi tính rất nhiều Các mô hình phân tích, các hàm sốphức tạp để đánh giá hiệu quả của dự án nhờ đó đã được tiến hành một cách nhanhchóng, tiện ích Do đó, các chương trình trợ giúp về phưong diện kỹ thuật, các máymóc kỹ thuật hiện đại sẽ góp phần vào công việc nâng cao chất lượng thẩm định tàichính dự án đầu tư nói riêng và công tác thẩm định nói chung
Ngoài ra còn một số nhân tố khách quan từ phía các chủ dự án, người lập ra
dự án như khả năng nhận thức và khả năng kinh doanh trong nền kinh tế thị trườnghiện nay Hay từ phía môi trường pháp luật, kinh tế vĩ mô : sự đồng bộ, sự hoànthiện, hay tính biến động từ các môi trường này ra sao có ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp đến chất lượng của thẩm định tài chính dự án đầu tư
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SỞ GIAO DỊCH VCB 2.1 Khái quát về sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng
Trong số các cơ quan thành viên của Ngân hàng Ngoại thương, Sở giao dịchNgân hàng Ngoại thương Trung ương luôn là lá cờ tiên phong đạt thành tích caotrong mọi hoạt động của Vietcombank Ngày 01/01.2006 Sở giao dịch chính thứctách khỏi Hội sở chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và hoạt động độc lậpnhư một chi nhánh của Ngân hàng Tính đến ngày cuối năm 2009, tổng số vốn huyđộng của Sở đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 23% tỷ trọng vốn toàn bộ hệ thống Do
đi trước về công nghệ và có thế mạnh về ngoại tệ, Sở giao dịch thực sự trở thànhtrung tâm thanh toán clearing ngoại tệ, với rất nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng
mở tài khoản thanh toán và thường xuyên giao dịch
Năm 1991, Sở giao dịch (SGD) NHNT TW được thành lập Trong thời gianđầu thành lập, Sở giao dịch là đơn vị phụ thuộc NHNT TW (Hội sở chính), thựchiện các hoạt động của NHNT TW SGD đóng vai trò đầu mối thực thi chiến lượcphát triển các sản phẩm, dịch vụ của NHNT VN, là cầu nối giữa NHNT và kháchhàng của mình
Ngày 20/1/2001, NHNT VN khai trương tòa nhà VCB Tower tại địa chỉ 198Trần Quang Khải, Hà nội NHNT TW (Hội sở chính) và SGD NHNT TW được đặttại Trụ sở này
SGD thực hiện đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụmới, đi đầu trong ngành ngân hàng như: thẻ rút tiền tự động ATM, thẻ tín dụngquốc tế Vietcombank MasterCard, thẻ tín dụng VietcombankVisa, thẻ Amex, triểnkhai hệ thống dịch vụ VCB Online và hệ thống giao dịch tự động (Connect 24),dịch vụ thương mại điện tử” Vietcombank Cyber Bill Payment” (V-CBP) , chấpnhận giao dịch thẻ VISA, thẻ MasterCard trên hệ thống giao dịch tự động VCB-ATM; thực hiện các nghiệp vụ quyền chọn (Option), bao thanh toán (Factoring),triển khai hoạt động bảo hiểm nhân thọ qua NH…
Ngày 28/12/2005, theo quyết định số 1215/QĐ-NHNT.TCCB&ĐT của Hộiđồng quả trị NHNT VN và tới ngày 01/01/2006, SGD được chính thức tách khỏiHội sở chính, hoạt động như một chi nhánh, có tư cách pháp nhân, có con dấu, cótài khoản riêng
Trang 34Ngày 30/10/2008, Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam đã chínhthức khai trương trụ sở hoạt động mới tại 31-33 Ngô Quyền, Phường Hàng Bài,quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Bên cạnh hoạt động như một Chi nhánh Vietcombank với thị phần lớn trongnhiều lĩnh vực tại Hà Nội, Sở giao dịch còn là nơi tiên phong thực hiện các chủtrương chính sách của VCB, đi đầu trong việc thử nghiệm và triển khai các sảnphẩm mới cũng như thực hiện một số nghiệp vụ đặc thù khác SGD luôn là đơn vịdẫn đầu trong toàn bộ hệ thống VCB, SGD cũng là một trong hai đơn vị có đónggóp lớn nhất cho lợi nhuận của VCB
2.1.2 Sơ đồ tổ chức, cơ cấu chức năng của các phòng ban
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức
Trang 352.1.2.2 Cơ cấu, chức năng các phòng ban
Ban giám đốc
Giám đốc
Giám đốc SGD quy định cụ thể quy trình phối hợp giữa các phòng và các đơn vịtrực thuộc phù hợp với quy chế điều hành của Giám đốc và tình hình thực tế tạiSGD
Trang 36Giám đốc có trách nhiệm thu nhập và thông tin cho các Phó giám đốc biết các chủtrương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước có liên quan đến hoạt động kinhdoanh của chi nhánh và chuyển tải đầy đủ, kịp thời các mục tiêu định hướng, biệnpháp chỉ đạo và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước, NH TMCP NT ViệtNam đến các Phó giám đốc.
Phó giám đốc
Phó giám đốc là người giúp Giám đốc điều hành chung công tác của SGD; thựchiện giải quyết các công việc đột xuất khác do Giám đốc giao Phó giám đốc làngười trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật và Giám đốc về các quyết định củamình trong phạm vi công việc được giao
Khi giải quyết công việc được phân công, Phó giám đốc nhân danh Giám đốc vàchịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước Pháp luật về kết quả công việc đó
- Làm đầu mối giúp Đảng ủy SGD, Ban chấp hành Công đoàn SGD, Đoànthanh niên SGD thực hiện công tác Đảng và đoàn thể tại SGD NH TMCPNgoại thương VN
Phòng hành chính quản trị
Phòng hành chính quản trị là phòng chuyên môn thuộc SGD Ngân hàngTMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng tham mưu và giúp Ban Giám đốctrong công tác hành chính, quản trị tại SGD
Phòng kiểm tra giám sát tuân thủ
Phòng kiểm tra giám sát tuân thủ là phòng chuyên môn thuộc Sở giao dịch
NH TMCP NT VN, có chức năng tham mưu và giúp Ban giám đốc trong việc kiểmtra, giám sát việc thực hiện các văn bản của pháp luật, quy chế của NHNN, quyđịnh của NH TMCP NT VN nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệtín dụng của Sở giao dịch NH TMCP NTVN nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợiích của ngân hàng và khách hàng tại Sở giao dịch
Phòng tin học
Phòng Tin học là phòng chuyên môn thuộc Sở giao dịch Ngân hàng TMCPNgoại thương Việt Nam, có chức năng giúp Ban giám đốc Sở giao dịch trong việcquản lý, duy trì hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến quản lý hoạt động kinhdoanh tại Sở giao dịch NHTMCP NT
Trang 37Phòng bảo lãnh: Phòng bảo lãnh là phòng nghiệp vụ thuộc Sở giao dịch Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam, có chức năng tham mưu và giúp Ban Giám đốcthực hiện các nghiệp vụ Bảo lãnh và tái bảo lãnh của Sở Giao dịch đối với kháchhàng theo các văn bản quy định hiện hành về công tác bảo lãnh của Nhà nước,NHNN và NH TMCP NT VN, đồng thời tuân thủ các thỏa ước quốc tế, các thông lệquốc tế và các điều lệ quốc tế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng mà Việt Nam lànước thành viên hoặc đã cam kết tham gia
Phòng đầu tư dự án: Phòng đầu tư dự án là phòng nghiệp vụ thuộc Sở giao dịch có
chức năng tham mưu và giúp Ban giám đốc Sở giao dịch trong việc thực hiện cấptín dụng trung và dài hạn cho khách hàng tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoạithương theo đúng quy định, quy chế, thể lệ về cho vay hiện hành của Ngân hàng vàNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Phòng kinh doanh dịch vụ: Phòng kinh doanh dịch vụ là phòng nghiệp vụ thuộc
Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng trực tiếpcung cấp các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương như: dịch vụ tàikhoản, các dịch vụ liên quan đến tiền tệ, thanh toán đối ngoại dành cho khách hàng
cá nhân, các sản phẩm huy động vốn theo đúng các quy định của Pháp luật và củaNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Phòng khách hàng đặc biệt: Phòng khách hàng đặ biệt là phòng nghiệp vụ thuộc
SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, có chức năng tham mưu cho Bangiám đốc trong việc xây dựng chính sách khách hàng đối với khách hàng thể nhân
và cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng cho khách hàng đặc biệt của SGD (lànhững khách hàng thể nhân có số dư tiền gửi lớn, doanh số giao dịch cao hoặc làcán bộ cao cấp của Nhà nước, cán bộ lãnh đạo các ngành…) theo đúng quy định,quy chế, quy trình nghiệp vụ hiện hành của Nhà nước, NHNNVN, NHTMCP NT
VN đồng thời tuân thủ các quy ước quốc tế về nghiệp vụ ngân hàng mà NH TMCP
NT tham gia
Phòng kế toán giao dịch: Phòng kế toán giao dịch là phòng nghiệp vụ thuộc SGD
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng phục xụ đối tượng kháchhàng là tổ chức (cư trú và không cư trú) có quan hệ giao dịch với SGD NHTMCP
NT theo đúng quy định, quy chế về hạch toán, kế toán thanh toán và quy trìnhnghiệp vụ của Nhà nước, NHNN và NHTMCP NT VN
Trang 38Phòng ngân quỹ : Phòng ngân quỹ là phòng nghiệp vụ thuộc sở giao dịch ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng triển khai thực hiện công tác bảoquản, giao nhận, vận chuyển, quy trình thu chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá
và ấn chỉ quan trọng tại SGD đảm bảo đúng quy trình, chế độ quản lý kho quỹ doNHNN, NH TMCP NT VN ban hành
Phòng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa: Phòng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và
vừa (SMEs) là phòng nghiệp vụ thuộc Sở giao dịch NHTMCP NT VN có chứcnăng đầu mối thiết lập quan hệ, duy trì và mở rộng phát triển khách hàng là doanhnghiệp nhỏ và vừa đồng thời triển khai cung ứng sản phẩm tín dụng và các dịch vụngân hàng theo định hướng của NHTMCP NT VN trong từng thời kỳ nhằm đạtđược mục tiêu phát triển kinh doanh an toàn, hiệu quả và tăng trưởng thị phần củaNHTMCP NT VN
Phòng khách hàng thể nhân: Phòng khách hàng thể nhân là phòng nghiệp vụ
thuộc Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng sau:
- Đầu mối duy trì, phát triển và quản lý quan hệ với khách hàng
là thể nhân trên tất cả các mặt hoạt động, tất cả các sản phẩm ngân hàng
- Trực tiếp cấp tín dụng đối với khách hàng là thể nhân theođúng các quy định hiện hành của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
về pháp luật
Phòng quản lý nợ: Quản lý và trực tiếp thực hiện tác nghiệp liên quan đến việc mở
tài khoản vay/ hợp đồng, cập nhật hệ thống, giải ngân, thu hồi nợ, đảm bảo số liệutrên hệ thống khớp đúng với số liệu trên hồ sơ
Lưu giữ và quản lý hồ sơ tín dụng đầy đủ và an toàn
Quản lý rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng, đảm bảo các khoản cấp tín dụngtuân thủ các quy định trong Quy trình tín dụng
Phòng quản lý quỹ máy ATM: Phòng quản lý quỹ máy Atm là phòng nghiệp vụ
trực thuộc SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng cung ứngcác dịch vụ, làm đầu mối xử lý các sự cố hoặc đề xuất xử lý các sự cố phát sinh đểđảm bảo cho hoạt động của hệ thống máy ATM/DTM của Sở giao dịch NH TMCP
NT VN
Phòng thanh toán quốc tế: Phòng thanh toán quốc tế là nghiệp vụ thuộc Sở giao
dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng thực hiện công tácthanh toán quốc tế và tài trợ thương mại hàng xuất nhập khẩu và dịch vụ đối ngoạiliên quan tới hàng hóa xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoạithương Việt Nam theo đúng quy định, quy chế, quy trình nghiệp vụ hiện hành củaNhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng TMCP Ngoại thương ViệtNam, đồng thời tuân thủ các quy ước quốc tế về nghiệp vụ thanh toán quốc tế quangân hàng mà Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tham gia
Trang 39Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ: Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ là phòng
nghiệp vụ tại Sở giao dịch Ngân hàn TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năngtham mưu cho Ban Giám đốc Sở giao dịch về quản trị, điều hành lãi suất, tỷ giá,phí, huy động và kinh doanh vốn VNĐ và ngoại tệ tại SGD theo đúng các quy định
về quản lý vốn và quản lý ngoại hối của NHNN VN và NHTMCP NT VN
Phòng thanh toán thẻ: Phòng thanh toán thẻ là phòng nghiệp vụ của Sở giao dịch
NHTMCP Ngoại thương Việt Nam, có chức năng sau:
- Thực hiện việc phát hành các loại thẻ ghi nợ của Vietcombank
- Thực hiện việc phát hành, thu nợ cho vay tín dụng thẻ và thanhtoán các loại thẻ của Vietcombank
- Là đầu mối xử lý toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc pháthành, thu nợ và thanh toán các loại thẻ của SGD với Trung tâm thẻ và cácphòng, đối tác liên quan
- Là thành viên của của Ban Quản lý Quỹ ATM tại Sở giao dịchNHTMCP NT VN
Việc thực hiện các chức năng trên phải đảm bảo theo đúng quy định, quychế, quy trình nghiệp vụ hiện hành của Nhà nước, NHNN và NHTMCP NT VNđồng thời tuân thủ các quy ước quốc tế về nghiệp vụ thẻ mà NHTMCPNT tham gia.Bao gồm:
Bộ phận phát hành thẻ tín dụng: thực hiện việc pháthành và thu nợ thẻ tín dụng
Bộ phận thẻ ghi nợ
Bộ phận Thanh toán các loại thẻ với các ĐVCNT
Bộ phận duy trì, phát triển các ĐVCNT: phối hợp vớiđối tác của NHTMCP NT VN trong việc phát triển đơn vị chấp nhậnthẻ
Bộ phận thu chi tiền mặt tại quầy: thực hiện chi tiền mặttại quầy đối với các giao dịch rút tiền từ thẻ tín dụng, thực hiện cácgiao dịch thu nợ sao kê thẻ tín dụng
** Nhiệm vụ chính của phòng đầu tư dự án (phòng thực tập)
- Thực hiện các nghiệp vụ cho vay trung dài hạn, hợp vốn bằng VND, ngoại
tệ với các đối tác khách hàng trong nước theo đúng các chế độ, thể lệ do NHNN vàNHNT VN ban hành
- Chủ động tìm kiếm các dự án, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả
để kinh doanh Thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi vay nhằm đảm bảo antoàn vốn
- Thực hiện việc thẩm định tình hình tài chính và phi tài chính của kháchhàng phục vụ công việc liên quan đến các loại hình cấp tín dụng cho khách hàng
Trang 402.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh những năm gần đây
( Nguồn: Báo cáo KQKD Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương)
Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn:
Đơn vị: Tỷ VNĐ
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Sở giao dịch)