1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

17 794 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân.......................................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

Trang

MỤC LỤC………1

BẢNG TỪ VIẾT TẮT 1

Đặt vấn đề 2

Giải quyết vấn đề 2

I Một số vấn đề lí luận về năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành 2

1 Khái quát về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 2

2 Khái quát những quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực hành vi của cá nhân 4

3 Ý nghĩa của việc quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân: 5

II Quy định của pháp luật hiện hành về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 6

1 Căn cứ xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân 6

2 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân 7

3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong một số quan hệ pháp luật dân sự………10

4 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân có yếu tố nước ngoài 12

III Áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 13

1 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng 13

2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về năng lực hành vi dân sự của cá nhân 16

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

BLDS BLDS 2005 BLDS 1995 NLHVDS

Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật dân sự năm 1995 Năng lực hành vi dân sự

1

Trang 2

Đặt vấn đề

Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng tiến bộ và phát triển đòi hỏi các quyền dân chủ cho cá nhân ngày càng lớn, điều đó cũng kéo theo các giao lưu dân

sự cũng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt là trong nền kinh tế phát triển thì các quan hệ dân sự ngày càng phổ biến Lê-Nin từng nói: “ Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Để tồn tại,con người phải tham gia vào các quan hệ xã hội,trong đó có quan hệ nhân thân và tài sản và để tham gia vào các quan quan

hệ dân sự thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự của mình.Vậy, khi nào một cá nhân có đủ năng lực hành vi để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự? Năng lực hành vi dân sự của năm 2005 có những quy định như thế nào? Vậy, để

tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “ Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân.” Để

làm đề tài cho bài tập lớn của mình lần này Do kiến thức còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót Em mong nhận được ý kiến đóng góp

và đánh giá từ các thầy cô để bài viết hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Giải quyết vấn đề

I Một số vấn đề lí luận về năng lực hành vi dân sự của cá nhân năm 2005

1 Khái quát về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

1.1 Năng lực chủ thể:

- Cá nhân là chủ thể đầu tiên của các quan hệ xã hội, là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Để tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng,cá nhân phải có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ dân sự Đây là năng lực chủ thể được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi

- Có thể nói: năng lực chủ thể là điều kiện cần và đủ để xem xét một cá nhân có tư cách chủ thể hay không? Chỉ những ai có năng lực chủ thể do nhà nước quy định thì mới là chủ thể của các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân

sự nói riêng

- Cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân là năng lực chủ thể của cá nhân được tạo thành bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự:

 Năng lực pháp luật dân sự ( giáo trình )

Năng lực pháp luật dân sự được quy định tại khoản 1 điều 14 BLDS năm 2005: “Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” Năng lực pháp luật dân sự là khả năng, điều kiện, tiền để cần

Trang 3

thiết để cá nhân đó có quyền và nghĩa vụ, là thành phần không thể thiếu được của

cá nhân để được xem là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sư

 Năng lực hành vi dân sự:

Năng lực hành vi dân sự có thể hiểu là khả năng của cá nhân trong việc khiển hành vi của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật và khả năng

tự chịu trách nhiệm do hành vi mình gây ra Điều 17 BLDS năm 2005quy định:

“Năng lực hành vi là khả năng cá nhân bằng hành vi của minh xác lập,thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Mặt khác năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân khi cá nhân đó vi phạm nghĩa vụ dân sự trước chủ thể mang quyền

Đặc điểm:

 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân do pháp luật quy định Nhà nước quy định dựa trên độ tuổi,khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân Việc quy định năng lực hành vic ủa cá nhân dựa trên độ tuổi,khả năng nhận thức và làm chủ hành vi như vậy là rất cần thiết,bởi quá trình hình thành nhân cách phải trải qua một thời gia nhất định,chỉ khi đạt đến độ tuổi nhất định thì cá nhân mới hoàn thiện,đủ khả năng kiểm soát hành vi của mình,chịu trách nhiệm pháp lí hành vi do mình gây ra

 NLHVDS cá nhân là không bình đẳng, các cá nhân khác nhau có NLHVDS khác nhau Nếu như năng lực pháp luật của cá nhân là bình đẳng thì ngược lại NLHVDS của cá nhân là không như nhau Bởi ai cũng có cuộc sống riêng,sinh ra và lớn lên ở môi trường khác nhau Vì vậy,trong cuộc sống,việc nhận thức và làm chủ hành vi phụ thuộc vào ý chí và lý chí của họ,cho nên người thì có đầy đủ năng lực hành vi,người thì không có hay người bị hạn chế NLHVDS

 Năng lực hành vi dân sự không xuất hiện từ khi sinh ra mà chỉ có khi

cá nhân đạt độ tuổi nhất định Không giống như năng lực pháp luật dân sự : “có từ khi người đó sinh ra và cấm dứt khi người đó chết” Một người khi sinh ra là đã có năng lực pháp luật,pháp luật quy định cho họ có quyền khai sinh,quyền đối với họ,tên,quyền có quốc tịch Nhưng lúc sinh ra, năng lực hành vi chưa được hình thành mà phải khi đạt đến một độ tuổi nhất định mới có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Như vậy,người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có năng lực hành vi nếu như họ không bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự

1.2 Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân:

- Giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi có mối quan hệ mật thiết với nhau Những chủ thể có năng lực pháp luật mà không có năng lực hành vi thì không trực tiếp trở thành chủ thể trong giao dịch dân sự,tức là không thể trực tiếp trở thành

3

Trang 4

chủ thể trong giao dịch dân sự nói riêng,quan hệ pháp luật nói chung Ta thấy năng lực pháp luật là tiền đề cho năng lực hành vi Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật thì bên cạnh năng lực pháp luật phải có năng lực hành vi Năng lực pháp luật chính là điều kiện cần còn năng lực hành vi là điều kiện đủ để tạo tư cách chủ thể cho cá nhân tham gia trong giao dịch dân sự

2 Khái quát những quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

2.1 Pháp luật phong kiến và những quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân( từ thế kỉ XV đến 1858).

Khi nhắc đến pháp luật phong kiến Việt Nam không thể không nhắc đến bộ luật Hồng Đức-một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ trong lịch sử pháp luật Việt Nam(dưới thời nhà Lê) Luật Hồng đức (1843) chưa có sự phân biệt giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi mà các nhà làm luật chỉ quy định năng lực chủ thể nói chung Chẳng hạn như trong chế định thừa kế,pháp luật quy định:khi con cái chưa trưởng thành,còn ở cung cha,mẹ thì chưa có quyền có tài sản riêng Khi sống cùng cha mẹ,con cái không có quyền quyết định về tài sản vì theo pháp luật tài sản đó thuộc quyền sở hữu của cha mẹ Ngược lại nếu con cái có tài sản riêng thì cha mẹ cũng phải tôn trọng: “ khi chồng chết,con còn nhỏ ,mẹ đi cải giá

mà bán điền sản của con thì bị xử phạt 50 roi,trả lại tiền cho người mua,trả lại đất cho con”

Một bộ luật nữa cũng có thể nói là nổi tiếng trong triều đại nhà Nguyễn đó

là Hoàng Việt luật lê(Luật Gia Long) năm 1815 Bộ luật dài 398 điều nhưng không có riêng một điều luật cụ thể nào nói về năng lực hành vi dân sự của cá nhân Pháp luật bấy giờ chưa phân biệt rõ nét giữa dân sự với hình sự Còn năng lưc chủ thể cũng có vài điều luật có đề cập đến khả năng chịu trách nhiệm của chủ thể trong xã hội

Như vậy, trong pháp luật phong kiến không có một quy định cụ thể nào về năng lực hành vi dân sự của cá nhân mà nó chỉ thể hiện trong một số những chế định cụ thể

2.2 Pháp luật thời Pháp thuộc và những quy định về năng lực hành vi dân sự của

cá nhân( từ 1858 đến 1954)

Gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ,Việt Nam chịu sự chi phối của ba Bộ luật dân sự mà chính quyền thực dân lần lượt ban hành Và đặc biệt là ở cả ba Bộ luật này cũng chưa có một quy định cụ thể nào nói rõ về năng lực hành vi dân sự của cá nhân nhưng trong môt số chế định,nó cũng thể hiện khá rõ nét.Chẳng hạn như trong chế định về khế ước,“về nguyên tắc bất cứ người nào không bị pháp

Trang 5

luật tuyên bố là vô tư cách đều có thể giao ước được”.1 Pháp luật cũng quy định người vô tư cách gồm: “người vị thành niên,người bị cấm quyền,đàn bà có chồng

và một số người khác bị pháp luậy cấm,người vị thành niên là người chưa đủ 21 tuổi tròn”2 Ngoài ra ở chế định Hôn nhân và gia đình,chế định về thừa kế cũng có đề cập về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Pháp luật thời kì này tuy chưa có những quy định rõ về năng lực hành vi dân sự của cá nhân nhưng so với thời kì phong kiến thì có sự cụ thể hơn

2.3 Pháp luật và những quy định về NLHVDS của cá nhân từ 1955 đến 1995.

Bộ luật dân sự 2005 là sự kế thừa và hoàn thiện pháp luật của đất nước trong điều kiện mới của đất nước Đây là bộ luật mang tính pháp điển hóa cao,tập hợp hầu hết các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực dân sự,định ra các chuẩn mực pháp lí về cách xử xự của các chủ thể bao gồm cá nhân,pháp nhân và các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Đặc biệt,bộ luật đã dành riêng một phần để quy định về NLHVDS của cá nhân (điều 19 đến điều 25)

3 Ý nghĩa của việc quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Thứ nhất: Bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia quan hệ

pháp luật dân sự Với các quy định trong Bộ lật dân sự hiện hành sẽ là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân Đảm bảo trật tự,công nằng xã hội cho các chủ thể

Thứ hai: Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên khi tham

gia kí kết hợp đồng Chỉ những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì mới được tham gia giao dịch với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật đó Còn những người không có năng lực hành vi dân sự,bị mất hoặc hạn chế năng lực hành

vi dân sự muốn tham gia giao dịch phải có người đại diện.Cho nên khi muốn kí kết hợp đồng với một cá nhân thì phải xem người đó có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hay không Điều này là rất quan trọng

Thứ ba: góp phần ngăn chặn,răn đe các hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ tư: Nó là cơ sở pháp lí để giải quyết tranh chấp khi có vụ việc dân sự

liên quan đến năng lực hành vi dân sự Vơi những quy định về năng lực hành vi dân sự, BLDS hiện hành là cơ sở pháp lí quan trọng để giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến năng lực hành vi dân sự của cá nhân Trên cơ sở đó để bảo

vệ quyền và lợi ích cho các cá nhân,tổ chức liên quan

II Quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân năm 2005

1 Căn cứ xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân

1 Xem điều 670, Bộ dân luật Bắc kì.

2 Xem điều 221,Bộ dân luật Bắc kì

5

Trang 6

Khi xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân,độ tuổi chỉ là điều kiện cần mà không phải là điều kiện đủ.Tiêu chí độ tuổi cá nhân chỉ cho chúng ta phân biệt năng lực hành vi dân sự của người thành niên và người chưa thành niên Bên cạnh độ tuổi,khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cũng là tiêu chí đề phân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân Do vậy để phân biệt thì người ta thương dựa vào độ tuổi,khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân đó Thông thường,khi phát triển tới độ tuổi nhất định,con người sẽ có sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, đủ để có thể nhận thức và điều khiển hành

vi của mình

Tuy nhiên có những trường hợp đặc biệt,dù đã đến tuổi trưởng thành nhưng nhận thức của họ không phát triển,trí não của họ không bình thường như người khác Nghĩa là cá nhân đó không nằm trong ba tiêu chí nêu trên cho nên Bộ luật dân sự có quy định nếu cá nhân bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan Tòa án sẽ tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự với người đó Hay nếu họ nghiện

ma túy hoặc chất kích thích khác thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan của cá nhân,tổ chức khác, Tòa án sẽ tuyên bố hạn chế năng lực hành vi đối với họ

Việc xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân có vai trò rất quan trọng Ở mỗi mức độ, cá nhân sẽ có quyền tham gia giao dịch dân sự ở các mức tương ứng

2 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân sự được Bộ luật dân sự quy định cụ thể như sau:

*Năng lực hành vi dân sự đầy đủ:

Điều 19 BLDS có quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên” Vậy người thành niên là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,vcó thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách chủ thể độc lập Như điều

19 quy định: “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,trừ trường hợp quy định tại điều 22 và 23 cuả bộ luật này” Qua đó ta có thể thấy không phải tất cả những ai đã là thành niên sẽ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Có người đã là thành niên nhưng không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đó là trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự(điều 22) và hạn chế năng lực hành vi dân sự (điều 23) của Bộ luật dân sự

Trang 7

Người từ đủ mười tám tuổi trở lên theo Bộ luật dân sự thì mới được xem là người thành niên Liên hệ thực tế với các nước khác quy định về có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ Chẳng hạn như quy định về tuổi thành niên ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài loan là 20 tuôỉ; Ấn Độ,Anh,Mỹ,Canada là 18 tuổi tuy nhiên cũng có một số nước xác định tuổi trưởng thành thấp hơn… Bộ luật dân sự nước ta chỉ quy định duy nhất trường hợp có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đó là đủ mười tám tuổi,không bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ngoài ra không quy định trường hợp ngoại lệ nào

Những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự sẽ được tham gia giao dịch dân sự,nhân danh chính mình tự chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã thực hiện Ví dụ,người có năng lực hành vi dân sự sẽ có quyền định đoạt đối với tài sản của minh(mua,bán,cho…) Những người từ đủ mười tám tuổi được xác định là người có năng lực hanh vi dân sự đầy đủ

*Năng lực hành vi dân sự một phần: Điều 20 Bộ luật dân sự quy định:

1 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập,thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục

vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác

2 Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng,bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự minh xác lập,thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Như vậy, cá nhân từ đủ sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi là những người có năng lực hành vi một phần Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi khi tham gia các giao dịch để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu hằng ngày phù hợp với lứa tuổi

Người có năng lực hành vi một phần hay còn gọi là năng lực hành vi không đầy đủ là những người vẫn sẽ được tham gia các giao dịch dân sự,nhưng pháp luật chỉ cho họ một giới hạn nhất định và họ chỉ đưoực thực hiện,xác lập quyền, nghiã

vụ trong giai đoạn ấy, những giao dịch được coi là trong giới hạn hành vi mà người đại diện cho phép thực hiện mà không cần trực tiếp hỏi ý kiến của người đại diện

Những người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần

sự đồng ý của người đại diện Sơ dĩ người đủ mười lăm tuổi trở lên được quyền xác lập, định đoạt quyền, nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản của minh bởi theo

7

Trang 8

quy định của pháp luật lao động ,họ là chủ thể của một số hoạt động lao động được phép cụ thể họ có tài sản và thu nhập riêng,được sử dụng,chi tiêu vì lợi ích của mình Chẳng hạn như A mới chỉ có mười sáu tuổi nhưng có tài sản riêng là 15.000.000 đồng( do được hưởng thừa kế từ ông nội) A dung số tiền này mua một chiếc xe đạp điện để phục vụ cho việc đi lại thuận tiện Mặc dù chưa đủ mười tám tuổi nhưng giao dịch này của A vấn không bị tuyên bố là vô hiệu vì không có sự đồng ý của người đại diện,bởi đó là tài sản riêng của A,A được sử dụng tài sản đó theo quy định tại khoản 2 nêu trên

* Người không có năng lực hành vi dân sự.

Cá nhân không có năng lực hành vi dân sự theo BLDS được quy định tại

điều 21: “Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch

dân sự của nguời chưa đủ sáu tuôỉ phải do đại diện theo pháp luật xác lập,thực hiện” Ở độ tuổi này,trẻ chỉ hành động theo bản năng,theo phản xạ chứ không phải

theo ý chí và lí trí Do vậy,ở tuổi này,trẻ chỉ có năng lực pháp luật chứ chưa có năng lực hành vi

Người chưa đủ sáu tuổi là người chưa có khả năng nhận thức hành vi và hậu quả hành vi do mình gây ra nhưng khi đạt đến độ tuổi nhất định,năng lực hành vi

sẽ được hình thành Điều 21 BLDS có tên “người không có năng lực hành vi dân

sự” là chưa chính xác bởi vì người dưới sáu tuổi mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không nhận thức và làm chủ được hành vi” thì mới được coi là không

có năng lực hành vi còn đối với những người bình thường,khi họ lớn lên thì năng lực hành vi cũng xuất hiện Cho nên sáu tuổi là chưa có năng lực hành vi nhưng sau này sẽ có năng lực hành vi Do vậy,quy định về “chưa có” và “không có” năng lực hành vi là không đồng nhất Vì thế cho nên,người chưa đủ sáu tuổi là người chưa có năng lực hành vi,cho nên mọi giao dịch của người này đều do người đại diện xác lập hoặc thực hiện

* Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

a) Mất năng lực hành vi dân sự

Khái niệm “mất” thông thường được hiểu là đang tồn tại,đang co môt hiện tượng,một sự vật nhưng sau đó không còn hiện tượng,sự vật đó nữa Mất năng lực hành vi dân sự được hiểu một cách đơn giản là một người đã có năng lực hành vi dân sự nhưng vì một lí do nào đó mà năng lực hành vi dân sự của họ không còn nữa.Thông thường,năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ mất đi khi người đó chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Hay cũng có những trường hợp là cá nhân

đó vẫn còn tồn tại,là người thành niên nhưng bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi khi hội tụ đầy đủ các hành vi trong điều 22 BLDS: “Khi một người do bị

Trang 9

bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không làm chủ được nhận thức,lam chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan,Tòa

án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định…”

Người mất năng lực hành vi dân sự nên họ cũng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nên mọi giao dịch của người mất năng lực hành vi đều do người đại diện xác lập và thực hiện Tuy nhiên,trường hợp vì một lí do nào đó mà một người bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng nay lí do đó không còn nữa thì: “ Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền,lợi ích liên quan,Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự” Ví dụ như anh A do gặp phải một cú sốc lớn nên đã bị mắc bệnh tâm thần,gia đình anh đã yêu cầu Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi đối với anh A Nhưng sau một thời gian điều trị,anh A đã dần phục hồi và sức khỏe trở lại bình thường.Anh A và những người có lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên

bố mất năng lực hành vi dân sự đối với anh A

b) Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trường hợp hạn chế NLHVDS được quy định tại điều 23 của BLDS:

“ Người nghiện ma túy,nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan,cơ quan tổi chức,Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật

Khi không có căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan,cơ qun,tổ chứ hữu quan,Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Năng lực hành vi trong trường hợp này hoàn toàn khác so với trường hợp người có năng lực hành vi một phần Ngươi có năng lực hành vi một phần là do

họ chưa đạt đến tuổi mà pháp luật quy định là có đầy đủ năng lực hành vi Còn người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải tuân theo trình tự do pháp luật quy định và áp dụng đối với người “nghiện ma túy,nghiện các chất kich thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình”

9

Trang 10

Lần đầu tiên vấn đề hạn chế năng lực hành vi dân sự được đề cập trong BLDS Quy định này có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội,đặc biệt có tác dụng sâu sắc trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội Việc áp dụng quy định này thông qua Tòa án sẽ tác động mạnh mẽ đến những người vô trách nhiệm với gia đình và xã hội

3 NLHVDS của cá nhân trong một số quan hệ pháp luật dân sự

BLDS đã quy định các mức độ năng lực hành vi khác nhau giúp chúng ta có thể biết được chủ thể nào được phép tham gia vào giao dich dân sự,tham gia với mức độ nào NLHVDS của cá nhân trong một số giao dịch thể hiện như thế nào?

3.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Vấn đề này được quy định tại điều 606 BLDS Như vậy,theo quy định thì người đã thành niên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi do mình gây ra Còn người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại thì người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cha mẹ,người giám hộ Còn người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là người có năng lực hành vi một phần nên họ cũng phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình,nếu không đủ thì cha mẹ sẽ phải bồi thường phần còn thiếu của tài sản chưa đủ Người chưa thành niên,mất NLHVDS gây thiệt hại khi đang chịu sự quản lí của trường học,bệnh viện,các tổ chức khác thì những tổ chức đó phải bồi thường Còn nếu các tổ chức này chứng minh được mình không có lỗi trong quản lí thì sẽ không phải bồi thường (điều 621 BLDS)

NQ 03/2006/NQ-HĐTP quy định:

 Trường hợp quy định tại khoản1 điều 606 BLDS thì người gây thiệt hại là

bị đơn dân sự,trừ khi họ bị mất năng lực hành vi dân sự

 Trong trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 2 điều 606 BLDS thì cha mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự

 Trong trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 2 điều 606 BLDS thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự và cha mẹ của người gây thiệt hại có quyền,nghĩa vụ liên quan

 Trong trường hợp quy định tại khoản 3 điều 606 BLDS thì cá nhân,tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự

Hành vi pháp lí đơn phương.

* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong việc lập di chúc:

Lập di chúc là một trong những hình thức định đoạt quyền sở hữu tài sản của cá nhâ,vì thế người lập di chúc phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ Khoản 1 điều 647 BLDS có quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể

Ngày đăng: 05/05/2017, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w